1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên trồng một số quần xã rừng trồng thuần loài và hỗn giao tại xã ngọc đường, thành phố hà giang​

94 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, đánh giá thành phần loài, tính đa dạng thực vật tại tỉnh Hà Giang đã được triển khai, nhưng các công trình đó chỉ mới dừng lại ở mức độ khái

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGHIÊN C ỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH

T Ự NHIÊN TRONG MỘT SỐ QUẦN XÃ RỪNG TRỒNG THU ẦN LOÀI VÀ HỖN GIAO TẠI XÃ NGỌC ĐƯỜNG

THÀNH PH Ố HÀ GIANG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGHIÊN C ỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH

T Ự NHIÊN TRONG MỘT SỐ QUẦN XÃ RỪNG TRỒNG THU ẦN LOÀI VÀ HỖN GIAO TẠI XÃ NGỌC ĐƯỜNG

THÀNH PH Ố HÀ GIANG Chuyên ngành: Sinh thái h ọc

Mã s ố: 60.42.01.20

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ NGỌC CÔNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nghiên cứu là của riêng tôi

Các số liệu kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác gi ả

Tr ần Kim Oanh

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS

Lê Ngọc Công đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn thạc sỹ

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, khoa Sau Đại học - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùng các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong học

tập và nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường THPT Ngọc Hà - TP

Hà Giang và các tổ chức cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học

tập và hoàn thành luận văn này

Tác gi ả

Tr ần Kim Oanh

Trang 5

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆUSỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

M Ở ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Giới hạn nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Một số khái niệm về tái sinh và phục hồi 4

1.1.1 Tái sinh rừng 4

1.1.2 Phục hồi rừng 5

1.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5

1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới 5

1.2.2 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam 8

1.3 Nghiên cứu về tái sinh rừng 12

1.3.1 Trên thế giới 12

1.3.2 Ở Việt Nam 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Nội dung nghiên cứu 25

2.2.1 Đặc điểm cấu trúc của các quần xã rừng trồng 25

2.2.2 Thành phần dạng sống trong các quần xã rừng trồng 25

2.2.3 Đặc điểm tái sinh trong các quần xã rừng trồng 25

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên trong các quần xã rừng trồng 25

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội 25

2.3.2 Thu thập số liệu ở thực địa 26

2.3.3 Phỏng vấn người dân tại khu vực nghiên cứu 28

2.3.4 Phương pháp phân tích, xử lí số liệu 28

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32

3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên 32

3.1.1 Vị trí địa lý 32

3.1.2 Đặc điểm địa hình 32

3.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 33

3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 34

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 35

3.2.1 Dân số, dân tộc 35

3.2.2 Sản xuất Nông - Lâm nghiệp 36

3.2.3 Sản xuất Công nghiệp 37

3.2.4 Xây dựng nông thôn mới 37

3.2.5 Văn hóa, giáo dục, y tế 38

3.2.6 Thương mại, dịch vụ 38

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH 40

4.1 Đă ̣c điểm tầng cây cao của các quần xã rừng trồng ta ̣i KVNC 40

4.2 Thành phần da ̣ng sống thực vâ ̣t trong quần xã rừng trồng thuộc KVNC 46

4.2.1 Thành phần da ̣ng sống dưới tán rừng trồng Mỡ 46

4.2.2 Thành phần da ̣ng sống trong quần xã rừng trồng Keo 47

4.2.3 Thành phần da ̣ng sống trong quần xã rừng trồng hỗn giao (Thông Keo lá tràm) 47

4.3 Đă ̣c điểm tái sinh tự nhiên quần xã rừng trồng 48

4.3.1 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh 48

ất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 54

Trang 7

4.3.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 55

4.3.4 Phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính 57

4.5 Đề xuất mô ̣t số giải pháp nhằm xúc tiến khả năng tái sinh tự nhiên ở các quần xã rừng trồng ta ̣i KVNC 60

4.5.1 Giải pháp về chính sách 60

4.5.2 Giải pháp về kỹ thuâ ̣t 62

K ẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHI ̣ 66

1 Kết luâ ̣n 66

2 Tồn ta ̣i 67

3 Kiến nghị 65

T ÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PH Ụ LỤC

Trang 8

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

3 ÔTC - ÔDB Ô tiêu chuẩn - Ô dạng bản

Trang 9

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Đă ̣c điểm tầng cây cao của các quần xã rừng trồng ta ̣i KVNC 40

Bảng 4.2 Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết bằng hàm Meyer về

luâ ̣t phân bố N/D1.3 41

Bảng 4.3 Tương quan giữa chiều cao vút nhọn và đường kính ngang ngực

(HVN/D1.3) 44

Bảng 4.4 Thành phần da ̣ng sống trong các quần xã rừng trồng 46

Bảng 4.5 Đă ̣c điểm kết cấu tổ thành lớp cây tái sinh trong quần xã rừng

trồng Mỡ 48

Bảng 4.6 Đă ̣c điểm kết cấu tổ thành lớp cây tái sinh trong quần xã rừng

trồng Keo 50

Bảng 4.7 Đă ̣c điểm kết cấu tổ thành lớp cây tái sinh trong quần xã rừng

trồng hỗn giao (Thông + Keo lá tràm) 51

Bảng 4.8 Chất lượng cây tái sinh dưới quần xã rừng trồng ta ̣i KVNC 54

Bảng 4.9 Nguồn gốc cây tái sinh trong các quần xã rừng trồng ta ̣i KVNC 55

Bảng 4.10 Mâ ̣t độ cây tái sinh theo cấp chiều cao trong các quần xã rừng

trồng tại KVNC 56

Bảng 4.11 Mâ ̣t độ cây tái sinh theo cấp đường kính trong các quần xã rừng

trồng ta ̣i KVNC 58

Trang 10

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Cách bố trí các ô dạng bản trong các ô tiêu chuẩn 27

Hình 4.1 Biểu đồ phân bố N/D1.3 rừng trồng thuần loài Mỡ 42

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố N/D1.3 rừng trồng thuần loài Keo 43

Hình 4.3 Biểu đồ phân bố N/D1.3 rừng trồng hỗn giao (Thông + Keo lá tràm) 43

Hình 4.4 Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao dưới tán rừng trồng thuô ̣c khu vực xã Ngọc Đường - thành phố Hà Giang 57

Hình 4.5 Biểu đồ phân bố N/D1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng thuần loài Mỡ 59

Hình 4.6 Biểu đồ phân bố N/D1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng thuần loài Keo 59

Hình 4.7 Biểu đồ phân bố N/D1.3 của cây tái sinh dưới tán rừng trồng hỗn giao (Thông + Keo) 60

Trang 11

Nếu trên thế giới trong vòng 300 năm qua đã khai thác mất 2/3 diện tích

rừng thì ở Việt Nam tài nguyên rừng bị giảm đi 1/2 chỉ trong vòng 50 năm

Diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam bị suy giảm một cách nhanh chóng từ 14,3 triệu ha năm 1943 tương ứng độ che phủ 43%, đến năm 1995 chỉ còn 8,25 triệu ha rừng tự nhiên và 1,05 triệu ha rừng trồng tương ứng độ che phủ 28% Cùng với diện tích rừng bị mất, chất lượng rừng còn lại cũng giảm sút; trữ lượng rừng thấp, nhiều loài cây gỗ quý trở nên hiếm, nhiều động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng; khả năng cung cấp của rừng không đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của xã hội; năng lực phòng hộ của rừng cũng bị hạn chế, thiên tai bão lụt ngày càng nghiêm trọng (dẫn theo Lê Đồng Tấn, 2000 [56])

Trước thực trạng này, việc trồng rừng, phục hồi lại rừng trở thành một mục tiêu quan trọng được Nhà nước, các nhà lâm nghiệp và toàn xã hội quan tâm

Sớm nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên rừng và vấn

đề bảo tồn chúng Chính phủ Việt Nam đã có nhiều hành động nhằm quản lí bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, nhiều chương trình trồng rừng

bằng nguồn vốn Nhà nước và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế được thực hiện như các dự án PAM, 327, 661, bảo vệ rừng, xúc tiến tái sinh rừng, khoanh nuôi

rừng phòng hộ, rừng đặc dụng nhờ đó mà diện tích rừng đã tăng lên đáng kể

Trang 12

(năm 2013 độ che phủ là 40,7%), đặc biệt là diện tích rừng trồng trong đó có cả

rừng sản xuất, rừng trồng đặc dụng, rừng trồng phòng hộ

Tỉnh Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc, có tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 791.489,4ha, có diện tích rừng và đất lâm nghiệp 566.723,4ha chiếm 71,6% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Trong đó có 437.217,9ha đất rừng, 358.147ha rừng tự nhiên, 79.070,9ha rừng trồng, độ che

Xã Ngọc Đường là một trong các xã thuộc vùng khoanh nuôi, phục hồi

và trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc Tổng diện tích là 2.025,2ha trong đó rừng trồng có diện tích là 628,3ha; đất chưa có rừng là 472,5ha, độ che phủ là 65,9%

Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, đánh giá thành phần loài, tính đa dạng thực vật tại tỉnh Hà Giang đã được triển khai, nhưng các công trình đó chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm tái sinh, sự phân bố và giá trị của từng loài từng họ Nhằm cung cấp thêm

những cơ sở khoa học về chuyển hóa rừng trồng thành rừng gần giống với rừng

tự nhiên có tính bền vững của hệ sinh thái đáp ứng được mục tiêu của rừng đặc

dụng và gắn liền với mục tiêu du lịch sinh thái Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên c ứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh t ự nhiên trồng một số quần xã rừng trồng thuần loài và hỗn giao tại

Trang 13

rừng hỗn loài đa tầng nhằm tăng cường tính đa dạng thực vật và nâng cao tính

bền vững của hệ sinh thái rừng

3 Gi ới hạn nghiên cứu

3.1 Gi ới hạn về khu vực nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tại khu vực xã Ngọc Đường thuộc thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang

3.2 Gi ới hạn về đối tượng nghiên cứu

Là các quần xã rừng trồng thuần loài Keo lá tràm (Acacia

auriculiformis), Mỡ (Manglietia conifera) và quần xã rừng trồng hỗn giao: Thông (Pinus merkuii) và Keo lá tràm ( Acacia auriculiformis)

3.3 Gi ới hạn về nội dung nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm tái sinh

tự nhiên của các loài cây gỗ dưới các quần xã rừng trồng nói trên

Trang 14

Chương 1

1.1 Một số khái niệm về tái sinh và phục hồi

1.1.1 Tái sinh r ừng

Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh hệ sinh thái rừng là sự xuất hiện một

thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh hệ sinh thái

rừng (hoặc mất đi chưa lâu): Dưới tán rừng, lỗ trống trong hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái rừng sau khai thác, trên đất rừng sau làm nương, đốt rẫy v.v Vai trò

lịch sử của thế hệ cây con này là kế tục cây gỗ già cỗi Vì vậy tái sinh hệ sinh thái rừng, hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của

hệ sinh thái rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Sự xuất hiê ̣n lớp cây con là nhân tố

mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong quần la ̣c sinh vâ ̣t (thực vâ ̣t, đô ̣ng vâ ̣t, vi sinh vâ ̣t), đóng góp vào viê ̣c hình thành tiểu hoàn cảnh

rừng và làm thay đổi cả quá trình trao đổi vâ ̣t chất và năng lượng diễn ra trong

hê ̣ sinh thái Do đó tái sinh rừng có thể được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh

của một hê ̣ sinh thái rừng Tái sinh hệ sinh thái rừng thúc đẩy việc hình thành

cân bằng sinh học, đảm bảo cho hệ sinh thái rừng tồn tại liên tục và do đó bảo đảm cho việc sử dụng hệ sinh thái rừng thường xuyên Ở đây cần khẳng định tái sinh hệ sinh thái rừng không chỉ là một hiện tượng sinh học mà còn là một

hiện tượng địa lí Xét về bản chất sinh học tái sinh hệ sinh thái rừng diễn ra dưới ba hình thức: Tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân ngầm (các loài tre

nứa) Mỗi hình thức tái sinh trên có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn

Trang 15

Đứng trên quan điểm Triết học, tái sinh rừng là một quá trình phủ đi ̣nh

biê ̣n chứng: Rừng non thay thế rừng già trên cơ sở được thừa hưởng hoàn cảnh thuận lợi do thế hệ rừng ban đầu tạo nên Đứng trên quan điểm chính trị kinh tế

học, tái sinh rừng là một quá trình tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng Đương nhiên điều kiện này chỉ có thể trở thành hiện thực khi ta nắm chắc các biê ̣n

pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, nhằm điều hòa và đi ̣nh hướng các quá trình

tái sinh nhằm phục vụ mục tiêu kinh doanh đã đề ra Như vâ ̣y tái sinh rừng không còn chỉ là tự nhiên, kỹ thuâ ̣t mà còn là vấn đề kinh tế xã hội (Sinh thái

rừng - Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan,1998) [41]

Theo Nguyễn Xuân Lâm (2000) [31], tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế

hệ cây con của những loài cây gỗ ở dưới tán rừng hoặc trên đất rừng (sau khi làm nương rẫy), thế hệ cây tái sinh này sẽ lớn dần lên thay thế thế hệ cây già

1.1.2 Ph ục hồi rừng

Phục hồi rừng: Theo Trần Đình Lý (1995) [38], phục hồi rừng là một quá trình sinh địa phức tạp, gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một

thảm thực vật cây gỗ ( tre nứa) bắt đầu khép tán Nói cách khác phục hồi rừng

là một quá trình tái tạo lại hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ

là yếu tố cấu thành chủ yếu nó chi phối quá trình biến đổi tiếp theo

1.2 Nghiên c ứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có

thể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau

1.2.1 Nghiên c ứu về cấu trúc rừng trên thế giới

1.2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng

Trang 16

Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái

học, hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho

hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba

dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian

Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản

phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật và thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Thực tế

cấu trúc rừng nó có tính trật tự và theo quy luật của quần xã

Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W(1964) [53], Baur.G.N (1972) [1], Odum (1971) [73]…tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về

tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng

Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot (1965) [6], Plaudy.J đã biểu

diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống,

1.2.1.2 Mô t ả về hình thái cấu trúc rừng

Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành

phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều đứng Phương pháp vẽ biểu

đồ mặt cắt đứng của rừng do Davit và P.W Richards (1933-1934) đề xướng và

sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm

ỉ minh họa được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ

Trang 17

trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số

giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều

Phương pháp biểu đồ trắc diện do Davit và Richards (1933 -1934) đề

xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và

cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng

Richards P.W (1968) đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu

có tổ thành loài cây đơn giản.Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu

chỉ bao gồm một vài loài cây Cũng theo tác giả này thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân

hoặc cành cây [53]

Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hóa cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978 [66])

Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn

đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân

cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi Sampion Gripfit (1948), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thước và

chất lượng cây rừng Richards (1968) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa vào chiều cao cây rừng [53]

Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra

những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao

Trang 18

mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới

1.2.1.3 Nghiên c ứu định lượng cấu trúc rừng

Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự thống kê của toán học và tin học, trong đó

việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc

rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Về cấu trúc không gian và

thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al (1976) Rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2001 [12]) Rollet B (1971) đã

mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân

bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính loài theo mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, Poisson, … cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hóa cấu trúc rừng [14], [55], [65], [69]

Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu

mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động, Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng

Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng

1.2.2 Nh ững nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam

Trang 19

Với tác giả Vũ Đình Phương (1985-1988) [43,44,45,46,47] đã đưa ra phương pháp phân chia rừng phục vụ công tác điều chế với đơn vị phân chia là

lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong quá trình phân chia Phương pháp phân chia này đã được đưa ra áp dụng trong khi xây

dựng phương án điều chế cho một số lâm trường ở Tây Nguyên và Quảng Ninh

đã tỏ ra có nhiều ưu điểm

Như vậy, có rất nhiều tác giả trong nước cũng như của nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng tự nhiên ở Việt Nam là tối cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây

dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm Công trình của Thái Văn Trừng

đã đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự nhiên của nước ta một cách tổng quát Phương pháp của Vũ Đình Phương tỉ mỉ hơn và cho ta những thông số cơ

bản về tình trạng rừng hiện tại không chỉ ở góc độ về trữ lượng, vì vậy người

quản lí dễ phác họa được các biện pháp xử lí lâm sinh tác động vào rừng Phương pháp này tỏ ra hữu hiệu khi áp dụng ở nơi có trình độ kinh doanh tương đối cao và ổn định

1.2.2.2 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng

Trong những năm gần đây, việc đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm như những công trình nghiên cứu mô hình hóa cấu

Trang 20

trúc đường kính D1.3 và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là công trình nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) [21] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên

Nguyễn Hải Tuất (1982) [67] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc của rừng thứ sinh, đồng thời cũng áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng

Lê Minh Trung (1991) đã sử dụng hàm Poisson mô phỏng cấu trúc tán lá cây, hàm Weibull mô phỏng cấu trúc chiều cao và đường kính Đồng thời cũng

tiến hành khảo nghiệm hàm Hyperbol và Meyer cho các cấu trúc này (dẫn theo

Nghiên cứu cấu trúc rừng định lượng các nhân tố cấu trúc và xây dựng các mô hình mẫu chuẩn phục vụ khai thác, nuôi dưỡng rừng là mục tiêu quan

trọng nhằm vạch ra phương hướng và phương pháp điều chế rừng Nguyễn Văn Trương (1973-1986) đã nghiên cứu về phương pháp thống kê cây đứng, cấu trúc 3 chiều rừng gỗ hỗn loại và đề xuất các mô hình cấu trúc mẫu định lượng bằng toán học phục vụ công tác khai thác, nuôi dưỡng Theo tác giả đây là

những mô hình hoàn thiện nhất đã có trong thiên nhiên và trên cơ sở khắc phục

những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của thiên nhiên mang lại (dẫn theo Đào

Trang 21

Để xây dựng mô hình cấu trúc cho các loài, kiểu rừng ứng với từng điều

kiện hoàn cảnh, Nguyễn Hồng Quân (1975, 1981, 1982) [50,51,52] đã sử dụng

hàm mũ theo dạng Meyer để phân cấp các lâm phần chặt chọn trên cơ sở thay đổi hệ số góc của phương trình khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi Lê Minh Trung (1991) đã vận dụng phương pháp này để xây dựng cấu trúc mẫu trên 3

cấp năng suất cho rừng tự nhiên hỗn loài ở ĐăkNông Từ đó làm cơ sở đề xuất hướng khai thác và nuôi dưỡng rừng (dẫn theo Trần Xuân Thiệp, 1996 [60]

Nguyễn Ngọc Lung (1985) [33] đã cho rằng: Trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng ra các loại, mỗi loại thuần nhất về một mặt nào đó như

tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo kích cỡ thì ta có thể chọn được một loại trong các lô tốt nhất, có trữ lượng cao, sinh trưởng tốt, tổ thành cấu trúc hợp lí

nhất, có đủ thế hệ cây gỗ, cũng cho phép sản lượng ổn định Ta coi đây là mẫu chuẩn tự nhiên và đây cũng chính là cái mà con người cần hướng tới trong quá trình kinh doanh rừng

Phùng Ngọc Lan (1986) [28] cũng đã chỉ rõ: Mô hình cấu trúc mẫu là mô hình có khả năng tận dụng tối đa tiềm năng của điều kiện lập địa, có sự phối

hợp hài hòa giữa các nhân tố cấu trúc để tạo ra một quần thể rừng có sản lượng, tính ổn định và chức năng phòng hộ cao nhất, nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh nhất định

Vũ Đình Phương (1987) [46] cũng đồng quan điểm trong việc xây dựng

mô hình cấu trúc rừng và vốn rừng cho rằng, cần phải tìm trong tự nhiên những cấu trúc mẫu có năng suất cao đáp ứng mục tiêu kinh tế trong từng khu vực Để nghiên cứu cấu trúc sinh trưởng rừng hỗn loại, ông đã đề xuất quan điểm: Tổng

thể hỗn loài hay còn gọi là rừng cây là do các phần tử thuần loài hợp thành

Trong lĩnh vực này, các tác giả đều xây dựng các cấu trúc mẫu từ nghiên

cứu cơ sở cơ bản các quy luật kết cấu, từ đó đề xuất các hướng tác động vào

rừng Các mẫu này đều được xây dựng trên cơ sở các mẫu tự nhiên đã chọn lọc thông qua tài liệu quan sát và được coi là ổn định, có năng suất cao nhất Tính

ổn định của các cấu trúc này thường được tính toán theo lí thuyết trước khi đi

Trang 22

vào khảo nghiệm Cấu trúc mẫu được quan tâm nhiều nhất là cấu trúc N-D1.3 ,

nó cũng là cơ sở cho việc khai thác và nuôi dưỡng thông qua việc điều chỉnh cấu trúc này

1.3 Nghiên c ứu về tái sinh rừng

1.3.1 Trên th ế giới

1.3.1.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên

Hiện nay vấn đề tái sinh rừng trên thế giới được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ lâu Nhưng đối với rừng nhiệt đới thì được nghiên cứu vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XX trở lại đây [10, 12, 14, 16, 18,

19, 20, 22…]

Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các phương thức xử lý lâm sinh đến tái sinh rừng các loài cây có mục đích trong các kiểu rừng Các tác giả bàn đến như Taylor (1854), Kennedy (1935), Lancaster (1953) Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernand (1954,1959), Smith (1961,1963) [74] với phương thức rừng đều tuổi ở Mã lai , Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijeria và Gana Nội dung chi tiết, các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1976)[1] tổng kết trong tác phẩm: “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa”

Khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới ở Châu Phi, Aubreville (1938) đã

nhận thấy cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm Ông đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết lên

lí luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lí giải các hiện tượng đó còn hạn chế Vì

vậy lí luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản xuất, Chưa có các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra (dẫn theo Nguyễn Văn Hoàn và CS, 2006 [22])

Trang 23

Tuy nhiên những kết quả quan sát của Davit và Richards P.W (1933), Bot (1946), Sun (1960), Role (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn với

những nhận định của Aubreville Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục

của các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong

một thời gian dài (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978 [66]

Trong công trình nghiên cứu của Richards (1952), Roole (1974) cho thấy tái sinh có dạng phân bố cụm, một số ít phân bố poisson Ở Châu Phi theo số

liệu của Aubreville (1938) nhận thấy cây con của cây ưu thế trong hệ sinh thái

rừng mưa có thể cực hiếm hoặc vắng hẳn Ông gọi đó là hiện tượng “ không bao giờ sinh con đẻ cái” của cây mẹ trong thành phần tầng cây gỗ của hệ sinh thái rừng mưa Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở

tầng dưới thường khác nhau rất nhiều Tương tự theo Taylor (1954), Bơoat Berwad (1955), số lượng cây tái sinh trong rừng thiếu hu ̣t cần phải bổ sung

bằng rừng trồng nhân tạo Ngược lại ở Châu Á Budowski (1956), Bava (1954), Atinôt (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để

bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995 [10])

Lamprecht H (1989) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây rừng trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiê ̣t đới thành nhóm cây ưa

sáng, nhóm cây bán chi ̣u bóng, nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần tụ lâm

phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng Yurkevich I.D (1960) đã chứng minh độ

tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7 (dẫn theo Lê Đồng Tấn, 2000 [56])

Sự phân bố cây theo đường kính là cấu trúc cơ bản của lâm phần và cũng được nhiều nhà lâm học quan tâm nghiên cứu Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1952) Ông mô tả phân bố số cây theo đường kính

bằng phương trình toán học mà dạng của nó là một đường cong giảm liên tục

Trang 24

Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay còn được gọi là hàm Meyer Tiếp đó nhiều tác giả đã dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình đường cong phân bố N/D của lâm phần thuần loài đều tuổi Prodan.M và Ipalatscase.A (1964), Bill và Aremken.K (1964) đã tiếp cận phân bố này bằng phương trình logarit Đặc biệt một số tác giả hay dùng các hàm khác nhau Loetsch (1973) dung hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm Batista.J.LF

và Docouto.H.T.Z (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của

rừng nhiệt đới ở Maranhoo- Brazil đã dùng hàm Weibull mô phỏng sự phân

bố N/D (dẫn theo Nguyễn Thanh Bình, 2003) [4] và nhiều tác giả khác [13,

20, 64, 69…]

Để xác định mật độ cây tái sinh người ta đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Ô dạng bản theo hệ thống do Lowdermilk (1927) đề xuất với

diện tích (1 đến 4m2), ô có kích thước lớn (10 đến 100m2), điều tra theo dải

hẹp ô có kích thước từ (10 đến 100m2) Phổ biến nhất là ô bố trí theo hệ thống trong các diện tích nghiên cứu từ 0,25 đến 1,0 ha (Povar nix bun, 1934; Yuskevich,1938) để giảm sai số trong khi thống kê, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp “ điều tra chuẩn đoán” mà theo ông kích thước ô đo đếm được có thể thay đổi tùy theo thời gian phát triển của cây tái sinh ở các

trạng thái rừng khác Nextorov.V.G (1954, 1960) đề nghị dùng 15 đến 26 ô kích thước từ 1 đến 2m2 thống kê cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm, 10 đến 15 ô kích thước từ 4 đến 5m2 thống kê cây con từ 5 đến 10 năm Pobedinxki.A.V (1961) đề nghị dùng 25 ô dạng bản 1x1m cho một khu tiêu chuẩn (0,5 đến 1,0 ha), Belov.XW (1983) nhấn mạnh phải áp dụng thống kê toán học để điều tra

và đánh giá tái sinh Việc phân tích chi tiết lí luận các phương pháp thống kê toán học trong điều tra và đánh giá tái sinh rừng đã được trình bày trong các công trình của Smith.PG (1976), Vasilevich.VI (dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003) [65]

Trang 25

Tóm lại, thông qua những kết quả công trình nghiên cứu tái sinh tự nhiên

của các thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta thấy được các phương pháp nghiên cứu của một số tác giả cũng như những quy luật sinh thái ở một số nơi Thông qua đó các tác giả cũng đưa ra một số biện pháp lâm sinh phù hợp thúc đẩy quá trình tái sinh theo hướng có lợi Như vậy ta đều nhận thấy các công trình nghiên cứu tái sinh trên thế giới chủ yếu tập trung vào trạng thái rừng tự nhiên mà rất ít đề cập tới trạng thái rừng thứ sinh nhân tác, phục hồi nhân tạo

1.3.1.2 Nh ững nghiên cứu về phục hồi bằng trồng rừng (phục hồi nhân tạo)

Trên thế giới trồng rừng đã xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh vào

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Một số nước ở Tây Âu như: Pháp, Italia đã tiến hành trồng các rừng

Bạch dương cho sản lượng cao trên một phạm vi lớn với mục đích cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy Nhiều nước trên thế giới đã phát động trồng rừng với nhiều mục đích khác nhau như cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, trồng rừng nhằm mục đích bảo

vệ môi trường như rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng chống cát bay, rừng phòng hộ chắn sóng ven biển… Các nước nhiệt đới và á nhiệt đới rừng trồng đã được hình thành ngay cả trên đất trước đó là đồi trọc do nhu cầu của ngành công nghiệp giấy sợi và tính cấp bách phải bảo vệ môi trường [70]

Với vai trò to lớn mà rừng đã đem lại cho nhân loại và hiện nay khi nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, môi trường bị suy thoái thì vai trò của

rừng ngày càng không thể phủ nhận, các nước trên thế giới càng phải chú trọng

tăng diê ̣n tích rừng đă ̣c biê ̣t là rừng tự nhiên Điều đáng nói là ta ̣i dưới tán rừng

trồng có thể xuất hiê ̣n các lớp cây gỗ tái sinh tự nhiên có triển vọng phát triển

thành rừng Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu ki ̣p thời và đưa ra

những giải pháp hợp lý nhằm chuyển dần diê ̣n tích rừng trồng thành rừng gần

giống với tự nhiên để tăng tính đa da ̣ng sinh học, tăng khả năng phòng hộ của

Trang 26

rừng Chính vì vậy việc trồng rừng và tái sinh rừng ngày càng được nhiều nước quan tâm và phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Tuy nhiên

hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề rừng trồng Wadsworth (1960) khi nói về vai trò của rừng trong kinh doanh, ông đã

khẳng định trồng rừng thâm canh sẽ là nguồn cung cấp gỗ duy nhất có kinh tế ở các miền nhiệt đới (Baur, 1976) [1]

Catinot (1965) [6] cho rằng ở vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi sau khi khai thác có thể thay thế một quần thể rừng tự nhiên bằng rừng trồng mà vẫn mang

lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên để mang lại hiệu quả kinh tế cao tác giả cũng lưu ý rằng cần phải nắm chắc kĩ thuật lâm sinh thì quá trình thực hiện mới có

hiệu quả

Baur (1976) [1] đã khẳng định việc trồng rừng là cần thiết để mang lại

hiệu quả cao trong kinh doanh rừng nhưng nếu trồng rừng như của Wadsworth (1960) thì chỉ là giải pháp trước mắt, còn về lâu dài thì phải dựa vào những

kiến thức đúng đắn về sinh thái học của quần lạc đó

Miyawaki.A (1991) [72] đã đưa ra khẩu hiệu cây bản địa trên đất bản địa, xuất phát từ quan điểm rừng là một hệ sinh thái ông đã thực hiện nhiều dự

án phục hồi hệ sinh thái rừng nhiệt đới bằng biện pháp trồng rừng Phương pháp tác giả đề xuất được áp dụng ở một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Indonexia [61, 63, 68] Các nghiên cứu này được thể hiện chủ yếu

bằng việc trồng rừng Trong đó giống cây trồng là tập đoàn những cây bản địa được xác định bằng phương pháp sinh thái thảm thực vật của Clement (1916)

và trồng rừng được thực hiện bằng phương pháp do ông đề xướng được gọi là phương pháp Miyawaki Theo phương pháp này thì việc phục hồi lại rừng mưa nhiệt đới ở Malayxia chỉ khoảng 40 đến 50 năm trong khi đó để đạt trạng thái này theo con đường diễn thế tự nhiên thì cần phải 200 đến 250 năm (Miyawaki,1991) [72]

Trang 27

Tansley (1994) cho rằng trồng rừng là quá trình rút ngắn quá trình diễn

thế thảm thực vật nhưng Beard (1947) lại phản đối việc trồng rừng và cho đó

là “bệnh sởi trồng rừng đã mắc phải do thiếu sinh tố sinh thái học” (dẫn theo Baur G.(1976)[1]

Trong hội nghị lâm sinh thế giới lần thứ 7 (10/1972) tại Buenos - Aires

đã khẳng định cần đẩy mạnh việc trồng rừng Nhưng hội nghị cũng lưu ý trồng rừng chỉ cho hiệu quả khi phối hợp chặt chẽ các biện pháp kĩ thuật tạo điều

kiện cho cây rừng sinh trưởng (Vorobiev,1981[70])

1.3.2 Ở Việt Nam

1.3.2.1 Nh ững nghiên cứu về tái sinh tự nhiên

Ở nước ta vấn đề nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đã được nghiên cứu từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX và những năm gần đây viê ̣c đi

vào nghiên cứu rừng tự nhiên ở Viê ̣t Nam ngày một nhiều, bởi đằng sau những

hệ sinh thái rừng còn rất nhiều điều bí ẩn Điều đó đã thu hút rất nhiều tác giả quan tâm tới Từ những năm 1962 - 1967 Viện Điều tra và Quy hoạch rừng đã được thực hiện chuyên đề “Tái sinh rừng tự nhiên” tại một số khu rừng trọng điểm thuộc các tỉnh Yên Bái (Văn Đàn), Quảng Ninh (Tiên Yên, Ba Chẽ, Yên Hưng), Nghệ An (Quỳ Châu, Nghĩa Bàn), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê),

Quảng Bình (Long Đại) (dẫn theo lê Ngọc Công 2004 [14])

Nghiên cứu quy luâ ̣t phát sinh, tái sinh tự nhiên và diễn thế thứ sinh của

các xã hợp thực vâ ̣t rừng nhiê ̣t đới Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [66] đã

nhâ ̣n đi ̣nh: “Sự phát sinh các loa ̣i hình quần thể có thành phần loài cây khác nhau, được nghiên cứu đầy đủ trước kia cho nên lúc đó chúng tôi cho rằng trong thiên nhiên nhiê ̣t đới không có quần hợp và chỉ có những loài ưu thế, do đó chúng tôi có đề nghi ̣ lấy những kiểu thảm thực vâ ̣t làm đơn vi ̣ cơ bản của

thảm thực vâ ̣t Như trên đã trình bày trong thiên nhiên nhiê ̣t đới có thể có

những da ̣ng quần hợp thực vâ ̣t ở những môi trường khắc nghiê ̣t, còn đa ̣i bộ

phâ ̣n là những ưu hợp thực vâ ̣t có một ưu thế tương đối của cá thể các loài cây

Trang 28

trong tầng ưu thế sinh thái (hay lâ ̣p quần) của quần thể và có lẽ phổ biến hơn là

những phức hợp mà độ ưu thế chưa phân hóa rõ rê ̣t”

Những vấn đề cần đă ̣t ra để nghiên cứu là tác nhân nào đã tác động trong

quá trình phát sinh những xã hợp thực vâ ̣t nguyên sinh và quá trình tái sinh tự nhiên sẽ diễn ra như thế nào và chỉ tiêu về chế độ khắc nghiê ̣t của môi trường

có còn là nguyên nhân duy nhất khống chế sự hình thành những quần hợp, ưu

hợp, phức hợp tự nhiên nữa hay không Vấn đề này đã được Lê Viết Lộc (1964) cùng các cộng tác viên nghiên cứu sơ bộ trong khi điều tra các loa ̣i hình

ưu thế trong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương Các tác giả đã dùng một số chỉ tiêu khác, ngoài số lượng cá thể cây để tính sinh khối trên diện tích điều tra như chiều cao, tiết diê ̣n ngang v.v để tính đô ̣ ưu thế của các loài và đã thấy các nhân

tố phát sinh của loại hình ưu thế là khu hê ̣ thực vâ ̣t, tiểu đi ̣a hình, đă ̣c điểm lý

tính của đất và những hoa ̣t động của con người (dẫn theo Hoàng Kim Ngũ và

CS, 1997 [41])

Trong những khu vực tự nhiên nhiê ̣t đới gió mùa như ở Viê ̣t Nam, một

quần thể sinh ra, lớn lên, thành thục, già cỗi và sẽ tàn lụi hoă ̣c từng cá thể hoă ̣c

từng bộ phận, hoặc toàn bộ quần thể, nhưng cũng có nhiều trường hợp quần thể chưa thành thục, già cỗi mà một số cá thể, một bộ phận hay cả quần thể có thể

bi ̣ gió bão, lũ lụt hay các thiên tai khác hủy diê ̣t

Nếu môi trường khí hâ ̣u đất đai chưa biến đổi, thì quần thể có xu hướng

phu ̣c hồi lại tình trạng nguyên sinh: Đó là quá trình tái sinh tự nhiên của quần

thể Trong thiên nhiên nhiệt đới, rõ ràng là rất hiếm những loài cây có tuổi thọ

dài hàng ngàn năm, va ̣n năm như loài cây Cù tùng (Metasequoia gigantea) ở

Mỹ hay Ba ̣ch đàn vua (Eucalyptus regnans) ở Úc, mà có nhiều loài cây có tuổi

thọ ngắn hay trung bình mô ̣t vài trăm năm, cho đến 1000 năm thâ ̣m chí có loài

chỉ sống hai, ba chục năm, cho nên ở một số đi ̣a phương nhất đi ̣nh, chắc chắn

có nhiếu thế hê ̣ của các loài cây đã sinh ra lớn lên, chết đi và cá thể của các loài

Trang 29

Thái Văn Trừng (1978) [66] cũng khẳng đi ̣nh: Một thực tế mà bất kỳ tác

giả nào khi đã nghiên cứu thảm thực vâ ̣t rừng nhiệt đới, cũng đều nhất trí là

tình hình tái sinh rất thưa và yếu dưới tán rừng, của những loài cây đang chiếm

ưu thế ở tầng trên Theo những số liê ̣u điều tra và thống kê của Aubreville ở Coote d’Ivoire (Bờ biển ngà ở Châu Phi) hay của David T.A.W và Richards P.W ở Moraballi (Guyana) về tình hình đa ̣i diện các cấp thể tích của các loài trong các ô tiêu chuẩn thì các loài cây ưu thế của các tầng trên có rất ít đa ̣i diện trong các tầng dưới tán rừng, thậm chí nhiều khi không có đa ̣i diện, như vâ ̣y khi

các loài cây ưu thế này chết đi, thì thành phần của xã hợp có biến đổi không?

Mô ̣t số xã hợp khác giữa cá thể các loài cây ưu thế có thể thay thế cho xã hợp

hiê ̣n nay không? Loài cây tái sinh được nhiều nhất, có phải là loài chiếm ưu thế

hiện nay không? Thế thì điều tra tình hình tái sinh cây con của các loài mà không nắm được quy luâ ̣t tái sinh của quần thể, không biết tâ ̣p tính của từng

loài cây đối với ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ dưới rừng thì làm sao mà phán đoán

nổi hướng diễn thế của quần thể, thành phần của các xã hợp, ưu hợp sẽ phát sinh? Có loài cây hiê ̣n nay, cây ma ̣ mọc rất nhiều nhưng vì sao la ̣i không thấy cây con, cây nhỡ ở tầng trên, có loài thì không thấy cây mạ, cây con, cây nhỡ

tái sinh dưới rừng, nhưng nếu đó là một loài ưa sáng và chặt rừng đúng vào năm sai hạt, đúng vào mùa quả chín, ha ̣t già thì có thể bảo đảm được tái sinh tự nhiên của các loài cây ấy hay không [65]

Nguyễn Trọng Đạo (1969)[18] đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên dựa vào tiêu chuẩn phân loại rừng, theo ông rừng loại một thì không tu bổ và xúc tiến tái sinh

Đồng Sỹ Hiền (1974) [21] đã dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắm phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu đồ thể tích và biểu độ thân cây rừng Việt Nam Khi nghiên cứu rừng tự nhiên, ông cho rằng phân bố số cây theo chiều cao N/H ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh

Trang 30

kết cấu rừng phức tạp của rừng chặt chọn Tác giả đã sử dụng nhiều phương trình toán học khác nhau để biểu diễn tương quan này

Thái Văn Trừng (1978) [66] trong “thảm thực vật rừng Việt Nam” đã

nhấn mạnh một số nhân tố sinh thái trong nhóm nhân tố khí hậu đã ảnh hưởng điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các quần xã thực vật là ánh sáng Nguyễn Hải Tuất (1982) [67] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố

thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo Lê Minh Trung (1991) đã thử nghiệm một số phân bố xác suất mô tả phân bố N/D1.3 và

nhận xét là, phân bố Weibull là thích hợp nhất cho rừng tự nhiên ở Đắc Lắc

Trần Xuân Thiệp (1996) [60], Lê Sáu (1985) [54] cũng khẳng định sự hơn hẳn

của phân bố Weibull trong việc mô tả phân bố N/D cho tất cả các trạng thái

rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm có dạng giảm liên tục hay một đỉnh Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác, Phùng Ngọc Lan (1984) [27] đã nêu ra kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường

Hữu Lũng (Lạng sơn) Ngay từ giai đoạn nẩy mầm, bọ xít là nhân tố sinh vật đầu tiên gây ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ nẩy mầm Tiếp theo các đề tài trên, tác giả đã nghiên cứu và nêu lên sự cần thiết của việc bảo vệ và phát triển Lim xanh, đồng thời đề ra một số biện pháp kỹ thuật về xử lí hạt giống, gieo trồng loài cây này Theo tác giả không nên trồng thuần loài Lim xanh

Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp lâm sinh tới quá trình tái sinh

tự nhiên của quần xã thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu, Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan (1997) [41], Nguyễn Ngọc Lung (1985) [33], Nguyễn Duy Chuyên (1995) [ 10]…

Vũ Đình Phương (1987) [46] đã khẳng định giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực của cây rừng tự nhiên Việt Nam tồn tại mối quan hệ

mật thiết theo dạng đường thẳng Tác giả đã thiết lập phương trình cho một số loài cây lá rộng như: Vạng, Lim xanh, Chò Chỉ trong lâm phần hỗn giao khác

tuổi để phục vụ công tác điều chế rừng

Trang 31

Phạm Đình Tam (1987) [55], nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các lỗ

trống ở rừng thứ sinh vùng Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã có nhận xét: Số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán

Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [35] cho rằng nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để sự can thiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tùy thuộc vào mức độ tác động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên với mức cao nhất là tái sinh nhân tạo

Lê Mộng Chân (1994) [7] khi điều tra tổ thành loài cây ở vùng núi cao

Vườn quốc gia Ba Vì, ông cho rằng tình hình tái sinh tốt là 4100 - 7440 cây/ha Cây có triển vọng chiếm trên 60%, thành phần cây tái sinh phần lớn là những cây chịu bóng

Khi nghiên cứu vai trò của cây tái sinh rừng ở các vùng Tây Bắc, vùng Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng trung tâm, Trần Xuân Thiệp (1996) [60]

đã nhận định rằng vùng Đông bắc có năng lực tái sinh khá tốt với số lượng

8000 - 12000 cây/ha, tỉ lệ cây có triển vọng cao đáp ứng được cho việc phục

hồi rừng

Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho

thấy, phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D lớn hơn hoặc bằng 6cm) có hai dạng chính như sau: Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa, dạng

một đỉnh hình chữ J Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn lọc những mô hình toán học thích hợp để mô phỏng

Đỗ Hữu Thư, Trần Đình Lý và cộng sự (1995) [64] khi nghiên cứu năng

lực tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng trong các trạng thái thực bì ở Việt Nam

đã nhận xét: Về số lượng và chất lượng của lớp tái sinh tự nhiên, tốc độ sinh trưởng và những thay đổi của lớp tái sinh tự nhiên trong giai đoạn đầu của quá

Trang 32

trình phục hồi thảm thực vật rừng thì các dạng thực bì ở trạng thái IB, IC, IIA, IIB

đều có thể xếp vào đối tượng có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng

Nhiều tác giả cũng có những nghiên cứu về đặc điểm lớp tái sinh tự nhiên trong các trạng thái thực bì khác nhau ở một số vùng sinh thái đồi núi nước ta như: Lê Thị Kim Thuần (1985) [61]; Lê Sáu (1985) [54]; Phạm Đình Tam (1987) [55]; Trần Đình Đại, Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1990) [17]; Vũ Tiến Hinh (1991) [20]; Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1994) [62]; Hà Văn Tuế và

cộng sự (1995) [69]

Trần Xuân Thiệp (1996) [60], căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xây

dựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (theo hệ thống phân loại

của Loschau) theo ba cấp: tốt, trung bình, xấu Về phân bố theo cấp chiều cao đều có sự tương đồng ở các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Meyer từ

cấp 1 đến 5 (< 3m), cấp 6 có chiều cao cộng dồn của cây có đường kính <10cm nên không thể hiện rõ quy luật này

Qua tham khảo các tài liệu có liên quan cho thấy, việc nghiên cứu phân

bố N/D trong thời gian gần đây không chỉ dừng ở mục đích phục vụ công tác điều tra như xác định tổng diện tích ngang, trữ lượng, mà chủ yếu là xây dựng

cơ sở khoa học cho giải pháp lâm sinh trong nuôi dưỡng rừng Bảo Huy (1993), Đào Công Khanh (1996) [25], Lê Sáu (1995) [54], đã nghiên cứu phân bố N/H

Trang 33

Theo Phùng Ngọc Lan (1991) [29] khi nghiên cứu về đặc điểm của rừng

trồng thuần loài đã nêu rõ nhược điểm của rừng trồng thuần loài (Mỡ, Bồ đề Thông, Bạch đàn ) thường xuất hiện dịch bệnh, tác dụng cải tạo đất của rừng Thông, rừng Bạch đàn diễn ra rất chậm Vì vậy theo tác giả cần phải phát triển các mô hình trồng rừng hỗn loài và mô hình nông lâm kết hợp

Lâm Phúc Cố (1994) [15] khi nghiên cứu phục hồi lại rừng đầu nguồn sông Đà tại Mù Căng Chải cũng đưa ra ý kiến: Ở những nơi đất khó có khả năng tái sinh tự nhiên thì trồng rừng là một biện pháp lâm sinh cần thiết Cũng theo tác giả nên chọn phương thức trồng rừng hỗn giao nhiều loài với các loài cây sống thích nghi với điều kiện đồi núi trọc

Nguyễn Ngọc Lung (1994) [36] cho rằng nước ta trong nền kinh tế hàng hóa, nên dành hẳn một tỉ lệ đất đai để trồng rừng kinh tế có mục đích cụ thể như sản xuất nguyên liệu giấy, gỗ dán bằng phương thức trồng rừng thuần loại đều tuổi là hợp lý và có hiệu quả cao Nhưng cũng phải có những biện pháp lâm sinh là luân canh hoặc trồng xen với những loài cây cố định đạm nhằm bảo

vệ và cải tạo đất, đồng thời đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái rừng trồng

Trần Đình Lý (1995) [39] đã phân tích cụ thể về ưu, nhược điểm của

giải pháp trồng rừng và khoanh nuôi Tác giả cũng lưu ý việc chọn giải pháp nào cũng phải phụ thuộc vào điều kiện địa chất, khí hậu, điều kiện kinh tế -

xã hội của từng vùng, từng địa phương, có như vậy mới đạt được kết quả như mong muốn

Nguyễn Tiến Bân (1997) [3] cho rằng cần phải phục hồi hệ sinh thái

rừng rừng nhiê ̣t đới bằng các loài cây bản địa nhằm duy trì, bảo vệ nguồn gen

và tạo hệ sinh thái rừng hỗn loài bền vững

Theo Hà Chu Chử (1997) [11] trong những năm qua thông qua việc

trồng rừng đã bù đắp được một phần diện tích rừng đã bị mất, nâng cao độ che

phủ của rừng từ 27,7 % (năm 1990) lên 28,15% (năm 1995) Tác giả cũng lưu ý

rằng rừng trồng không thể so sánh với rừng tự nhiên về sinh khối, về chủng loại

gỗ và nhất là về tác dụng phòng hộ

Trang 34

Tóm lại: Ở Việt Nam, vấn đề tái sinh tự nhiên và trồng rừng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên cũng như các biện pháp trồng rừng đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất lâm nghiệp, bước đầu đã đem lại những kết quả khả quan góp phần vào việc phục

hồi độ che phủ của rừng

Trang 35

Ch ương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quần xã rừng trồng thuần loài

Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), thu ần loài Mỡ ( Magnolia conifera)

rừng trồng hỗn giao Thông (Pinus meskusii) và Keo lá tràm (Acacia

auriculiformis)

2.2 N ội dung nghiên cứu

2.2.1 Đặc điểm cấu trúc của các quần xã rừng trồng

- Cấu trúc tổ thành tầng cây cao

- Cấu trúc mật độ tầng cây cao, chiều cao Hvn, đường kính D1,3 cm, độ tàn che và phẩm chất tầng cây cao

- Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/D1,3); số cây theo chiều cao (N/Hvn)

- Quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính (Hvn /D1,3)

2.2.2 Thành ph ần dạng sống trong các quần xã rừng trồng

- Thành phần dạng sống theo 4 nhóm: cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo

2.2.3 Đặc điểm tái sinh trong các quần xã rừng trồng

- Cấu trúc tổ thành loài cây tái sinh

- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh

- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao

- Phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên trong các

qu ần xã rừng trồng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thu th ập số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội

Sử dụng phương pháp thu thập số liệu kế thừa có chọn lọc về điều kiện

tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu, thông qua các tài

liệu của các tác giả có liên quan đến đề tài

Trang 36

- Tài liệu về địa lý, đất đai, thổ nhưỡng

- Tài liệu về khí hậu, thủy văn

- Tài liệu về dân sinh, kinh tế - xã hội

- Bản đồ tài nguyên rừng

- Các tài liệu báo cáo có liên quan

2.3.2 Thu thập số liệu ở thực địa

Dựa trên đặc điểm hiện trạng của khu vực rừng trồng thuộc xã Ngọc Đường - thành phố Hà Giang, căn cứ vào tình hình thực tế rừng trồng thuộc khu vực này có các trạng thái rừng trồng thuần loại bao gồm Keo, Mỡ, hỗn giao nên chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu điều tra chi tiết theo ô tiêu chuẩn (ÔTC) tạm thời, điển hình cho từng đối tượng Mỗi quần xã rừng lập một ÔTC, mỗi ÔTC có kích thước là 400m2 (20x20) Mỗi đối tượng được bố trí thí nghiệm 5 lần lặp lại

2.3.2.1 Điều tra tầng cây cao

Tại mỗi ÔTC tạm thời tiến hành mô tả các chỉ tiêu như: Vị trí, độ dốc, hướng phơi, độ cao Sau đó xác định chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao:

Đường kính ngang ngực (ở độ cao 1,3m trên mặt đất - D1.3m), được đo

bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến cm, được đo theo 2 hướng Đông - Tây và Nam - Bắc, sau đó tính trị số trung bình

- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) được đo bằng thước Blumeliss (đo theo nguyên tắc lượng giác) và thước sào với độ chính xác đến cm

+ HVNđược xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây

Kết quả sau khi đo được ghi chép, thống kê đầy đủ và chi tiết vào phiếu điều tra tầng cây cao

- Xác định độ tàn che: Dùng phương pháp trắc đồ rừng của Richards và Davis (1934) biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với dải rừng có diện tích 500m2 tỉ lệ 1/200, sau đó tính diện tích độ tàn che trên giấy ô ly, tính tỉ lệ (%) Bên cạnh đó

Trang 37

2.3.2.2 Điều tra thành phần dạng sống thực vật trên ÔTC

Tiến hành điều tra thống kê tất cả các loài thực vật bắt gặp trên ÔTC của khu vực nghiên cứu, sau đó phân loại theo nhóm (nhóm cây gỗ, nhóm cây bụi, nhóm cây thảo và nhóm dây leo) theo Phạm Hoàn Hộ (2003) [23] Sau đó xác

đi ̣nh số lượng loài của từng nhóm và tỉ lê ̣ %

2.3.2.3 Điều tra lớp cây tái sinh

Trong các ÔTC có diện tích 400 m2 bố trí các ô dạng bản (ÔDB) có kích thước 4m2 (2x2m) ÔDB được bố trí trên đường chéo, trung tâm, bốn góc và các cạnh của ÔTC theo sơ đồ hình (3.1) Tổng diện tích ÔDB phải đạt ít nhất 1/3 diện tích ÔTC

Hình 2.1 Cách b ố trí các ô dạng bản trong các ô tiêu chuẩn

Tiến hành thống kê tất cả các cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:

- Tên loài cây tái sinh (loài nào chưa rõ thì thu thập mẫu để xác minh)

- Đo chiều cao cây tái sinh (đo bằng thước)

- Đo đường kính cây tái sinh (đo bằng thước kẹp kính)

- Xác định chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp: tốt, xấu và trung bình + Cây tốt là cây không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu

bệnh, cây thẳng

4m

Trang 38

+ Cây xấu là cây cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, bị sâu bệnh

+ Còn lại là cây có chất lượng trung bình

- Xác đi ̣nh nguồn gốc cây tái sinh (từ hạt, từ chồi)

- Điều tra số lượng cây tái sinh (đếm số cây trong ÔTC, tính quy về số cây/ha)

Kết quả thu thập được ghi chi tiết vào phiếu điều tra cây tái sinh

2.3.3 Ph ỏng vấn người dân tại khu vực nghiên cứu

2.3.4 Phương pháp phân tích, xử lí số liệu

2.3.4.1 Đối với tầng cây cao

* Tổ thành loài cây cao:

Đây là đối tượng rừng trồng nên việc xác định tổ thành tầng cây cao cũng đơn giản song cũng cần phải xác định tổ thành của rừng là thuần loại hay

hỗn giao Rừng thuần loại là rừng chỉ có một loài hoặc hai hay nhiều loài nhưng loài chính chiếm tỉ lệ lớn hơn 90% Còn rừng hỗn giao là rừng có hai hay nhiều loài trở lên và tỉ lệ của chúng tương đương nhau và có sự ảnh hưởng qua lại với nhau

N  (1) Trong đó: n là số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể có trong OTC

S là diện tích ÔTC (được tính theo m2)

* Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của các trạng thái rừng

- Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian phân bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp Richards và Davis (1934)

- Xác định độ che phủ: Dùng phương pháp quan sát để xác định tỉ lệ che

phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng

Trang 39

* Xác định sự phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) và số cây theo chiều cao (N/H)

- Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hóa quy luật cấu trúc tần số theo những phân bố giảm (hàm phân bố mũ) Trong lâm nghiệp thường dùng hàm phân bố giảm dạng hàm Meyer để mô phỏng cấu trúc tần số

số cây theo đường kính (N/D1.3), số cây theo chiều cao (N/H) ở những lâm phần hỗn giao, khác tuổi qua khai thác chọn không quy tắc nhiều lần

Hàm Meyer có dạng: ft =  e.x (2)

Trong đó: ft : là tần số quan sát

x: Là cỡ đường kính hoặc cỡ chiều cao

 , : Là hai tham số của hàm Meyer

Để xác định tham số của phân bố giảm da ̣ng hàm Meyer trước tiên phải tuyến tính hóa phương trình mũ, bằng cách logarit hóa cả hai vế của phương trình (2) để đưa về da ̣ng phương trình hồi quy tuyến tính một lớp có da ̣ng y =ax + b

Kiểm tra giả thuyết về luâ ̣t phân bố:

Cho giả thuyết H0: Fx(x) = F0(x), trong đó F0(x) là mô ̣t hàm phân bố hoàn

toàn xác đi ̣nh Để kiểm tra giả thuyết H0, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp khi

bình phương của Pearsion:

χ2= ∑ (ft - flt)2/ flt (3.3) Trong đó: ft: Là tri ̣ số thực nghiệm

flt: Là tri ̣ số lý thuyết

Nếu χ2 tính nhỏ hơn hoă ̣c bằng χ2

0,05 tra bảng với bậc tự do k = m-r-1 thì phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiê ̣m (H0+)

Nếu χ2 tính lớn hơn hoă ̣c bằng χ2

0,05 tra bảng với bậc tự do k = m-r-1 thì phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiê ̣m (H0-)

2.3.4.2 Nghiên c ứu tổ thành loài cây dưới tán rừng trồng

Xác đi ̣nh tên khoa học và tên đi ̣a phương theo các tài liệu hiê ̣n hành của

Pha ̣m Hoàng Hộ (2003) [23], Nguyễn Tiến Bân (1997) và của Bộ Nông nghiê ̣p

và phát triển nông thôn (2000)

Trang 40

2.3.4.3 Đối với lớp cây tái sinh

* Tổ thành loài cây tái sinh:

- Xác định số cây trung bình theo loài dựa vào công thức:

n_ =

m

n i

(3.4)

Trong đó: n_ là số cây trung bình theo chiều dài

m là tổng số cá thể điều tra

ni là số lượng cá thể loài i

Xác đi ̣nh tỉ lê ̣ tổ thành và hê ̣ số tổ thành của từng loài được tính theo

Nếu ni≥ 5% thì loài được tham gia vào công thức tổ thành

ni < 5% thì loài đó không được tham gia vào công thức tổ thành

Hệ số tổ thành: Ki =

m i

n

x 10 (3 5b) Trong đó Ki : Hệ số tổ thành loài thứ i

ni : Số lượng cá thể loài i

m : Tổng số cá thể điều tra

* Xác định mật độ cây tái sinh: việc xác định mật độ cây tái sinh là thống

kê toàn bộ số cây tái sinh trên một đơn vị diện tích (thường là ha) được tính

n là số lượng cây tái sinh điều tra

* Xác định chất lượng cây tái sinh:

Khi điều tra loài cây tái sinh đồng thời xác định chất lượng cây tái sinh

theo cấp độ tốt, trung bình, xấu Từ đó xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng

Ngày đăng: 12/06/2021, 16:33

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm