1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực trạng chăm sóc người bệnh động kinh tại bệnh viện tâm thần tỉnh nam định năm 2021

35 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN (10)
    • 1.1. Tình hình bệnh động kinh và một số nghiên cứu trong và ngoài nước (10)
      • 1.1.1. Trên thế giới (10)
      • 1.1.2. Tại Việt Nam (10)
    • 1.2. Nguyên nhân gây bệnh (10)
    • 1.3. Đặc điểm lâm sàng (11)
      • 1.3.1. Các biểu hiện trước cơn (11)
      • 1.3.2. Các biểu hiện rối loạn tâm thần trong cơn (12)
      • 1.3.3. Các rối loạn cảm xúc (13)
      • 1.3.4. Một số biểu hiện các rối loạn tâm thần khác của một số cơn động kinh . 7 1.4. Các rối loạn tâm thần mạn tính của động kinh (14)
      • 1.4.1. Rối loạn nhân cách (14)
      • 1.4.2. Các biểu hiện loạn thần (16)
      • 1.4.3. Các biến đổi về hoạt động nhận thức (16)
      • 1.4.4. Mất trí động kinh (17)
    • 1.5. Chẩn đoán (17)
      • 1.5.1. Chẩn đoán xác định (17)
      • 1.5.2. Chẩn đoán phân biệt (18)
    • 1.6. Điều trị (18)
    • 1.7. Phòng bệnh (18)
    • 1.8. Chăm sóc (19)
      • 1.8.1 Nhận định (19)
      • 1.8.2. Chẩn đoán chăm sóc (21)
      • 1.8.3. Lập kế hoạch chăm sóc (21)
      • 1.8.4. Thực hiện chăm sóc (21)
      • 1.8.5. Đánh giá (22)
  • Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN (23)
    • 2.1. Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định (23)
    • 2.2. Nghiên cứu một trường hợp cụ thể (24)
      • 2.2.1. Thông tin chung (24)
      • 2.2.2. Quá trình bệnh lý (25)
      • 3.2.3. Khám bệnh (25)
    • 2.3. Chăm sóc trong thời gian người bệnh nằm viện đánh giá hoạt động hàng ngày của người bệnh như sau (27)
    • 2.4. Một số ưu nhược điểm (31)
      • 2.4.1. Ưu điểm (31)
      • 2.4.2. Nhược điểm (31)
    • 2.5. Nguyên nhân (31)
      • 2.5.1. Đối với nhân viên y tế (31)
      • 2.5.2. Đối với người nhà người bệnh (32)
  • Chương 3: KẾT LUẬN (33)
    • 3.1. Thực trạng chăm sóc người bệnh động kinh (33)
    • 3.2. Một số giải pháp để cải thiện chăm sóc người bệnh tốt hơn: .............................. 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO (33)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tình hình bệnh động kinh và một số nghiên cứu trong và ngoài nước

Theo tổ chức y tế thế giới, qua điều tra 108 nước trên thế giới với tỉ lệ 84,5% dân số toàn cầu, đã phát hiện được 43.704.000 người mắc động kinh.

Tỉ lệ mắc bệnh động kinh trung bình trên thế giới là 8,93 trên 1000 người, theo số liệu từ 105 quốc gia Tỉ lệ này có sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực: Châu Mỹ ghi nhận 12,59 trên 1000 người, Châu Phi là 11,29, khu vực Đông Địa Trung Hải có tỉ lệ 9,4, Châu Âu là 8,23 và khu vực Tây Thái Bình Dương thấp nhất với 3,66 trên 1000 người.

Về giới, hầu hết các nghiên cứu (không phải toàn bộ) ở Châu Á nhận thấy tỉ lệ nam bị động kinh cao hơn đôi chút so với nữ (8).

Theo nghiên cứu của Trần Văn Cường (2001), tỷ lệ động kinh tại Việt Nam là 0,35% dân số Một nghiên cứu khác của Cao Tiến Đức tại phường Vạn Phúc - Hà Đông vào năm 2002 cho thấy tỷ lệ này tăng lên 0,42% Trong nghiên cứu năm 1994, Cao Tiến Đức đã khảo sát 296 bệnh nhân động kinh và phát hiện rằng trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 45,9%, trong khi nhóm từ 16 tuổi trở lên chiếm 54,1%.

Động kinh chủ yếu xảy ra ở trẻ em, với khoảng 50% bệnh nhân dưới 10 tuổi và 75% dưới 20 tuổi Tỷ lệ mắc bệnh giảm dần theo độ tuổi, nhưng lại tăng trở lại ở người trên 60 tuổi, đạt tỷ lệ 1/1000 (P Loiseau, 1990) Theo nghiên cứu của Cao Tiến Đức (1994), sự gia tăng độ tuổi có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh động kinh giảm.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh động kinh là một rối loạn của não do tổn thương gây ra, với tỷ lệ khoảng 0,33% trong dân số Việt Nam Còn được gọi là kinh phong hay kinh giật, bệnh biểu hiện qua các cơn co giật, mất ý thức và rối loạn hành vi Chẩn đoán động kinh dựa vào sự tái diễn của các cơn co giật, liên quan đến phóng điện bất thường của neuron thần kinh ở vỏ não Triệu chứng bệnh thay đổi tùy thuộc vào vị trí và diện tích vùng não bị ảnh hưởng Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường bắt đầu dưới 20 tuổi, chiếm 80% các trường hợp Nguyên nhân gây bệnh đa dạng, bao gồm khối u, sẹo sau chấn thương, dị dạng và yếu tố di truyền.

Tổn thương não có thể xảy ra trong nhiều giai đoạn, bao gồm giai đoạn bào thai, sang chấn sản khoa, chấn thương đầu, u não, dị dạng mạch máu não, và di chứng sau tai biến mạch máu não Ngoài ra, nghiện rượu cũng là một yếu tố nguy cơ Một số trường hợp động kinh có liên quan đến yếu tố di truyền, mặc dù tỷ lệ này rất thấp.

Trẻ em có thể gặp chấn thương đầu do bị ngã và va đập vào vật cứng hoặc nền gạch, hoặc khi trẻ ngủ trên giường và mơ lăn xuống đất Những tình huống này có thể gây ra chấn thương nghiêm trọng cho trẻ.

Những chấn thương đó luôn gây tổn thương cho não và cũng là nguyên nhân hay gặp của bệnh động kinh.

- Một số trẻ khi sinh ra có một hay vài cái bướu trong não,bướu này ngày càng lớn và cuối cùng lên các cơn động kinh

- Di truyền, trong gia đình có ông bà , cha mẹ bị động kinh thì rất có thể con cháu sau này cũng mắc bệnh động kinh.

Đặc điểm lâm sàng

- Rối loạn tâm thần trong cơn động kinh bao gồm các biểu hiện lâm sàng trước, trong và ngay sau cơn (Poriicctal symptoms)

- Rối loạn tâm thần ngoài cơn (Interictal symptoms) bao gồn nhưng biểu hiện lâm sàng giữa cơn.

Các rối loạn tâm thần cấp của động kinh

1.3.1 Các bi ể u hi ệ n tr ướ c c ơ n : Cơn thoáng báo tâm thần ( Aura)

Động kinh cục bộ phức tạp thường kèm theo các rối loạn thần kinh thực vật như nóng bừng mặt, đầy hơi, và khó thở, cùng với các rối loạn nhận thức như hiện tượng tư duy bị cưỡng bức và trạng thái mê mộng Người bệnh cũng có thể trải qua các rối loạn cảm xúc như sợ hãi, hoảng sợ, trầm cảm và hưng cảm, cũng như các hoạt động tự động như liếm môi và chạy trốn Đặc biệt, động kinh từ thùy thái dương và thùy chẩm có thể dẫn đến các cơn thoáng với biểu hiện loạn thần, bao gồm ảo giác và ảo tưởng thị giác Ảo tưởng thị giác thường gặp ở bệnh nhân động kinh thùy chẩm, với nội dung từ thô sơ như chớp sóng, điểm đen đến phức tạp như phong cảnh hay hình người Ngoài ra, ảo thanh cũng có thể xuất hiện, đặc biệt trong động kinh thùy thái dương, với nội dung từ thô sơ đến phức tạp như tiếng người nói và điệu nhạc.

1.3.2 Các bi ể u hi ệ n r ố i lo ạ n tâm th ầ n trong c ơ n

1.3.2.1 Các cơn tương đương(cơn tự động hay cơn tâm thần vận động )

Trong cơn hoạt động ý thức giảm nhẹ, bệnh nhân còn nhớ và nhận thức được hành vi của mình.

Các biểu hiện hành vi tự động ở bệnh nhân có thể bao gồm việc thực hiện các hoạt động như lau nhà mà không thể cưỡng lại, hoặc các cơn cưỡng bức với tính chất ám ảnh, dẫn đến những hành động như cơn giận dữ, cơn ăn cắp, cơn khiêu dâm, hay cơn giết người Những cơn này thường tương đương với các rối loạn ý thức nặng hơn, trong đó hành vi tự động diễn ra trong trạng thái mù mờ ý thức, khiến bệnh nhân không nhận thức được hành động của mình và cảm thấy ngạc nhiên khi người khác kể lại.

Các hành vi tự động như cơn đi lang thang và bỏ chạy có thể đi kèm với những hành vi phá phách hoặc hài hước Cơn bỏ chạy thường có đặc điểm là chạy thẳng về phía trước do ý thức bị thu hẹp Những cơn tương đương này có thể xuất hiện độc lập, trước hoặc sau một cơn động kinh cục bộ Một số tác giả cho rằng những cơn này không giống như cơn lớn hay cơn nhỏ, mà là những cơn tương đương như cơn nấc hay cơn ngáp.

Trạng thái hôn mê thường xuất hiện trong cơn động kinh toàn thể co cứng - co giật điển hình, với sự phục hồi ý thức và hoạt động nhận thức diễn ra từ vài phút đến nhiều giờ Trong giai đoạn này, bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng của tình trạng sảng (Delirium) đang hồi phục Việc chẩn đoán chỉ được thực hiện khi bệnh động kinh chưa được xác định trước đó.

Các yếu tố lo âu thường đi kèm với sự kích động, giận dữ và lú lẫn, thể hiện qua nhiều mức độ và sắc thái khác nhau Những trạng thái này thường kết hợp với lo âu, mê sảng, mê mộng hoặc bùng nổ, nhưng đều có điểm chung là tình trạng quên lãng sau mỗi cơn.

Trạng thái lú lẫn có thể xảy ra sau các cơn hoạt động kịch phát, nhưng cũng có thể xuất hiện độc lập mà không có cơn kịch phát nào Tình trạng lú lẫn này thường kéo dài từ vài giờ đến vài ngày và có xu hướng tái phát tương tự như các cơn trước đó.

1.3.2.2.3 Các trạng thái hoàng hôn:

Hoàng hôn là trạng thái loạn thần cơ bản của động kinh, thường gặp trong pháp y tâm thần, với đặc điểm khởi phát đột ngột cơn ngắn quên sau cơn Bệnh nhân trải qua sự mù mờ ý thức, trở nên ngơ ngác và trả lời chậm với các vấn đề thực tế xung quanh, trong khi tư duy lại hướng về những vấn đề trừu tượng như tôn giáo và vũ trụ Dù có thể tồn tại trạng thái rối loạn nhẹ, bệnh nhân vẫn sống trong cảnh mộng, có khả năng nhớ và định hướng đúng, nhưng tình trạng này rất bấp bênh, với giai đoạn hoàng hôn và tỉnh táo đan xen Trong trạng thái này, nhiều cơn bỏ chạy và hành vi bạo lực có thể xuất hiện, cùng với những hiện tượng lạ như ảo giác và ý tưởng thần bí Bệnh nhân có thể thể hiện hai khuynh hướng trái ngược: vừa có hành vi phá hoại độc ác, vừa nuôi dưỡng những ý tưởng cao đẹp về xây dựng trật tự xã hội.

1.3.3.1 Các cơn loạn khí sắc.

Trong cơn bệnh, bệnh nhân thường trải qua những cảm xúc lẫn lộn như buồn rầu, giận dữ, bất mãn và hằn học, đi kèm với sự dễ bị kích thích và những ý tưởng nghi ngờ về bệnh tật Cảm giác sợ hãi là phổ biến, mặc dù hiếm khi có cảm giác khoái cảm xuất hiện Nhiều bệnh nhân rối loạn khí sắc có xu hướng uống rượu nhiều và đi lang thang, điều này có thể rất nguy hiểm Một số thuốc chống động kinh như Phenobarbital, vigabatrin, và felbamate có thể làm trầm trọng thêm tình trạng khí sắc, dẫn đến nguy cơ trầm cảm và tăng nguy cơ tự sát ở bệnh nhân động kinh.

1.3.3.2 Cơn hưng cảm và trầm cảm

Trong quá trình tiến triển của động kinh, bệnh nhân có thể gặp phải các cơn trầm cảm và hưng cảm không điển hình Những cơn này thường đi kèm với rối loạn ý thức giống như trạng thái hoàng hôn, và trước hoặc sau cơn có thể xảy ra những biến đổi về khí sắc.

1.3.4 M ộ t s ố bi ể u hi ệ n các r ố i lo ạ n tâm th ầ n khác c ủ a m ộ t s ố c ơ n độ ng kinh Ít gặp hơn và cũng ít được nhận biết hơn là những cơn rối loạn tâm thần thoáng qua ở nhưng bệnh nhân động kinh cơn nhỏ hay động kinh cục bộ nhất là động kinh thùy thái dương.Bản chất động kinh của nhưng cơn này có thể khó nhận biết do các biểu hiện vận động hay cảm giác đặc hiệu của bệnh động kinh không có hay rất nhẹ nên không gây được sự chú ý nơi thầy thuốc.Rối loạn tâm thần cũng gặp trong tình trạng động kinh liên tục duới lâm sàng (subclinical status epilepticus) khi sự phóng điện bất thường động kinh kéo dài, có thể trong nhiều giờ mà không gây ra các rối loạn vận động Các cơn này thường khởi đầu đợt ngột, biểu hiện bởi ý thức u ám, rối loạn định huớng, rối loạn trí nhớ và nhận thức Cơn có thể kéo dài từ vài phút đến nhiều giờ và sự phục hồi cũng nhanh như lúc xuất hiện Sau cơn người bệnh có thể quên hoàn toàn hoặc chỉ nhớ từng phần những sự việc đã qua EEG trong giai đoạn này ghi nhận thường xuyên hoạt động gai nhọn – sóng chậm hay đa gai khu trú hay đa gai – sóng chậm lan tỏa.

Rối loạn tâm thần thoáng qua trong tình trạng động kinh liên tục không co giật, bao gồm động kinh cục bộ đơn giản, cục bộ phức tạp và cơn vắng ý thức, thường biểu hiện những triệu chứng lâm sàng phức tạp hơn Các triệu chứng này bao gồm cảm xúc, tri giác và tư duy bất thường như ảo giác, hoang tưởng, kích động, trầm cảm nặng, mất vận ngôn (aphasia) hoặc câm tạm thời, cùng với trạng thái căng trương lực tương tự như các bệnh loạn thần nguyên phát khác.

1.4 Các rối loạn tâm thần mạn tính của động kinh Đây là những rối loạn tâm thần ngoài cơn động kinh xuất hiện trên các người bệnh động kinh bị động kinh lâu ngày Biểu hiện nhiều nhất là các biến đổi về nhân cách, suy giảm nhận thức, mất trí

Những biến đổi về nhân cáchcủa động kinh có nhưng nét đặc trưng sau :

Sự dao động trong cảm xúc và khí sắc của người bệnh là rất không ổn định, có thể thay đổi đột ngột từ trạng thái này sang trạng thái khác Họ có thể từ phấn khởi thái quá chuyển sang ghét bỏ, lúc thì hiền từ và độ lượng, khi lại trở nên hung dữ và xấu xa Hành vi của họ có thể biến đổi từ lễ phép quá mức đến thô lỗ, từ vui vẻ cởi mở đến cau có và yên lặng.

Bệnh động kinh thường đi kèm với những phức cảm về bệnh tật, khiến người bệnh cảm thấy tự ti và bi quan về sự bất lực của mình Họ thường trải qua nỗi đau khổ và sự nghi ngờ về sự khinh miệt từ người khác, dẫn đến những phản ứng bùng nổ trước những tác động xung quanh Chỉ một lời nói sơ ý hay cử chỉ nhỏ cũng có thể khiến họ tức giận, làm mất lòng những người xung quanh Hơn nữa, những khó khăn trong cuộc sống hay thay đổi thời tiết cũng có thể kích thích sự bực tức, dẫn đến hành vi gây gổ với người thân và tạo ra những tình huống nguy hiểm.

Người bệnh thường có mối gắn bó chặt chẽ với gia đình, nghề nghiệp và quê hương, dẫn đến việc họ không muốn rời xa nhà hay thay đổi nghề nghiệp Họ thường có những thành kiến dai dẳng và suy nghĩ chậm chạp, khó chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác Khi giao tiếp, người bệnh nói chậm và dài dòng, thường nhấn mạnh vào các chi tiết vụn vặt mà không đi vào trọng tâm Họ có xu hướng bảo vệ những tập quán và công thức cũ, đồng thời tuân thủ theo dõi và uống thuốc đầy đủ để điều trị Triệu chứng viết nhiều (Hyphergraphia) được xem là dấu hiệu đặc trưng của động kinh từng phần phức tạp, trong khi sự quan tâm đến tín ngưỡng có thể thể hiện qua việc tham gia quá mức vào các hoạt động tôn giáo và những khuynh hướng khác thường trong các tranh luận về đạo đức và triết học.

Chẩn đoán

1.5.1.Ch ẩ n đ oán xác đị nh

Chẩn đoán động kinh trong bối cảnh rối loạn tâm thần gặp khó khăn khi triệu chứng tâm thần nổi bật nhưng rối loạn ý thức và nhận thức lại không rõ rệt Đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán động kinh trước đó, sự xuất hiện các rối loạn tâm thần có thể dẫn đến hai trường hợp khác nhau.

Sự tiến triển của bệnh động kinh cần được theo dõi chặt chẽ, với việc bác sĩ kiểm tra tính phù hợp và liên tục trong việc sử dụng thuốc chống động kinh của bệnh nhân Đồng thời, việc chú ý đến các tác dụng phụ của thuốc cũng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị.

- Bệnh động kinh được kiểm soát tốt bằng thuốc chống động kinh, có thể xuất hiện một số bệnh lý tâm thần độc lập đi kèm theo.

- Trường hợp người bệnh mới, chưa được chuẩn đoán động kinh, có bốn đặc điểm lâm sàng gợi ý nghi ngờ động kinh:

+ Sự xuất hiện đột ngột các rối loạn tâm thần ở một người mà trước kia có sức khỏe tâm thần bình thường.

+ Sự xuất hiện đột ngột một tình trạng sảng không xác định được nguyên nhân thường gặp.

+ Tiền sử cá nhân có những cơn giống nhau với đặc tínhxuất hiện đột ngột và hồi phục tự phát.

+ Tiền sử có những cơn ngất xỉu hoặc té ngã mà không rõ nguyên nhân.

EEG đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán động kinh, đặc biệt là động kinh cục bộ phức tạp, với khả năng phát hiện ở 25-50% bệnh nhân Tuy nhiên, cần phân biệt rối loạn tâm thần do động kinh với các bệnh lý tâm thần nguyên phát khác như tâm thần phân liệt, rối loạn phân ly, rối loạn khí sắc và các rối loạn nhân cách khác.

1.5.2 Ch ẩ n đ oán phân bi ệ t Để phân biệt các trạng thái loạn thần khác không phải do động kinh cần căn cứ vào các đặc điểm của loạn thần do động kinh đó là:

- Cơn hưng cảm, trầm cảm thường không điển hình.

- Thường xuất hiện có tính chất chu kỳ.

- Thường kèm theo rối loạn ý thức kiểu hoàng hôn

-Thường có rối loạn khí sắc trước và sau cơn -Các dấu hiệu suy nhược mang màu sắc thực tổn.

-Tiền sử có các cơn co giật, điện não có sóng động kinh.

Điều trị

Một số nguyên tắc cơ bản:

- Phải kiểm soát tốt động kinh bằng thuốc chống động kinh và những phương pháp có thể khác có nhiều hiệu quả, ít độc tính, ít tác dụng phụ.

- Phối hợp các thuốc hướng thần khi cần thiết, nên tránh các thuốc chống loạn thần, chồng trầm cảm có khả năng làm giảm ngưỡng động kinh.

Phối hợp các liệu pháp tâm lý cá nhân, tâm lý nhóm và liệu pháp gia đình - xã hội là cách hiệu quả để nâng cao chất lượng điều trị, giúp người bệnh tái thích ứng với xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Lao động trong môi trường an toàn là rất quan trọng, cần tránh làm việc ở những vị trí cao, gần lửa, nước và máy móc đang vận hành để giảm thiểu nguy cơ tai nạn do cơn động kinh gây ra.

Phòng bệnh

Phòng bệnh nói chung: Quản lý thai nghén, đảm bảo an toàn giao thông và trong sinh hoạt hằng ngày.

Để phòng ngừa cơn tái phát, người bệnh cần nhớ không được quên thuốc và không tự ý ngừng thuốc Ngoài ra, nên tránh sử dụng các chất kích thích như rượu, bia và cà phê Cũng cần hạn chế làm những nghề có nguy cơ cao và không nên ở trong môi trường thiếu oxy hoặc có nhiệt độ cao.

Chăm sóc

Việc nhận định cơn và trường hợp chứng kiến cơn có thể thực hiện khá dễ dàng Tuy nhiên, thông tin thường được cung cấp từ người nhà, người xung quanh hoặc chính bệnh nhân, do đó cần phân biệt rõ giữa cơn thực sự và cơn chức năng.

Khi người bệnh đang trải qua cơn động kinh, cần chú ý đến mức độ và tính chất của cơn, bao gồm sự khởi phát đột ngột, hình thái cơn, và đặc biệt là cơn giật đầu tiên cùng vị trí cơ giật đầu tiên Ngoài ra, cần xác định xem cơn động kinh là cục bộ hay toàn bộ để có hướng xử lý phù hợp.

- Thời gian và các yếu tố thuận lợi gây cơn, cơn tái phát, có hôn mê không?

- Điều trị có cắt cơn không?

Để đánh giá mức độ hôn mê của bệnh nhân, có thể sử dụng thang điểm Glasgow, với tổng điểm tối đa là 15, bao gồm 4 điểm cho phản ứng mắt, 5 điểm cho lời nói và 6 điểm cho vận động Cần xem xét liệu bệnh nhân có mất ý thức trong cơn giật hay không.

+ Da, niêm mạc: nhợt, hồng, tím

+ Dấu hiệu sinh tồn: Mạch, nhiệt độ, huyết áp

+ Thể trạng: Nặng bao nhiêu kg (dựa vào cân nặng của người bệnh để tính liều lượng thuốc điều trị cho người bệnh).

-Tình trạng về thần kinh, tâm thần:

- Sau cơn người bệnh có mô tả lại được cơn không?

- Người bệnh lên cơn có tính chất chu kỳ hay không?

- Các nguy cơ có thể xảy ra khi người bệnh lên cơn co giật

Cơn giật có thể xảy ra nhiều lần trong ngày, với thời gian mỗi cơn kéo dài khác nhau Cần xác định vị trí bắt đầu của cơn giật, có thể từ tay, chân bên nào hoặc cơ mặt Ngoài ra, cần lưu ý xem có kèm theo các động tác tự động hay không, và trong cơn bệnh nhân có mất ý thức hay không Cũng cần chú ý đến việc có xảy ra đại tiểu tiện không tự chủ, có sùi bọt mép hay cắn vào lưỡi hay không, cũng như có rối loạn chức năng ngôn ngữ hay co cứng các cơ hay không.

Sau cơn giật, cần xác định người bệnh có tỉnh táo hay không, có vã mồ hôi, và có nhớ những gì xảy ra trước đó Cần lưu ý xem có bị liệt hoặc nôn mửa sau cơn không, cũng như có cảm giác tê bì ở chân tay hay không Ngoài ra, cần kiểm tra xem có khó nói, nuốt nghẹn, hay sặc không, và có xuất hiện cơn loạn thần hay không Cuối cùng, cần đánh giá khả năng tự chủ trong đại tiểu tiện của người bệnh.

+ Huyết áp: Trong cơn giật cao hay thấp Ngoài cơn giật bình thường, cao hay thấp.

+ Nhịp tim: Trong cơn giật cao hay thấp Ngoài cơn giật bình thường, cao hay thấp.

+ Xuất tiết đờm dãi : Trong cơn nhiều hay ít

+ Có khả năng ho khạc hay không?

+ Người bệnh tự thở hay phải có sự trợ giúp của máy thở qua ống nội khí quản, mở khí quản,

+ Người bệnh tự ăn uống được hay đặt sonde dạ dày ( do hôn mê hoặc rối loạn nuốt), hoặc phải nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch.

+ Người bệnh có nôn, căng chướng bụng hoặc đau bụng không?

+ Đại tiện mấy lần/ ngày, có tự chủ không? Trong cơn có đại tiểu tiện không tự chủ không?

- Tình trạng tiết niệu, sinh dục:

+ Tiết niệu: Tiểu tiện có tự chủ không? Màu sắc, số lượng nước tiểu 24h Người bệnh được đóng bỉm hay đặt sonde tiểu.

+ Sinh dục: Có viêm nhiễm không? Có liên quan đến vấn đề sinh dục như cường dương, xuất tinh sớm

- Tình trạng nội tiết: có mắc các bệnh như đái tháo đường, suy hoặc cường giáp, suy tuyến yên

- Vệ sinh cá nhân: quần áo, đầu tóc, móng tay, móng chân có sạch sẽ không?

* Tiền sử người bệnh: sản khoa đối với trẻ em, chấn thương đối với người lớn.

Các bệnh đã mắc trước đây, gia đình có ai mắc bệnh giống người bệnh không?

Người bệnh đã được khám và chẩn đoán ở đâu? Thời gian mắc bệnh đã lâu chưa? Việc sử dụng thuốc tại nhà có được thực hiện đều đặn không? Đăng ký quản lý động kinh ở đâu và chế độ theo dõi, tái khám định kỳ như thế nào?

Có sử dụng các chất kích thích không: rượu, bia, thuốc lá

Thói quen sống hằng ngày, có tập thể dục thể thao không?

Tham khảo hồ sơ bệnh án:

+ Dựa vào chuẩn đoán chuyên khoa: ĐK toàn thể, ĐK cục bộ, Trạng thái ĐK ĐK cơn mau

+ Các xét nghiệm cận lâm sàng: Huyết học, sinh học, vi sinh, độc chất có bất thường không?

+ Các thăm dò chức năng khác: Điện não, chụp CT scanner sọ não

Để xác lập các chuẩn đoán điều dưỡng, cần dựa trên kết quả nhận định thực tế của người bệnh Đối với bệnh nhân động kinh tâm thần, có thể đưa ra các chuẩn đoán điều dưỡng phù hợp nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và hỗ trợ tối ưu cho người bệnh.

- Người bệnh có nguy cơ bị chấn thương do ngã

- Người bệnh có khả năng bị ngạt thở do đờm dãi, co cứng lồng ngực

- Người bệnh có khả năng bị sặc do tăng tiết đờm dãi

- Rối loạn thần kinh thực vật

- Rối loạn tim mạch, phù não do cơn kéo dài

- Người bệnh không biết cách phòng ngừa, thiếu hiểu biết về bệnh

- Giảm lo lắng cho người bệnh

- Thực hiện cấp cứu khi có cơn động kinh

- Theo dõi sát khi có cơn và ngay sau cơn động kinh

- Hướng dẫn cách phòng bệnh và dùng thuốc duy trì

Khi người bệnh gặp cơn giật, ngay lập tức đưa họ đến nơi an toàn và nới rộng quần áo để giữ cho tay chân thoải mái Cần bảo vệ đầu của họ khi ngã và không di chuyển người bệnh trừ khi ở nơi nguy hiểm Để đầu hơi cúi về phía trước, chèn gạc giữa hai hàm răng và lau đờm dãi Trong cơn giật, từ từ quay đầu người bệnh sang một bên để nằm nghiêng, giúp đờm dãi chảy ra và tránh sặc vào phổi Không cố gắng khống chế cơn giật, hãy giữ xa các vật sắc nhọn và tuyệt đối không cho bất kỳ đồ vật nào vào miệng, kể cả thức ăn, nước hay thuốc, để tránh nguy cơ cắn vào lưỡi và sặc.

- Nhanh chóng thực hiện y lệnh: tiêm thuốc chống động kinh, không cho uống thước khi đang giật, đang ngủ hoặc hôn mê.

- Giải thích và luôn ở cạnh người bệnh khi bắt đầu tỉnh, giữ người bệnh tại giường, hồi sức toàn diện cho người bệnh.

- Hướng dẫn người bệnh cách phòng bệnh.

Để phòng bệnh hiệu quả, cần quản lý thai nghén và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, nhằm giải quyết các trường hợp đẻ khó và ngăn ngừa bệnh xã hội Việc phát hiện sớm động kinh không rõ nguyên nhân và tiêm chủng đầy đủ cho trẻ sơ sinh cũng rất quan trọng Đồng thời, cần chú ý đến việc phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, an toàn giao thông và sinh hoạt, cũng như tuân thủ đúng nguyên tắc sử dụng thuốc.

Để phòng ngừa cơn động kinh, cần loại bỏ các yếu tố thuận lợi, duy trì sinh hoạt điều độ và sử dụng thuốc theo chỉ định Người bệnh nên nhận biết các dấu hiệu báo trước cơn như đột ngột sợ hãi và nhanh chóng nằm xuống để tránh chấn thương Chế độ sinh hoạt lao động cần hợp lý, ngủ nghỉ đúng giờ, và tránh các công việc nguy hiểm như làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe hoặc làm việc lâu ngoài nắng Ngoài ra, cần kiêng rượu ở mọi dạng, tránh nhịn đói để không hạ đường huyết, và hạn chế mệt mỏi cả về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời tránh các kích thích không cần thiết.

- Người bệnh qua cơn an toàn, không có di chứng

- Giảm bớt lo lắng trước và sau cơn

- Người bệnh hiểu biết cách phòng bệnh, điều trị và sử dụng thuốc động kinh.

- Người bệnh không tái phát cơn.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN

Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định

Bệnh viện Tâm thần Nam Định được thành lập vào ngày 14/02/1997 theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định, ngay sau khi tỉnh Nam Hà được chia tách thành Nam Định và Hà Nam Ban đầu, bệnh viện tiếp quản khu điều trị của Bệnh viện Điều dưỡng A Nam Hà với 100 giường bệnh Đây là đơn vị trực thuộc Sở Y tế tỉnh Nam Định, tọa lạc tại thôn Đệ Tứ, xã Lộc Hạ, ngoại thành Nam Định (hiện nay là đường Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định).

Sau 25 năm phát triển, Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định đã trở thành một cơ sở y tế chuyên khoa lớn mạnh với cơ sở hạ tầng hiện đại và trang thiết bị y tế đồng bộ Đội ngũ cán bộ y tế đông đảo và chuyên nghiệp đã đóng góp vào những thành tựu đáng kể trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhận được sự tín nhiệm từ cộng đồng.

Bệnh viện đang áp dụng các kỹ thuật mới nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân, bao gồm máy lưu huyết não vi tính, máy điện não vi tính, máy xét nghiệm sinh hóa, máy siêu âm và nhiều thiết bị hiện đại khác.

So với thời kỳ đầu thành lập, đội ngũ cán bộ viên chức của Bệnh viện Tâm Thần Nam Định đã nâng cao đáng kể với 4 thạc sĩ, 7 bác sĩ chuyên khoa I, và nhiều điều dưỡng có trình độ cao Tỷ lệ bác sĩ và điều dưỡng viên đạt tiêu chuẩn của bệnh viện chuyên khoa hạng III Tuy nhiên, công tác chăm sóc bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là bệnh nhân động kinh, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào gia đình và chưa có quy trình chuẩn chăm sóc riêng, điều này cần được chú trọng hơn.

* Vấn đề chăm sóc chung cho người bệnh động kinh nằm viện điều trị:

- Người bệnh động kinh cần được sự đồng cảm, chia sẻ giúp đỡ của nhân viên y tế.

- Mọi thành viên trong gia đình cần biết rằng động kinh không phải là một bệnh tâm thần.

- Động viên, an ủi người bệnh và tạo điều kiện cho người bệnh lạc quan.

- Ăn uống điều độ, theo dõi và quản lí sát bệnh nhân.

- Khi có dấu hiệu bất thường (Co giật, co giật liên tục), báo cáo bác sĩ.

Nghiên cứu một trường hợp cụ thể

Tại bệnh viện tâm thần Nam Định, một trường hợp cụ thể về chăm sóc bệnh nhân động kinh được trình bày, phản ánh thực trạng chăm sóc người bệnh nói chung tại đây.

1 Họ và tên bệnh nhân: TRẦN XUÂN TH

6.Địa chỉ: Xã Nam Phong – Thành phố Nam Định - Tỉnh Nam Định

8 Lý do vào viện: co giật liên tục

Theo thông tin từ gia đình, bệnh nhân là con út trong gia đình có ba người con và đã phát triển thể chất cũng như tâm thần hoàn toàn bình thường từ khi sinh ra.

Năm 2019, khi đang làm việc, không may người bệnh bị ngã giáo, sau đó được điều trị tại bệnh viện Bạch Mai với chuẩn đoán: Chấn thương sọ não.

Vào năm 2020, người bệnh đột ngột ngã và co giật toàn thân khi đang xem ti vi, với các triệu chứng như mắt trợn ngược, mặt tím tái và hai hàm răng nghiến chặt, cơn giật kéo dài khoảng 1 phút và xảy ra 3-4 lần mỗi tháng Sau khi được đưa đến bệnh viện tâm thần Nam Định để khám và điều trị, người bệnh được kê đơn thuốc Depakin 200 mg, 4 viên/ngày Nhờ việc uống thuốc đều đặn, tần suất cơn giật giảm xuống còn 1-2 lần mỗi tháng, với các cơn giật tương tự nhau Trong thời gian này, người bệnh cảm thấy mệt mỏi và không muốn làm gì, nhưng vẫn có thể tự vệ sinh và ăn uống.

Khoảng 1 tuần trước khi vào viện, cơn giật xuất hiện nhiều hơn, 4 cơn 1 tuần, các cơn mô tả như trên, người bệnh mệt mỏi, bực tức, vẻ mặt căng thẳng, hay cáu giận Người nhà chưa cho uống thuốc gì và đưa người bệnh đến bệnh viện tâm thần Nam Định điều trị.

- Tuần hoàn: Nhịp tim đều, tiếng T1 T2 rõ

- Hô hấp: Lồng ngực hai bên cân đối, nhịp thở đều

- Tiêu hóa: Bụng mềm, không chướng, gan - lách không sờ thấy

- Thận, tiết niệu, sinh dục: bình thường

- Răng, hàm mặt: bình thường

- Các bệnh lý khác: Chưa thấy có dấu hiệu bệnh lý

- Không có tổn thương liệt khu trú

- Vận động tứ chi: bình thường

- Trương lực cơ: Bình thường

- Cảm giác (nông, sâu): Không rối loạn.

- Phản xạ: Phản xạ gân xương đáp ứng đều hai bên

- Biểu hiện chung: ăn mặc lôi thôi

- Ý thức định hướng: Không gian, thời gian, bản thân: xác định đúng.

- Tình cảm, cảm xúc: căng thẳng, lo lắng

- Tri giác: ảo thanh, ra lệnh xui khiến người bệnh tấn công người thân

+ Hình thức: Nhịp nhanh nói nhiều

+ Nộị dung: Hoang tuởng tự cao, bị hại

+ Hoạt động có ý trí: bẩn, lôi thôi bỏ đi lang thang vô cớ, lười làm việc + Hoạt động bản năng: ăn kém ngủ ít

- Chú ý : Kém tập trung, lơ đãng

2.2.3.3 Các xét nghiệm cận lâm sàng cần làm:

LEU, BLO,NIT, KET,BIL,PRO, GLU: (-)

Kết quả điện não đồ cho thấy có sự xuất hiện của sóng động kinh với sóng α không đồng bộ, tần số khoảng 1 ck/s và biên độ khoảng 20 microvol Nghiệm pháp Berger không đáp ứng, trong khi thở sâu và kích thích ánh sáng đã ghi nhận nhiều đợt sóng chậm Delta và Theta với tần số khoảng 3-5 ck/s và biên độ từ 40-120 microvol, lan tỏa ở cả hai bán cầu.

- Xquang tim phổi: Bình thường

2.2.3.4 Các thuốc dùng cho người bệnh Depakin

200 mg x 2 viên (uống 10h) Piracetam 400 mg x 6 viên ( uống 10h – 16h) Gardenal 100 mg x 2 viên ( uống 20h) Vitamin 3B x 2 viên

- Hoàn cảnh gia đình: Trung bình.

+ Bản thân: 32 tuổi bị động kinh cục bộ điều trị ổn định

+ Gia đình: Không ai mắc bệnh tâm thần /thần kinh

Chăm sóc trong thời gian người bệnh nằm viện đánh giá hoạt động hàng ngày của người bệnh như sau

* Ch ă m sóc tri ệ u ch ứ ng co gi ậ t

- Người bệnh tỉnh tiếp xúc được

- Khí sắc căng thẳng lo lắng

- Người bệnh ngủ ít ăn kém

- Người bệnh chăm sóc vệ sinh cá nhân kém, và hoạt động thể lực kém

- Người bệnh được dùng thuốc theo chỉ định

Điều dưỡng đã tương tác trực tiếp với bệnh nhân, truyền đạt các quy định và hướng dẫn của bệnh viện, đồng thời khuyến khích bệnh nhân và người nhà yên tâm trong quá trình điều trị Họ cũng nhấn mạnh sự tin tưởng vào kết quả điều trị của bác sĩ và sự chăm sóc tận tâm từ đội ngũ điều dưỡng.

- Điều dưỡng đã nhắc nhở người nhà cất hết những vật sắc nhọn có thể gây nguy hiểm cho người bệnh và người nhà.

* Cung c ấ p dinh d ưỡ ng theo nhu c ầ u cho ng ườ i b ệ nh:

Người bệnh tự túc bữa sáng và ăn theo suất cơm tại bệnh viện cho bữa trưa, bao gồm 1 bát cơm, rau và thịt Bữa tối, người bệnh ăn 1 bát cơm, canh và đậu phụ Ngoài ra, người bệnh không ăn thêm gì khác, mặc dù thỉnh thoảng người nhà có mua thêm ít hoa quả hoặc sữa.

Điều dưỡng khuyến khích người bệnh ăn uống, nhưng người bệnh lại không có nhu cầu và ăn rất ít Qua quan sát, có thể thấy rằng chế độ ăn của người bệnh chưa đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của họ.

*C ả i thi ệ n kh ả n ă ng t ự ch ă m sóc cho ng ườ i b ệ nh:

Người bệnh thường thiếu chăm sóc vệ sinh cá nhân, và gia đình cũng ít quan tâm do không có mặt thường xuyên Sự chán nản khiến họ không chú ý đến vấn đề này, mặc dù điều dưỡng đã cố gắng nhắc nhở nhưng người bệnh vẫn không thực hiện hoặc không biết cách vệ sinh đúng cách.

+ Người bệnh ngủ kém, khoảng 6/24h, người bệnh khó ngủ lo lắng về tình hình bệnh tật của mình và không yên tâm điều trị.

+ Điều dưỡng đã khuyên nhủ, động viên để người bệnh để người bệnh an tâm và tin tưởng vào quá trình điều trị và chăm sóc người bệnh

Bệnh nhân thường có hành vi đi lại lộn xộn và có thể định rời khỏi bệnh viện Khi nhân viên y tế yêu cầu họ quay lại, nhiều bệnh nhân phản ứng mạnh mẽ, không muốn tiếp tục điều trị tại cơ sở y tế.

- Việc dùng thuốc cho người bệnh:

+ Ở bệnh viện người bệnh được điều dưỡng phát thuốc uống và theo dõi uống thuốc hàng ngày.

Người bệnh cho biết rằng khi ở nhà, họ tự quản lý và uống thuốc mà không nhận được sự quan tâm từ gia đình về việc sử dụng thuốc.

- Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà:

+ Người nhà và người bệnh đã được điều dưỡng phổ biến về nội quy khoa phòng và bệnh viện.

Điều dưỡng đã tương tác với bệnh nhân và người nhà để giúp ổn định tâm lý cho bệnh nhân, đồng thời giải thích về tình trạng bệnh, phương pháp chăm sóc, cách thức ăn uống và sử dụng thuốc.

10 giờ: Uống thuốc: Depakin 200 mg x 2 viên, Piracetam 400 mg x 3 viên, vitamin 3B x 2 viên.

- Theo dõi sát bệnh nhân

+ Hiện tại người bệnh tỉnh tiếp xúc được, chưa tham gia các hoạt động trong khoa, đi lại nhiều

+ Các dấu hiệu bệnh lý khác chưa có vấn đề gì đặc biệt.

+ Động viên người bệnh ăn hết khẩu phần, tạo không khí vui vẻ thoải mái khi người bệnh ăn trong bếp ăn tập thể.

+ Bệnh nhân ăn hết suất cơm.

Để duy trì sức khỏe và vệ sinh cá nhân, bệnh nhân cần thường xuyên gội đầu, tắm rửa và thay quần áo sạch sẽ Ngoài ra, việc đánh răng hai lần mỗi ngày, sau khi thức dậy và trước khi đi ngủ, cũng rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe răng miệng.

+ Sắp xếp người bệnh vào buồng bệnh cùng với người bệnh ổn định để theo dõi

+ Loại bỏ vật dụng nguy hại đến tính mạng người bệnh như (dao, kéo, dây, vật sắc nhọn…)

+ Thường xuyên theo dõi giám sát người bệnh khi giao ca, giao trực, lúc giao thời vào đêm khuya.

+ Đi tua buồng bệnh 30 phút/ lần

+ Thông báo kịp thời cho bác sĩ và nhân viên trong khoa về diễn biến của người bệnh để cùng phối hợp.

*Tư vấn và huớng dẫn người bệnh tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe

+ Gia đình thường xuyên gần gũi động viên an ủi người bệnh

+ Gia đình khuyên giải người bệnh yên tâm , tin tuởng vào điều trị

+ Biết tạo không khí vui tuơi, tránh sang trấn tâm lý người bệnh

+ Tăng cường dẫn bệnh nhân đi dạo xem ti vi, xem đá bóng… để giúp người bệnh lãng quên đi những lo lắng buồn phiền

+ Thường xuyên gần gũi theo dõi người bệnh để phát hiện kịp thời cơn động kinh nếu có.

+ Loại bỏ các vật dụng nguy hại đến tính mạng và kiểm tra chặt chẽ việc uống thuốc của người bệnh, phòng ngừa giấu thuốc.

+ Biết chăm sóc vệ sinh cho người bệnh nếu người bệnh không tự làm.

Để đảm bảo người bệnh nhận đủ năng lượng, chất dinh dưỡng và vitamin, cần nắm rõ chế độ ăn uống của họ Nếu người bệnh không ăn, hãy động viên và khuyên nhủ họ, đồng thời báo cáo tình hình cho bác sĩ hoặc điều dưỡng để có biện pháp can thiệp kịp thời.

+ Huớng dẫn người bệnh tham gia lao động liệu pháp vui chơi giải trí

+ Động viên, giải thích, khuyên giải người bệnh loại bỏ ý nghĩ lo lắng chán nản hòa đồng với mọi người xung quanh

Khi ng ườ i b ệ nh ra vi ệ n tr ở v ề c ộ ng đồ ng

+ Thường xuyên quan tâm động viên an ủi người bệnh

+ Giúp người bệnh tái hòa hợp với cuộc sống cộng đồng

+ Tạo môi trường gia đình xã hội hài hòa, tránh gây sang trấn tâm lý cho người bệnh

+ Quản lý thuốc chặt chẽ

+ Khi dừng thuốc nếu thấy có dấu hiệu bất thường đưa người bệnh đến có sở y tế hoặc bệnh viện chuyên khoa tâm thần khám ngay

+ Theo dõi người bệnh nếu có co giật

+ Uống thuốc đều theo đơn của bác sĩ

+ Người bệnh luôn tin tưởng vào sự điều trị của bác sỹ

+ Không nên hoặc hạn chế sử dụng rượu bia và các chất kích thích như cà phê, thuốc lá Hãy tạo cho mình lối sống lành mạnh.

Một số ưu nhược điểm

- Đầy đủ các phòng ban chức năng, lâm sàng, cận lâm sàng.

- Đội ngũ cán bộ được chuẩn hóa theo bệnh viện hạng III.

- Mỗi điều dưỡng đều xác định được tiêu chí làm việc và nhiệm vụ của mình.

Người bệnh được điều dưỡng chăm sóc và quản lý trong suốt quá trình điều trị, bao gồm việc thực hiện y lệnh của bác sĩ như phát thuốc, theo dõi dấu hiệu sinh tồn và hướng dẫn nội quy của khoa phòng.

- Điều dưỡng lập kế hoạch cho người bệnh vẫn còn sơ sài, chưa được hợp lí.

- Dinh dưỡng cho người bệnh chưa được đảm bảo

- Vệ sinh cá nhân của người bệnh còn kém

Điều dưỡng cần cải thiện công tác giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, đặc biệt là việc cung cấp đầy đủ kiến thức về bệnh động kinh cho cả người bệnh và gia đình của họ.

- Việc tổ chức các hoạt động tập thể tại các khoa như thể dục thể thao gần như là không có.

Nguyên nhân

- Do tính chất đặc thù chuyên biệt về chuyên khoa tâm thần,

- Điều dưỡng chưa thực sự lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người bệnh để giúp đỡ họ về mặt tâm lý.

Điều dưỡng chưa tận dụng tối đa khả năng và vai trò của mình, hằng ngày chỉ thực hiện các nhiệm vụ như cho bệnh nhân uống thuốc, tiêm truyền theo chỉ định, và nhắc nhở bệnh nhân hoặc người nhà chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh.

Sau khi sử dụng thuốc, điều dưỡng không thực hiện việc theo dõi đầy đủ và kịp thời các tác dụng phụ, chủ yếu dựa vào thông tin từ người nhà hoặc bệnh nhân, chỉ nhận biết vấn đề khi có báo cáo từ họ.

2.5.2 Đố i v ớ i ng ườ i nhà ng ườ i b ệ nh

Nhiều gia đình có người bệnh thường cảm thấy chán nản và mệt mỏi, dẫn đến việc thiếu quan tâm đúng mức đối với họ Do điều kiện kinh tế khó khăn, nhiều gia đình không chỉ bỏ mặc người bệnh mà còn không đưa họ đi viện hoặc nếu có đưa đi thì cũng bỏ rơi tại bệnh viện, không chăm sóc và quan tâm đúng cách.

Gia đình người bệnh thường thiếu kiến thức về bệnh tật và cách chăm sóc, dẫn đến việc họ tin rằng bệnh là do ma quỷ gây ra, nên thường đưa người bệnh đi cúng bái tại các đền chùa Chỉ khi tình hình tài chính kiệt quệ và bệnh tình không cải thiện, họ mới quyết định đưa bệnh nhân đến bệnh viện để khám và điều trị.

Bệnh viện có khoa dinh dưỡng, nhưng chế độ ăn cho tất cả bệnh nhân giống nhau, chưa đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cụ thể cho từng bệnh Do đó, sự chăm sóc và hỗ trợ từ gia đình là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho bệnh nhân.

- Chưa động viên, khuyến khích người bệnh tham gia thể dục thể thao

Ngày đăng: 12/06/2021, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w