CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lí luận
1.1.1.1 Định nghĩa Đột quỵ não là danh từ chung chỉ một tình trạng khởi phát đột ngột các triệu chứng thần kinh định vị hoặc toàn thể do tổn thuơng khu trú trong não hoặc tổn thương màng não gây ra bởi tình trạng bệnh lý của hệ thống mạch máu não [16],[30]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ não được định nghĩa là sự phát triển nhanh chóng trên lâm sàng của một rối loạn chức năng khu trú của não, kéo dài trong thời gian nhất định.
24 giờ và thường do nguyên nhân mạch máu” [5]
Đột quỵ não được chia thành hai loại chính: đột quỵ thiếu máu cục bộ và đột quỵ chảy máu não Đột quỵ thiếu máu cục bộ, hay còn gọi là đột quỵ nhồi máu não, xảy ra khi mạch máu não bị tắc nghẽn, dẫn đến việc ngừng cung cấp máu cho vùng não phía sau chỗ tắc, gây ra các tổn thương nghiêm trọng.
Tắc nghẽn mạch máu có thể xảy ra do hẹp mạch tại chỗ hoặc do cục máu đông di chuyển từ nơi khác, thường là từ tim, lên não Các nguyên nhân này bao gồm huyết khối động mạch não, tắc mạch não và hội chứng lỗ khuyết.
Đột quỵ chảy máu não là tình trạng xảy ra khi mạch máu trong não bị vỡ, dẫn đến máu thoát ra ngoài và gây tổn thương cho mô não Tình trạng này có thể gây ra chảy máu trong não thất, được gọi là chảy máu não thất, hoặc chảy máu vào khoang màng nhện, gọi là chảy máu não khoang dưới nhện Đột quỵ chảy máu não chiếm khoảng 20-25% tổng số bệnh nhân đột quỵ.
Có rất nhiều yếu tố gây nên tai biến mạch máu não theo hiệp hội tim mạch Mỹ [23][33]
1.1.2.1 Những yếu tố không thay đổi được
Đột quỵ não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nguy cơ gia tăng theo độ tuổi, đặc biệt là sau 55 tuổi, khi nguy cơ mắc bệnh này tăng gấp đôi mỗi năm Sự tích lũy các yếu tố nguy cơ như xơ vữa động mạch và huyết áp cao theo thời gian làm gia tăng đáng kể khả năng xảy ra đột quỵ não.
Đột quỵ não xảy ra ở cả nam và nữ, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn Đặc biệt, phụ nữ có nguy cơ cao hơn về tỷ lệ tử vong do đột quỵ, đặc biệt là những người đang sử dụng thuốc ngừa thai hoặc đang mang thai.
Di truyền: Tiền sử cha mẹ mắc bệnh đột quỵ não liên quan với nguy cơ mắc đột quỵ não ở con cái
Những người có tiền sử đột quỵ não có nguy cơ tái phát cao hơn so với những người chưa từng trải qua cơn đột quỵ.
1.1.2.2 Nhóm các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến đột quỵ não, đặc biệt ở người trung niên và người cao tuổi, ảnh hưởng đến cả nam và nữ.
Tăng huyết áp, được định nghĩa bởi WHO là huyết áp tâm thu trên 140mmHg và huyết áp tâm trương trên 90mmHg, là nguyên nhân gây ra 70% trường hợp đột quỵ não Đối với bệnh nhân từ 40 đến 70 tuổi, việc tăng 20mmHg huyết áp tâm thu và 10mmHg huyết áp tâm trương sẽ làm gấp đôi nguy cơ đột quỵ não Kiểm soát huyết áp tốt có thể giảm nguy cơ này Đái tháo đường cũng là yếu tố nguy cơ lớn đối với đột quỵ, liên quan đến các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp và xơ vữa động mạch, khiến người mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ cao hơn Hút thuốc lá là một yếu tố độc lập làm tăng nguy cơ đột quỵ não, với khoảng 25% bệnh nhân đột quỵ liên quan đến việc hút thuốc Hút thuốc làm tăng huyết áp và thúc đẩy xơ vữa động mạch, tăng nguy cơ đột quỵ lên tới 40% ở nam và 60% ở nữ Nguy cơ này giảm dần sau khi ngừng hút thuốc, và gần như biến mất sau 5 năm không hút Rối loạn mỡ máu cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng, với việc tăng HDL-C giúp giảm nguy cơ đột quỵ, trong khi tăng LDL cholesterol làm tăng nguy cơ này.
27kg/m2) và tăng cân sau 18 tuổi làm gia tăng nguy cơ đột quỵ não, đặc biệt là thể nhồi máu não Béo bụng cũng là yếu tố nguy cơ, không trực tiếp gây đột quỵ nhưng thông qua các bệnh lý tim mạch Theo AG.Shaper, tăng trọng lượng quá mức >30% làm tăng nguy cơ đột quỵ não, với nguy cơ ở nam giới có BMI cao gấp 2,33 lần so với nhóm thấp hơn Ngoài ra, ít vận động thể lực cũng làm tăng nguy cơ đột quỵ cho cả hai giới Nam giới thường xuyên hoạt động thể lực mạnh giảm 20% nguy cơ đột quỵ, trong khi nghiên cứu ở Na Uy cho thấy phụ nữ tập thể dục 4-5 lần/tuần giảm 50% nguy cơ tử vong do đột quỵ so với những người ít tập.
Uống rượu quá mức, cụ thể là hơn một ly bia (250ml) mỗi ngày đối với phụ nữ và hơn hai ly đối với nam giới, có thể làm tăng huyết áp, từ đó tăng nguy cơ đột quỵ não Cả hai giới đều có nguy cơ cao bị đột quỵ não do say rượu.
Stress là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến đột quỵ não, khi cơ thể sản sinh ra quá nhiều adrenalin, gây co mạch vành và rối loạn chức năng đông máu Những người thường xuyên lo âu có xu hướng hút thuốc, ít vận động và uống rượu nhiều, từ đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ não.
Theo hội tim mạch Mỹ và NINDS, các biểu hiện cảnh báo đột quỵ bao gồm: đột ngột khó nói hoặc không nói được, có thể do tổn thương vùng Broca; chóng mặt hoặc mất thăng bằng, thường liên quan đến rối loạn chức năng tiền đình; tê hoặc yếu liệt nửa người, là dấu hiệu phổ biến giúp xác định khu tổn thương; đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân, thường đi kèm với nôn ói và cứng gáy; và giảm khả năng nhìn ở một hoặc hai mắt, với các triệu chứng như mất thị lực hoặc nhìn đôi xảy ra đột ngột.
1.1.4 Ch ẩ n đ oán độ t qu ỵ não: Để chẩn đoán quyết định đột quỵ não dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng [16]
Dấu hiệu trên lâm sàng, các triệu chứng thần kinh khu trú
Khởi phát đột ngột, diễn ra trong khoảng thời gian từ giây đến giờ, thường thể hiện qua các triệu chứng thần kinh khu trú, hay còn gọi là triệu chứng cục bộ, thay vì triệu chứng lan tỏa.
- Các triệu chứng lâm sàng của đột quỵ não
+ Yếu sức cơ nửa người: Thường gặp nhất trong đột quỵ não
+ Liệt dây thần kinh sọ: dây VII là phổ biến nhất
Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến kiến thức về yếu tố
Một nghiên cứu tại Ireland cho thấy nhận thức về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ trong cộng đồng rất thấp, với chỉ 71% người tham gia có thể liệt kê đúng hai hoặc nhiều hơn các yếu tố nguy cơ Nhóm tuổi từ 45 đến 64 có tỷ lệ nhận thức cao hơn, trong khi nhóm trên 65 tuổi lại kém hơn trong việc xác định các yếu tố nguy cơ Đặc biệt, hai phần ba số người tham gia không thể nhận diện hai dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ, và chỉ 31% có thể xác định hai hoặc nhiều hơn nhưng không nhất quán Hơn nữa, ít hơn 50% người được khảo sát chọn gọi cấp cứu khi có dấu hiệu đột quỵ, dẫn đến sự chậm trễ trong việc nhận được chăm sóc y tế, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân đột quỵ.
Theo một nghiên cứu tại Nam Gahana với 689 người tham gia, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây đột quỵ não, được 89% người tham gia lựa chọn, tiếp theo là đái tháo đường với 29% Trong số các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ, tê liệt một bên cơ thể được cho là phổ biến nhất, chiếm 44% với 304 người, trong khi cơn đau không có nguyên nhân chỉ chiếm 11% Khi được hỏi về cơ quan liên quan đến đột quỵ, 40% trả lời đúng là não bộ, 10% cho rằng là tim, 44% chọn các bộ phận khác và 6% không biết Về nguồn thông tin về đột quỵ, 40% (277 người) lấy thông tin từ Radio, 32% (222 người) từ ti vi và các chương trình chăm sóc sức khỏe.
Theo một khảo sát, 23% người tham gia cho biết họ lấy thông tin về đột quỵ não từ trường học, 10% từ sách y khoa và 9% từ internet Đáng chú ý, chỉ 9% người được hỏi nhận thông tin từ báo và tạp chí Đặc biệt, có tới 26% người thừa nhận rằng họ chưa bao giờ học hay nghe về đột quỵ não.
Theo nghiên cứu của Theo Goh Kuok Wey tại Universiti Tunku, trong số 49 nhân viên được khảo sát, có 29 người (59,18%) có nhận thức thấp về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ não, 15 người (30,61%) có nhận thức vừa phải, 4 người (8,16%) có nhận thức cao và chỉ 1 người (2,04%) không có nhận thức gì Đặc biệt, 73,47% người tham gia có nhận thức thấp về các dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ, trong khi chỉ 11 người (22,45%) có nhận thức trung bình và 1 người có nhận thức cao Nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù là những người có học thức, nhưng mức độ nhận thức của họ về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ vẫn còn rất hạn chế.
Một nghiên cứu của Monaliza với 467 người tham gia cho thấy chỉ 15,41% có kiến thức rất tốt về yếu tố nguy cơ đột quỵ não, trong khi 96,15% hiểu biết rõ về dấu hiệu cảnh báo Cụ thể, 52,87% người tham gia nhận thức được các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp và cholesterol Những người trẻ tuổi, có trình độ giáo dục cao và thu nhập tốt hơn thường có kiến thức tốt hơn về các yếu tố này Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhóm có tiền sử bệnh lý cá nhân có kiến thức tốt hơn về cả yếu tố nguy cơ lẫn dấu hiệu cảnh báo so với nhóm không có tiền sử Trình độ học vấn cao hơn cũng liên quan đến việc hiểu biết tốt hơn về các dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ não.
Nghiên cứu của Lý Thị Kim Thương tại phường Tây Sơn, tỉnh Gia Lai vào năm 2016 cho thấy nhận thức của người dân về các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ não còn hạn chế Cụ thể, chỉ có 12,4% người dân có nhận thức tốt về biểu hiện cảnh báo, trong khi tỷ lệ người dân có nhận thức không đạt là 58,8% và đạt là 41,2% trong tổng số 396 người được khảo sát.
Một nghiên cứu tại Hải Dương, Việt Nam, do tác giả Nguyễn Triệu và cộng sự thực hiện cho thấy người dân có hiểu biết rất hạn chế về triệu chứng và tiến triển của đột quỵ não Trong số 1056 người được phỏng vấn, chỉ 67% nhận biết rằng não là cơ quan bị tổn thương trong đột quỵ, và các triệu chứng chính được nhận diện gồm liệt nửa người (71,4%), dị cảm (41,2%) và nói khó (58,8%) Chỉ 18,8% cho rằng đột quỵ có thể hồi phục hoàn toàn, cho thấy sự cần thiết trong việc tuyên truyền và giáo dục cộng đồng về đột quỵ Nghiên cứu của Ngô Văn Quang với 1621 người tham gia cho thấy 27,3% có tăng huyết áp, 26,2% hút thuốc lá và 16,1% thừa cân, trong đó hơn hai phần ba người tăng huyết áp không nhận thức được tình trạng của họ Đặc biệt, 84% người dưới 40 tuổi không có kinh nghiệm về dấu hiệu đột quỵ, con số này giảm xuống 63,5% ở những người từ 70 tuổi trở lên Các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, cholesterol cao, đau ngực, hút thuốc lá và béo phì được xác định là nguyên nhân chính dẫn đến đột quỵ não.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Cường và cộng sự trên 190 người bệnh tăng huyết áp tại Khoa Nội tim mạch Bệnh viện đa khoa Thái Bình năm
2014 cho thấy tăng mỡ máu chiếm 53,5% ; tăng Uric máu 24,2%; tiền sử đột quỵ 11,6%; đái tháo đường 8,4%; rung nhĩ 6,8% [9]
Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hường tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk năm 2016 cho thấy các dấu hiệu sớm của đột quỵ ở 196 bệnh nhân, bao gồm: đột ngột lú lẫn mất ý thức (10,2%), đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân (24,2%), giảm khả năng nhìn (4,1%), tê hoặc yếu liệt vận động (46,4%), chóng mặt mất thăng bằng (22,4%), và khó khăn trong việc nói hoặc giảm khả năng thông hiểu (31,1%).
LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Thông tin chung
Trạm y tế xã Hương Ngải huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội
Xã Hương Ngải, thuộc huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, là một làng quê nông thôn với 75% dân số làm nông nghiệp Trong số 500 người dân, có 100 người thuộc lớp trung niên, chiếm 20% Đáng chú ý, theo số liệu tháng 9/2019 từ trạm y tế xã, số người mắc tăng huyết áp và đái tháo đường đang gia tăng, với 300 người bị tăng huyết áp, trong đó 200 người được quản lý và điều trị thường xuyên tại trạm y tế.
Theo thống kê từ Trạm y tế xã, hàng năm có trung bình 5 ca mắc đột quỵ mới, trong đó khoảng 40% người bệnh gặp biến chứng nặng như liệt nửa người Ngoài ra, mỗi năm có từ 2 đến 3 người tử vong do đột quỵ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Là người dân bị bệnh tăng huyết áp đang được theo dõi điều trị tại Trạm y tế xã Hương Ngải- huyện Thạch Thất- Thành phố Hà Nội
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu bao gồm những người từ 18 tuổi trở lên, đang mắc bệnh tăng huyết áp (THA) và được quản lý điều trị tại Trạm y tế xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, Hà Nội Đối tượng tham gia cần có sự tự nguyện trong việc tham gia nghiên cứu.
+ Những người bị mất khả năng nhận thức
+ Những người không tình nguyện tham gia phỏng vấn
2.2.2 Đị a đ i ể m nghiên c ứ u và th ờ i gian nghiên c ứ u: Địa điểm: Trạm y tế xã Hương Ngải huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội Thời gian: Từ tháng 09/2019 đến tháng 05/2020
Nghiên cứu mô tả - cắt ngang
2.2.4 C ỡ m ẫ u và ph ươ ng pháp ch ọ n m ẫ u:
Mẫu: Chọn toàn bộ người bệnh đủ tiêu chuẩn nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này là chọn mẫu toàn bộ, bao gồm tất cả người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý và điều trị tại Trạm y tế xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội Tất cả các bệnh nhân sẽ được mời tham gia nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu chính xác và toàn diện về tình trạng bệnh.
Sau khi được Hội đồng Khoa học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định phê duyệt, tác giả đã liên hệ với Trạm trưởng Trạm y tế xã Hương Ngải để xin ý kiến thu thập số liệu Sau khi nhận được sự cho phép, nhóm nghiên cứu đã làm việc tại trạm để hỗ trợ tiếp cận người bệnh Trong quá trình gặp gỡ, nhóm đã giới thiệu và giải thích rõ ràng về mục tiêu nghiên cứu, quyền lợi của người bệnh khi tham gia, đồng thời mời họ tham gia vào nghiên cứu.
Có 121 người bệnh đồng ý và ký vào “Đơn tình nguyện tham gia nghiên cứu” Điều tra viên sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn để khảo sát
2.2.5 Ph ươ ng pháp thu th ậ p s ố li ệ u
Trong quá trình phỏng vấn trực tiếp, điều tra viên sẽ sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn để thu thập thông tin từ người tham gia Họ sẽ giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và cam kết bảo mật thông tin mà người bệnh cung cấp Người bệnh có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia bất kỳ lúc nào Khi người bệnh đồng ý tham gia, điều tra viên sẽ yêu cầu họ ký vào bản chấp thuận tham gia nghiên cứu.
Điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn trực tiếp người bệnh bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị Trong trường hợp người bệnh không hiểu câu hỏi, điều tra viên sẽ cung cấp giải thích Sau khi suy nghĩ, người bệnh sẽ đưa ra đáp án, và điều tra viên sẽ ghi lại đáp án đó trong bộ câu hỏi.
2.2.5.2 Quá trình thu thập số liệu
Bước 1: Chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu: Giới thiệu mục đích, nội dung nghiên cứu và quyền tham gia của đối tượng nghiên cứu
Bước 2: Phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu đồng thời điều tra viên điền câu trả lời vào phiếu điều tra
Quá trình thu thập số liệu được tiến hành trong khoảng tháng 02- 03/20202
Tuổi (tính theo năm) của đối tượng nghiên cứu đến thời điểm nghiên cứu
Rời rạc Phiếu khảo sát
2 Giới tính Giới tính của đối tượng nghiên cứu
Nhị phân Phiếu khảo sat
Kinh tế/ mức thu nhập trung bình hang tháng
Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam có sự chênh lệch rõ rệt giữa thành thị và nông thôn Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người tại thành phố là 1 triệu VNĐ/tháng, trong khi ở nông thôn chỉ đạt 800 VNĐ/tháng Trung bình, thu nhập đầu người ở nông thôn là 1.5 triệu VNĐ/tháng, trong khi con số này ở thành phố là 1.95 triệu VNĐ/tháng.
Tháng đối với thành thị
Cao: Trên mức trung bình
Rời rạc Phiếu khảo sát
Câp bậc học cao nhất của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu Thứ bậc Phiếu khảo sát
Công việc đem lại thu nhập chính cho đối tượng nghiên cứu Định danh Phiếu khảo sát
Sống một mình (ly hôn, quá bụa, độc thân)
Sống cùng vợ chồng Định danh Phiếu khảo sát
Sử dụng thuốc huyết áp
Thường xuyên hay không thường xuyên kiểm tra và dùng thuốc huyết áp
Nhị phân Phiếu khảo sát
Người bệnh có biết về bệnh đột quỵ không Nhị phân Phiếu khảo sát
Nguồn cung cấp thông tin
Là nguồn mà người bệnh dung để cung cấp thêm kiến thức hay thông tin về bệnh Định danh Phiếu khảo sat
Mức độ hoạt động thể lực
Mức độ người bệnh hoạt động hằng ngày: lao động, tập thể dục thể thao,… Đinh danh Phiếu khảo sát
Là thời gian người bệnh phát hiện ra bệnh Định danh Phiếu khảo sát
Tiền sử điều trị bệnh
Là thời gian người bệnh điều trị bệnh Định danh Phiếu khảo sát
Là tình trạng người bệnh sử dụng thuốc lá hiện tại Định danh Phiếu khảo sát
Là tình trạng người bệnh sử dụng rượu bia hiện tại Định danh Phiếu khảo sát
Là tình trạng sức khỏe của người bệnh hiện tại có vấn đề gì ngoài tăng huyết áp
Nhị phân Phiếu khảo sat
2.2.7 Công c ụ thu th ậ p s ố li ệ u và ph ươ ng pháp đ ánh giá
Bộ công cụ được xây dựng dựa theo:
- Bộ Stroke awareness questionnaire (SAQ) năm 2011 của nhóm Tác giả Hickey A cùng cộng sự [16]
- Tham khảo Nghiên cứu “Hypertensive’s Patient Knowledge of Risk Factors and Warning Signs of Stroke at Felege Hiwot Referral Hospital, Northwest Ethiopia,2018 của Addisu Taye Abate cùng cộng sự [19]
Bộ công cụ thu thập gồm 3 phần:
Phần A:Phần thông tin cơ bản đối tượng nghiên cứu (Từ câu 1-12):
+ A1 (0-7): Các câu hỏi về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn,…
+ A2 (8-12): Các câu hỏi và tiền sử bệnh và các thói quen hằng ngày: hút thuốc lá, uống rượu bia
Phần B của bài viết chứa thông tin đánh giá kiến thức về các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ, bao gồm một câu hỏi lớn (Câu 13) được thiết kế theo hình thức đúng sai và không biết.
Phần C của bài viết cung cấp thông tin đánh giá kiến thức về các dấu hiệu sớm của đột quỵ Trong đó, có một câu hỏi lớn (Câu 14) được thiết kế theo hình thức đúng sai và không biết, kèm theo 6 ý nhỏ để người đọc có thể kiểm tra hiểu biết của mình về vấn đề này.
2.2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá: a Các yếu tố nguy cơ
Trả lời đúng mỗi câu hỏi sẽ được 1 điểm, trong khi trả lời sai hoặc không biết sẽ được 0 điểm Tổng điểm tối đa cho kiến thức về yếu tố nguy cơ là 11 điểm, và điểm thấp nhất là 0 điểm Đánh giá sẽ được thực hiện dựa trên các thang điểm đạt và không đạt.
+ Đạt là từ 5 điểm trở lên
+ Không đạt là từ 4 điểm trở xuống b Dấu hiệu sớm
Trả lời đúng mỗi câu hỏi sẽ được 1 điểm, trong khi trả lời sai hoặc không biết sẽ nhận 0 điểm Tổng điểm tối đa cho kiến thức về dấu hiệu sớm là 6 điểm, và tối thiểu là 0 điểm Kết quả sẽ được đánh giá theo các mức độ: tốt, đạt và không đạt.
+ Đạt là từ 3 điểm trở lên
+ Không đạt là từ 2 điểm trở xuống
Nghiên cứu cho thấy, người có kiến thức đầy đủ về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ khi họ có thể liệt kê ít nhất 5 yếu tố nguy cơ Bên cạnh đó, kiến thức về các dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ não được coi là đạt khi họ có thể nêu ra ít nhất 3 biểu hiện cảnh báo theo hướng dẫn của NINDS.
Sau khi thu thập, dữ liệu được kiểm tra lại từng phiếu và làm sạch, sau đó nhập vào phần mềm thống kê y học SPSS 16.0 Chúng tôi áp dụng thuật toán thống kê mô tả và thống kê tương quan để phân tích số liệu, với mức ý nghĩa thống kê đạt 0,05.
Thống kê mô tả là công cụ quan trọng trong việc phân tích các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, bao gồm số lượng, tỷ lệ, trung bình và độ lệch chuẩn Nó giúp đánh giá thực trạng kiến thức về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu sớm của đột quỵ.
Thống kê mô tả mối liên quan giữa hai biến định tính thường sử dụng phép kiểm chi bình phương để xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức của đối tượng Phương pháp này giúp phân tích sự tương quan và hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các biến trong nghiên cứu.
2.2.9 Sai s ố và bi ệ n pháp kh ắ c ph ụ c sai s ố
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân để thu thập thông tin chung, tiền sử bệnh, cũng như kiến thức về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu sớm của đột quỵ Để đảm bảo độ chính xác, chúng tôi đã áp dụng các biện pháp khắc phục sai số.
- Xây dựng bộ công cụ chuẩn với ngôn ngữ dễ hiểu để đối tượng dễ trả lời
Thực trạng kiến thức các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu sớm về bệnh đột quỵ não của người dân bị THA điều trị tại Trạm y tế xã Hương Ngải huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội năm 2020
2.3.1 Đặ c đ i ể m c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u
B ả ng 3.1: Đặ c đ i ể m chung c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u (n1)
STT Đặc điểm Phân loại Tỉ lệ (%)
Sống với gia đình 89,8 Độc thân 5
6 Tiền sử tăng huyết áp
Nghiên cứu trên 121 bệnh nhân cho thấy 53% là nữ giới, 66% trong số họ từ 60 tuổi trở lên, 40% có điều kiện kinh tế thấp và 89,8% sống cùng gia đình Đặc biệt, 47,9% bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp kéo dài từ 3 năm trở lên, đồng thời nghiên cứu cũng ghi nhận đặc điểm về trình độ học vấn của các đối tượng tham gia.
Bi ể u đồ 3.1: Phân lo ạ i trình độ h ọ c v ấ n c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u (n1)
Biểu đồ 3.1 cho thấy trình độ học vấn của đối tượng tham gia nghiên cứu, trong đó trung học cơ sở chiếm 44%, tiểu học 27,5%, THPT 17,5%, và cao đẳng 6% Tỷ lệ người có trình độ đại học và sau đại học thấp nhất, chỉ chiếm 2,5% Nghiên cứu cũng nêu rõ đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng tham gia.
Bi ề u đồ 3.2: Phân lo ạ i ngh ề nghi ệ p c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u (n1)
Biểu đồ 3.2 cho thấy đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là nông dân, chiếm gần 60% Tiếp theo là nhóm nghỉ hưu với tỷ lệ 25%, trong khi nghề khác chiếm 10% và công chức, viên chức chỉ chiếm 3,1%.
Tiểu học Trung học cơ sở
Cao đẳng Đại học trở lên
Nông dân Công nhân Cán bộ viên chức
Nghề nghiệp Đặc điểm về sự tiếp nhận các nguồn thông tin của đối tượng nghiên cứu:
Bi ể u đồ 3.3: Ti ế p nh ậ n thông tin truy ề n thông c ủ a Đ TNC (n1)
Nghiên cứu cho thấy rằng tivi là nguồn cung cấp thông tin chính cho người bệnh, với tỷ lệ chiếm đến 96,7% Bên cạnh đó, thói quen hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu cũng được ghi nhận là một đặc điểm đáng chú ý.
Bi ể u đồ 3.4: Phân b ố ng ườ i b ệ nh hút thu ố c lá
Nhận xét: Phần lớn người tham gia chưa bao giờ hút thuốc lá (69%) Đặc điểm thói quen uống bia rượu của đối tượng nghiên cứu:
Tivi Internet Đài radio Các buổi tuyên truyền
Nguồn cung cấp thông tin
Nguồn cung cấp thông tin
Hút thuốc lá Đã từng hútVẫn đang hútChưa bao giờ hút
Bi ể u đồ 3.5: Phân b ố ng ườ i b ệ nh u ố ng r ượ u bia
Nhận xét: Trong tổng số người tham gia đa số người bệnh chưa bao giờ uống rượu bia (65%)
2.3.2.Ki ế n th ứ c c ủ a ng ườ i b ệ nh m ắ c b ệ nh t ă ng huy ế t áp v ề các y ế u t ố nguy c ơ và d ấ u hi ệ u s ớ m c ủ a độ t qu ỵ não
2.3.2.1.Kiến thức về các yếu tố nguy cơ
B ả ng 3.2: Ki ế n th ứ c v ề các y ế u t ố nguy c ơ v ề b ệ nh độ t qu ỵ não
Các yếu tố nguy cơ Tần số
Tỷ lệ trả lời đúng
Tăng huyết áp 112 92.6% Đái tháo đường 55 45.5%
Rối loạn chuyển hóa chất béo 42 34.7%
Béo phì 73 60.3% Ít hoạt động thể lực 59 48.8%
Gia đình có người bị đột quỵ hoặc bản thân bị đột quỵ 46 38%
Không biết các yếu tố nào 5 4.1%
-4.1 % người bệnh tham gia không biết bất kỳ yếu tố nguy cơ nào
-Tăng huyết áp và tuổi cao là 2 yếu tố người bệnh biết nhiều nhất chiếm 92,6% và 84,4%
Các yếu tố tiền sử mắc bệnh, thói quen hút thuốc lá và uống rượu bia của người bệnh được nhận thức kém, với tỷ lệ lần lượt là 38%, 39,7% và 38,8% Đáng chú ý, rối loạn chuyển hóa chất béo là yếu tố mà người bệnh hiểu biết ít nhất, chỉ đạt 34,7%.
Uống rượu bia Đã từng uốngVẫn đang uốngChưa bao giờ uốngThỉnh thoảng uống
B ả ng 3.3: T ỷ l ệ đạ t v ề ki ế n th ứ c v ề các y ế u t ố nguy c ơ độ t qu ỵ não c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u Đánh giá kiến thức Tần số Tỷ lệ
Nhận xét: Tỷ lệ nhận thức các yếu tố nguy cơ đột quỵ của người bệnh không đạt là 52,9% , đạt 47,1%
2.3.2.2 Kiến thức về các dấu hiệu sớm
B ả ng 3.4: Ki ế n th ứ c v ề các d ấ u hi ệ u s ớ m
Các dấu hiệu sớm Tần số
Tỷ lệ trả lời đúng
Không biết các dấu hiệu sớm 9 7,4% Đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân 75 62% Đột ngột nói khó không nói được giảm khả năng hiểu biết
Đột ngột chóng mặt và mất thăng bằng khi đi lại xảy ra ở 68,6% bệnh nhân Trong khi đó, 62,6% người gặp phải tình trạng tê yếu hoặc liệt nửa người hoặc toàn thân Đặc biệt, 75,2% người bệnh báo cáo giảm khả năng nhìn ở một hoặc cả hai mắt Bên cạnh đó, 38% bệnh nhân trải qua rối loạn tri giác như lú lẫn hoặc ngù gà, và 39,7% có triệu chứng tương tự.
- Trong 121 người bệnh tham gia nghiên cứu có 75,2% trả lời là đột ngột tê yếu liệt vận động nửa người hoặc cả người
Ngoài ra, các dấu hiệu khác như đột ngột đau đầu dữ dội, khó nói hoặc không nói được, và chóng mặt mất thăng bằng cũng xuất hiện với tỷ lệ cao, lần lượt là 62%, 68,6% và 62,6%.
-Tuy nhiên cũng có 7,4% người bệnh không biết gì về các dấu hiệu trên
- Từ khảo sát tôi có bảng đánh giá nhận thức của người bệnh về dấu hiệu sớm của bệnh đột quỵ
B ả ng 3.5: T ỷ l ệ đạ t v ề ki ế n th ứ c v ề d ấ u hi ệ u s ớ m c ủ a b ệ nh độ t qu ỵ não c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u Đánh giá kiến thức Tần số Tỷ lệ
Nhận xét: Tỷ lệ nhận thức của người bệnh về các dấu hiệu sớm của đột quỵ không đạt 54,5%, đạt 45,5%
B ả ng 3.6: M ố i liên quan gi ữ a đặ c đ i ể m chung và các y ế u t ố nguy c ơ c ủ a b ệ nh độ t qu ỵ não
STT Loại Mức độ kiến thức n (121) p
Nhận xét: Từ bảng 3.6 cho thấy:
Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu có liên quan đến kiến thức về các yếu tố nguy cơ của bệnh đột quỵ não với mức ý nghĩa p