CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tình hình bệnh động kinh và một số nghiên cứu trong và ngoài nước
Theo tổ chức y tế thế giới, qua điều tra 108 nước trên thế giới với tỉ lệ 84,5% dân số toàn cầu, đã phát hiện được 43.704.000 người mắc động kinh
Tỉ lệ trung bình mắc bệnh động kinh là 8,93 đối với 1000 người tính theo
105 nước Con số mà biến đổi theo các nước khác nhau: ở Châu Mỹ là 12,59 cho
1000 người; ở Châu Phi là 11,29; ở phía đông Địa Trung Hải là 9,4; ở Châu Âu là 8,23; còn ở phía Tây Thái Bình Dương là 3,66 (1)
Về giới, hầu hết các nghiên cứu (không phải toàn bộ) ở Châu Á nhận thấy tỉ lệ nam bị động kinh cao hơn đôi chút so với nữ (8)
Theo nghiên cứu của Trần Văn Cường (2001), tỷ lệ động kinh ở Việt Nam là 0,35% dân số Nghiên cứu của Cao Tiến Đức tại phường Vạn Phúc - Hà Đông năm 2002 cho thấy tỷ lệ này tăng lên 0,42% Đặc biệt, nghiên cứu của Cao Tiến Đức (1994) về 296 bệnh nhân động kinh cho thấy trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 45,9%, trong khi đó, bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên chiếm 54,1%.
Động kinh chủ yếu xảy ra ở trẻ em, với khoảng 50% bệnh nhân dưới 10 tuổi và 75% dưới 20 tuổi Tỷ lệ mắc bệnh giảm theo độ tuổi, nhưng lại tăng trở lại ở người trên 60 tuổi, đạt tỷ lệ 1/1000 (P Loiseau, 1990) Theo nghiên cứu của Cao Tiến Đức (1994), sự gia tăng tuổi tác liên quan đến giảm tỷ lệ mắc bệnh động kinh.
Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh động kinh là một rối loạn của não do tổn thương gây ra, với tỷ lệ khoảng 0,33% trong dân số Việt Nam Còn được gọi là kinh phong, phong sù hay kinh giật, bệnh này biểu hiện qua các cơn co giật, mất ý thức và rối loạn hành vi Chẩn đoán động kinh dựa vào sự tái diễn của các cơn co giật, liên quan đến phóng điện bất thường của các neuron thần kinh trong vỏ não Triệu chứng có thể thay đổi tùy thuộc vào vị trí và diện tích vùng não bị ảnh hưởng Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường bắt đầu dưới 20 tuổi (80% trường hợp) Nguyên nhân của động kinh rất đa dạng, bao gồm khối u, sẹo sau chấn thương, dị dạng và yếu tố di truyền.
Tổn thương não trong giai đoạn bào thai, sang chấn sản khoa, chấn thương đầu, u não, dị dạng mạch máu não, di chứng sau tai biến mạch máu não và nghiện rượu đều có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe thần kinh Ngoài ra, một tỷ lệ rất thấp các trường hợp động kinh còn liên quan đến yếu tố di truyền.
Trẻ em có thể gặp chấn thương đầu do ngã đập đầu vào vật cứng hoặc nền gạch cứng, hoặc khi trẻ ngủ trên giường và vô tình lăn xuống đất.
Những chấn thương đó luôn gây tổn thương cho não và cũng là nguyên nhân hay gặp của bệnh động kinh
- Một số trẻ khi sinh ra có một hay vài cái bướu trong não,bướu này ngày càng lớn và cuối cùng lên các cơn động kinh
- Di truyền, trong gia đình có ông bà , cha mẹ bị động kinh thì rất có thể con cháu sau này cũng mắc bệnh động kinh.
Đặc điểm lâm sàng
- Rối loạn tâm thần trong cơn động kinh bao gồm các biểu hiện lâm sàng trước, trong và ngay sau cơn (Poriicctal symptoms)
- Rối loạn tâm thần ngoài cơn (Interictal symptoms) bao gồn nhưng biểu hiện lâm sàng giữa cơn
Các rối loạn tâm thần cấp của động kinh
1.3.1 Các bi ể u hi ệ n tr ướ c c ơ n : Cơn thoáng báo tâm thần ( Aura)
Động kinh cục bộ phức tạp thường đi kèm với các rối loạn thần kinh thực vật như nóng bừng mặt, đầy hơi, và khó thở Bệnh nhân có thể trải qua rối loạn nhận thức, bao gồm hiện tượng tư duy bị cưỡng bức và trạng thái mê mộng Ngoài ra, họ cũng có thể gặp phải rối loạn cảm xúc như cơn sợ hãi, trầm cảm hoặc hưng cảm, cùng với các hoạt động tự động như liếm môi và bỏ chạy Đặc biệt, động kinh có nguồn gốc từ thùy thái dương và thùy chẩm có thể dẫn đến các triệu chứng loạn thần, trong đó ảo giác và ảo tưởng thị giác là phổ biến Ảo tưởng thị giác thường gặp hơn ở bệnh động kinh thùy chẩm, với nội dung từ thô sơ (chớp sóng, điểm đen) đến phức tạp (phong cảnh, hình người) Ảo thanh cũng có thể xảy ra, đặc biệt trong động kinh thùy thái dương, với nội dung có thể từ tiếng nói đơn giản đến âm nhạc phức tạp.
1.3.2 Các bi ể u hi ệ n r ố i lo ạ n tâm th ầ n trong c ơ n
1.3.2.1 Các cơn tương đương(cơn tự động hay cơn tâm thần vận động )
Trong cơn hoạt động ý thức giảm nhẹ, bệnh nhân còn nhớ và nhận thức được hành vi của mình
Hành vi tự động ở bệnh nhân có thể biểu hiện qua các hành động không kiểm soát, như lau nhà liên tục mà không thể dừng lại, hoặc những cơn cưỡng bức mang tính ám ảnh dẫn đến cơn giận dữ Những hành vi này thường không được nhận thức rõ ràng, khiến bệnh nhân ngạc nhiên khi người khác kể lại hành động của họ Các biểu hiện tự động có thể bao gồm việc đi lang thang hoặc bỏ chạy, trong đó hành vi bỏ chạy thường có đặc điểm chạy thẳng phía trước do ý thức bị thu hẹp Những cơn tương đương này có thể xảy ra riêng biệt hoặc xuất hiện trước hoặc sau một cơn cục bộ, và một số tác giả phân loại chúng khác biệt với các cơn lớn hay cơn nhỏ, ví dụ như cơn nấc hay cơn ngáp.
Trạng thái hôn mê là hiện tượng phổ biến trong cơn động kinh toàn thể co cứng - co giật điển hình, với quá trình phục hồi ý thức và hoạt động nhận thức diễn ra từ vài phút đến nhiều giờ Trong giai đoạn này, bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng lâm sàng của tình trạng sảng (Delirium) đang hồi phục Chẩn đoán chỉ được xem xét khi bệnh động kinh chưa được xác định trước đó.
Các yếu tố lo âu thường đi kèm với cảm giác kích động, giận dữ và lú lẫn, thể hiện ở nhiều mức độ và sắc thái khác nhau Những trạng thái này thường kết hợp với lo âu, mê sảng, mê mộng hoặc bùng nổ, nhưng đều có đặc điểm chung là quên sau cơn.
Trạng thái lú lẫn thường xảy ra sau các cơn hoạt động kịch phát, nhưng cũng có thể xuất hiện cơn kịch phát trong khi đang lú lẫn Tình trạng lú lẫn có thể tồn tại mà không có cơn kịch phát kèm theo Thời gian kéo dài của cơn lú lẫn thường từ vài giờ đến vài ngày và có xu hướng tái phát tương tự như cơn trước đó.
1.3.2.2.3 Các trạng thái hoàng hôn:
Hoàng hôn là trạng thái loạn thần thường gặp trong động kinh và pháp y tâm thần, với đặc điểm khởi phát đột ngột của cơn ngắn quên Bệnh nhân trải qua sự mù mờ ý thức, trở nên ngơ ngác và trả lời chậm với các vấn đề xung quanh, tư duy thường hướng về các chủ đề trừu tượng như tôn giáo và vũ trụ Trong một số trường hợp, bệnh nhân vẫn có thể sống trong trạng thái mộng mị, có khả năng nhớ và định hướng đúng, nhưng tình trạng này rất bấp bênh Giai đoạn hoàng hôn và tỉnh táo đan xen, dẫn đến nguy cơ xuất hiện các cơn bỏ chạy với khuynh hướng hành hung hoặc tự sát Trong cơn, bệnh nhân có thể trải nghiệm những hiện tượng lạ như ảo giác hoặc ý tưởng thần bí, đồng thời tồn tại hai khuynh hướng trái ngược: hành vi phá hoại và những ý tưởng cao đẹp về xây dựng trật tự xã hội.
1.3.3.1 Các cơn loạn khí sắc
Trong cơn bệnh, bệnh nhân thường trải qua những cảm xúc lẫn lộn như buồn rầu, giận dữ, bất mãn và hằn học Họ dễ bị kích thích và có thể xuất hiện ý tưởng nghi ngờ bản thân, kèm theo cảm giác sợ hãi, trong khi khoái cảm chỉ hiếm khi xảy ra Một số bệnh nhân có xu hướng uống nhiều rượu và đi lang thang, điều này có thể rất nguy hiểm Ngoài ra, một số thuốc chống động kinh như Phenobarbital, vigabatrin và felbamate có thể làm trầm trọng thêm tình trạng khí sắc và gia tăng nguy cơ tự sát ở bệnh nhân động kinh.
1.3.3.2 Cơn hưng cảm và trầm cảm
Trong quá trình phát triển của bệnh động kinh, bệnh nhân có thể gặp phải các cơn trầm cảm và hưng cảm không điển hình Những cơn này thường đi kèm với rối loạn ý thức tương tự như trạng thái hoàng hôn, và trước hoặc sau mỗi cơn, bệnh nhân thường trải qua những biến đổi về khí sắc.
1.3.4 M ộ t s ố bi ể u hi ệ n các r ố i lo ạ n tâm th ầ n khác c ủ a m ộ t s ố c ơ n độ ng kinh Ít gặp hơn và cũng ít được nhận biết hơn là những cơn rối loạn tâm thần thoáng qua ở nhưng bệnh nhân động kinh cơn nhỏ hay động kinh cục bộ nhất là động kinh thùy thái dương.Bản chất động kinh của nhưng cơn này có thể khó nhận biết do các biểu hiện vận động hay cảm giác đặc hiệu của bệnh động kinh không có hay rất nhẹ nên không gây được sự chú ý nơi thầy thuốc.Rối loạn tâm thần cũng gặp trong tình trạng động kinh liên tục duới lâm sàng (subclinical status epilepticus) khi sự phóng điện bất thường động kinh kéo dài, có thể trong nhiều giờ mà không gây ra các rối loạn vận động Các cơn này thường khởi đầu đợt ngột, biểu hiện bởi ý thức u ám, rối loạn định huớng, rối loạn trí nhớ và nhận thức Cơn có thể kéo dài từ vài phút đến nhiều giờ và sự phục hồi cũng nhanh như lúc xuất hiện Sau cơn người bệnh có thể quên hoàn toàn hoặc chỉ nhớ từng phần những sự việc đã qua EEG trong giai đoạn này ghi nhận thường xuyên hoạt động gai nhọn – sóng chậm hay đa gai khu trú hay đa gai – sóng chậm lan tỏa
Rối loạn tâm thần thoáng qua trong trạng thái động kinh liên tục không co giật, như động kinh cục bộ đơn giản, cục bộ phức tạp và cơn vắng ý thức, thường biểu hiện qua các triệu chứng lâm sàng phức tạp Những triệu chứng này bao gồm ảo giác, hoang tưởng, kích động, trầm cảm nặng, mất vận ngôn (Aphasia) hoặc câm tạm thời, cùng với trạng thái căng trương lực, rất giống với các bệnh loạn thần nguyên phát khác.
1.4 Các rối loạn tâm thần mạn tính của động kinh Đây là những rối loạn tâm thần ngoài cơn động kinh xuất hiện trên các người bệnh động kinh bị động kinh lâu ngày Biểu hiện nhiều nhất là các biến đổi về nhân cách, suy giảm nhận thức, mất trí
Những biến đổi về nhân cáchcủa động kinh có nhưng nét đặc trưng sau :
Sự dao động về cảm xúc và khí sắc ở người bệnh rất không ổn định, có thể thay đổi đột ngột từ trạng thái này sang trạng thái khác Họ có thể trải qua những cảm xúc từ phấn khởi thái quá đến ghét bỏ, từ hiền lành đến hung dữ, từ lễ phép đến thô lỗ, và từ vui vẻ cởi mở đến cau có im lặng.
Bệnh động kinh thường đi kèm với những phức cảm về bệnh tật và tâm lý tự ti, khiến người bệnh dễ phản ứng mạnh mẽ với môi trường xung quanh Chỉ một lời nói hay cử chỉ nhỏ cũng có thể khiến họ cảm thấy tức giận và bực bội, dẫn đến hành vi gây gổ và mất lòng những người xung quanh Thêm vào đó, những thay đổi trong cuộc sống hay thời tiết cũng có thể làm gia tăng sự khó chịu, gây ra những hành vi nguy hiểm cho bản thân và người khác.
Người bệnh thường có tình cảm gắn bó sâu sắc với gia đình, nghề nghiệp và quê hương, dẫn đến việc họ ít khi rời xa nhà hay thay đổi công việc Họ cũng dễ bị ảnh hưởng bởi những thành kiến khó xóa bỏ và có xu hướng suy nghĩ chậm chạp, khó chuyển đổi giữa các chủ đề Trong giao tiếp, người bệnh nói chậm, kéo dài và thường sa đà vào các chi tiết không quan trọng, không đi đến trọng tâm Họ có xu hướng bảo vệ các tập quán và công thức cũ, luôn theo dõi sự tiến triển của bệnh và tuân thủ điều trị Triệu chứng viết nhiều (Hyphergraphia) được xem là dấu hiệu đặc trưng của động kinh từng phần phức tạp Bên cạnh đó, sự quan tâm đến tín ngưỡng thể hiện qua việc tham gia quá mức vào các hoạt động tôn giáo và có những khuynh hướng khác thường trong các tranh luận về đạo đức và triết học.
Người bệnh thường lo lắng quá mức về tình trạng sức khỏe của mình, dẫn đến việc thu hẹp vòng quan tâm và trở nên vị kỷ, khiến họ yêu cầu sự chăm sóc và chú ý từ những người xung quanh.
1.4.1.5 Một số các biến đổi về hành vi khác:
Chẩn đoán
1.5.1.Ch ẩ n đ oán xác đị nh
Chẩn đoán động kinh kết hợp với rối loạn tâm thần gặp nhiều khó khăn do triệu chứng tâm thần nổi bật, trong khi rối loạn ý thức và nhận thức lại không rõ ràng Đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán động kinh trước đó, sự xuất hiện của các rối loạn tâm thần có thể dẫn đến hai trường hợp khác nhau.
Sự tiến triển của bệnh động kinh cần được theo dõi chặt chẽ, trong đó bác sĩ phải kiểm tra tính phù hợp và sự liên tục trong việc sử dụng thuốc chống động kinh của bệnh nhân Đồng thời, cần lưu ý đến các tác dụng phụ có thể xảy ra từ việc sử dụng thuốc này.
- Bệnh động kinh được kiểm soát tốt bằng thuốc chống động kinh, có thể xuất hiện một số bệnh lý tâm thần độc lập đi kèm theo
- Trường hợp người bệnh mới, chưa được chuẩn đoán động kinh, có bốn đặc điểm lâm sàng gợi ý nghi ngờ động kinh:
+ Sự xuất hiện đột ngột các rối loạn tâm thần ở một người mà trước kia có sức khỏe tâm thần bình thường
+ Sự xuất hiện đột ngột một tình trạng sảng không xác định được nguyên nhân thường gặp
+ Tiền sử cá nhân có những cơn giống nhau với đặc tínhxuất hiện đột ngột và hồi phục tự phát
Tiền sử có những cơn ngất xỉu hoặc té ngã không rõ nguyên nhân, vì vậy EEG đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán động kinh, đặc biệt là động kinh cục bộ phức tạp, với tỷ lệ xuất hiện từ 25-50% ở nhóm bệnh nhân này Đồng thời, cần phân biệt rối loạn tâm thần do động kinh với các bệnh lý tâm thần nguyên phát khác như tâm thần phân liệt, rối loạn phân ly, rối loạn khí sắc và các rối loạn nhân cách khác.
1.5.2 Ch ẩ n đ oán phân bi ệ t Để phân biệt các trạng thái loạn thần khác không phải do động kinh cần căn cứ vào các đặc điểm của loạn thần do động kinh đó là:
- Cơn hưng cảm, trầm cảm thường không điển hình
- Thường xuất hiện có tính chất chu kỳ
- Thường kèm theo rối loạn ý thức kiểu hoàng hôn
-Thường có rối loạn khí sắc trước và sau cơn
-Các dấu hiệu suy nhược mang màu sắc thực tổn
-Tiền sử có các cơn co giật, điện não có sóng động kinh.
Điều trị
Một số nguyên tắc cơ bản:
- Phải kiểm soát tốt động kinh bằng thuốc chống động kinh và những phương pháp có thể khác có nhiều hiệu quả, ít độc tính, ít tác dụng phụ
- Phối hợp các thuốc hướng thần khi cần thiết, nên tránh các thuốc chống loạn thần, chồng trầm cảm có khả năng làm giảm ngưỡng động kinh
Phối hợp các liệu pháp tâm lý cá nhân, nhóm và gia đình - xã hội là cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị Điều này không chỉ giúp người bệnh tái thích ứng với xã hội mà còn đảm bảo chất lượng cuộc sống của họ.
Lao động trong môi trường an toàn là rất quan trọng, cần tránh làm việc ở những vị trí cao, gần lửa, nước hoặc máy móc đang vận hành để giảm thiểu rủi ro tai nạn do cơn động kinh gây ra.
Phòng bệnh
Phòng bệnh nói chung: Quản lý thai nghén, đảm bảo an toàn giao thông và trong sinh hoạt hằng ngày
Để phòng ngừa cơn tái phát, người bệnh cần chú ý không quên thuốc và không tự ý ngừng thuốc Họ cũng nên tránh các chất kích thích như rượu, bia và cà phê, đồng thời hạn chế làm việc trong những nghề có nguy cơ cao Ngoài ra, cần tránh ở những nơi thiếu oxy và có nhiệt độ cao để bảo vệ sức khỏe.
Chăm sóc
Việc nhận định và chuẩn đoán cơn thường khá dễ dàng, tuy nhiên, nhiều khi thông tin được cung cấp từ người nhà, người xung quanh hoặc chính người bệnh có thể dẫn đến sự nhầm lẫn với cơn chức năng Do đó, cần chú ý phân biệt rõ ràng giữa hai loại cơn này để đảm bảo chẩn đoán chính xác.
Khi bệnh nhân đang trải qua cơn động kinh, cần đánh giá mức độ và tính chất của cơn, bao gồm sự đột ngột và hình thức của cơn Chú ý đến cơn giật đầu tiên, vị trí cơ giật đầu tiên, cũng như xác định xem cơn là cục bộ hay toàn bộ.
- Thời gian và các yếu tố thuận lợi gây cơn, cơn tái phát, có hôn mê không?
- Điều trị có cắt cơn không?
Đánh giá mức độ hôn mê của người bệnh được thực hiện thông qua thang điểm Glasgow, với tổng điểm tối đa là 15, bao gồm 4 điểm cho mắt, 5 điểm cho lời nói và 6 điểm cho vận động Cần xác định xem trong cơn giật, người bệnh có mất ý thức hay không.
+ Da, niêm mạc: nhợt, hồng, tím
+ Dấu hiệu sinh tồn: Mạch, nhiệt độ, huyết áp
+ Thể trạng: Nặng bao nhiêu kg (dựa vào cân nặng của người bệnh để tính liều lượng thuốc điều trị cho người bệnh)
-Tình trạng về thần kinh, tâm thần:
- Sau cơn người bệnh có mô tả lại được cơn không?
- Người bệnh lên cơn có tính chất chu kỳ hay không?
- Các nguy cơ có thể xảy ra khi người bệnh lên cơn co giật
Cơn giật cần được mô tả chi tiết, bao gồm số lần xảy ra trong ngày, thời gian mỗi cơn kéo dài, và vị trí khởi phát (tay, chân, cơ, mặt) Cần xác định xem có kèm theo các động tác tự động hay không, cũng như tình trạng ý thức của người bệnh trong cơn giật Ngoài ra, cần lưu ý có xảy ra đại tiểu tiện không tự chủ, có hiện tượng sùi bọt mép, cắn vào lưỡi hay không, và có dấu hiệu rối loạn chức năng ngôn ngữ hay co cứng các cơ hay không.
Sau cơn giật, cần đánh giá tình trạng của bệnh nhân như có tỉnh táo hay không, có ra mồ hôi, có nhớ gì trước đó không, và có bị liệt hay nôn không Cũng cần chú ý đến triệu chứng tê bì chân tay, khả năng nói và nuốt, cũng như có xuất hiện cơn loạn thần không Cuối cùng, cần kiểm tra xem bệnh nhân có bị đau đầu, nôn mửa hay có khả năng tự chủ trong đại tiểu tiện hay không.
+ Huyết áp: Trong cơn giật cao hay thấp Ngoài cơn giật bình thường, cao hay thấp
+ Nhịp tim: Trong cơn giật cao hay thấp Ngoài cơn giật bình thường, cao hay thấp
+ Xuất tiết đờm dãi : Trong cơn nhiều hay ít
+ Có khả năng ho khạc hay không?
+ Người bệnh tự thở hay phải có sự trợ giúp của máy thở qua ống nội khí quản, mở khí quản,
+ Người bệnh tự ăn uống được hay đặt sonde dạ dày ( do hôn mê hoặc rối loạn nuốt), hoặc phải nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch
+ Người bệnh có nôn, căng chướng bụng hoặc đau bụng không?
+ Đại tiện mấy lần/ ngày, có tự chủ không? Trong cơn có đại tiểu tiện không tự chủ không?
- Tình trạng tiết niệu, sinh dục:
+ Tiết niệu: Tiểu tiện có tự chủ không? Màu sắc, số lượng nước tiểu 24h
Người bệnh được đóng bỉm hay đặt sonde tiểu
+ Sinh dục: Có viêm nhiễm không? Có liên quan đến vấn đề sinh dục như cường dương, xuất tinh sớm
- Tình trạng nội tiết: có mắc các bệnh như đái tháo đường, suy hoặc cường giáp, suy tuyến yên
- Vệ sinh cá nhân: quần áo, đầu tóc, móng tay, móng chân có sạch sẽ không?
* Tiền sử người bệnh: sản khoa đối với trẻ em, chấn thương đối với người lớn
Các bệnh đã mắc trước đây, gia đình có ai mắc bệnh giống người bệnh không?
Người bệnh cần xác định nơi đã được khám, chẩn đoán và điều trị, cũng như thời gian mắc bệnh Cần đánh giá việc sử dụng thuốc tại nhà có đều đặn hay không Ngoài ra, bệnh nhân nên đăng ký quản lý động kinh tại cơ sở y tế phù hợp và tuân thủ chế độ theo dõi, tái khám định kỳ.
Có sử dụng các chất kích thích không: rượu, bia, thuốc lá
Thói quen sống hằng ngày, có tập thể dục thể thao không?
Tham khảo hồ sơ bệnh án:
+ Dựa vào chuẩn đoán chuyên khoa: ĐK toàn thể, ĐK cục bộ, Trạng thái ĐK ĐK cơn mau
+ Các xét nghiệm cận lâm sàng: Huyết học, sinh học, vi sinh, độc chất có bất thường không?
+ Các thăm dò chức năng khác: Điện não, chụp CT scanner sọ não
Xác lập chuẩn đoán điều dưỡng cần dựa trên kết quả nhận định thực tế của người bệnh Đối với bệnh nhân động kinh tâm thần, có thể đưa ra các chuẩn đoán điều dưỡng phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc và điều trị hiệu quả.
- Người bệnh có nguy cơ bị chấn thương do ngã
- Người bệnh có khả năng bị ngạt thở do đờm dãi, co cứng lồng ngực
- Người bệnh có khả năng bị sặc do tăng tiết đờm dãi
- Rối loạn thần kinh thực vật
- Rối loạn tim mạch, phù não do cơn kéo dài
- Người bệnh không biết cách phòng ngừa, thiếu hiểu biết về bệnh
- Giảm lo lắng cho người bệnh
- Thực hiện cấp cứu khi có cơn động kinh
- Theo dõi sát khi có cơn và ngay sau cơn động kinh
- Hướng dẫn cách phòng bệnh và dùng thuốc duy trì
Khi người bệnh gặp cơn giật, cần nhanh chóng đưa họ đến nơi an toàn, nới rộng quần áo và giữ tay chân không bị đè chặt Bảo vệ đầu họ khi ngã và không di chuyển trừ khi ở nơi nguy hiểm Đầu nên hơi cúi về phía trước, chèn gạc giữa hai hàm răng và lau đờm dãi Trong cơn giật, từ từ quay đầu người bệnh sang một bên để nằm nghiêng, giúp đờm dãi chảy ra và tránh sặc vào phổi Không cố gắng khống chế cơn giật, giữ các vật sắc nhọn xa và không bỏ bất cứ đồ vật gì vào miệng người bệnh, kể cả thức ăn, nước hay thuốc, để tránh nguy cơ cắn lưỡi và sặc vào đường hô hấp.
-Nhanh chóng thực hiện y lệnh: tiêm thuốc chống động kinh, không cho uống thước khi đang giật, đang ngủ hoặc hôn mê
-Giải thích và luôn ở cạnh người bệnh khi bắt đầu tỉnh, giữ người bệnh tại giường, hồi sức toàn diện cho người bệnh
-Hướng dẫn người bệnh cách phòng bệnh
Để phòng bệnh hiệu quả, cần quản lý thai nghén chặt chẽ, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em nhằm giải quyết các trường hợp đẻ khó và ngăn ngừa bệnh xã hội Việc phát hiện sớm động kinh không rõ nguyên nhân, tiêm chủng đầy đủ cho trẻ sơ sinh và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn là rất quan trọng Ngoài ra, cần chú ý đến dinh dưỡng, an toàn giao thông và sinh hoạt hàng ngày, đồng thời thực hiện đúng nguyên tắc sử dụng thuốc để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé.
Để phòng ngừa cơn động kinh, cần loại bỏ các yếu tố thuận lợi và duy trì sinh hoạt điều độ Sử dụng thuốc theo chỉ định, nhận biết dấu hiệu báo trước cơn như đột ngột sợ hãi, và nhanh chóng cho người bệnh nằm xuống để tránh chấn thương là rất quan trọng Cần có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, tránh công việc nguy hiểm như làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, hoặc lái xe Ngoài ra, cần kiêng rượu dưới mọi hình thức, tránh nhịn đói để không dẫn đến hạ đường huyết, và giữ cho cơ thể cũng như tinh thần không bị mệt mỏi hay chịu tác động từ các kích thích.
- Người bệnh qua cơn an toàn, không có di chứng
- Giảm bớt lo lắng trước và sau cơn
- Người bệnh hiểu biết cách phòng bệnh, điều trị và sử dụng thuốc động kinh
- Người bệnh không tái phát cơn.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định
Bệnh viện Tâm thần Nam Định được thành lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định vào ngày 14/02/1997, sau khi tỉnh Nam Hà được chia tách thành Nam Định và Hà Nam Ban đầu, bệnh viện tiếp quản khu điều trị của Bệnh viện Điều dưỡng A Nam Hà với 100 giường bệnh Đây là đơn vị trực thuộc Sở Y tế tỉnh Nam Định, tọa lạc tại thôn Đệ Tứ, xã Lộc Hạ, ngoại thành Nam Định (hiện nay là đường Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định).
Sau 25 năm phát triển, Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định đã trở thành một cơ sở y tế chuyên khoa vững mạnh, sở hữu cơ sở hạ tầng khang trang và trang thiết bị y tế hiện đại Đội ngũ cán bộ y tế đông đảo và chuyên nghiệp của bệnh viện đã góp phần đạt được những thành tựu lớn trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nhận được sự tín nhiệm từ nhân dân địa phương.
Bệnh viện đang áp dụng các kỹ thuật mới nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân, bao gồm máy lưu huyết não vi tính, máy điện não vi tính, máy xét nghiệm sinh hóa, máy siêu âm và nhiều thiết bị hiện đại khác.
So với thời kỳ đầu thành lập, trình độ cán bộ viên chức tại Bệnh viện Tâm Thần Nam Định đã được nâng cao đáng kể với 4 thạc sĩ, 7 bác sĩ chuyên khoa I và nhiều điều dưỡng có trình độ đại học Tuy nhiên, công tác chăm sóc bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là người bệnh động kinh, vẫn còn phụ thuộc nhiều vào gia đình, thiếu sự hiểu biết về tâm tư của bệnh nhân Bệnh viện cũng chưa có quy trình chuẩn chăm sóc riêng cho người bệnh động kinh, đây là vấn đề cần được chú trọng.
* Vấn đề chăm sóc chung cho người bệnh động kinh nằm viện điều trị:
- Người bệnh động kinh cần được sự đồng cảm, chia sẻ giúp đỡ của nhân viên y tế
- Mọi thành viên trong gia đình cần biết rằng động kinh không phải là một bệnh tâm thần
- Động viên, an ủi người bệnh và tạo điều kiện cho người bệnh lạc quan
- Ăn uống điều độ, theo dõi và quản lí sát bệnh nhân
- Khi có dấu hiệu bất thường (Co giật, co giật liên tục), báo cáo bác sĩ.
Nghiên cứu một trường hợp cụ thể
Tại Bệnh viện Tâm thần Nam Định, việc chăm sóc bệnh nhân động kinh được thực hiện với sự chú trọng đặc biệt, phản ánh thực trạng chung của công tác chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện Các phương pháp điều trị và hỗ trợ tâm lý được áp dụng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, đồng thời tạo môi trường an toàn và thân thiện Sự phối hợp giữa đội ngũ y bác sĩ và gia đình bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị, giúp bệnh nhân ổn định tâm lý và cải thiện sức khỏe.
1 Họ và tên bệnh nhân: TRẦN XUÂN TH
6 Địa chỉ: Xã Nam Phong – Thành phố Nam Định - Tỉnh Nam Định
8 Lý do vào viện: co giật liên tục
Theo thông tin từ gia đình, bệnh nhân là con út trong gia đình có ba người con và đã phát triển thể chất cũng như tâm thần hoàn toàn bình thường từ khi sinh ra.
Năm 2019, khi đang làm việc, không may người bệnh bị ngã giáo, sau đó được điều trị tại bệnh viện Bạch Mai với chuẩn đoán: Chấn thương sọ não
Vào năm 2020, trong khi xem ti vi, bệnh nhân đột ngột ngã và bị co giật toàn thân, với mắt trợn ngược và mặt tím tái, cơn kéo dài khoảng 1 phút và xuất hiện 3-4 lần mỗi tháng Sau khi đưa bệnh nhân đến bệnh viện tâm thần Nam Định, bệnh nhân được điều trị bằng thuốc Depakin 200 mg, 4 viên mỗi ngày Nhờ uống thuốc đều, tần suất cơn giật đã giảm xuống còn 1-2 tháng xuất hiện 1 lần, cơn sau giống cơn trước Tuy nhiên, trong thời gian này, bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, không muốn làm gì, nhưng vẫn tự vệ sinh và ăn uống được.
Khoảng 1 tuần trước khi vào viện, cơn giật xuất hiện nhiều hơn, 4 cơn 1 tuần, các cơn mô tả như trên, người bệnh mệt mỏi, bực tức, vẻ mặt căng thẳng, hay cáu giận Người nhà chưa cho uống thuốc gì và đưa người bệnh đến bệnh viện tâm thần Nam Định điều trị
- Tuần hoàn: Nhịp tim đều, tiếng T1 T2 rõ
- Hô hấp: Lồng ngực hai bên cân đối, nhịp thở đều
- Tiêu hóa: Bụng mềm, không chướng, gan - lách không sờ thấy
- Thận, tiết niệu, sinh dục: bình thường
- Răng, hàm mặt: bình thường
- Các bệnh lý khác: Chưa thấy có dấu hiệu bệnh lý
- Không có tổn thương liệt khu trú
- Vận động tứ chi: bình thường
- Trương lực cơ: Bình thường
- Cảm giác (nông, sâu): Không rối loạn
- Phản xạ: Phản xạ gân xương đáp ứng đều hai bên
- Biểu hiện chung: ăn mặc lôi thôi
- Ý thức định hướng: Không gian, thời gian, bản thân: xác định đúng
- Tình cảm, cảm xúc: căng thẳng, lo lắng
- Tri giác: ảo thanh, ra lệnh xui khiến người bệnh tấn công người thân
+ Hình thức: Nhịp nhanh nói nhiều
+ Nộị dung: Hoang tuởng tự cao, bị hại
+ Hoạt động có ý trí: bẩn, lôi thôi bỏ đi lang thang vô cớ, lười làm việc + Hoạt động bản năng: ăn kém ngủ ít
- Chú ý : Kém tập trung, lơ đãng
2.2.3.3 Các xét nghiệm cận lâm sàng cần làm:
LEU, BLO,NIT, KET,BIL,PRO, GLU: (-)
Điện não đồ và lưu huyết não cho thấy sự xuất hiện của sóng động kinh, với sóng α không thành nhịp có tần số khoảng 1 Hz và biên độ khoảng 20 microvolt Nghiệm pháp Berger không có phản ứng, trong khi thở sâu và kích thích ánh sáng làm xuất hiện nhiều đợt sóng chậm Delta và Theta, có tần số từ 3-5 Hz và biên độ từ 40-120 microvolt, lan tỏa ở cả hai bán cầu.
- Xquang tim phổi: Bình thường
2.2.3.4 Các thuốc dùng cho người bệnh
- Hoàn cảnh gia đình: Trung bình
+ Bản thân: 32 tuổi bị động kinh cục bộ điều trị ổn định
+ Gia đình: Không ai mắc bệnh tâm thần /thần kinh
Chăm sóc trong thời gian người bệnh nằm viện đánh giá hoạt động hàng ngày của người bệnh như sau
* Ch ă m sóc tri ệ u ch ứ ng co gi ậ t
- Người bệnh tỉnh tiếp xúc được
- Khí sắc căng thẳng lo lắng
- Người bệnh ngủ ít ăn kém
- Người bệnh chăm sóc vệ sinh cá nhân kém, và hoạt động thể lực kém
- Người bệnh được dùng thuốc theo chỉ định
Điều dưỡng đã giao tiếp với bệnh nhân, truyền đạt nội quy và quy định của bệnh viện, đồng thời khuyến khích bệnh nhân và người nhà yên tâm trong quá trình điều trị Họ cũng nhấn mạnh sự tin tưởng vào kết quả điều trị của bác sĩ và sự chăm sóc tận tâm từ đội ngũ điều dưỡng.
- Điều dưỡng đã nhắc nhở người nhà cất hết những vật sắc nhọn có thể gây nguy hiểm cho người bệnh và người nhà
* Cung c ấ p dinh d ưỡ ng theo nhu c ầ u cho ng ườ i b ệ nh:
Người bệnh tự túc bữa sáng, trong khi bữa trưa được cung cấp suất cơm tại bệnh viện, bao gồm 1 bát cơm, rau và thịt Bữa tối cũng có 1 bát cơm, canh và đậu phụ Ngoài những bữa ăn này, người bệnh không ăn thêm gì, mặc dù thỉnh thoảng người nhà có mua thêm ít hoa quả hay sữa, nhưng người bệnh không muốn ăn.
Điều dưỡng thường khuyến khích người bệnh ăn uống, nhưng nhiều bệnh nhân không có nhu cầu và ăn rất ít Qua quan sát, có thể thấy rằng chế độ ăn uống hiện tại của họ chưa đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày.
*C ả i thi ệ n kh ả n ă ng t ự ch ă m sóc cho ng ườ i b ệ nh:
Người bệnh thường thiếu ý thức về việc vệ sinh cá nhân, trong khi người nhà lại ít quan tâm do không thể thường xuyên có mặt Điều này dẫn đến sự chán nản và khó khăn trong việc duy trì thói quen vệ sinh Dù điều dưỡng đã cố gắng nhắc nhở, nhưng người bệnh vẫn không thực hiện hoặc không biết cách vệ sinh đúng cách.
+ Người bệnh ngủ kém, khoảng 6/24h, người bệnh khó ngủ lo lắng về tình hình bệnh tật của mình và không yên tâm điều trị
+ Điều dưỡng đã khuyên nhủ, động viên để người bệnh để người bệnh an tâm và tin tưởng vào quá trình điều trị và chăm sóc người bệnh
Người bệnh thường có hành vi đi lại không ổn định, đôi khi có ý định ra ngoài cổng Khi bị nhân viên y tế yêu cầu quay lại bệnh viện, họ thường phản kháng và không muốn tiếp tục điều trị tại viện.
- Việc dùng thuốc cho người bệnh:
+ Ở bệnh viện người bệnh được điều dưỡng phát thuốc uống và theo dõi uống thuốc hàng ngày
Người bệnh cho biết rằng khi ở nhà, họ tự quản lý và uống thuốc mà không nhận được sự quan tâm từ gia đình về việc sử dụng thuốc.
- Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà:
+ Người nhà và người bệnh đã được điều dưỡng phổ biến về nội quy khoa phòng và bệnh viện
Điều dưỡng đã tương tác với bệnh nhân và người nhà để giúp ổn định tâm lý cho bệnh nhân, đồng thời giải thích về tình trạng bệnh, cách chăm sóc, chế độ ăn uống và hướng dẫn sử dụng thuốc một cách hiệu quả.
10 giờ: Uống thuốc: Depakin 200 mg x 2 viên, Piracetam 400 mg x 3 viên, vitamin 3B x 2 viên
- Theo dõi sát bệnh nhân
+ Hiện tại người bệnh tỉnh tiếp xúc được, chưa tham gia các hoạt động trong khoa, đi lại nhiều
+ Các dấu hiệu bệnh lý khác chưa có vấn đề gì đặc biệt
+ Động viên người bệnh ăn hết khẩu phần, tạo không khí vui vẻ thoải mái khi người bệnh ăn trong bếp ăn tập thể
+ Bệnh nhân ăn hết suất cơm
+ Nhắc nhở người bệnh vệ sinh cá nhân: gội đầu, tắm thay quần áo sạch
+ Huớng dẫn người bệnh vệ sinh cá nhân đánh răng ngày 2 lần, sau khi ngủ dậy và trước khi đi ngủ
+ Sắp xếp người bệnh vào buồng bệnh cùng với người bệnh ổn định để theo dõi
+ Loại bỏ vật dụng nguy hại đến tính mạng người bệnh như (dao, kéo, dây, vật sắc nhọn…)
+ Thường xuyên theo dõi giám sát người bệnh khi giao ca, giao trực, lúc giao thời vào đêm khuya
+ Đi tua buồng bệnh 30 phút/ lần
+ Thông báo kịp thời cho bác sĩ và nhân viên trong khoa về diễn biến của người bệnh để cùng phối hợp
*Tư vấn và huớng dẫn người bệnh tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe
+ Gia đình thường xuyên gần gũi động viên an ủi người bệnh
+ Gia đình khuyên giải người bệnh yên tâm , tin tuởng vào điều trị
+ Biết tạo không khí vui tuơi, tránh sang trấn tâm lý người bệnh
+ Tăng cường dẫn bệnh nhân đi dạo xem ti vi, xem đá bóng… để giúp người bệnh lãng quên đi những lo lắng buồn phiền
+ Thường xuyên gần gũi theo dõi người bệnh để phát hiện kịp thời cơn động kinh nếu có
+ Loại bỏ các vật dụng nguy hại đến tính mạng và kiểm tra chặt chẽ việc uống thuốc của người bệnh, phòng ngừa giấu thuốc
Chăm sóc vệ sinh cho người bệnh là rất quan trọng, đặc biệt khi họ không thể tự làm Ngoài ra, cần nắm rõ chế độ ăn uống của người bệnh để đảm bảo cung cấp đủ năng lượng, chất dinh dưỡng và vitamin Nếu người bệnh không ăn, hãy động viên và khuyên nhủ họ, đồng thời báo cáo cho bác sĩ hoặc điều dưỡng để có biện pháp hỗ trợ kịp thời.
+ Huớng dẫn người bệnh tham gia lao động liệu pháp vui chơi giải trí
+ Động viên, giải thích, khuyên giải người bệnh loại bỏ ý nghĩ lo lắng chán nản hòa đồng với mọi người xung quanh
Khi ng ườ i b ệ nh ra vi ệ n tr ở v ề c ộ ng đồ ng
+ Thường xuyên quan tâm động viên an ủi người bệnh
+ Giúp người bệnh tái hòa hợp với cuộc sống cộng đồng
+ Tạo môi trường gia đình xã hội hài hòa, tránh gây sang trấn tâm lý cho người bệnh
+ Quản lý thuốc chặt chẽ
+ Khi dừng thuốc nếu thấy có dấu hiệu bất thường đưa người bệnh đến có sở y tế hoặc bệnh viện chuyên khoa tâm thần khám ngay
+ Theo dõi người bệnh nếu có co giật
+ Uống thuốc đều theo đơn của bác sĩ
+ Người bệnh luôn tin tưởng vào sự điều trị của bác sỹ
+ Không nên hoặc hạn chế sử dụng rượu bia và các chất kích thích như cà phê, thuốc lá Hãy tạo cho mình lối sống lành mạnh.
Một số ưu nhược điểm
- Đầy đủ các phòng ban chức năng, lâm sàng, cận lâm sàng
- Đội ngũ cán bộ được chuẩn hóa theo bệnh viện hạng III
- Mỗi điều dưỡng đều xác định được tiêu chí làm việc và nhiệm vụ của mình
Người bệnh được điều dưỡng theo dõi và chăm sóc trong suốt quá trình điều trị, thực hiện các y lệnh của bác sĩ như phát thuốc, giám sát dấu hiệu sinh tồn và hướng dẫn nội quy khoa phòng.
- Điều dưỡng lập kế hoạch cho người bệnh vẫn còn sơ sài, chưa được hợp lí
- Dinh dưỡng cho người bệnh chưa được đảm bảo
- Vệ sinh cá nhân của người bệnh còn kém
Điều dưỡng vẫn chưa thực hiện hiệu quả công tác giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, dẫn đến việc bệnh nhân và người nhà chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về bệnh động kinh.
- Việc tổ chức các hoạt động tập thể tại các khoa như thể dục thể thao gần như là không có.
Nguyên nhân
- Do tính chất đặc thù chuyên biệt về chuyên khoa tâm thần,
- Điều dưỡng chưa thực sự lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người bệnh để giúp đỡ họ về mặt tâm lý
Điều dưỡng chưa phát huy tối đa khả năng và vai trò của mình, khi công việc hàng ngày chỉ dừng lại ở việc phát thuốc, tiêm truyền theo y lệnh, và nhắc nhở bệnh nhân cũng như người nhà về vệ sinh cá nhân.
Sau khi sử dụng thuốc, điều dưỡng không theo dõi kịp thời và đầy đủ các tác dụng phụ của thuốc, chủ yếu dựa vào thông tin từ người nhà hoặc bệnh nhân Họ chỉ nhận biết tình trạng sức khỏe khi được báo cáo từ phía người nhà hoặc bệnh nhân.
2.5.2 Đố i v ớ i ng ườ i nhà ng ườ i b ệ nh
Nhiều gia đình có người bệnh thường cảm thấy chán nản và mệt mỏi, dẫn đến việc thiếu quan tâm đúng mức đối với bệnh nhân Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, họ thường bỏ mặc người bệnh, không đưa đi viện hoặc chỉ đưa đi rồi bỏ rơi tại bệnh viện, thiếu chăm sóc và hỗ trợ cần thiết.
Nhiều gia đình người bệnh thiếu kiến thức về bệnh tật và cách chăm sóc, dẫn đến quan niệm sai lầm rằng bệnh do ma quỷ gây ra Họ thường đưa người bệnh đi cúng bái tại các đền chùa, và chỉ khi tài chính cạn kiệt mà bệnh tình không thuyên giảm mới quyết định đưa đến bệnh viện để khám và điều trị.
Bệnh viện có khoa dinh dưỡng, tuy nhiên, chế độ ăn của tất cả bệnh nhân vẫn giống nhau, dẫn đến việc chưa có suất ăn phù hợp cho từng loại bệnh Do đó, sự chăm sóc từ gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân.
- Chưa động viên, khuyến khích người bệnh tham gia thể dục thể thao