Tình trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do sự nhận thức chưa đầy đủ về công tác quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, sự phối hợp chưa tốt giữa c
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
MAI VĂN HIỆU
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG – CÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ TẠI
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BINH THUẬN, NĂM 2019
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
MAI VĂN HIỆU
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG – CÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ
TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã số: 8.58.03.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHÍNH: PGS.TS ĐỖ VĂN LƯỢNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN PHỤ: TS LÊ QUỐC TOÀN
BÌNH THUẬN, 2019
Trang 3GÁY BÌA LUẬN VĂN
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này do chính tôi nghiên cứu Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên./
Bình Thuận, tháng 5 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Văn Hiệu
Trang 5ii
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ, bản thân đã được sự truyền đạt, hỗ trợ, tạo điều kiện rất nhiều của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp với những kiến thức khoa học, thực tiễn trong cuộc sống, cũng như kiến thức trong xã hội
Tôi xin chân thành biết ơn với lòng thành kính tới PGS.TS Đỗ Văn Lượng, TS
Lê Quốc Toàn đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu,
để hoàn thành Luận văn này
Đồng thời, xin tỏ lòng biết ơn tới các giáo viên đã giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và trong thời gian làm Luận văn Thạc sỹ của mình
Xin cảm ơn lãnh đạo cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa học
Tuy đã rất cố gắng thực hiện Luận văn với năng lực của bản thân, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót hoặc có phần nghiên cứu chưa sâu Rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy, cô
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bình Thuận, tháng 5 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Văn Hiệu
Trang 6iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ viii
MỞ ĐẦU , 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của Đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết quả đạt được của luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 4
1.1 Nội dung cơ bản về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư xây dựng 4
1.1.1.Khái niệm về dự án đầu tư 4
1.1.2.Khái niệm quản lý dự án đầu tư 7
1.1.3.Quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 9
1.1.3.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng 10
1.1.3.2.Lập dự án đầu tư xây dựng 11
1.2.Tổng quan về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình hiện nay 13
1.3.Chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư 16
Kết luận chương 1 19
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 20
2.1 Cơ sở pháp lý và các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 20
2.2 Cơ sở khoa học về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 26
2.2.1 Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng 26
2.2.2 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 27
2.2.3 Chức năng cơ bản của quản lý dự án 31
2.2.4 Phân loại dự án đầu tư 33
Trang 7iv
2.2.5 Tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 35
2.3 Nội dung cơ bản về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 36
2.3.1 Các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình: 36
2.3.2 Nội dung cụ thể trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng công trình 37
Kết luận chương 2 41
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG – CÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ TẠI TỈNH BÌNH THUẬN 43
3.1 Giới thiệu tình hình đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp tại tỉnh Bình Thuận giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017 43
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Bình Thuận 43
3.1.2 Tình hình kinh tế-xã hội của Bình Thuận trong những năm qua 45
3.1.3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp tại tỉnh Bình Thuận giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2017 49
3.2 Đặc điểm về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp tại tỉnh Bình Thuận 50
3.2.1 Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng tại tỉnh Bình Thuận 50
3.2.2 Phân loại và quy trình quản lý đối với dự án đầu tư xây dựng công trình 57
3.3 Phân tích thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư tại tỉnh Bình Thuận 59
3.3.1 Về cơ chế chính sách: 66
3.3.2 Về công tác quy hoạch: 67
3.3.3 Về chủ trương đầu tư: 67
3.3.4 Về giao chủ đầu tư: 69
3.3.5 Về công tác bố trí vốn và phân bổ nguồn vốn đầu tư 70
3.3.6 Về chất lượng tư vấn khảo sát, thiết kế: 72
3.3.7 Công tác lập hồ sơ thiết kế cơ sở, lập dự án đầu tư 74
3.3.8 Về công tác quản lý TMĐT xây dựng công trình 77
3.3.9 Về công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình 78
3.3.10 Đánh giá về công tác tác thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng 80
3.4 Đánh giá kết quả đạt được về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư tại tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua 81
Trang 8v
3.4.1 Kết quả công tác quản lý dự án nói chung 81
3.4.2 Kết quả công tác quản lý giai đoạn chuẩn bị đầu tư của dự án 83
3.4.3 Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư 85
3.4.3.1 Những tồn tại, hạn chế 85
3.4.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 92
3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư tại tỉnh Bình Thuận 98
3.5.1 Về cơ chế chính sách 99
3.5.2 Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong quá trình ra quyết định chủ trương đầu tư 99
3.5.3 Mô hình hoạt động của Ban quản lý dự án chuyên ngành và khu vực 102
3.5.4 Xác định và giao chủ đầu tư dự án 102
3.5.5 Nâng cao công tác lập kế hoạch và và bố trí nguồn vốn đầu tư 105
3.5.6 Lựa chọn các đơn vị tư vấn đủ năng lực và kinh nghiệm 107
3.5.7 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình 108
3.5.8 Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra giám sát đánh giá dự án đầu tư 108
Kết luận chương 3 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
Trang 9vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sự cố sập giàn giáo tại trung tâm thương mại nằm trên đường Sư Vạn
Hạnh, P.12, Q.10, TP.HCM vào tháng 01/2016 14
Hình 1.2 Sự cố sập tường tầng 3 tại Trường tiểu học Đồng Tâm tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vào tháng 8/2017 14
Hình 2.1 Sơ đồ văn bản quy phạm pháp luật 22
Hình 2.2 Các mục tiêu của quản lý dự án 27
Hình 2.3 Các yếu tố của quản lý dự án 29
Hình 2.4 Sơ đồ chủ đầu tư xây dựng công trình 38
Hình 3.1 Bản đồ vị trí tỉnh Bình Thuận 43
Hình 3.2 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận 44
Hình 3.3 Sơ đồ các chủ thể tham gia quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng 50
Hình 3.4 Sơ đồ quản lý dự án đầu tư xây dựng tại tỉnh Bình Thuận 58
Hình 3.5 Dự án Trường tiểu học Đức Thắng 2, thành phố Phan Thiết 60
Hình 3.6 Dự án Trường tiểu học Bình Hưng, thành phố Phan Thiết 60
Hình 3.7 Dự án Trụ sở làm việc Sở Tài chính đang thi công và hoàn thiện 62
Hình 3.8 Dự án Trường Chính trị Bình Thuận đang thi công và hoàn thiện 62
Hình 3.9 Tuyến đường Võ Nguyên Giáp đã hoàn thành đưa vào sử dụng 63
Hình 3.10 Một số dự án Thủy lợi tại Bình Thuận 64
Hình 3.11 Đánh giá tình hình đầu tư các công tình dân dụng – công nghiệp sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2012-2017 66
Hình 3.12 Xử lý móng bằng cừ tràm tại công trình Trường trung học cơ sở Võ Thị Sáu, huyện Tuy Phong .75
Hình 3.13 Sự cố sập tường rào tại công trình Trường trung học phổ thông Hùynh Thúc Kháng, huyện Hàm Tân 76
Hình 3.14 Chất lượng thi công kém chất lượng của công trình Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh Bình Thuận 77
Hình 3.15 Mô hình tổ chức các Ban QLDA thuộc các Sở, ngành của tỉnh hiện nay chưa phù hợp 87
Hình 3.16 Mô hình tổ chức các phòng ban cấp huyện hiện nay chưa phù hợp 87
Hình 3.17 Đề xuất mô hình quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cấp tỉnh 100
Hình 3.18 Đề xuất mô hình quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cấp huyện 101
Hình 3.19 Đề xuất mô hình tổ chức hoạt động của BQLDA chuyên ngành và QLDA khu vực sau khi thành lập mới 102
Trang 10vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.2 Các chức năng quản lý nhà nước theo các giai đoạn của quá trình đầu tư 30 Bảng 3.1 Cân đối ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2018 46 Bảng 3.2 Kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2011-2018 47 Bảng 3.3 Bảng đánh giá các dự án đầu tư xây dựng lĩnh vực dân dụng – công nghiệp sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2012-2017 65 Bảng 3.4 Một số công trình điều chỉnh tăng TMĐT 78 Bảng 3.5 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng 80
Trang 11viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách còn hạn chế thì việc quản lý sử dụng ngân sách nhà nước cần phải được quan tâm để hạn chế tối đa thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng Việc ban hành và đi vào thực hiện các Luật có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý đầu tư và xây dựng ở Việt Nam thời gian qua như Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Quy hoạch đô thị,…cùng với các Nghị định, Thông tư và các văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực xây dựng đã góp phần hoàn thiện và khắc phục những hạn chế về quản lý đầu tư xây dựng khi thực hiện theo cơ chế cũ trước đây Đây là sự thay đổi quan trọng về pháp luật, góp phần tạo ra sự chuyển biến về nhận thức cho chính những người làm công tác quản lý trong ngành xây dựng
Trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nhiều dự án đầu tư xây dựng hạ tầng
kỹ thuật được xây dựng và sau khi hoàn thành đã phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội tốt Bên cạnh những dự án có chất lượng, tiến độ nhanh, đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ
đề ra và mang lại hiệu quả kinh tế, vẫn còn có những dự án chậm tiến độ, chất lượng không cao, không thể đưa vào khai thác sử dụng, gây lãng phí lớn về tiền của và tài sản của nhân dân
Chất lượng một số dự án đầu tư không cao, hiệu quả thấp điều đó cho thấy chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong tỉnh Bình Thuận vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, chất lượng quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư chưa tốt như: đầu tư dàn trải, thời gian bố trí vốn và thực hiện dự án kéo dài, nhiều dự án phải liên tục điều chỉnh bổ sung quy mô đầu tư, TMĐT, nhiều dự án đầu tư xong không đạt được mục tiêu đề ra gây lãng phí trong đầu tư Tình trạng đó xuất phát
từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do sự nhận thức chưa đầy đủ về công tác quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, sự phối hợp chưa tốt giữa chủ đầu tư
và các đơn vị tư vấn, chất lượng trong công tác khảo sát và lập dự án chưa cao, giao vốn cho một số chủ đầu tư chưa đúng quy định, trình độ cán bộ làm công tác quản lý, thẩm định dự án chưa đáp ứng yêu cầu,…
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách đang đặt ra trong thực tiễn nói trên và nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu
tư, học viên lựa chọn đề tài “Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Dựa trên cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư
để phân tích đánh giá thực trạng về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng – công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư tại tỉnh Bình Thuận
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu chất lượng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư trong giai đoạn năm 2012-2017
- Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến trình tự quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận và ứng dụng các Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn về xây dựng của nhà nước;
- Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về quản lý dự án dự án đầu
tư xây dựng công trình ở Việt Nam và tỉnh Bình Thuận;
- Thu thập tài liệu, khảo sát thực tế;
- Phân tích tổng hợp;
Trang 143
- Tham khảo nghiên cứu của những người đi trước kết hợp với kinh nghiệm qua quá trình công tác của bản thân
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài: Luận văn hệ thống lý luận cơ bản về công tác quản
lý dự án đầu tư xây dựng dân dụng – công nghiệp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư để làm rõ tầm quan trọng của công tác quản lý dự án đầu tư góp phần hoàn thiện hệ thống
lý luận, làm cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và vận dụng để nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư tại tỉnh Bình Thuận
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra được
những mặt đã làm được và những mặt còn tồn tại, hạn chế cần được khắc phục trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư để từ đó đề ra một số giải pháp đồng bộ, cụ thể, thiết thực và phù hợp nhất để áp dụng vào việc nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư nói riêng và lĩnh vực đầu tư xây dựng nói chung tại tỉnh Bình Thuận
6 Kết quả đạt được của luận văn:
Hệ thống, khái quát những vấn đề cơ bản trong công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình xây dựng như khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng, các biện pháp quản
lý đầu tư xây dựng Đồng thời làm sáng tỏ lý luận nêu trên bằng thực tiễn hoạt động đầu tư dự án xây dựng các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tại tỉnh Bình Thuận
Phân tích thực trạng về công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tại tỉnh Bình Thuận Qua đó đánh giá những mặt được, mặt còn tồn tại hạn chế cần khắc phục trong công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp giai đoạn chuẩn bị đầu tư nhằm nâng cao chất lượng quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình tại tỉnh Bình Thuận
Trang 154
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1 Nội dung cơ bản về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư xây dựng
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư
1 Khái niệm về đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [1]
Theo Ngân hàng thế giới, Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định
Theo quan niệm của ngân hàng, mọi đề xuất của khách hàng đối với ngân hàng để nhận được sự hỗ trợ về vốn đều được coi là các dự án đầu tư của khách hàng
2 Khái niệm về dự án đầu tư:
Có nhiều khái niệm khác nhau về dự án đầu tư, nhưng những khái niệm thường xuyên được sử dụng khi nghiên cứu về dự án đầu tư như sau:
- Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí liên quan với nhau được thiết
kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định
- Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới,
mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt đựơc sự tăng trưởng về
số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định
- Dự án đầu tư là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng các nguồn lực tài nguyên hữu hạn vốn có thể đem lại lợi ích thực cho xã hội càng nhiều càng tốt
- Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định
+ Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu, trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo kế hoạch để thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
Trang 163 Thành phần chính của dự án đầu tư:
- Mục tiêu của dự án: Là những lợi ích tài chính và kinh tế xã hội dự kiến sẽ thu được nếu dự án được thực hiện
- Các kết quả: Là những sản phẩm, dịch vụ được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu của
dự án
- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo
ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành động này, cùng với một tiến độ thực hiện và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận có liên quan, sẽ tạo thành kế hoạch hành động của dự án
- Các nguồn lực gồm: Vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động Giá trị các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần thiết cho dự án
Trong đó các kết quả đạt được là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án Vì vậy cần thường xuyên theo dõi, đánh giá các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện dự án Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đến việc tạo ra các kết quả, được coi là hoạt động chủ yếu và phải được đặc biệt quan tâm
4 Đặc trưng chủ yếu của dự án đầu tư:
- Xác định được mục đích, mục tiêu cụ thể;
- Xác định được hình thức tổ chức thực hiện;
- Xác định được nguồn vốn tài chính để tiến hành thực hiện đầu tư;
- Xác định được khoảng thời gian để thực hiện mục tiêu dự án
5 Công dụng của dự án đầu tư:
- Là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư;
Trang 17Ngoài ra, dự án đầu tư còn có các công dụng như:
+ Giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa các bên có liên quan đến thực hiện dự án;
+ Là căn cứ để xem xét, xử lý hài hòa mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nước và là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên;
+ Là căn cứ để xây dựng hợp đồng liên doanh, soạn thảo điều luật của doanh nghiệp liên doanh
Để đảm bảo tính khả thi, một dự án đầu tư cần đáp ứng các yêu cầu:
- Tính khoa học và hệ thống: Phải nghiên cứu tỷ mỉ, kỹ càng, tính toán, cân nhắc cẩn
thận, chính xác từng nội dung cụ thể của dự án Đồng thời cần sự tư vấn của cơ quan chuyên môn về dịch vụ đầu tư;
- Tính pháp lý: Phải có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước Do đó, quá trình soạn thảo dự án cần nghiên cứu kỹ chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước và các văn bản liên quan đến hoạt động đầu tư;
- Tính đồng nhất: Phải tuân thủ các quy định về hoạt động đầu tư kể cả các quy định về
thủ tục đầu tư Đối với dự án quốc tế còn phải tuân thủ những quy định chung mang tính quốc tế;
- Tính thực tiễn: Phải được nghiên cứu và xác định trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động đầu
tư Việc chuẩn bị kỹ càng, khoa học sẽ giúp thực hiện dự án có hiệu quả cao nhất và giảm tối thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư
Trang 187
1.1.2 Khái niệm quản lý dự án đầu tư
Thực tế có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý dự án, có thể nêu ra một
số khái niệm thường được nhiều học giả sử dụng như sau:
- Quản lý dự án là một nghệ thuật và khoa học phối hợp con người, thiết bị, vật tư, tiền bạc, cùng với tiến độ để hoàn thành một dự án cụ thể đúng thời hạn trong vòng chi phí
đã được duyệt
- Quản lý dự án là việc điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia vào một dự án nhằm hoàn thành dự án đó theo những hạn chế được áp đặt bởi chất lượng, thời gian và chi phí
- Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được phê duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
- Quản lý dự án là một quá trình hoạch định (Planning), tổ chức (Organizing), lãnh đạo (Leading/Directing) và kiểm tra (Controlling) các công việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định
1 Nội dung của quản lý dự án đầu tư
Quản lý dự án là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạch đối với các giai đoạn của vòng đời dự án Mục đích của nó là từ góc độ quản lý và tổ chức, áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu dự án như: mục tiêu về giá thành, mục tiêu thời gian, mục tiêu chất lượng Vì thế làm tốt công tác quản lý là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng
2 Chu trình quản lý dự án xoay quanh 3 nội dung chủ yếu là (1) Lập kế hoạch, (2) Tổ chức phối hợp thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và (3) Giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định
Chi tiết hơn của quản lý dự án gồm những nội dung sau:
- Quản lý phạm vi dự án: tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội dung công việc của dự án nhằm thực hiện mục tiêu dự án,…;
- Quản lý thời gian dự án: quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra Nó bao gồm
Trang 19- Quản lý chất lượng dự án: là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra Nó bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng…
- Quản lý nguồn nhân lực của dự án: là phương pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong dự án và tận dụng nó một cách hiệu quả nhất Nó bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban quản lý dự án
- Quản lý việc trao đổi thông tin dự án: là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ dự án
- Quản lý rủi ro trong dự án: Khi thực hiện dự án có thể sẽ gặp phải những yếu tố rủi ro
mà chúng ta không lường trước được Quản lý rủi ro là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những yếu tố có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những yếu tố bất lợi không xác định cho dự án Nó bao gồm việc nhận dạng, phân loại rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro
- Quản lý việc mua bán của dự án: là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm sử dụng hàng hóa, vật liệu, máy móc trang thiết bị thu mua được từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua, lựa chọn việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu
- Quản lý việc giao nhận dự án: một số dự án sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả Dự án mới bước vào giai đoạn đầu vận hành sản xuất nên khách hàng có thể thiếu nhân lực quản lý kinh doanh hoặc chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của dự án, vì thế cần có sự hỗ trợ của đơn vị thi công
dự án, giúp đơn vị tiếp nhận dự án giải quyết vấn đề này, từ đó xuất hiện khâu quản lý việc giao – nhận dự án Quản lý việc giao - nhận dự án cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận dự án, tức là cần có sự phối hợp chắt chẽ giữa hai bên
Trang 209
giao nhận Như vậy mới tránh được tình trạng dự án tốt nhưng hiệu quả kém, đầu tư cao nhưng lợi nhuận thấp
3 Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
- Kết quả cuối cùng cần đạt được (chất lượng của dự án): Mỗi một dự án thường đặt ra một hay nhiều mục tiêu cần đạt được (mục tiêu kỹ thuật công nghệ, mục tiêu kinh tế tài chính, mục tiêu kinh tế xã hội, quốc phòng…) nhưng chất lượng cuối cùng mới là quan trọng nhất
- Nguồn lực: Để đạt được kết quả mong muốn, mỗi dự án đều dự trù chi phí nguồn lực huy động cho dự án (nhân lực, vật lực, tài lực, kinh phí…) Trên thực tế, do những biến
cố rủi ro làm cho chi phí, nguồn lực thực tế thường có nguy cơ vượt quá dự kiến ban đầu Cũng có những trường hợp không đủ nguồn lực huy động cho dự án như đã dự kiến làm cho dự án triển khai không thuận lợi, phải điều chỉnh, thay đổi lại mục tiêu so với
dự kiến ban đầu,…
- Thời gian: Để thực hiện một dự án đòi hỏi phải có thời gian nhất và thường bị ấn định khống chế do nhiều lý do (cạnh tranh thị trường, tranh thủ thời cơ, giành cơ hội ) Ngay trong từng giai đoạn của chu trình dự án cũng có thể bị những khống chế về thời gian thực hiện Thông thường, tiến trình thực hiện một dự án theo thời gian có thể chia ra 3 thời kỳ: Khởi đầu, triển khai và kết thúc
Nếu một dự án được thực hiện mà đạt được kết quả cuối cùng như dự kiến (độ hoàn thiện yêu cầu) trong một thời gian khống chế với một nguồn lực đã xác định thì dự án xem là đã hoàn thành mục tiêu tổng thể Tuy nhiên, trên thực tế mục tiêu tổng thể thường rất khó, thậm chí không thể nào đạt được và do đó trong quản lý dự án người ta thường phải tìm cách kết hợp dung hòa 3 phương diện chính của một dự án bằng cách lựa chọn
và thực hiện phương án kinh tế nhất theo từng trường hợp cụ thể
Ba yếu tố cơ bản (Thời gian, nguồn lực và kết quả) là những mục tiêu cơ bản của quản
lý dự án và giữa chúng có mỗi liên quan chặt chẽ với nhau Sự kết hợp 3 yếu tố này tạo thành mục tiêu tổng thể của quản lý dự án
1.1.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chuẩn bị đầu tư là giai đoạn tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại của các giai đoạn tiếp sau của dự án Ở giai đoạn này chưa xuất hiện các nhà thầu tư vấn giám sát, thi công,… mà chủ yếu là các thủ tục pháp lý và dự án đầu tư được duyệt là cơ sở
Trang 2110
để triển khai các bước tiếp theo Trong giai đoạn này vấn đề chất lượng, sự chính xác của các kết quả nghiên cứu, việc tính toán và lập dự toán là quan trọng nhất nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc quyết định đầu tư một dự án
1.1.3.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng
1 Khái niệm: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng, để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định [2]
Dự án đầu tư xây dựng bao gồm Báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế cơ sở Chu trình của dự án đầu tư xây dựng hoàn toàn giống chu trình của dự án đầu tư
2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình là:
- Tính "duy nhất" của sản phẩm, mỗi dự án đầu tư xây dựng đều cho một sản phẩm cụ thể và duy nhất;
- Mỗi dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rất rõ ràng, tức là thời gian quản lý dự án
có thể xác định được và chỉ xảy ra một lần
3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng: là sự điều hành các công việc theo kế hoạch đã định hoặc các công việc phát sinh trong quá trình hoạt động xây dựng với các điều kiện ràng buộc nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách tối ưu Các ràng buộc gồm: Quy phạm pháp luật như Luật, Nghị định, Quy chuẩn, Tiêu chuẩn, Ngân sách như nguồn vốn, tài chính, Thời gian như tiến độ thực hiện Không gian như đất đai, tổng mặt bằng xây dựng,
4 Xác định chủ đầu tư của dự án: [2] [5]
Chủ đầu tư dự án (chủ đầu tư xây dựng công trình) là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Tùy từng loại vốn mà việc xác định chủ đầu tư xây dựng công trình khác nhau:
- Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là các cơ quan, tổ chức, đơn vị do Thủ tướng Chính phủ giao
- Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là BQLDA đầu tư xây dựng chuyên
Trang 22- Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách do tập đoàn kinh tế, tổng công
ty nhà nước quyết định đầu tư thì chủ đầu tư do các doanh nghiệp này quyết định thành lập hoặc là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình
1.1.3.2 Lập dự án đầu tư xây dựng
Lập dự án đầu tư xây dựng là việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng (nếu có), Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác để chuẩn bị đầu tư xây dựng.[2]
1) Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi: Là tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu sơ bộ
về sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng làm cơ sở xem xét, quyết định chủ trương đầu tư xây dựng
+ Đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, chủ đầu tư phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi để trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư xây dựng Những dự án khác trong trường hợp cần phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư xem xét, quyết định
+ Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công [3], việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và quyết định chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công + Đối với dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, vốn khác chưa có trong quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng được duyệt, thì chủ đầu tư phải báo cáo cấp thẩm quyền để xem xét, chấp thuận bổ sung quy hoạch hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi
Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ chủ trì thẩm định có trách nhiệm lấy ý kiến chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng của Bộ quản lý ngành và các cơ quan có liên quan để
Trang 23+ Vị trí xây dựng, hướng tuyến công trình, danh mục và quy mô, loại, cấp công trình
thuộc tổng mặt bằng xây dựng;
+ Phương án công nghệ, kỹ thuật và thiết bị lựa chọn (nếu có);
+ Giải pháp về kiến trúc, mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng công trình, các kích thước, kết cấu chính của công trình xây dựng;
+ Giải pháp về xây dựng, vật liệu chủ yếu được sử dụng, ước tính chi phí xây dựng cho từng công trình;
+ Phương án kết nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài công trình, giải pháp phòng, chống cháy, nổ;
+Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng và kết quả khảo sát xây dựng để lập thiết
kế cơ sở
- Các nội dung khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi bao gồm:
+ Sự cần thiết và chủ trương đầu tư, mục tiêu đầu tư xây dựng, địa điểm xây dựng và diện tích sử dụng đất, quy mô công suất và hình thức đầu tư xây dựng;
+ Khả năng bảo đảm các yếu tố để thực hiện dự án như sử dụng tài nguyên, lựa chọn công nghệ thiết bị, sử dụng lao động, hạ tầng kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, yêu cầu trong khai thác sử dụng, thời gian thực hiện, phương án giải phóng mặt bằng xây dựng, tái định cư (nếu có), giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án, vận hành, sử dụng công trình và bảo vệ môi trường;
+ Đánh giá tác động của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, an toàn trong xây dựng, phòng, chống cháy, nổ và các nội dung cần thiết khác;
Trang 2413
+ TMĐT và huy động vốn, phân tích tài chính, rủi ro, chi phí khai thác sử dụng công
trình, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; kiến nghị cơ chế phối hợp, chính sách
ưu đãi, hỗ trợ thực hiện dự án và các nội dung khác có liên quan
1.2 Tổng quan về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình hiện nay
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân liên tục và nhanh chóng, quy
mô hoạt động xây dựng ngày càng mở rộng, tính xã hội ngành xây dựng ngày càng cao Ngành xây dựng thực sự góp phần tạo nên dáng vóc mới của đất nước với các công trình giao thông, thủy lợi hiện đại, các công trình công nghiệp như: điện, dầu khí và nhiều công trình dân dụng – công nghiệp cao tầng trong đô thị đạt tiêu chuẩn quốc tế Thực tế
sự phát triển nhiều quốc gia đã cho thấy không một nền kinh tế nào có thể phát triển toàn diện khi không có một nền tảng cơ sở hạ tầng vững chắc Bên cạnh đó cũng không
ai phủ nhận rằng đầu tư xây dựng cơ bản là tác nhân chính quyết định tới chất lượng của
hệ thống cơ sở hạ tầng cho một nền kinh tế Chính bởi lý do đó mà việc nghiên cứu và phân tích công tác thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đề ra giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư công trình xây dựng và kết quả đầu tư luôn là vấn đề đáng được quan tâm đối với mọi quốc gia
Trong thời gian qua Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản Luật, Nghị định có liên quan đến công tác đầu tư xây dựng Việc chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng trong công tác quản lý đầu tư xây dựng đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, làm đúng quy trình, trình
tự trong các khâu: Lập Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định dự án; lập, thẩm định và phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán căn cứ quan trọng để giao thầu hoặc tổ chức đấu thầu Thể hiện qua chất lượng hồ sơ dự án, hồ sơ thiết kế có nhiều tiến bộ Tuy nhiên tồn tại chủ yếu trong lĩnh vực này là: chất lượng lập chủ trương đầu tư, chất lượng hồ sơ dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng hồ sơ thiết kế và dự toán chưa đảm bảo, tính toán sai thiết kế gây đổ sập, biện pháp thi công không đảm bảo, hồ sơ đấu thầu nói chung còn thấp so với yêu cầu quản lý, đặc biệt so với trình độ trong khu vực và quốc tế còn có khoảng cách khá xa, năng lực nhà thầu thi công không phù hợp, nhà thầu không có hệ thống quản lý chất lượng nên đã có một số công trình xảy ra sự cố như lún sụp móng, sập tường, sập giàn giáo trong quá trình thi công, gây sụp lún các công trình lân cận
Trang 2514
Hình 1.1 Sự cố sập giàn giáo tại trung tâm thương mại nằm trên đường Sư Vạn
Hạnh, P.12, Q.10, TP.HCM vào tháng 01/2016
Hình 1.2 Sự cố sập tường tầng 3 tại Trường tiểu học Đồng Tâm tại quận Hai Bà
Trưng, Hà Nội vào tháng 8/2017
Trang 2615
Nguyên nhân được xác định là các đơn vị (chủ đầu tư, giám sát, thi công) vẫn chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định khi tham gia hoạt động xây dựng, không quan tâm tới điều kiện thực tế hiện trường để có thiết kế phù hợp giảm rủi ro, hạn chế ảnh hưởng công trình lân cận khi khảo sát xây dựng Trong quá trình thi công, một số đơn
vị không tuân thủ quy định về thẩm tra, thẩm định thiết kế, biện pháp thi công, không khảo sát bổ sung phục vụ lập phương án dẫn tới lập biện pháp thi công không phù hợp,
có sai sót gây ra sự cố tại chính công trình hoặc ảnh hưởng công trình lân cận Một nguyên nhân khác là vấn đề tư vấn giám sát cũng không thực hiện hết trách nhiệm Trong giai đoạn sử dụng, công tác bảo trì không có hoặc không phù hợp với công trình, không được kiểm tra, kiểm định, đánh giá chất lượng định kỳ để có biện pháp duy tu, sửa chữa
Để khắc phục tình trạng này, chúng ta đã có những thay đổi trong lĩnh vực pháp luật, đổi mới nhận thức trong việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Sự đổi mới này được thể hiện trong các nội dung của Luật xây dựng năm 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm
tư thấy được giá trị của tài sản mà họ quản lý nên họ phải có trách nhiệm rất lớn khâu lập chủ trương đầu tư dự án đến khi thi công công trình nhằm xây dựng được các công trình có chất lượng tốt, thời gian xây dựng ngắn và chi phí đúng theo dự kiến Cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng về việc chấp hành và tuân thủ các quy định của pháp luật về quyết định chủ trương đầu tư, lập dự án, quản lý dự án, quy trình, áp dụng quy phạm trong thiết kế, thi công xây dựng và nghiệm thu, phân giao quyền và trách nhiệm đầy đủ, cụ thể, rõ ràng cho các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý dự án đầu tư công trình xây dựng từ trung ương đến địa phương; làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng trong công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng và an toàn xây dựng Đồng thời cơ quan quản lý nhà nước cần phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát thường xuyên hơn các công trình xây dựng chứ không chỉ thực hiện vào những thời
Trang 271) Về cơ chế chính sách:
- Pháp luật về xây dựng còn chồng chéo và không đồng bộ giữa các Luật;
- Kế hoạch đầu tư trung hạn và dài hạn không rõ ràng, cơ chế chính sách áp dụng cho công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư còn chưa hợp lý;
- Định mức chi phí cho công tác lập dự án đầu tư thấp, không tương xứng với thời gian, công sức và khối lượng công việc của tư vấn bỏ ra;
- Chi phí chi phí cho tư vấn lập dự án đầu tư thấp chỉ bằng khoảng 13% chi phí cho tư vấn lập thiết kế kỹ thuật đối với công trình thiết kế 3 bước và bằng khoảng 10% đối với công trình thiết kế 2 bước
2) Về quy hoạch: Một số quy hoạch chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu đồng
bộ Một số quy hoạch ngành, lĩnh vực chậm được bổ sung, điều chỉnh như: quy hoạch cấp nước, thoát nước, cấp điện, dẫn đến việc triển khai các dự án đầu tư trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư gặp nhiều khó khăn và thiếu thống nhất
3) Về chủ trương đầu tư: Đây là vấn đề quyết định đến toàn bộ dự án, chủ trương đầu tư đúng sẽ mang lại hiệu quả cao, chủ trương đầu tư sai sẽ gây lãng phí tốn kém, dự án kéo dài Tuy nhiên nhiều chủ đầu tư vẫn xem nhẹ nhiệm vụ này, lập sơ sài để kịp trình cấp
Trang 2817
thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư để làm cơ sở đưa vào danh mục bố trí vốn dẫn đến nhiều dự án khi triển khai lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (lập dự án đầu tư), Báo cáo kinh tế kỹ thuật không phê duyệt được do không phù hợp với quy hoạch, phải lập
hồ sơ trình và phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư từ đó làm kéo dài thời gian triển khai dự án Ngoài ra việc đầu tư xây dựng công trình còn nhiều tồn tại, do khảo sát, đánh giá chưa tốt, chưa tính toán đầy đủ điều kiện xây dựng công trình, quy hoạch xây dựng chưa gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, không tính toán đầy đủ yếu tố đầu vào
và đầu ra của sản phẩm nhất là những công trình sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, không ít công trình xây dựng còn sai lầm về chủ trương đầu tư: Nhà máy xây xong không có nguyên liệu để sản xuất, phải dỡ bỏ chuyển sang làm việc khác; chợ xây xong không có người đến họp phải bỏ không; công trình xây dựng có quy mô lớn không sử dụng hết công năng, gây lãng phí chi phí đầu tư, vấn đề giá cả vật tư, vật liệu, cước vận tải thường xuyên biến động theo xu hướng tăng, khi lập dự toán, tư vấn thiết kế đã
áp giá theo quy định của địa phương đến khi thiết kế làm tăng TMĐT, có dự án phải phê duyệt lại chủ trương đầu tư
4) Về chất lượng tư vấn khảo sát, thiết kế: Nhiều công trình tính toán không đầy đủ các yếu tố về khảo sát theo quy định dẫn tới thiết kế sai phải điều chỉnh nhiều lần Có hai vấn đề đáng quan tâm là:
+ Thiết kế thường vượt quá yêu cầu của dự toán đầu tư để thiên về an toàn quá mức, sử dụng các loại vật liệu đắt tiền để có TMĐT cao từ đó có chi phí thiết kế phí cao, khi thẩm định và thi công công trình do yêu cầu của tổng dự toán phải cắt bỏ một số hạng mục hoặc chi tiết lại không được tính toán kỹ do đó đã ảnh hưởng đến chất lượng + Thiết kế khá phổ biến là không đúng tiêu chuẩn quy chuẩn Nhiều trường hợp khảo sát còn sơ sài, đơn giản, chưa theo quy định, nhất là phần cọc ép dưới đất Khảo sát sai, dẫn tới thiết kế sai, chất lượng công trình thấp, những hiện tượng lún, nứt, thấm, dột, sập đổ thường xảy ra
+ Mặt khác năng lực của một số doanh nghiệp làm tư vấn thiết kế còn thấp, không ít đơn
vị tư vấn thiết kế tư nhân mới được thành lập thiếu cán bộ chuyên môn, ít kinh nghiệm phải nhờ kỹ sư của các công ty tư vấn khác ký hộ để hợp thức hóa hồ sơ Một số hiện tượng chủ đầu tư thay đổi quy mô công trình, nhưng lại khống chế tổng mức dự toán được duyệt để đến quá trình thi công xin bổ sung Do vậy tư vấn thiết kế phải gò ép cho
đủ để có sản phẩm thiết kế Cùng với những vấn đề nêu trên hiện nay chất lượng cán bộ
Trang 29vị tư vấn khác để thẩm tra hộ, nên không ít trường hợp thẩm tra sai hoặc thẩm tra không đúng tiêu chuẩn Ngoài ra còn hiện tượng nhà thầu thiết kế thiết kế xong rồi tự thẩm tra sau đó nhờ một đơn vị tư vấn thẩm tra khác đóng dấu mà không kiểm tra khối lượng, chất lượng của hồ sơ thiết kế Mặt khác năng lực của cán bộ làm công tác thẩm định của một số sở chuyên ngành cũng còn yếu, chưa có kinh nghiệm, thẩm định nhiều hồ sơ một lúc nên thường chỉ căn cứ vào kết quả thẩm tra để ban hành thông báo kết quả thẩm định
mà không kiểm tra đơn giá, định mức,…dẫn đến sau khi hồ sơ thiết kế được thẩm định xong, thi công vẫn phải bổ sung điều chỉnh đã làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình 6) Công tác phân bổ kinh phí chuẩn bị đầu tư được thực hiện chưa tốt, trong năm còn phát sinh dự án mới có TMĐT lớn gây khó khăn trong việc thẩm định và cân đối nguồn vốn đầu tư theo quy định; đa số các đơn vị cấp huyện chưa thực hiện nghiêm túc việc giao danh mục chuẩn bị đầu tư trong kế hoạch đầu năm; chưa thực hiện thẩm định nguồn vốn trước khi quyết định đầu tư
- Việc giao chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước còn chậm ở một số nguồn vốn chuẩn bị đầu tư như: giao thông nông thôn, giao thông nội đồng; nguồn vốn phân cấp về cho cấp huyện chưa theo nguyên tắc và tiêu chí, việc giao vốn chuẩn bị đầu tư quá chậm trong khi dự
án phải được duyệt trước tháng 10 của năm trước mới đủ điều kiện bố trí kế hoạch vốn thực hiện dự án cho năm sau dẫn đến nhiều dự án bị đọng không lập kịp hồ sơ hoặc có lập kịp thì chất lượng vẫn khá sơ sài, không đủ điều kiện phê duyệt Việc đề xuất bố trí vốn của các ngành còn chưa sát thực tế và đúng quy định: Mức vốn bố trí cho một công trình thấp, một số công trình đã quyết toán nhưng chưa bố trí đủ 100% giá trị quyết toán được duyệt, nhiều công trình bố trí vượt cơ chế hỗ trợ quy định tại các Nghị quyết của HĐND tỉnh, bố trí nguồn vốn xổ số kiến thiết cho lĩnh vực giáo dục – đào tạo chưa đủ mức được UBND tỉnh giao dẫn đến thời gian triển khai dự án kéo dài
Trang 3019
Để việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng quản lý dự án của các công trình xây dựng mà trước hết cần nâng cao chất lượng quản lý dự án của các chủ đầu tư, BQLDA; trong việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng công trình, phân giao quyền và trách nhiệm đầy đủ, cụ thể, rõ ràng cho các cơ quan quản lý nhà nước về quản
lý dự án đầu tư công trình xây dựng từ trung ương đến địa phương; làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng trong công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng và an toàn xây dựng
Thời gian qua, lĩnh vực đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có nhiều chuyển biến tích cực như: Huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt khá, chất lượng thi công các công trình có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là công tác chuẩn bị đầu tư, công tác quản
lý dự án, công tác thẩm định dự án đã có nhiều tiến bộ, quy trình thực hiện ngày càng chặt chẽ; công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB có bước tiến mới theo hướng tập trung và
ưu tiên thanh toán nợ khối lượng các dự án hoàn thành Việc phân khai các nguồn vốn được triển khai ngay khi có chỉ tiêu giao vốn của trung ương và HĐND tỉnh để chủ đầu
tư chủ động triển khai thực hiện dự án Tỉnh đã thực hiện tốt các giải pháp về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư được phân bổ theo hướng tập trung, nợ đọng trong XDCB dần được kiểm soát; thủ tục hành chính trong XDCB được cải thiện; nhiều dự
án trọng điểm, dự án về nông thôn mới được đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả đầu tư
Chất lượng công tác quản lý dự án ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư và chất lượng công trình Một sai sót nhỏ trong quá trình chuẩn bị đầu tư không tốt cũng có thể dẫn đến quyết định đầu tư không hợp lý Vì vậy yếu tố con người trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư là hết sức quan trọng, mà đặt biệt là chủ đầu tư phải có trình độ, kiến thức, phải phân tích kỹ tất cả các yếu tố để quyết định có đầu tư dự án hay không, phải có đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn sâu để đảm nhận các công việc
Kết luận chương 1
Quản lý dự án là một yêu cầu rất quan trọng trong lĩnh vực quản lý hoạt động đầu
tư Quản lý dự án t ố t giúp nâng cao hiệu quả đầu tư, cả trên phương diện tài chính cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải quản lý tốt quá trình đầu tư bao gồm tất cả các giai đoạn từ nghiên cứu cơ hội đầu tư đến giai đoạn vận hành khai thác thúc đầu tư dự án Công tác quản lý dự án đóng vai trò quan trọng và góp phần mang đến thành công của một dự án, đặc biệt là ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Trang 3120
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.1 Cơ sở pháp lý và các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Hiện nay, nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật có liên quan đến công tác quản lý dự án và quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình được thống kê như sau:
- Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013;
- Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014;
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014;
- Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 01/7/2015;
- Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018;
- Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 10/5/2015;
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình
- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật xây dựng;
- Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ hướng về kế hoạch đầu
tư công trung hạn và hàng năm;
- Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công;
- Nghị định số 42/2017/NĐ-CP ngày 05/4/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một
số điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở
Trang 3221
- Nghị định số 100/2018/NĐ-CP ngày 16/7/2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung, bãi
bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng;
- Nghị định số 120/2018/NĐ-CP ngày 13/9/2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một
số điều Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2018 của Chính phủ về kế hoạch đầu
tư công trung hạn và hằng năm, số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ
về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công và Nghị định số
161/2016/NĐ-CP ngày 02/12/2016 của Chính phủ về cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 – 2020;
- Thông tư số 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng về quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng;
- Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Thông tư số 17/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng về quy định về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng;
- Thông tư số 24/2016/TT-BXD ngày 01/9/2016 của Bộ Xây dựng về sửa đổi, bổ sung một số điều các thông tư liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Thông tư số 26/2016/TT-BXD ngày 26/10/2016 của Bộ Xây dựng về quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình;
- Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15/02/2017 của Bộ Xây dựng về công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng;
Trên cơ sở Luật Xây dựng đã được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014 thì yêu cầu phải xây dựng các văn bản dưới luật để hướng dẫn triển khai nhiều Điều, quy định mà Luật chưa nêu cụ thể, đó là các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư, Quyết định, của các Bộ, ngành có liên quan đến ngành xây dựng như: Bộ Xây Dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính,
Trang 33Luật Xây dựng 2014 sửa đổi so với Luật Xây dựng 2003 với nhiều điểm mới để tăng cường công tác kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng công trình ở tất cả các giai đoạn trong quá trình đầu tư xây dựng, đảm bảo công khai, minh bạch về quá trình thực hiện
dự án, đảm bảo dự án đầu tư xây dựng đúng mục tiêu, chất lượng, hiệu quả, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về xây dựng, cụ thể như:
Thứ nhất, hiện nay đa số các dự án sử dụng vốn nhà nước của từng lĩnh vực như Y tế, Giáo dục, đều lựa chọn áp dụng mô hình mỗi ngành thành lập BQLDA để trực tiếp quản lý từng dự án đầu tư xây dựng của ngành mình Cách làm này dẫn đến gia tăng về
số lượng BQLDA, nhưng hạn chế về năng lực Để khắc phục, Luật đã bổ sung quy định hình thức ban quản lý chuyên ngành, ban quản lý khu vực đối với các công trình đầu tư công
Thứ hai, phạm vi của Luật Xây dựng điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế thi công xây
Trang 3423
dựng, nghiệm thu, bàn giao công trình đưa vào sử dụng, bảo hành, bảo trì các công trình xây dựng, nhằm quản lý chặt chẽ đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, khắc phục lãng phí thất thoát, nâng cao chất lượng công trình
Thứ ba, Luật Xây dựng tập trung vào vấn đề đổi mới kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư Trong đó, yêu cầu cơ quan chuyên môn
về xây dựng phải tăng cường kiểm soát quá trình xây dựng trong tất cả các khâu nhằm chống thất thoát lãng phí, nâng cao chất lượng công trình xây dựng
Thứ tư, đổi mới cơ chế quản lý chi phí nhằm quản lý chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng
từ nguồn vốn nhà nước, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ từ các chủ thể tham gia hợp đồng xây dựng
Thứ năm, sửa đổi xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng, phân công, phân cấp hợp lý giữa các bộ, ngành, địa phương
Một số trích dẫn từ Luật Xây dựng quy định cụ thể về nội dung quản lý dự án đầu tư xây
dựng:
Điều 66 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng
1 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm quản lý về phạm vi, kế hoạch công việc; khối lượng công việc; chất lượng xây dựng; tiến độ thực hiện; chi phí đầu tư xây dựng;
an toàn trong thi công xây dựng; bảo vệ môi trường trong xây dựng; lựa chọn nhà thầu
và hợp đồng xây dựng; quản lý rủi ro; quản lý hệ thống thông tin công trình và các nội dung cần thiết khác được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện hoặc giao BQLDA, tư vấn quản lý dự án, tổng thầu (nếu có) thực hiện một phần hoặc toàn bộ các nội dung quản lý dự án
Điều 67 Quản lý tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng
1 Người quyết định đầu tư quyết định thời gian, tiến độ thực hiện khi phê duyệt dự án Đối với công trình thuộc dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì tiến độ thi công xây dựng không được vượt quá thời gian thi công xây dựng công trình đã được người quyết định đầu tư phê duyệt
2 Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng công trình phải lập kế hoạch tiến độ, biện pháp thi công xây dựng và quản lý thực hiện dự án theo tiến độ thi công xây dựng được duyệt
Trang 35Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng
và bảo trì công trình xây dựng
Trên cơ sở nội dung của Luật Xây dựng 2014 quy định và tổng kết những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 15/2013/NĐ-CP, Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP để triển khai thực hiện công tác quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Theo đó, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP quy định trình tự công việc
từ giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công đến bảo trì công trình xây dựng Quy định trách nhiệm của từng chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình trong từng giai đoạn
Sự thay đổi của Nghị định này phù hợp hơn với thực tế và giúp các chủ thể nắm bắt ngay các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong toàn bộ quá trình hoạt động đầu tư xây dựng
Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính Phủ về quản lý dự án đầu
tư xây dựng
Nhằm hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng 2014, ngày 18/6/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng thay thế nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Nghị định 59/2015/NĐ-CP đã quy định rõ các nguyên tắc cơ bản của quản lý dự
án đầu tư xây dựng Theo đó, các dự án đầu tư xây dựng sẽ được quản lý thực hiện theo
kế hoạch, chủ trương đầu tư, đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại Điều 51 của Luật Xây dựng 2014 và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, của người quyết định đầu tư, chủ đầu
tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng của
dự án Nhằm chống thất thoát lãng phí trong công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn nhà nước, Nghị định cũng nêu rõ các quy định về nguyên tắc quản lý thực hiện các dự án phù hợp với loại nguồn vốn sử dụng đầu tư xây dựng Cụ thể: Tại khoản 3, Điều 3 của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP nêu rõ: a) Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được quản lý chặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự để bảo đảm mục tiêu đầu
Trang 3625
tư, chất lượng, tiến độ thực hiện, tiết kiệm chi phí và đạt được hiệu quả dự án; b) Dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP (Public - Private Partner) có cấu phần xây dựng được quản lý như đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; c) Dự án đầu
tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách được nhà nước quản lý về chủ trương đầu tư, mục tiêu, quy mô đầu tư, chi phí thực hiện, các tác động của dự án đến cảnh quan, môi trường, an toàn cộng đồng, quốc phòng, an ninh và hiệu quả của dự án Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm quản lý thực hiện dự án theo quy định của nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; d) Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn khác được nhà nước quản lý về mục tiêu, quy mô đầu tư và các tác động của dự án đến cảnh quan, môi trường, an toàn cộng đồng và quốc phòng, an ninh” Trình tự đầu tư xây dựng được siết chặt, thực tế cho thấy, công tác lập, thẩm định, phê duyệt,… dự án nếu được quản lý chặt chẽ ngay từ đầu sẽ hạn chế được nhiều bất cập trong công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng
Như vậy, Nghị định 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng đã quy định rõ
từ công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thực hiện dự án, kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng cũng như hình thức và nội dung quản lý dự
án đầu tư xây dựng Những quy định chặt chẽ này sẽ góp phần tăng cường công tác quản
lý vốn nhà nước, đảm bảo chất lượng các dự án đầu tư xây dựng, đồng thời tăng cường chức năng kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và các Sở
để phù hợp với thực tế của địa phương
Nhìn chung, những năm gần đây công tác quản lý nhà nước về dự án đầu tư xây dựng
đã có nhiều cải thiện Song để các công trình đảm bảo về chất lượng, tiến độ và đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao thì trong quản lý vẫn còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục Một trong những nguyên nhân chính là do hệ thống văn bản pháp luật ban hành trong thời gian qua chưa kịp thời, chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện và còn nhiều bất cập Luật đã ban hành nhưng Nghị định, Thông tư hướng dẫn chậm ban hành; các quy định về thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công, việc lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư, triển khai thực hiện kế hoạch cũng chưa được quy định
rõ ràng Ngay cả các nội dung quan trọng, như: theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát kế hoạch đầu tư, các chương trình, dự án đầu tư công cũng chưa đầy đủ
Trang 3726
Trong việc hướng dẫn về hợp đồng xây dựng, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 về quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng đã tạo bước đột phá trong quản lý chi phí, các thủ tục đơn giản, hiệu quả hơn đã được thể hiện rõ hơn trong Nghị định này Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng trong thực tiễn, Nghị định trên vẫn còn bộc lộ một số bất cập về loại hợp đồng áp dụng so với quy định của Luật Đấu thầu nên cần được nghiên cứu sửa đổi để tạo sự thống nhất trong quản lý
- Theo Luật Đầu tư công quy định dự án nhóm C nếu có sử dụng vốn trung ương thì phải trình hồ sơ để Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng với Bộ Tài chính thẩm định nguồn vốn trước khi địa phương phê duyệt dự án, trong khi đó các dự án nhóm C thường
có TMĐT nhỏ, nếu quy định như trên thì sẽ tốn thời gian, chi phí cho lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư thay vì hỗ trợ vốn cho địa phương, trung ương tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phân cấp cho địa phương tự thẩm định nguồn vốn, phân bổ vốn
và chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng bố trí không đủ vốn cho dự án, gây ra nợ đong XDCB
Nhưng nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng ban hành khá nhiều nhưng còn chồng chéo, chưa đồng bộ, còn khập khiễng giữa các Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, cá biệt có những nội dung chưa phù hợp với thực tế hệ quả dẫn đến vướng mắc phát sinh khi thực hiện, có nội dung phải điều chỉnh ngay sau khi văn bản được ban hành khi chưa có hiệu lực…Việc ban hành các nghị định hướng dẫn luật, thông tư hướng dẫn các nghị định còn chậm, chưa kịp thời, quá nhiều, tính ổn định thấp, phải bổ sung, thay đổi thường xuyên Còn có sự mâu thuẫn giữa các văn bản Luật với các Nghị định, giữa Nghị định với Thông tư hướng dẫn Trách nhiệm, quyền hạn giao cho các chủ đầu tư, BQLDA, nhưng chức năng, nhiệm
vụ không rõ ràng, chi phí quản lý rất thấp, hoàn toàn không tương xứng Thực tế trên đòi hỏi cần nhanh chóng bổ sung, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật để phát huy các lợi thế cũng như khắc phục tồn tại nhằm thực hiện tốt hơn và đạt hiệu quả hơn trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng
2.2 Cơ sở khoa học về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
2.2.1 Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng
Trang 3827
Hình 2.2 Các mục tiêu của quản lý dự án
Qua quá trình phát triển của ngành xây dựng, các mục tiêu của quản lý dự án xây dựng cũng tăng lên để phù hợp với sự tăng trưởng của xã hội Từ tam giác mục tiêu đã phát triển thành tứ giác mục tiêu, ngũ giác mục tiêu Đến nay quản lý dự án xây dựng đã phát triển thành lục giác mục tiêu Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng là ngũ giác mục tiêu Một số nước tiên tiến đã áp dụng lục giác mục tiêu, trong tương lai còn hướng tới nhiều mục tiêu khó khăn hơn
2.2.2 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
Quản lý đầu tư xây dựng chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng trong quá trình đầu tư xây dựng (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do quá trình đầu tư xây dựng tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của quản lý đầu tư nói riêng Quản lý dự án là việc áp dụng những hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào hoạt động
dự án nhằm đạt được những yêu cầu và mong muốn từ dự án Quản lý dự án còn là quá
Trang 3928
trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý dự án:
- TS Nguyễn Văn Đáng: "Quản lý dự án là việc điều phối và tổ chức các bên khác nhau
tham gia vào dự án, nhằm hoàn thành dự án đó theo những hạn chế được áp đặt bởi: chất lượng, thời gian, chi phí”
- TS.Ben Obinero Uwakweh trường đại học Cincinnati-Mỹ: "Quản lý dự án là sự lãnh
đạo và phân phối các nguồn lực và vật tư để đạt được các mục tiêu định trước về: phạm
vi, chi phí, thời gian, chất lượng và sự hài lòng của các bên tham gia”
- Theo PGS.TS.Trịnh Quốc Thắng: "Quản lý dự án là điều khiển một kế hoạch đã được
hoạch định trước và những phát sinh xảy ra trong một hệ thống bị ràng buộc bởi các yêu cầu về pháp luật, về tổ chức, về con người, về tài nguyên nhằm đạt được các mục tiêu đã định ra về chất lượng, thời gian, giá thành, an toàn lao động và môi trường”
Mặc dù các các định nghĩa về quản lý dự án có vẻ khác nhau nhưng chúng đều có các yếu tố cơ bản của quản lý dự án xây dựng như sau:
- Thứ nhất muốn quản lý được dự án cần phải có một chương trình, một kế hoạch được định trước;
- Thứ hai phải có các công cụ, các phương tiện để kiểm soát và quản lý;
- Thứ ba phải có các quy định, các luật lệ cho quản lý;
- Thứ tư là con người bao gồm các tổ chức và các cá nhân có đủ năng lực để vận hành
bộ máy quản lý
Trang 4029
Hình 2.3 Các yếu tố của quản lý dự án
Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về các hoạt động đầu tư tương ứng với từng giai đoạn trong quá trình đầu tư và xây dựng Các quy định ngày càng phong phú hơn và được thay đổi thích ứng với từng thời kỳ
Nhìn chung quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng là sự tác động của nhà nước trên tất cả các mặt để đạt được các mục đích nói trên Sự tác động này chính là việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng Về quản lý vĩ mô, việc thực hiện các chức năng trong hoạt động quản lý cụ thể như sau:
(1) Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
(2) Định hướng và hướng dẫn phát triển kinh tế
(3) Tổ chức
(4) Điều tiết
(5) Kiểm tra, kiểm soát
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý trong tất cả các bước, các khâu trong hoạt động đầu tư và xây dựng từ xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đến hoạt động của các
dự án đầu tư trong nền kinh tế quốc dân