Khái niệm về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là việc phối hợp, giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức thực hiện, lập và thực hiện kế h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
- -
NGUYỄN THÀNH TRUNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ
DỰ ÁN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN - CHI CỤC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Bình Thuận, năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
- -
NGUYỄN THÀNH TRUNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ
DỰ ÁN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN - CHI CỤC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BÌNH THUẬN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ: 858-03-02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS NGUYỄN TRỌNG TƯ
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: NGUYỄN THÀNH TRUNG
Chuyên ngành đào tạo: Quản lý xây dựng
Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự ántại Ban
quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản - Chi cục Phát triển nông thôn Bình Thuận”
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.Kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Bình Thuận, ngày … tháng 01 năm 2019
Tác giả luận văn
NGUYỄN THÀNH TRUNG
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè
và đồng nghiệp Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý xây dựng với đề tài “Nghiên
cứu giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự ántại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng
cơ bản - Chi cục Phát triển nông thôn Bình Thuận” đã được hoàn thành
Để hoàn thành được luận văn này tác giả đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, thầy cô và cơ quan nơi công tác
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS NGUYỄN TRỌNG
TƯ đã hướng dẫn tận tình tác giả thực hiện nghiên cứu của mình
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tác giả những kiến thức bổ trợ vô cùng hữu ích trong thời gian học tập tại trường Đại học Thủy Lợi
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã cố gắng và nỗ lực để hoàn thành luận văn một cách tốt nhất nhưng do những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảo nên luận văn còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5
iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 1
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6 Kết quả đạt được 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG .4
1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình 4
1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình [1] 4
1.1.2 Các đặc điểm của dự án ĐTXD 5
1.1.3 Phân loại dự án ĐTXD [3] 7
1.2 Dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước 10
1.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 10
1.3.1 Khái niệm về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 10
1.3.2 Vai trò của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng 10
1.3.3 Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 11
1.3.4 Các giai đoạn thực hiện dự án: [2] 12
1.3.5 Công cụ quản lý dự án đầu tưXDCT 13
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLDA: 14
1.4.1 Các quy định của hệ thống văn bản pháp luật 14
1.4.2 Môi trường của dự án 15
1.4.3 Năng lực của các cơ quan thay mặt Chủ đầu tư 15
1.4.4 Năng lực của nhà QLDA 16
1.5 Tình hình QLDA ĐTXD ở Việt Nam trong thời gian qua 16
1.6 Tình hình quản lý dự án đầu tư xây dựng ở Bình Thuận 18
Trang 6iv
1.7 Các vấn đề đặt ra đối với QLDA hiện nay 20
Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 26
2.1 Cơ sở pháp lý 26
2.1.1 Các văn bản Luật liên quan đến đầu tưXDCT 26
2.1.2 Các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ 26
2.1.3 Các Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành, địa phương 27
2.2 Mục tiêu quản lý dự án của các chủ thể 28
2.3 Mục tiêu quản lý dự án của Chủ đầu tư 28
2.4 Mục tiêu quản lý dự án của các nhà thầu 30
2.5 Các mô hình tổ chức QLDA đầu tư XDCT 31
2.5.1 Mô hình thuê Tư vấn quản lý, điều hành dự án 31
2.5.2 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý 32
2.5.3 Mô hình chìa khóa trao tay 33
2.5.4 Mô hình quản lý dự án đầu tư theo chức năng 34
2.5.5 Mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án 34
2.5.6 Mô hình quản lý dự án theo ma trận 35
2.6 Các nguyên tắc trong công tác QLDA ĐTXD 36
2.7 Nội dung yêu cầu về công tác QLDA đầu tư XDCT 37
2.7.2 Quản lý giai đoạn chuẩn bị dự án 38
2.7.3 Quản lý giai đoạn thực hiện dự án 39
2.7.4 Quản lý giai đoạn kết thúc xây dựng, bàn giao sử dụng 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN - CHI CỤC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BÌNH THUẬN 48
3.1 Giới thiệu khái quát Ban QLDAĐTXD cơ bản - Chi cục PTNT Bình Thuận 48
3.1.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục PTNT 48
3.1.2 Mô hình tổ chức QLDA của Chi cục 51
3.1.3 Vai trò của các đơn vị trong hệ thống QLDA tại Chi cục 51
Trang 7v
3.1.4 Nội dung quản lý dự án của QLDA tại Chi cục 54
3.2 Phân tích thực trạng công tác QLDAĐTXD tại Ban QLDAĐTXD cơ bản - Chi cục PTNT 55
3.2.1 Những điều đạt được 55
3.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân: 56
3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực QLDA tại Ban QLDAĐTXD cơ bản - Chi cục PTNT Bình Thuận 66
3.3.1 Nâng cao năng lực quản lý của Ban QLDA 66
3.3.2 Nâng cao năng lực trong công tác quản lý tiến độ 67
3.3.3 Nâng cao năng lực trong công tác quản lý đấu thầu 68
3.3.4 Nâng cao năng lực trong công tác quản lý chi phí 69
3.3.5 Nâng cao năng lực trong công tác giải phóng mặt bằng 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 70
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Biểu diễn dự án ĐTXD 4
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc khoa học quản lý 28
Hình 2.2 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án 31
Hình 2.3 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp QLDA 32
.Hình 3.1 Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Phát triển nông thôn 49
Hình 3.2 Cơ cấu tổ chức của Chi cục Phát triển nông thôn 50
Hình 3.3 Mô hình Văn phòng nông thôn mới tại tỉnh 50
Hình 3.4 Cơ cấu tổ chức của Ban QLDA đầu tư XD 51
Hình 3.5 Các nội dung quản lý dự án của Ban QLDA 54
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phân loại dự án đầu tư xây dựng 7Bảng 3.1 Phân tích thực trạng QLDA của Ban QLDA 56
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
QLDA đầu tư xây dựng công trình là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác, nhiều bên liên quan Công tác QLDA ĐTXD công trình phải có sự phát triển chiều sâu và mang tính chuyên nghiệp hơn để đáp ứng nhu cầu quản lý ĐTXD công trình của nước ta hiện nay Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế Quốc tế như hiện nay, ngành Xây dựng đang đóng vai trò quan trọng của nền kinh tế Quốc dân, tạo ra những cơ sở vật chất, cơ sở kỹ thuật hạ tầng thiết yếu cho xã hội Yêu cầu mới không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước mà còn phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của các Chủ đầu tư, các doanh nghiệp xây dựng Các chủ thể này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc triển khai các chiến lược ĐTXD của Quốc gia và là động lực chính thúc đẩy chất lượng và hiệu quả công tác quản lý các dự án ĐTXD công trình
Theo quy định về quản lý ĐTXD hiện hành, các chủ ĐTXD công trình là người chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác quản lý các dự án ĐTXD công trình sử dụng vốn ngân sách Làm tốt công tác QLDA không những mang lại hiệu quả đầu tư cao, mà còn nâng cao chất lượng công trình, giảm thiểu rủi ro, nâng cao trình độ năng lực quản lý của đội ngũ những người làm công tác QLDA Sự thành công của dự án phụ thuộc rất nhiều vào công tác QLDA
Xuất phát từ những nhận thức nêu trên, với những kiến thức chuyên môn trong quá trình làm việc, học tập và nghiên cứu, tác giả luận văn chọn đề tài luận văn với tên gọi:
“Nâng cao năng lực QLDA ĐTXD tại Ban QLDA ĐTXD cơ bản – Chi cục PTNT Bình Thuận”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực trong công tác QLDA nhằm mục tiêu mang lại hiệu quả hơn nữa trong việc đầu tư các do Ban quản lý trong giai đoạn tới
Trang 123.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp điều tra thu thập số liệu;
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh;
Phương pháp phân tích định tính, định lượng trong quản lý;
Phương pháp chuyên gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả trong công tác QLDA
b Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về mặt không gian và nội dung nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào nội dung hiệu quả của công tác QLDA tại Ban QLDA xây dựng cơ bản - Chi cục PTNT Bình Thuận
Về mặt thời gian, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động của Ban QLDA xây dựng cơ bản từ năm 2014 đến nay và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác QLDA cho thời gian tới
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần hệ thống hoá và cập nhật những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý ĐTXD công trình, làm rõ nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong
Trang 133
công tác quản lý ĐTXD công trình, đặc biệt là đối với các dự án do Chi cục PTNT Bình Thuận làm chủ đầu tư Những nghiên cứu này có giá trị làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu về công tác quản lý ĐTXD công trình
b Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu của đề tài sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị gợi mở trong việc hoàn thiện, nâng cao hơn nữa hiệu quả và chất lượng công tác quản lý dự án ĐTXD công trình của Ban QLDA ĐTXD cơ bản - Chi cục PTNT Bình Thuận trong quá trình thực hiện và phát triển
6 Kết quả đạt được
Hệ thống những cơ sở lý luận về công tác QLDA tại Ban QLDA xây dựng cơ bản;
Phân tích thực trạng công tác QLDA tại Ban Qua đó đánh giá những kết quả đã đạt được cần phát huy và những vấn đề còn tồn tại cần nghiên cứu tìm kiếm giải pháp khắc phục
Nghiên cứu đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác QLDA các công trình thủy lợi của Ban QLDA ĐTXD cơ bản – Chi cục PTNT Bình Thuận
Trang 144
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG
1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình
1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình[1]
Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án ĐTXD, dự án được thể hiện thông qua báo cáo tiền khả thi , Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật
[2]
Như vậy có thể hiểu dự ánĐTXD bao gồm hai nội dung là đầu tư và hoạt động xây dựng Nhưng do đặc điểm của các dự án xây dựng bao giờ cũng yêu cầu có một diện tích nhất định, ở một địa điểm nhất định (bao gồm đất, khoảng không, mặtnước, mặt biển và thềm lục địa) do đó có thể biểu diễn dự án ĐTXD như sau:
Dựa vào công thức trên có thể thấy một dự ánĐTXD bao gồm các vấn đề sau:
Kế hoạch: Tính kế hoạch được thể hiện rõ qua các mục đích được xác định, cácmục
đích này phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ hoàn thành khi các mục tiêu cụ thể đã đạt được
Tiền: Đó chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình Nếu coi phần “Kế hoạch của dự
án” là phần tinh thần, thì “Tiền” được coi là phần vật chất có tính quyết định sự thành công của dự án
Kế hoạch, thời gian, tiền, đất
Hình 1.1 Biểu diễn dự án ĐTXD
Trang 155
Thời gian: Thời gian rất cần thiết để thực hiện dự án, nhưng thời gian còn đồng
nghĩa với cơ hội của dự án Đây cũng là một đặc điểm rất quan trọng cần được quan tâm
Đất: Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng Đây là một tài nguyên đặc
biệt quý hiếm Đất ngoài các giá trị về địa chất, còn có giá trị về vị trí, địa lý, kinh tế, môi trường, xã hội….Vì vậy, quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những đặc điểm và yêu cầu riêng, cần hết sức lưu ý khi thực hiện dự án xây dựng
Sản phẩm của dự án xây dựng có thể là: Xây dựng công trình mới; Cải tạo, sửa chữa
công trình cũ; Mở rộng, nâng cấp công trình cũ
Công trình xây dựng: Là sản phẩm của dự án ĐTXD, được tạo thành bởi sức lao
động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vàocông trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trênmặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác
1.1.2 Các đặc điểm của dự án ĐTXD
Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng: Mỗi dự án là một hoặc một tập hợp nhiệmvụ cần được thực hiện để đạt tới một kết quả xác định nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó
Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên có thể được chia thành nhiều bộ phận khác nhau để quản lý và thực hiện nhưng cuối cùng vẫn phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản
về thời gian, chi phí và chất lượng
Bất cứ dự án nào cuối cùng đều phải thực hiện một mục tiêu nhất định, kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà khách hàng mong muốn Khi mục tiêu dự án đã được xác định thì khó có thể thay đổi hay sửa chữa Tuy nhiên, nếu có sự biến đổi của hoàn cảnh dự án (hoàn cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài) thì mục tiêu dự án cũng có thể thay đổi hoặc điều chỉnh theo Khi mục tiêu dự án có sự biến đổi về tính chất thì nó không còn là dự án ban đầu nữa mà trở thành một dự án mới
Trang 166
Dự án có chu kỳ riêng (vòng đời) và thời gian tồn tại hữu hạn: Nghĩa là dự án cũng
trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu khi xuất hiện ý tưởng về xây dựng công trình dự án và kếtthúc khi công trình xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng
Dự án được xem là chuỗi các hoạt động nhất thời Tổ chức của dự án mang tính chất tạm thời, sau khi đạt được mục tiêu đề ra, tổ chức này sẽ giải tán hay thay đổi
cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu mới
Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người thụ hưởng dự án, nhà thầu, các nhà tư vấn, các cơ quan quản lý nhà nước Tùy theo tính chất dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau Các chủ thể này lại có lợi ích khác nhau, quan hệ giữa họ thường mang tính đối tác Môi trường làm việc của dự án xây dựng mang tính
đa phương và dễ xảy ra xung đột quyền lợi giữa các chủ thể Ngoài ra, giữa các bộ phận quản lý chức năng và nhóm QLDA thường phát sinh các công việc yêu cầu sự phối hợp thực hiện nhưng mức độ tham gia của các bộ phận là không giống nhau Vì mục tiêu của dự án, các nhà QLDA cần duy trì mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác
Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo: Khác với quá trình sản xuất liên
tục và gián đoạn, sản phẩm của dự án không phải là sản phẩm hàng loạt mà có tính khác biệt ở một khía cạnh nào đó Kể cả một quá trình sản xuất liên tục cũng có thể được thực hiện theo dự án, ví dụ như dự án phục vụ một đơn đặt hàng đặc biệt, dự ánnâng cao chất lượng sản phẩm Sản phẩm của những dự án này dù được sản xuấthàng loạt nhưng vẫn có điểm khác biệt (về đơn đặt hàng, về chất lượng sản phẩm ).Có thể nói, sản phẩm hoặc dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, lao động đòi hỏi
kỹ năng chuyên môn với những nhiệm vụ không lặp lại
Dự án bị hạn chế bởi các nguồn lực: Giữa các dự án luôn luôn có quan hệ chia nhau
các nguồn lực khan hiếm của một hệ thống (một cá nhân, một doanh nghiệp, một quốc gia, ) mà chúng phục vụ Các nguồn lực đó có thể là tiền vốn, nhân lực, thiết bị, vật
tư, công nghệ
Trang 177
Dự án luôn có tính bất định và rủi ro: Một dự án bất kỳ nào cũng có thời điểm bắt
đầu và kết thúc khác nhau, đôi khi là một khoảng cách khá lớn về thời gian Mặt khác, việc thực hiện dự án luôn luôn đòi hỏi việc tiêu tốn các nguồn lực Hai vấn đề trên là nguyên nhân của những bất định và rủi ro của dự án
Tính trình tự trong quá trình thực hiện dự án: Mỗi dự án đều là nhiệm vụ có tính
trình tự và giai đoạn Đây chính là khác biệt lớn nhất giữa dự án với nhiệm vụ công việc mang tính trùng lặp Cùng với sự kết thúc hợp đồng và bàn giao kết quả thì dự án cũng kết thúc, vì thế dự án không phải là nhiệm vụ công việc lặp đi lặp lại và cũng không phải là công việc không có kết thúc Mỗi dự án nên căn cứ vào điều kiện cụ thể
để tiến hành quản lý hệ thống và thực hiện dự án phải có tính trình tự và giai đoạn
Người ủy quyền riêng của dự án: Mỗi dự án đều có người ủy quyền chỉ định riêng
hay còn gọi là khách hàng Đó chính là người yêu cầu về kết quả dự án và cũng là người cung cấp nguyên vật liệu để thực hiện dự án Họ có thể là một người, một tập thể, một tổ chức hay nhiều tổ chức có chung nhu cầu về kết quả một dự án
1.1.3 Phân loại dự án ĐTXD[3]
Dự án có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Theo quy định hiện nay dự án được phân loại như sau:
Theo quy mô, tính chất, loại công trình chínhcủa dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công Thể hiện cụ thể theo bảng sau:
Bảng 1.1 Phân loại dự án đầu tư xây dựng
I Dự án quan trọng quốc gia
Theo tổng mức đầu tư:
Dự án sử dụng vốn đầu tư công 10.000 tỷ đồng trở lên
2 Theo mức độ ảnh hưởng đến môi trường
hoặctiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường, bao gồm:
Không phân biệt tổng mức đầu tư
a) Nhà máy điện hạt nhân;
b) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử
dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên
Trang 188
cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên;
rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên;
rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn
sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 hécta
trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên;
c) Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử
dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với
quy mô từ 500 héc ta trở lên;
d) Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở
miền núi, từ 50.000 người trở lên ở các vùng
khác;
đ) Dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính
sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định
II.1 Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt
Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với
quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy định
của pháp luật về quốc phòng, an ninh
Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an
ninh có tính chất bảo mật quốc gia
Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ
Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất
Không phân biệt tổng mức đầu tư
II.2 Giao thông, bao gồm cầu, cảng biển, cảng
sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ
Công nghiệp điện
Khai thác dầu khí
Hóa chất, phân bón, xi măng
Chế tạo máy, luyện kim
Khai thác, chế biến khoáng sản
Xây dựng khu nhà ở
Từ 2.300 tỷ đồng trở lên
II.3 Dự án giao thông trừ các dự án quy định
tại điểm 1 Mục II.2
Trang 199
điểm 5 Mục II.2
Bưu chính, viễn thông
II.4 Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủysản
Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiênnhiên
Hạ tầng kỹ thuật khu đô thịmới
Công nghiệp, trừ các dự án thuộc lĩnh vực công
nghiệp quy định tại các Mục I.1, I.2 vàI.3
Từ 1.000 tỷ đồng trở lên
II.5 Y tế, văn hóa, giáodục;
Nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh,
truyền hình;
Kho tàng;
Du lịch, thể dục thể thao;
Xây dựng dân dụng, trừ xây dựng khu nhà ở
quy định tại MụcII.2
Từ 800 tỷ đồng trở lên
III NHÓM B
III.1 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.2 Từ 120 đến 2.300 tỷ đồng III.2 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.3 Từ 80 đến 1.500 tỷ đồng III.3 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.4 Từ 60 đến 1.000 tỷ đồng III 4 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.5 Từ 45 đến 800 tỷ đồng
IV.1 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.2 Dưới 120 tỷ đồng
IV.2 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.3 Dưới 80 tỷ đồng
IV.3 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.4 Dưới 60 tỷ đồng
IV.4 Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại Mục II.5 Dưới 45 tỷ đồng
Chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật ĐTXD gồm: CTXD sử dụng cho mục đích tôn giáo; CTXD mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không baogồm tiền sử dụng đất)
Theo loại nguồn vốn sử dụng gồm: Dự án sử dụng vốn NSNN, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách và dự ánsử dụng vốn khác (vốn ODA,vốn tín dụng; vốn tự huy động của doanh nghiệp Nhà nước; vốn liên doanh với nước ngoài; vốn góp của dân; vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh; vốn FDI,…)
Trang 2010
1.2 Dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước: là nguồn vốn của nhà nước được sử dụng cho các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh, cho điều tra khảo sát, lập quy hoạch phát triển kinh tế-xãhội
1.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
1.3.1 Khái niệm về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là việc phối hợp, giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức thực hiện, lập và thực hiện kế hoạch chi tiết đối với từng giai đoạn của
dự án nhằm đảm bảo và kiểm soáttốt việc mục tiêu dự án như mục tiêu về giá thành, mục tiêu thời gian, mục tiêu chất lượng Làm tốt công tác quản lý là việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng.QLDA đầu tư XDCT là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi chi phí đầu tư được duyệt và đạt được các yêu cầu
về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
1.3.2 Vai trò của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng
Thông qua quản lý dự án có thể tránh được những sai sót trong những công trình lớn, phức tạp: cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhận thức của khách hàng ngày càng nâng cao, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạp cũng ngày càng nhiều Cho dù là nhà đầu tư hay người tiếp quản dự án đều khó gánh vác được những tổn thất to lớn do sai lằm trong quản lý gây ra Thông quaviệc áp dụng phương pháp QLDA khoa học hiện đại sẽ giúp ích cho việc thực hiện các dự án công trình lớn, phức tạp đạt được mục tiêu đề ra một cách thuận lợi
Áp dụng phương pháp quản lý dự án sẽ có thể khống chế, điều tiết hệ thống mục tiêu
dự án: nhà đầu tư (khách hàng) luôn có rất nhiều mục tiêu đối với một dự án công trình, những mục tiêu này tạo thành hệ thống mục tiêu của dự án Trong đó, một số mục tiêu có thể phân tích định lượng, một số lại không thể phân tích định lượng.Trongquá trình thực hiện dự án, chúng ta thường chú trọng đến một số mục tiêu định lượng mà coi nhẹ những mục tiêu định tính Chỉ khi áp dụng phương pháp quản
Trang 21Quản lý dự án thúc đẩy sự trưởng thành nhanh chóng của các nhân tài chuyên ngành: mỗi dự án khác nhau lại đòi hỏi phải có các nhân tài chuyên ngành khác nhau Tính chuyên ngành dự án đòi hỏi tính chuyên ngành của nhân tài Vì thế, quản lý dự án thúc đẩy việc sử dụng và phát triển nhân tài, giúp các nhân tài có điều kiện phát huy hết khả năng của mình để cống hiến cho công trình dự án nhằm hoàn thành dự án đúng thời gian, mục tiêu và đảm bảo chất lượng
Tóm lại, quản lý dự ánngày càng trở nên quan trọng và có vai trò, ý nghĩa trong quyết định sự thành công hay thất bại của dự án Trong xã hội hiện đại nếu không nắm vững phương pháp quản lý dự ánsẽ gây ra những tổn thất rất lớn Để tránh được những tổnthất này và để giúp dự án thành công thì chúng ta phải có kế hoạch chu đáo và phương pháp, cách thức quản lý phải phù hợp đối với từng giai đoạn của dự án
1.3.3 Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Kết quả cuối cùng cần đạt (chất lượng của dự án): Mỗi một dự án thường đặt ra một hay nhiều mục tiêu cần đạt được (mục tiêu kỹ thuật công nghệ, mục tiêu kinh tế tài chính, mục tiêu kinh tế xã hội, quốc phòng…)
Nguồn lực: Để đạt được kết quả mong muốn, mỗi dự án đều dự trù chi phí nguồn lực huy động cho dự án (nhân lực, tài lực, vật lực, kinh phí…) Trên thực tế, do những biến cố rủi ro làm cho chi phí, nguồn lực thực tế thường có nguy cơ vượt quá dự kiến ban đầu Cũng có những trường hợp không đủ nguồn lực huy động cho dự án như đã
dự kiến làm cho DA triển khai không thuận lợi, phải điều chỉnh, thay đổi lại mục tiêu
so với dự kiến ban đầu,…
Thời gian:Để thực hiện một dự án đòi hỏi phải có thời gian nhất và thường bị ấn định khống chế do nhiều lý do (cạnh tranh thị trường, tranh thủ thời cơ, giành cơ hội )
Trang 2212
Ngay trong từng giai đoạn của chu trình DA cũng có thể bị những khống chế về thời gian thực hiện Thông thường, tiến trình thực hiện một dự án theo thời gian có thể chia
ra 3 thời kỳ: Khởi đầu, triển khai và kết thúc
Nếu một dự án được thực hiện mà đạt được kết quả cuối cùng như dự kiến (độ hoàn thiện yêu cầu) trong một thời gian khống chế với mục một nguồn lực đã xác định thì
dự án xem là đã hoàn thành mục tiêu tổng thể Tuy nhiên, trên thực tế mục tiêu tổng thể thường rất khó, thậm chí không thể nào đạt được và do đó trong quản lý DA người
ta thường phải tìm cách kết hợp dung hòa 3 phương diện chính của một dự án bằng cách lựa chọn và thực hiện phương án kinh tế nhất theo từng trường hợp cụ thể
1.3.4 Các giai đoạn thực hiện dự án:[2]
1.3.4.1 Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc:
Tổ chức lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có), Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư; Phê duyệt chủ trương đầu tư; Lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật để xem xét, quyết định phê duyệt dự án; Lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường (nếu có) và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án
1.3.4.2 Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc:
Sau khi dự án được phê duyệt, mục tiêu và sự cần thiết phải đầu tư của dự án đã được xác định thì sẽ chuyển sang bước thiết kế bản vẽ thi công (Thiết kế một bước là thiết
kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập báo cáo kinh tế kỹ thuật; Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư; Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và
có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định)
Trên cơ sở thiết kế, dự toán công trình được duyệt, chủ đầu tư sẽ tổ chức thẩm định và phê duyệt dự toán gói thầu làm cơ sở để lựa chọn nhà thầu thi công và triển khai thi công xây dựng công trình Sau khi công trình được hoàn thành, tiến hành nghiệm thu, bàn giao công trình
Trang 2313
Như vậy giai đoạn này tập trung một số nội dung sau: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; và thực hiện các công việc cần thiết khác;
1.3.4.3 Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc:
Sau khi nhà thầu thi công hoàn tất việc thi công thì chuyển sang giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng
Các nội dung chủ yếu trong giai đoạn này gồm: Nghiệm thu bàn giao công trình; Đưa công trình vào sử dụng; Bảo hành công trình; Kiểm toán, quyết toán vốn đầu tư
Trong giai đoạn này nhà thầu phải có nghĩa vụ bảo hành công trình, các dự án thông thường thời gian bảo hành là 12 tháng, đối với các dự án quan trọng của Nhà nước thì thời gian bảo hành là 24 tháng, hoặc một số trường hợp đặc biệt chủ đầu tư có thể yêu cầu nhà thầu kéo dài thời gian bảo hành công trình
Một dự án với rất nhiều nội dung phải quản lý, quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều tiết, việc xây dựng một quy trình pháp lý cho toàn dự án là rất quan trong góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý dự án
1.3.5 Công cụ quản lý dự án đầu tưXDCT
Hệ thống luật có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng như: Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Lao động, Luật Bảo hiểm, Luật thuế, Luật doanh nghiệp… và toàn bộ các văn bản hướng dẫn dưới luật kèm theo
về quản lý hoạt động đầu tư như các quy chế quản lý tài chính, vật tư, thiết bị, lao động, tiền lương, sử dụng đất đai và tài nguyên thiên nhiên khác
Trang 2414
Trên thực tế khái niệm công cụ quản lý dự án là phương tiện để các nhà QLDA nắm bắt, đánh giá các thông tin về dự án để từ đó có các quyết định quản lý nhằm đảm bảo đưa dự án đến kết quả cuối cùng Có nhiều công cụ được sử dụng trong QLDA được phân loại theo những tiêu chí khác nhau, cụ thể:
Theo chức năng quản lý được phân thành: Công cụ hoạch định dự án; công cụ triển khai dự án; công cụ kiểm soát dự án
Theo nội dung quản lý được phân thành: Công cụ quản lý thời gian: biểu đồ tiến độ, biểu đồ đường chéo ; công cụ quản lý chi phí; công cụ QLCL; công cụ quản lý rủi ro
Theo phạm vi sử dụng được phân thành: Các công cụ quảnlý chung; các công cụ quản lý riêng
Theo cấp quản lý: Công cụ QLDA sử dụng ở cấp quản lý chiến lược; công cụ QLDA
sử dụng ở cấp quản lý trung gian; công cụ QLDA sử dụng ở cấp quản lý tác nghiệp
Theo chủ thể sứ dụng được phàn thành: Công cụ QLDA của chủ đầu tư; công cụ QLDA của nhà thầu
Ttheo hình thức biếu hiện: Công cụ dạng bảng biểu (bảo cáo chi phi, bảo cáo tiến độ ); Công cụ dạng sơ đo (sơ đồ tổ chúc, sơ đồ ngang, sơ đồ mạng ; công cụ dạng biểu đồ, đồ thị (biểu đồ đường chéo, đường cong chữ S
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLDA:
1.4.1 Các quy định của hệ thống văn bản pháp luật
Mọi hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng ngoài việc chịu tác động của quy luật kinh tế thị trường cần tuân thủ luật pháp và hoạt đông trong khuôn khổ luật pháp Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở, tiêu chuẩn, quy chuẩn buộc chúng ta phải tuân theo trong quá trình triển khai dự án từ khâu hình thành, triển khai thực hiện và nghiệm thu vận hành bảo trì công trình Đây cũng là cơ sỡ pháp lý để
cơ quản QLNN tiến hành giám sát, kiểm tra, thanh tra khi cần thiết
Tại thời điểm hình thành dự án, kế hoạch và chi phí đều được hoạch định theo những điều kiện tại thời điểm đó Theo thời gian thực hiện dự án, có thể sẽ bị thay đổi bởi
Trang 2515
nhiều yếu tố Ví như các quy định, chính sách của nhà nước về thực hiện QLDAĐTXD, thay đổi về chính sách giá, yếu tố trượt giá… tất cả đều kéo theo sự thay đổi về quản lý thời gian, tiếnđộ, chi phí, rủi ro, nguồn vốn đầu tư…Do đó khi triển khai dự án phải chú ý tuân thủ, cập nhật kịp thời các quy định của pháp luật hiện hành của nhà nước nhằm đảm bảo dự án triển khai đạt mục tiêu đã đề ra
1.4.2 Môi trường của dự án
Độ phức tạp của dự án: Sự phức tạp của dự án ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản
lý Rất khó khăn cho nhà quản lý để xác định được chính xác thời gian thực hiện dự
án, tiến độ thực hiện theo đúng từng giai đoạn Hơn thế nữa, việc quản lý chi phí cũng trở nên khó khăn, phát sinh do dự án khó thực hiện, phát sinh do dự án kéo dài, phát sinh do các yếu tố phục vụ…
Rủi ro trong dự án: Hiện nay biện pháp quản lý để rủi ro trong ngành xây dựng chủ
yếu theo hình thức là Chủ đầu tư mua bảo hiểm cho công trình, mà chưa có nghiên cứu, hình thức quản lý một cách khoa học Vì vậy, rất khó dự đoán được các bất trắc
sẽ xảy ra trong quá trình QLDA
Thay đổi công nghệ: Với đặc thù của các dự án xây dựng có thể diễn ra trong thời
gian dài, mà hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, sự thay đổi công nghệ trong quá trình diễn ra dự án so với thời điểm lập dự án là điều có thể xảy ra Công nghệ kỹ thuật thay đổi kéo theo sự thay đổi trong quá trình thực hiện, chi phí thực hiện Với máy móc hiện đại có thể tiết kiệm thời gian hơn, hoặc tăng chi phí thiết bị nhưng lại giảm được chi phí thực hiện Nó gây nên ảnh hưởng so với kế hoạch ban đầuđã đề ra, tác động tới quá trình QLDA
1.4.3 Năng lực của các cơ quan thay mặt Chủ đầu tư
Năng lực của các cơ quan thay mặt chủ đầu tư có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của dự án, thể hiện ở gần như mọi công đoạn của dự án từ chuẩn bị dự án đến thực hiện dự án
Năng lực của các nhà thầu Tư vấn: Năng lực của các đơn vị này ảnh hưởng trực tiếp
đến tiến độ thực hiện dự áncũngnhưchấtlượngvàhiệuquảcủadựán Nếuđơnvị tư vấn có năng lực, làm tốt các khâu từ khảo sát, thiết kế, lập dự án, thẩm tra dự án đến khâu quản lý, giám sát đúng theo quy định quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn thì xem như là
Trang 2616
bước thành công cơ bản của một dự án Tuy nhiên trong một thời gian rất dài không ai chăm lo đến việc tăng cường năng lực cho các cơ quan tư vấn Tuy cũng là các doanh nghiệp nhưng sản phẩm tư vấn có trình độ thấp thì xã hội chịu thiệt thòi nhiều hơn.Để
có một nhân lực tư vấn đủ năng lực cần thời gian đào tạo và trưởng thành
Năng lực của các nhà thầu xây dựng: Năng lực của các nhà thầu xây dựng là nguyên
nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tiến độ và chi phí CTXD Mỗi lĩnh vực xây dựng (dân dụng, thủy lợi, giao thông…) đều có tính đặc thù riêng, vì vậy cũng đòi hỏi những nhà xây dựng chuyên nghiệp phù hợp với từng lĩnh vực
1.4.4 Năng lực của nhà QLDA
Đây là nguyên nhân quan trọng nhất vì năng lực của nhà QLDA cũng như mô hình quản lý đầu tư tốt sẽ là động lực và là thước đo cho sự thành công của dự án đầu tư Tuy nhiên năng lực quản lý điều hành của nhà QLDA hiện nay còn những bất cập Một số bộ phận quản lý còn sa đà vào các vấn đề chi tiết kỹ thuật mà chưa quan tâm các vấn đề có tính vĩ mô (chẳng hạn như cách kiểm tra, kiểm soát, bố trí sắp xếp công việc, xây dựng kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch…) Những quy trình thực hiện các công việc dường như còn chưa chuẩn bị tốt Những quy định này cần phải chỉ dẫn tường tận cho các cơ quan cùng tham gia thực hiện dự án kể cả Tư vấn và các nhà thầu xây dựng Các dự án thường bị chậm vì ngay từ đầu không xác định với nhau là hồ sơ đã hợp lệ chưa, vì thế khi gửi hồ sơ thì cơ quan thẩm tra, thẩm định yêu cầu bổ sung tài liệu và thế là công tác thẩm tra, thẩm định kéo dài
1.5 Tình hình QLDAĐTXD ở Việt Nam trong thời gian qua
Ở Việt nam vấn đề QLDA đã được chú ý từ đầu những năm 90, thể hiện trong các Luật, Nghị định của Chính phủ về quản lý đầu tư và xây dựng, đấu thầu…Trong nhiều năm qua, Nhà nước thông qua các Bộ đã ĐTXD nhiều dự án, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, cải thiện điều kiện sống cho hàng triệu người dân trên phạm vi toàn quốc Trong hoàn cảnh thiếu kinh phí nhưng nhiều dự án đã sớm được đưa vào sử dụng, phục vụ sản xuất đem lại những hiệu quả về KT-XH
Trong những năm qua, vốn đầu tư của Nhà nước vào lĩnh vực xây dựng liên tục gia tăng và chiếm tỷ lệ khoảng 30% GDP, qua đó đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng về
cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực
Trang 2717
sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển kinh tế xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án trong những năm quan còn nhiều hạn chế và yếu kém, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư kém, làm giảm chất lượng tăngtrưởng kinh tế Kết quả, thực trạng thất thoát, lãng phí và tiêu cực trong ĐTXD
cơ bản đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện truyền thông và tại nhiềudiễn đàn, gây nhức nhối trong toàn xã hội và đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo ngăn ngừa, trong đó Kiểm toán Nhà nước là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ này
Mặc dù chưa có một cơ quan, tổ chức nào đưa ra được tỷ lệ và số liệu chính xác về thất thoát, lãng phí trong ĐTXD cơ bản là bao nhiêu (10, 20 hay 30% như nhiều chuyên gia nhận định) nhưng thất thoát, lãng phí là có thực và nó xảy ra ở tất cả các khâu, giai đoạn của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu tư, đến khâu nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng
và quyết toán vốn ĐTXD công trình Bên cạnh đó đạt được những kết quả khả quan như sau:
Công tác tổ chức quản lý các dự án xây dựng được sự quan tâm của lãnh đạo các Bộ
và các cấp được phân công, hạn chế thấp nhất rủi ro trong quá trình xây dựng dự án: các cơ quan chức năng từ QLDA, Tư vấn, Nhà thầu xây lắp đã có cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao, tuân thủ các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
Năng lực của các cơ quan thay mặt cho chủ đầu tư (các đơn vị tư vấn khảo sát, thiếtkế, giám sát, QLDA…) đã được cải thiện đáng kể Điều này thể hiện ở gần như mọi "công đoạn" từ chuẩn bị dự án đến thực hiện dự án Môi trường đầu tư (chế độ, chính sách ) được thay đổi theo từng giai đoạn phát triển KT-XH của đất nước và thế giới cho phù hợp với tình hình thực tế Sự chủ động trong công việc, trách nhiệm (cá nhân hoặc cơ quan) đã tiệm cận hơn đến sự công khai, minh bạch
Việc thay đổi cơ chế vận hành cho phù hợp với luật xây dựng được đổi mới liêntục làm cho năng lực của các cơ quan của chủ đầu tư giảm bớt sự hạn chế bởi các quy định, quy chế vận hành hệ thống Công tác xác định rõ vai trò trách nhiệm của “chủ
Trang 28 Năng lực của các nhà thầu Tư vấn, nhà thầu xây dựng đã tiến bộ rất nhiều để đáp ứng được các yêu cầu trực tiếp đến tiến độ thực hiện dự án cũng như chất lượng vàhiệu quả của dự án Cung cách điều hành, tư duy ở một số đơn vị, một số cá nhân, đơn vị công ty tư vấn đã thay đổi để hợp với thời cuộc,"Tự nâng cao năng lực"của công ty tư vấn (một yếu tố cần thiết để công ty tư vấn phát triển và hội nhập) Sự phát triển của các công ty tư vấn phần nào cũng do các chính sách của Nhà nước và các bộ ngành đãtạo động lực thúc đẩy cho các công ty tư vấn phát triển Chúng ta ý thức được rằng
sự phát triểnc ủa cá nhân và đơn vị tư vấn sẽ dẫn đến sản phẩm tốt cho xã hội
Nhà thầu xây dựng ngày càng hội nhập, chuyên nghiệp, nhân lực tốt, máy móc thiết
bị được tăng cường, công nghệ được cập nhật liên tục, công tác quản lý, năng lực và kinh nghiệm ngày càng đáp ứng được những yêu cầu khắt khe hơn
1.6 Tình hình quản lý dự án đầu tư xây dựng ở Bình Thuận
Giai đoạn 2011 - 2015, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và chính sách tái cơ cấu đầu tư công theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nền kinh tế của tỉnh gặp nhiều khó khăn thách thức Nguồn lực ngân sách nhà nước hạn chế nên phải ưu tiên tập trung để thanh toán khối lượng hoàn thành, nợđọngxây dựng cơ bản từ năm 2010 trở về trước và các dự án chuyển tiếp sang giai đoạn2011 - 2015
Công tác phân bổ nguồn lực, giao kế hoạch vốn đã bám sát, tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý vốn đầu tư XDCB Từ năm 2012 thực hiện Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, việc giao kế hoạch đảm bảo tập trung, tránh
Trang 2919
đầu tư dàn trải, khắc phục tình trạng nợ đọng XDCB; bố trí đủ mức vốn tối thiểu cho 2 lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học - công nghệ và vốn chuẩn bị đầu tư theo hướng dẫn của Trung ương Số vốn còn lại đã ưu tiên bố trí vốn cho các dự án trọng điểm của tỉnh, các dự án kết cấu hạ tầng thuộc lĩnh vực giao thông, thủy lợi, phát triển nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới, phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, giảm nghèo, bảo vệ môi trường; các lĩnh vực văn hóa - xã hội; quốc phòng - an ninh; hỗ trợ phát triển các vùng miền núi, vùng khó khăn, góp phần trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững của địa phương
Các dự án được thực hiện đầu tư phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cấp huyện và quy hoạch ngành đã được phê duyệt; tuân thủ các quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Tình hình thực hiện phân bổ vốn trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 - 2020 đảm bảo đúng luật, đúng thẩm quyền; bố trí đủ vốn cho lĩnh vực giáo dục đào tạo - dạy nghề, lĩnh vực khoa học và công nghệ theo đúng quy định; thứ tự ưu tiên bố trí vốn thực hiện theo các quy định tại Chỉ thị 23/CT-TTg ngày 05/8/2014 về lập Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020, Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 30/4/2015 về tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư công và Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 29/5/2015 về xây dựng Kế hoạch phát triển KT - XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016, cụ thể như sau:
Ưu tiên một: Bố trí vốn hỗ trợ đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP
Ưu tiên hai: Bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA
Ưu tiên ba: Thanh toán trả nợ đọng xây dựng cơ bản và hoàn vốn đã ứng trước
Ưu tiên bốn: Bố trí vốn cho những công trình hoàn thành trước ngày 31/12/2015 nhưng còn thiếu vốn, các công trình chuyển tiếp, dở dang của giai đoạn 2011 - 2015 chuyển sang giai đoạn2016-2020 Trường hợp vượt quá khả năng cân đối vốn phải thực hiện việc điều chỉnh giảm quy mô, điểm dừng kỹ thuật hợp lý nhằm phát huy hiệu quả dự án, tránh lãng phí nguồn vốn đầu tư
Số vốn còn lại bố trí khởi công mới một số dự án thực sự cần thiết, cấp bách theo đúng quy định pháp luật[3]
Trang 3020
Bố trí cho các dự án chuyển tiếp, dự án khởi công mới bằng 90% so với tổng mức đầu
tư của các dự án, phần vốn còn lại sẽ bố trí khi có quyết định quyết toán
1.7 Các vấn đề đặt ra đối với QLDA hiện nay
Trong những năm qua các dự án xây dựng thường gặp một số vấn đề dẫn đến tham nhũng, lãng phí, hiệu quả dự án thấp và tiêu cực trong ĐTXD như sau:
Thất thoát, lãng phí trong khâu chủ trương đầu tư: Xác định sai chủ trương đầu tư,
dẫn đến đầu tư không có hiệu quả, hoặc hiệu quả đầu tư kém, không ít nhà máy doxác định sai chủ trương đầu tư dẫn tới khi đưa vào hoạt động không có nguyên liệu và để khắc phục tình trạng này phải di chuyển hoặc bỏ nhà máy dẫn đến thất thoát, lãng phí nghiêm trọng Như vậy, sai lầm trong chủ trương đầu tư sẽ gây lãng phí, thất thoát nghiêm trọng nhất, cả về lãng phí trực tiếp và lãng phí về gián tiếp
Thất thoát trong khâu khảo sát thiết kế:Khảo sát không đảm bảo chất lượng, chưa đủ
mẫu, chưa sát với thực tế hoặc không đúng với những tiêu chuẩn, quy chuẩn dẫn đến việc phải khảo sát lại hoặc phải thay đổi, bổ sung, điều chỉnh thiết kế, phương án thi công nhiều lần, kéo theo là làm thay đổi dự toán, làm chậm tiến độ thi công, gây lãng phí thời gian, tiền của của dự án; thiết kế không đảm bảo chất lượng, không đồng bộ gây lún, nứt phải phá đi làm lại; phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật tư, vật liệu không phù hợp với loại công trình (sử dụng vật liệu quá đắt tiền cho công trình cấp thấp); việc chọn hệ số an toàn quá cao, tính toán không chặt chẽ gây lãng phí vật liệu xây dựng,
Thất thoát trong khâu đền bù, GPMB xây dựng: Bớt xén tiền đền bù của dân; đền bù
không thoả đáng, không đúng đối tượng; chi trả tiền đền bù không theo định mức, khung giá Nhà nước và địa phương ban hành; khai khống diện tích, khối lượng tài sản được đền bù; làm giả hồ sơ đền bù từ đó làm tăng thêm vốn ĐTXD công trình và chính việc đền bù không thoả đáng, hợp lý, không tuân theo quy định làm cho việc bàn giao mặt bằng xây dựng không đúng thời hạn quy định, dẫn đến chậm tiến độ thi công công trình, gây lãng phí, thất thoát vốn
Thất thoát, lãng phí trong công tác triển khai và điều hành kế hoạch đầu tư hàng năm như: Bố trí danh mục các dự án đầu tư quá phân tán, dàn trải, không sát với tiến
độ thi công của dự án đã được phê duyệt, bố trí kế hoạch đầu tư cho dự án không
Trang 3121
đủđiều kiện dẫn đến kéo dài thời gian thi công, chậm đưa vào sử dụng làm giảm hiệu quả đồng vốn đầu tư; bố trí kế hoạch đầu tư chỉ chú trọng kế hoạch khối lượng, không xây dựng kế hoạch vốn dẫn đến phát sinh mất cân đối giữa kế hoạch khối lượng và kế hoạch vốn dẫn đến hiện tượng thừa thiếu vốn giả tạo cho các dự án; bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm cho các dự án không theo sát tiến độ đầu tư thực hiện dự án đã được cấp thẩm quyền phê duyệt trong quyết định đầu tư
Thất thoát, lãng phí trong khâu lựa chọn nhà thầu: Làm sai lệch bản chất đấu thầu
như không thực hiện đúng trình tự đấu thầu; xét thầu, đánh giá để xếp loại nhà thầu khi lựa chọn nhà thầu không chính xác, thiếu chuẩn mực, không đủ khả năng; hiện tượngthông đồng giữa các nhà thầu khi tham gia đấu thầu đã khống chế giá trúng thầu cho đơn vị được thoả thuận để thắng thầu đưa đến phá giá trong đấu thầu
Thất thoát, lãng phí trong khâu thi công xây lắp công trình: Thi công không đảm bảo
khối lượng theo thiết kế được phê duyệt hoặc thi công không đúng thiết kế dẫn đến phải phá đi làm lại; sử dụng vật liệu không đảm bảo chất lượng; khai khống khối lượng ;ăn bớt vật liệu trong quá trình thi công, chất lượng công trình không đảm bảo… Như vậy, qua phân tích một số dạng sai phạm cho thấy thất thoát, lãng phí không chỉ
do nguyên nhân khách quan như bởi cơ chế chính sách về quản lý đầu tư còn chồngchéo, thiếu đồng bộ, chưa rõ ràng hay do đặc điểm, tính chất của sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, chu kỳ sản xuất dài, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu nên việc thi công phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chất lượng và giá cả sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện tự nhiên mà còn có nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất thoát, lãng phí là từ con người
và bắt đầu từ người giữ vai trò giám sát trong bộ máy nhà nước
Kết luận chương 1
Trong Chương 1, tác giả đã khái quát một cách hệ thống cơ sở lý luận về Dự án đầu tư xây dựng công trình; lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư XDCT và thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư XDCT; chất lượng xây dựng công trình… ở nước ta nói chung và trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nói riêng Từ đó đánh giá được tầm quan trọng của công tác công tác quản lý dự án đầu tư XDCT
Trang 3222
Đây chính là tiền đề để tác giả đưa ra những nhận xét về các thực trạng nêu trạng nêu trên nhằm đánh giá, phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao công tác quản lý dự án đầu tư XDCT tại Ban QLDA đầu tư xây dựng Chi cục Phát triển nông thôn Bình Thuận ở Chương 2 và Chương 3 tiếp theo
Trang 3326
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
2.1 Cơ sở pháp lý
2.1.1 Các văn bản Luật liên quan đến đầu tưXDCT
Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội khóa XIII quy định
về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và QLNN trong hoạt động ĐTXD;
Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội khóa XIII quyđịnh việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; QLNN về đầu tư công;
Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Quốc hội khóa XIII quy định về hoạt động ĐTKD tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài;
Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 của Quốc hội khóa XIII quy định QLNN về đấu thầu; trách nhiệm của các bên có liên quan và các hoạt động đấu thầu và các Luật khác liên quan đến hoạt động xây dựng
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một
số nội dung của Luật đấu thầu về lựa chọn Nhà thầu;
Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 22/2/2015 của Chính phủ về việc quản lý chi phí ĐTXD;
Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết về Quản lý tài liệu lưu trữ hồ sơ và các Nghị định khác có liên quan
Trang 3427
2.1.3 Các Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành, địa phương
Thông tư số 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng Quy định về phân cấp CTXD và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động ĐTXD;
Thông tư số 04/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng Quy định về Giải thưởng về chất lượng CTXD;
Thông tư số 05/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ xây dựng Hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong quản lý chi phí ĐTXD;
Thông tư số 06/2016/TT-BXD ngày 10/03/2016 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí ĐTXD;
Thông tư số 07/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng Hướng dẫn Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng;
Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ xây dựng hướng dẫn về hình thức tổ chức QLDAĐTXD;
Thông tư số 17/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ xây dựng hướng dẫn về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia HĐXD;
Thông tư số 18/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ xây dựng quy định và hướng chi tiết về thẩm định, phê duyệt dự án ĐTXD và thiết kế, dự toán XDCT;
Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN;
Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính Quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước;
Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quy trình chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
2.2 Cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn
Quản lý dự án là việc thực hiện tổng hợp các công việc liên quan đến khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội… từ tất cả các khâu để công trình hoàn thành đảm bảo chất lượng, tiến độ, chi phí phục vụ dân sinh và phát triển bền vững KTXH Bản chất
Trang 3528
của khoa học quản lý là một sự phối hợp kỳ diệu vừa mang tính kỹ thuật và nghệ thuật được mô tả như Hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc khoa học quản lý
2.3 Mục tiêu quản lý dự án của các chủ thể
Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép
2.4 Mục tiêu quản lý dự án của Chủ đầu tư
Chủ đầu tư xây dựng công trình là người (hoặc tổ chức) sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình.Chủ đầu tư là người phải chịu trách nhiệm toàn diện trước người quyết định đầu tư và pháp luật về các mặt chất lượng, tiến độ, chi phí vốn đầu tư và các quy định khác của pháp luật Chủ đầu tư được quyền dừng thi công xây dựng công trình và yêu cầu khắc phục
Khoa học quản lý
Kỹ thuật quản lý
Hệ thống quản lý Phương tiện
Phần mềm quản lý Thiết bị
Nghệ thuật quản lý
Xã hội Văn hóa
Tâm lý Lãnh đạo con người
Trang 36Đối với công tác quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình: Chủ đầu tư tổ chức tốt việc lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình trên cơ sở báo cáo xây dựng công trình hoặc chủ trương đầu tư được cấp thẩm quyền phê duyệt; lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực để lập thiết kế và thẩm tra thiết kế xây dựng công trình khi cần thiết; kiểm tra việc tuân thủ các quy định trong hợp đồng xây dựng của nhà thầu thiết kế, nhà thầu thẩm tra thiết kế trong quá trình thực hiện hợp đồng; kiểm tra và trình thiết kế cơ sở cho người quyết định đầu tư thẩm định, phê duyệt theo quy định của pháp luật đối với công trình sử dụng nguồn vốn của Nhà nước; tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế dự toán; thực hiện thay đổi thiết kế theo quy định tổ chức nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng công trình
Trong công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình: Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình và các công việc tư vấn xây dựng khác; thông báo về nhiệm vụ quyền hạn của các cá nhân trong hệ thống quản lý chất lượng của chủ đầu tư, nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình cho các nhà thầu có liên quan biết để phối hợp thực hiện; kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công so với hồ sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng; kiểm tra việc huy động và bố trí nhân lực của nhà thầu giám sát thi công xây dựng công tŕnh so với yêu cầu của hợp đồng xây dựng; kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình; thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường; tổ chức kiểmđịnh, nghiệm thu, lập hồ sơ hoàn thành, lưu trữ hồ sơ của
Trang 3730
công trình và bàn giao công trình xây dựng; tạm dừng hoặc đình chỉ thi công đối với nhà thầu thi công khi xét thấy chất lượng thi công không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công không đảm bảo an toàn
2.5 Mục tiêu quản lý dự án của các nhà thầu
Nhà thầu là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động xây dựng Có các loại nhà thầu xây dựng như:
Nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình
Nhà thầu phụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng
Tổng thầu và nhà thầu phụ không phải là một, lý do: tổng thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu ký kết hợp đồng nếu được chấp nhận còn nhà thầu phụ chỉ
ký kết hợp đồng với nhà thầu chính, tổng thầu để nhận một phần công việc nào đó
và không phải chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu
Theo quy định tại Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 [3]về quản lý chất
lượng và bảo trì công trình xây dựng: Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện
Có thể nhận thấy rằng mục tiêu quản lý của Nhà thầu là nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng quản lý dự án xây dựng công trình sẽ góp phần tiết kiệm được các nguyên vật liệu, nhân công, máy móc, thiết bị, tăng năng suất lao động Nâng cao chất lượng quản lý dự án xây dựng công trình có ý nghĩa quan trọng tới nâng cao đời sống người lao đông, thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ đối với Nhà thầu Chất lượng quản lý dự án xây dựng công trình gắn với an toàn của
Trang 3831
thiết bị và nhân công nhà thầu trong quá trình xây dựng Ngoài ra chất lượng quản
lý dự án xây dựng công trình đảm bảo cho việc duy trì và nâng cao thương hiệu cũng như phát triển bền vững của nhà thầu
2.6 Các mô hình tổ chức QLDA đầu tư XDCT
2.6.1 Mô hình thuê Tư vấn quản lý, điều hành dự án
Là mô hình tổ chức trong đó chủ đầu tư thuê tổ chức Tư vấn hoặc Chủ nhiệm điều hành dự án có năng lực chuyên môn để quản lý điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án với mô hình
Hình 2.2 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án Đối với mô hình trên, Chủ đầu tư sẽ thuê một đơn vị tư vấn quản lý dự án có đủ năng lực từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn kết thúc dự án Tuy nhiên, Chủ đầu tư vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu đơn vị tư vấn thực hiện sai quy định của pháp luật về xây dựng
Ưu điểm: Tính chuyên nghiệp trong QLDA cao, kinh nghiệm quản lý được đúc kết qua nhiều dự án, trang thiết bị đầy đủ và được khai thác, sử dụng ở mức tối đa; chủ đầu tư và tư vấn chỉ ràng buộc qua hợp đồng kinh tế nên tính độc lập cao; Góp phần mở rộng khả năng giám sát xã hội trong thực hiện dự án
Nhược điểm: Kinh phí chi trả cho hoạt động QLDA lớn; Giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quả trình thực hiện ít linh hoạt
Quản lý dự án 1
Quản lý dự án 2
Quản lý dự án n
Trang 3932
Điều kiện áp dụng: Trong trường hợp Ban QLDA chuyên ngành, Ban QLDA khu vực không đủ điều kiện năng lực để thực hiện một phần hoặc toàn bộ các nội dung QLDA đầu tư XDCT theo hợp đồng ký kết với Chủ đầu tư; dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, vốn khác và dự án có tính chất đặc thù, đơn lẻ; dự án quy mô lớn, tính chất kỹ thuật phức tạp
2.6.2 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý
Đây là mô hình quản lý dự án mà chủ đầu tư hoặc tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật) hoặc chủ đầu
tư lập ra Ban quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công việc dự án theo sự
uỷ quyền Mô hình này thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ , đơn giản
về kỹthuật và gần với chuyên môn của chủ dự án, đồng thời chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm quản lý dự án.Để quản lý chủ đầu tư được lập và sử dụng bộ máy có năng lực chuyên môn của mình mà không cần lập Ban quản lý dự án
Hình 2.3 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp QLDA
Nếu chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án, thì Ban Quản lý dự án sẽ đại diện chủ đầu tư Quản lý toàn bộ dự án Trường hợp Chủ đầu tư tự thực hiện quản lý dự án thì phải đáp ứng các quy định về năng lực theo pháp luật về hoạt động xây dựng
Trang 40 Điều kiện áp dụng: Chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để QLDA; dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp CTXD quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng, dự án có sự tham gia của cộng đồng và dự án có tổng mức đầu tư dưới 2 tỷ đồng do UBND cấp xã làm chủ đầu tư
2.6.3 Mô hình chìa khóa trao tay
Mô hình này là hình thức tổ chức trong đó nhà quản lý không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư - chủ dự án mà còn là chủ của dự án Hình thức chìa khoá trao tay được áp dụng khi chủ đầu tư được phép tổ chức đấu thầu để chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án từ khảo sát thiết kế, mua sắm vật tư, thiết bị, xây lắp cho đến khi bàn giao công trình đưa vào khai thác, sử dụng Tổng thầu thực hiện dự
án có thể giao thầu lại việc khảo sát, thiết kế hoặc một phần khối lượng công tác xây lắp cho các nhà thầu phụ
Đối với các dự án sử dụng các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, khi áp dụng hình thức chìa khoá trao tay chỉ thực hiện đối với các dự án nhóm C, các trường hợp khác phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng
Ưu điểm: Giảm nhẹ đến mức cao nhất của chủ đầu tư trong việc quản lý triển khai thực hiện dự án; được pháp luật Việt Nam công nhận và cho phép thực hiện đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước
Nhược điểm: Tổng thầu ít khi chia sẻ với chủ đầu tư về bí quyết công nghệ để duy trì mối ràng buộc lệ thuộc về vật tư thiết bị, kỹthuật…
Điều kiện ápdụng:
Chủ đầu tư được phép tổ chức lựa chọn nhà tổng thầu thực toàn bộ công việc dự án