Phân lập giám định thành phần, tính mẫn cảm của các vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục của lợn nái Móng Cái mắc Bệnh viêm tử cung .... Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên đàn lợn giống Móng Cái nuôi tại trại lợn Đức
Chính - thành phố Cao Bằng
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu: Tại trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng
3.2.2 Thời gian nghiên cứu: Tháng 9/2015 đến tháng 6/2016
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Đề tài đƣợc thực hiện với 2 nội dung chính:
3.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn giống Móng Cái nuôi tại trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng bao gồm:
+ Tuổi thành thục về tính
+ Tuổi phối giống lần đầu
+ Thời gian động dục lại sau cai sữa lợn con
+ Số lƣợng con/lứa, khối lƣợng sơ sinh, khối lƣợng lợn con sau cai sữa
+ Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa
3.3.2 Theo dõi một số bệnh thường gặp trên đàn lợn giống Móng Cái và phương pháp điều trị:
+ Bệnh ở đàn lợn con theo mẹ
+ Bệnh ở đàn lợn nái sinh sản
+ Phân lập xác định thành phần vi khuẩn có trong dịch đường sinh dục của lợn nái bình thường và lợn nái mắc viêm tử cung
+ Xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch đường sinh dục lợn nái mắc viêm tử cung với một số kháng sinh thông dụng
+ Điều trị thử nghiệm bệnh viêm tử cung ở lợn nái
3.4 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Mẫu dịch đường sinh dục sau đẻ 12 – 24 giờ Móng Cái bình thường và lợn mắc bệnh viêm tử cung
- Các môi trường thạch chuyên dụng
- Một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu nhƣ Cephachlor, Rivanol 0,1%, ADE, B.complex, Oxytocin, Lutalyze
- Đông vât thí nghiêm: Lơn Móng Cái mắc bênh viêm tử cung
- Giấy tẩm kháng sinh do hãng Oxoid sản xuất
- Kính hiển vi, ống nghiệm các loai, đĩa petri, que cấy, găng tay, thùng đƣng mẫu, dung cu lấy mẫu, xi lanh
3.4.2.1 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn giống Móng Cái nuôi tại trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng
- Thu thập, kế thừa số liệu các chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn giống Móng cái tại trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng
- Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu sinh sản trong thời gian thực tập
- Với các chỉ tiêu số lƣợng: Tiến hành đếm số con sơ sinh/ổ và số con cai sữa/ổ
- Với các chỉ tiêu khối lƣợng: Tiến hành cân xác định khối lƣợng lợn con ở các thời điểm sơ sinh và cai sữa bằng một loại cân thống nhất ở tất cả các lần cân
+ Lợn con sinh ra đƣợc cân ngay bằng cân đồng hồ loại 5 kg
+ Cân khối lƣợng lợn cai sữa bằng cân đồng hồ loại 15 kg, vào buổi sáng, lúc đói
Tỷ lệ nuôi sống đến CS (%) = Số con còn sống đến cai sữa
- Tuổi thành thục tính: là tuổi tính từ lúc con vật sinh ra cho tới khi con vật đó có biểu hiện động dục lần đầu tiên (thời gian tính bằng ngày)
- Chu kì động dục: là thời gian tính từ ngày động dục lần trước đến ngày động dục tiếp theo (lần rụng trứng trước cho tới lần rụng trứng sau - thời gian tính bằng ngày)
- Tuổi phối lần đầu: là thời gian tính từ lúc con vật sinh ra cho tới khi phối giống lần đầu tiên (thời gian tính bằng ngày)
- Thời gian mang thai: là thời gian tính từ lúc phối giống thành công tới khi đẻ ra (thời gian tính bằng ngày)
- Số con trung bình trên lứa: là số con bình quân đẻ ra của một lợn nái trong một lứa (tính bằng con)
- Thời gian động dục lại sau khi cai sữa lợn con: là thời gian mà lợn nghỉ để hồi phục sau đẻ đến ngày động dục lần đầu (thời gian tính bằng ngày)
3.4.2.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh thường gặp trên đàn lợn Móng Cái và phương pháp điều trị
Phương pháp chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng: Theo dõi các các bệnh thường xảy ra trên đàn lợn giống Móng Cái ở các lứa tuổi bằng phương pháp phỏng vấn kết hợp theo dõi trực tiếp các trường hợp cần thiết và thông qua sổ sách của trang trại
3.4.2.3 Phương pháp phân lập và giám định vi khuẩn
- Lấy mẫu dịch đường sinh dục sau đẻ 12 -24 h của lợn Móng Cái bình thường và mắc bệnh viêm tử cung (3-5ml)
- Phân lập giám định thành phần vi khuẩn trên các môi trường thạch chuyên dụng theo phương pháp vi sinh vật thường quy và định danh vi khuẩn trên máy Vitex
- Giám định tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu của các vi khuẩn trong phân lợn ở các lứa tuổi bằng phương pháp làm kháng sinh đồ theo phương pháp của Kirby - Bauer (1996) Giấy tẩm kháng sinh do hãng Oxoid sản xuất
- Đánh giá kết quả dựa theo tiêu chuẩn quốc tế 1996 (Antibiotic susceptibility testing)
3.4.2.4 Bố trí thí nghiệm một nhân tố
Sử dụng các phác đồ khác nhau để thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung trên 36 lợn nái mắc bệnh viêm nôi mac tử cung Trong số nái điều trị, nái đẻ lứa đầu và các lứa đẻ sau đƣợc chia đều cho 3 lô Đánh giá hiệu quả điều trị của từng phác đồ thông qua các chỉ tiêu gồm: Tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian điều trị, tỷ lệ động dục trở lại sau khi tách lợn con, tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu tiên sau khi khỏi bệnh, lợn nái bằng ba phác đồ:
* Phác đồ 1: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1% ngày 1 lần, sau khi thụt rửa kích thích cho dung dịch thụt rửa chảy hết ra ngoài, dùng Cephachlor 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung; kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex Liệu trình điều trị không quá 5 ngày
* Phác đồ 2: Dùng 6 ml Oxytocin tiêm dưới da, thụt rửa tử cung 500ml dung dịch Lugol 0,1%, Cephachlor 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung ngày một lần; kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex Liệu trình điều không quá 5 ngày
* Phác đồ 3: Dùng Lutalyze một dẫn xuất của PGF2α tiêm dưới da 2ml (25mg), tiêm 1 lần; thụt rửa tử cung 500ml dung dịch Lugol 0,1%; dùng Cephachlor 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung ngày một lần; kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex Liệu trình điều không quá
3.4.2.5 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu các chỉ tiêu theo dõi được tập hợp và xử lý bằng phương pháp thống kê sinh vật học trên máy vi tính bởi phần mềm Excel
+ Thống kê mô tả dƣợc dùng trong nghiên cứu này để xác định:
- Giá trị trung bình: Mean - Sai số chuẩn: SD
- Độ lệch chuẩn: ð - Độ tin cậy: P
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN MÓNG CÁI NUÔI TẠI TRẠI LỢN ĐỨC CHÍNH - THÀNH PHỐ CAO BẰNG
4.1.1 Tuổi thành thục về tính
Một cá thể đƣợc coi là thành thục về tính nếu nhƣ bộ máy sinh dục đã căn bản hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh thể dịch con vật đã có phản xạ sinh dục Đối với con cái thì buồng trứng đã có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ tinh, tử cung con cái cũng có biến đổi phù hợp cho việc mang thai và sinh đẻ Những dấu hiệu đầu tiên ấy xuất hiện ở tuổi nhƣ vậy gọi là tuổi thành thục tính
Chúng tôi đã tiến hành theo dõi 226 cá thể lợn Móng Cái tại trang trại về chỉ tiêu tuổi thành thục về tính Kết quả đƣợc thể hiện trên bảng 4.1 và biểu diễn tại biểu đồ 4.1
Bảng 4.1 Tuổi thành thục về tính của lợn Móng Cái
Ngày tuổi Số động dục (con) Tỷ lệ (%)
Biểu đồ 4.1 Tuổi thành thục về tính của lợn Móng Cái
Tuổi thành thục về tính của đàn lợn Móng Cái nuôi tại trại lợn Đức Chính
- thành phố Cao Bằng tập trung cao nhất vào độ tuổi từ 171 đến 180 ngày với tỷ lệ 58,41%
Theo Lê Đình Phùng và Mai Đức Trung (2008) nghiên cứu khả năng sinh sản của giống lợn Móng Cái nuôi trong nông hộ tỉnh Quảng Bình thông báo tuổi thành thục về tính của lợn Móng Cái trung bình là 5,81 tháng tương đồng với kết quả nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của chúng tôi về chỉ tiêu tuổi thành thục về tính của giống lợn Móng Cái muộn hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Doanh (1994)
Hình 4.1: Lợn Móng Cái thành thục về tính 4.1.2 Tuổi phối giống lần đầu
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả theo dõi một số bệnh thường gặp trên đàn lợn móng cái ở các lứa tuổi
4.2.1 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con (từ sơ sinh đến cai sữa)
Qua quá trình theo dõi bệnh ghi chép trực tiếp tại trang trại kết hợp với số liệu sổ sách qua các năm, chúng tôi nhận thấy trên đàn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa thường mắc một số bệnh như bệnh lợn con phân trắng, viêm đường hô hấp, bệnh ngoại khoa
Kết quả theo dõi đƣợc thể hiện ở bảng 4.8 và biểu đồ 4.7
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con
(từ sơ sinh đến cai sữa)
Bệnh/Nhóm bệnh Số con theo dõi
Bệnh lợn con phân trắng 212 36 16,98
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn con (từ sơ sinh đến cai sữa)
Từ kết quả bảng 4.8 và biểu đồ 4.7 cho thấy: lợn ở lứa tuổi từ sơ sinh đến cai sữa thường mắc bệnh lợn con phân trắng chiếm tỷ lệ cao nhất 16,98% sau đó là đến bệnh viêm đường hô hấp 8,50% và thấp nhất là bệnh ngoại khoa 2,83% Theo chúng tôi sở dĩ tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng và tiêu chảy là khá cao đó là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Lợn Móng Cái mẹ thời kì mang thai thiếu dinh dƣỡng nhất là các khoáng chất và vitamin nhƣ: Fe, Ca, Co, Se, vitamin B12,… làm lợn Móng Cái con kém phát triển
- Lợn con sau khi sinh chỉ bú sữa mẹ thì sữa mẹ không cung cấp đủ lƣợng
Fe cần thiết để tạo máu ngày càng tăng của lợn con (trung bình thì sữa mẹ chỉ cung cấp cho lợn con khoảng 1mg Fe 2+ /ngày mà nhu cầu của lợn con là 7mg
- Do thay đổi thời tiết làm lợn bị strees làm giảm sức đề kháng, nhiệt độ quá lạnh cũng làm lợn con bị tiêu chảy
- Do thức ăn: thức ăn ôi mốc nhiễm bẩn, thay đổi thức ăn đột ngột làm lợn thích nghi không kịp dẫn đến lợn bị tiêu chảy
- Do vi khuẩn bội nhiễm từ ngoài vào hoặc vi khuẩn có sẵn trong cơ thể bùng phát nên gây ra hiện tƣợng tiêu chảy
Ngoài các nguyên nhân nhƣ trên thì còn các nguyên nhân sau cũng có thể gây nên tiêu chảy: lợn con không đƣợc bú sữa đầu, thức ăn quá nhiều đạm, kế phát từ các bệnh khác.v.v
- Do điều kiện vệ sinh dinh dƣỡng: nhân tố bẩm sinh do quá trình chăm sóc, nuôi dƣỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn có chửa, lợn mẹ bị thiếu chất dinh dƣỡng, thiếu khoáng chất (đặc biệt là các khoáng vi lƣợng và khoáng thiết yếu), thiếu các vitamin làm bào thai phát triển kém, do đó ấu súc mới sinh dễ bị bệnh phân trắng lợn con
- Do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng nhất là thiếu Fe Khi còn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn
- Do đặc điểm sinh lý lợn con: khi mới sinh, cơ thể lợn con chƣa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch Trong dạ dày lợn con thiếu axit HCL nên Pepsinnozen tiết ra không trở thành men Pepsin hoạt động đƣợc Khi thiếu pepsin, sữa mẹ không được tiêu hoá và bị kết tủa dưới dạng cazein, gây rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân màu trắng (màu của cazein chƣa đƣợc tiêu hoá) Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt của lợn con chƣa hoàn chỉnh, do vậy nó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh này lại hay xảy ra hàng loạt, ồ ạt khi khí hậu thời tiết thay đổi thất thường Do vi khuẩn đường ruột thường là kế phát Khi sức đề kháng của lợn con giảm, E.coli, Salmonella phát triển nhanh chóng gây bội nhiễm, tăng động lực gây bệnh Để phát hiện ra bệnh đòi hỏi người chăn nuôi phải quan sát màu sắc trạng thái phân và hậu môn lợn
Màu sắc phân có màu trắng, trắng xám tùy vào trạng thái bệnh và mức độ nặng nhẹ của bệnh
Trạng thái phân: lỏng có thể lẫn cả mảnh thức ăn chƣa tiêu, nhất là đối với lợn đã cai sữa
Lợn bị tiêu chảy sẽ gầy đi rất nhanh, dáng đi siêu vẹo, nếu không điều trị thì tỷ lệ chết khá cao, con nào qua khỏi sẽ rất chậm lớn và gầy còm Khi phát hiện ra ổ lợn bị tiêu chảy thì cần lùa lợn lại để bắt kiểm tra hậu môn từng con một
- Lợn kém bú, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo Lợn đi ỉa, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân Niêm mạc mắt lợn nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh Lợn rặn rất nhiều khi ỉa
Màu phân lúc đầu xanh đen sau đó chuyển sang sám rồi chuyển sang màu sám nhƣ cứt cò, có mùi tanh, khắm đặc trƣng Phân dính nhiều vào đít Lợn con bị bệnh thường hay khát nước, nên tìm nước bẩn trong chuồng uống, làm bệnh nặng thêm nếu không đảm bảo đủ nước sạch Đôi khi có lợn nôn ra sữa chưa tiêu hoá nên có mùi chua; bệnh kéo dài 2-4 ngày, lợn suy nhƣợc nhanh, co giật, run rẩy và chết Tỷ lệ chết khoảng 50-80% Thể kéo dài gặp nhiều ở lợn từ 22 ngày tuổi Bệnh có thể kéo dài từ 7-10 ngày Lợn con vẫn bú nhƣng giảm dần đi Phân màu trắng đục, trắng vàng Nhiều con, mắt có dử và vầng thâm xung quanh Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị không kịp thời lợn thường bị chết sau 1 tuần bị bệnh Lợn con từ 45-50 ngày vẫn còn bú mẹ cũng bị bệnh ỉa phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn Nếu bệnh kéo dài, lợn sẽ bị còi cọc
Hình 4.6 Lợn Móng Cái bị ỉa chảy
Hình 4.7 Phân lợn Móng Cái bị ỉa chảy
4.2.2 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn choai (từ cai sữa đến xuất bán giống)
Chúng tôi tiến hành điều tra, theo dõi 195 con lợn choai, ở giai đoạn này lợn Móng Cái chủ yếu mắc các bệnh: tiêu chảy, tụ huyết trùng, viêm đường hô hấp… Kết quả đƣợc thể hiện qua bảng 4.9 và biểu đồ 4.8
Bảng 4.9 Một số bệnh xảy ra trên đàn lợn choai
Tên bệnh/Nhóm bênh Số theo dõi
Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ nhiễm bệnh trên đàn lợn choai
Từ kết quả bảng 4.9 và biểu đồ 4.8 cho ta thấy: Ở lứa tuổi lợn choai (từ cai sữa đến khi xuất bán giống) thường mắc hội chứng tiêu chảy, bệnh viêm phổi, tụ huyết trùng và bệnh ngoại khoa Trong các bệnh xảy ra ở lứa tuổi lợn này thì hội chứng tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh đƣợc theo dõi là 19,49%; sau đó là đến bệnh tụ huyết trùng 8,21%; bệnh viêm phổi và bệnh ngoại khoa chiếm tỷ lệ thấp 6,15% và 5,13%
Theo chúng tôi sở dĩ đàn lợn Móng Cái mắc tiêu chảy với tỷ lệ cao đó là do ở lứa tuổi này lợn bị thay đổi từ đang bú sữa mẹ sang chế độ ăn mới nên làm con vật bị strees, làm giảm sức đề kháng do vậy lợn dễ mắc một số bệnh thông thường Đặc biệt có thể thức ăn ôi mốc nhiễm bẩn, thay đổi thức ăn đột ngột làm lợn thích nghi không kịp dẫn đến lợn bị tiêu chảy Để phát hiện ra bệnh đòi hỏi người chăn nuôi phải chịu khó gần gũi lợn, phải quan sát đàn lợn thường xuyên hàng ngày để phát hiện các dấu hiệu bất thường của lợn, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời
4.2.3 Kết quả theo dõi một số bệnh sinh sản thường gặp trên đàn nái sinh sản Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn Móng Cái, song song với nghiên cứu các chỉ tiêu sinh sản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất nhằm điều trị kịp thời đem lại hiệu quả trong chăn nuôi, nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái