Năm 2015 - 2016 bộ môn Rau Hoa Quả và Cảnh Quan, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã lựa chọn được một số dòng Lan Huệ có triển vọng tuy nhiên để phát triển được các dòng lan huệ này ra sản
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG KHIÊM
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN HOA LAN HUỆ VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU KHIỂN RA HOA LAN HUỆ TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
NĂM 2018-2019
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Minh Phượng
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Khiêm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Thị Minh Phượng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Rau – Hoa – Quả và Cảnh quan, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng II đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Khiêm
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1
1.2.1 Mục tiêu 1
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Giới thiệu chung về chi Hippeastrum 3
2.1.1 Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố 3
2.1.2 Đặc điểm thực vật học 3
2.1.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây Lan Huệ 5
2.1.4 Giá trị của cây hoa Lan Huệ 6
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa có củ trên thế giới và Việt Nam 9
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây cảnh và hoa có củ trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây cảnh và hoa có củ tại Việt Nam 11
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 12
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14
Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 17
3.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.2 Vật liệu nghiên cứu 17
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.3.1 Địa điểm 18
3.3.2 Thời gian 18
Trang 53.4 Nội dung nghiên cứu 18
3.5 Phương pháp nghiên cứu 18
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi 20
3.5.3 Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại: 22
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 22
Phần 4 Kết quả và thảo luận 23
4.1 Điều tra hiện trạng sản xuất hoa lan huệ tại văn giang, hưng yên ( cụ thể ở 2 xã phụng công và xuân quan ) 23
4.1.1 Tình hình sản xuất chung 23
4.2 Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của tập đoàn lan huệ 2018 – 2019 tại Gia Lâm – Hà Nội 27
4.2.1 Biến động chiều cao cây của một số dòng lai Lan huệ có triển vọng 27
4.2.2 Biến động số lá trên câymẹ của một số dòng lai Lan huệ có triển vọng 30
4.2.3 Chu vi củ của một số dòng lai Lan huệ có triển vọng 33
4.2.4 Biến động số củ con/củ mẹ của một số dòng lai Lan huệ có triển vọng 36
4.2.5 Tình hình sâu bệnh hại của các dòng lai Lan huệ có triển vọng 39
4.2.6 Đặc điểm ngồng hoa của các dòng lan huệ năm 2019 41
4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm xử lí lạnh đến thời gian ra hoa và chất lượng hoa lan huệ Hồng Đào 47
4.3.1 Chất lượng củ Lan huệ trước và sau khi xử lí lạnh 47
4.3.2 Thời gian xuất hiện ngồng và thời gian nở hoa 48
4.3.3 Đặc điểm hoa Lan huệ Hồng đào 49
Phần 5 Kết luận và đề nghị 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 51
Tài liệu tham khảo 52
Phụ lục 54
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng giá một số giống Lan Huệ nội năm 2018 tại Việt Nam 8
Bảng 3.1 Một số dòng lai Lan Huệ đã được lai tạo năm 2015 17
Bảng 4.1 Chủng loại cây trồng được sản xuất tại Văn Giang 23
Bảng 4.2 Chủng loại giống hoa Lan Huệ được sản xuất tại Văn Giang 25
Bảng 4.3 Tiêu chí đánh giá một giống/loài hoa Lan Huệ đẹp của các nhà sản xuất 26
Bảng 4.4a: Biến động chiều cao cây của các dòng lai Lan Huệ cánh kép có triển vọng lựa chọn năm 2018 28
Bảng 4.4b: Biến động chiều cao cây của các dòng lai Lan Huệ cánh đơn có triển vọng lựa chọn năm 2018 29
Bảng 4.5a: Biến động số lá trên cây mẹ của các dòng lai Lan huệ cánh kép có triển vọng lựa chọn năm 2018 31
Bảng 4.5b: Biến động số lá trên cây mẹ của các dòng lai Lan huệ cánh đơn có triển vọng lựa chọn năm 2018 32
Bảng 4.6a: Chu vi củ của các dòng lai Lan huệ cánh kép có triển vọng lựa chọn năm 2018 34
Bảng 4.6b: Chu vi củ của các dòng lai Lan huệ cánh đơn có triển vọng lựa chọn năm 2018 35
Bảng 4.7a: Biến động số củ con/củ mẹ của các dòng lai Lan huệ cánh kép có triển vọng lựa chọn năm 2018 37
Bảng 4.7b: Biến động số củ con/củ mẹ của các dòng lai Lan huệ cánh đơn có triển vọng lựa chọn năm 2018 38
Bảng 4.8 Tình hình sâu bệnh hại của các dòng lai Lan huệ có triển vọng lựa chọn năm 2018 40
Bảng 4.9 Động thái tăng trưởng kích thước ngồng hoa của các dòng lan huệ qua thời gian theo dõi 42
Bảng 4.10a Một số dặc điểm độ bền, mùi hương của các dòng lan huệ lai cánh đơn 43
Bảng 4.10b Một số dặc điểm độ bền, mùi hương của các dòng lan huệ lai cánh kép 44
Bảng 4.11 Một số dòng Lan Huệ được lựa chọn năm 2019 45
Bảng 4.12 Một số chỉ tiêu chất lượng củ lan huệ Hồng Đào trước và sau xử lý lạnh cho dịp Tết Nguyên Đán 47
Trang 7Bảng 4.13 Tỉ lệ củ lan huệ Hồng Đào sau xử lý lạnh ra hoa và nở hoa đúng dịp
Tết Nguyên Đán 48 Bảng 4.14 Đặc điểm ngồng hoa Lan Huệ Hồng Đào sau khi xử lý 50 Bảng 4.15 Đặc điểm hoa Lan Huệ Hồng Đào sau khi xử lý 50
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tổng chi phí tiêu dùng cho người trồng hoa và vườn ươm tại Mỹ 9
Hình 2.2 Sự thay đổi thị phần xuất khẩu hoa cắt cành của các nước trên thế giới năm 2005 - 2015 10
Hình 4.1 Bệnh thối củ do nấm trên cây Lan Huệ 41
Hình 4.2 Một số dòng Lan Huệ được lựa chọn năm 2019 46
Hình 4.3 Cân khối lượng củ 47
Hình 4.4 Bọc củ cho vào kho lạnh 47
Hình 4.5 Củ được phơi khi lấy ra khỏi kho lạnh 48
Hình 4.6 Chuẩn bị đất trồng củ 49
Hình 4.7 Củ lên ngồng 49
Hình 4.8 Củ trồng trong chậu 49
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Khiêm
Tên luận văn: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của tập đoàn hoa Lan Huệ và
kĩ thuật điều khiển ra hoa Lan Huệ tại Gia Lâm - Hà Nội năm 2018 - 2019
Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp bố trí thí nghiệm: điều tra qua quá trình phỏng vấn và trao đổi trực tiếp; bố trí thí nghiệm tuần tự không nhắc lại; bố trí 3 lần nhắc lại
* Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi,
* Phương pháp theo dõi tình hình sâu, bệnh hại: Đối tượng sâu, bệnh hại, thời
gian xuất hiện (ngày, tháng), bộ phận bị hại: hoa, lá
* Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2013, phần
mềm IRRISTAT 5.0
Kết quả chính và kết luận
Chỉ có 11/40 hộ điểu tra tại hai xã Phụng Công và xã Xuân Quan có sản xuất hoa Lan Huệ, với các giống phổ biến như đỏ dại, cam thơ, hồng sọc hay trắng và hầu như rất ít hộ sản xuất các loại giống mới Kỹ thuật áp dụng dựa theo kinh nghiệm Có 1/11 hộ sử dụng biện pháp nhân giống bằng chẻ củ trong khi đó 2/11 hộ đã biết áp dụng biện pháp xử lý ra hoa dịp Tết
Mặc dù đạt được những thuận lợi về mặt tự nhiên, khí hậu nhưng những khó khăn mà những hộ sản xuất mắc phải đó chính là nguồn cây giống còn nhiều hạn chế, giá thành củ giống ngoại cao, đầu ra của sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn
Các dòng lan huệ lai cánh đơn và cánh kép có khả năng năng sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu Hà Nội Trong các dòng theo dõi, TH43-03 có chiều cao cây lớn nhất (117cm), TH49-02 có tổng số lá lớn nhất 8 (lá) Dòng TH96-01
có chiều cao và đường kính ngồng hoa cao nhất (56cm và 2,2cm), dòng TH22-13 có chiều cao và đường kính ngồng hoa thấp nhất (13cm và 1,4cm )
Trang 10Trong năm 2019, thời điểm xử lý lạnh tốt nhất để điều khiển giống Lan huệ Hồng Đào ra hoa vào dịp Tết Nguyên Đán là 19 tuần trước Tết, tỉ lệ củ nở đúng Tết là 85%
Trang 11THESİS ABSTRACT
Master candidate: Hoang Khiem
Thesistitle: Evaluation the characteristics of growth and development of Hippeastrum
equestre Herb flower group and control techniques of Hippeastrum equestre Herb
flowering in Gia Lam - Hanoi in 2018 – 2019
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
On the basis of research, to select a number of beautiful Hippeastrum equestre Herb flowers strain as cut flowers, rugs flowers with prospects for production and
contribute to building a process of controlling Hippeastrum equestre Herb flowering in
Northern Vietnam
Materials and Methods
* Method of experimental layout: investigating through interviews and direct
exchanges; arrange sequential experiments without repeating; arrange 3 repetitions
* Method of identifying monitoring indicators
* Method of monitoring grubs and disease situation: grubs and diseases object,
time of occurrence (day, month), affected parts: flowers, leaves
* Method of data processing: Using Microsoft Excel 2013 software, IRRISTAT
5.0 software
Main findings and conclusions
Only 11/40 surveyed households in Phung Cong and Xuan Quan communes
produce Hippeastrum equestre Herb flowers, with common varieties such as wild red,
oranges poem, pink or white stripes and almost very few households produce new varieties Technology based on experience There is 1/11 household using the method of propagating by splitting the tuber, while 2/11 households know how to apply the treatment for flowering on Tet holiday
Despite gainning the the advantages about naturally, the climate but the difficulties that households face are that the source of seedlings is limited, the price of foreign tubers is high, the output of the product faces many difficulties
The strains of single-winged and double-winged hybrid orchids Hippeastrum
equestre Herb are capable of growing and developing well in Hanoi's climatic
Trang 12conditions In the monitoring strains, TH43-03 has the largest tree height (117cm), TH49-02 has the largest number of leaves 8 (leaves) The TH96-01 strain has the highest height and diameter of flower buds (56cm and 2.2cm), the TH22-13 strain has the lowest height and diameter of flower buds (13cm and 1.4cm)
In 2019, the best time of cold treatment to control Hippeastrum equestre
Herb.Hong Dao varieties to flower on the occasion of Chinese New Year is 19 weeks before Tet, the rate of tubers blooming on the correct Tet is 85%
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, ngày nay, khi đã có cuộc sống vật chất đầy đủ con người sẽ quan tâm đến đời sống tinh thần nhiều hơn Để phục vụ đời sống tinh thần của mình nhiều người đã chọn cho mình những thú chơi khác nhau Trong đó, không thể không kể đến giá trị tinh thần mà các loài hoa mang lại Hoa cây cảnh ngày càng trở nên gần gũi và được con người sử dụng nhiều hơn
Những năm gần đây, Lan Huệ (Hippeastrum Herb.) là một trong những loài
hoa được yêu thích và rất có tiềm năng phát triển Lan Huệ được trồng khá phổ biến
để làm cảnh do hoa bền, màu sắc đa dạng Nhu cầu chơi hoa Lan Huệ ngày càng cao, nhiều giống hoa Lan Huệ mới được nhập nội và được thị trường chấp nhận Năm 2015 - 2016 bộ môn Rau Hoa Quả và Cảnh Quan, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã lựa chọn được một số dòng Lan Huệ có triển vọng tuy nhiên để phát triển được các dòng lan huệ này ra sản xuất cần tiếp tục đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của chúng qua đó lựa chọn các dòng lai có các tính trạng phù hợp thị trường Việt Nam có thể sử dụng làm hoa chậu, hoa cắt hoặc hoa thảm
Lan Huệ là loại cây có củ sinh trưởng mùa Hè, ngủ nghỉ mùa Đông và ra hoa vào cuối Xuân hoặc đầu Hè Cho đến nay, người dân đa số vẫn điều khiển ra hoa Lan Huệ bằng phương pháp thủ công như cắt lá, cắt rễ, để khô Ở miền Bắc Việt Nam chỉ có 10-15% các loại hoa có củ được điều khiển ra hoa, thậm chí nhiều nơi
củ thường nở hoa sau tết Do vậy việc nghiên cứu các kỹ thuật điều khiển ra hoa ở Lan Huệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc phát triển cây Lan Huệ thành một trong những loại hoa có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam và các nước trên thế giới Với
những vấn đề bức thiết nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Đánh giá đặc điểm
sinh trưởng, phát triển của tập đoàn hoa Lan Huệ và kỹ thuật điều khiển ra
hoa Lan Huệ tại Gia Lâm - Hà Nội năm 2018 - 2019 ”
1.2 MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu, lựa chọn ra một số dòng hoa Lan Huệ đẹp làm hoa cắt, hoa thảm có triển vọng cho sản xuất và góp phần xây dựng quy trình điều khiển ra hoa Lan Huệ ở miền Bắc Việt Nam
Trang 141.2.2 Yêu cầu
- Điều tra được thực trạng sản xuất hoa Lan Huệ tại Văn Giang, Hưng Yên (xã Xuân Quan, Phụng Công)
- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của tập đoàn Lan Huệ lai
- Xác định được thời điểm xử lí ra hoa phù hợp cho giống Lan Huệ Hồng Đào ra hoa đúng dịp tết Nguyên Đán 2019
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI HIPPEASTRUM
2.1.1.Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố
Chi Hippeastrum có khoảng 90 loài, hơn 600 giống lai Đến tháng 11 năm
2013 có 91 loài Hippeastrum đã được chọn lựa và chấp nhận trong danh sách Kew World Checklist of Selected Plant Families Chúng có nguồn gốc từ vùng á nhiệt đới châu Mỹ, phân bố rộng từ đông Brazil đến miền Nam dãy Andes thuộc Peru, Argentina và Bolivia (Phạm Thị Minh Phượng và cs., 2014) Một số loài
mở rộng về phía bắc đến Mexico và Tây Ấn Do có khả năng chịu nhiệt tốt nên hoa Lan Huệ được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Thời gian gần đây hoa Lan Huệ đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm, định hướng cho việc nghiên cứu xử lý ra hoa sớm để trồng chậu trong dịp Giáng sinh và năm mới
ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Ở mỗi vùng miền khác nhau,
do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái nên có sự khác nhau
về màu sắc, hình dáng, hương thơm…đã tạo nên sự đa dạng loài
(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Hippeastrum)
Tại Việt Nam, Lan Huệ có hai loài phổ biến là Lan Huệ (Hippeastrum
equestre Herb.) và Lan Huệ mạng (Hippeastrum reculatum Herb.) với màu sắc
hoa tương ứng là màu đỏ và hồng sọc (Trịnh Thị Mai Dung, 2015) Ngoài ra còn
có một dưới loài và nhiều giống lai được nhập nội và trồng trọt từ lâu (Phạm Thị Minh Phượng, 2016)
2.1.2 Đặc điểm thực vật học
2.1.2.1 Đặc điểm hình thái
Hippeastrum là một trong những chi có tiềm năng phát triển của Lilliaceae
Chi này rất đa dạng,phong phú về hình thái, màu sắc hoa, rất thích hợp để trồng
Trang 16làm cắt cành, trồng chậu hoặc trồng thảm (Trịnh Thị Mai Dung, 2015) Những
cây thuộc chi Hippeastrum là những cây thân thảo, chủ yếu là cây lâu năm Một
sự kết hợp của nhiều đời, số lượng vẩy củ càng nhiều, sinh trưởng tốt thì cây càng phát triển tốt, chất lượng hoa tốt Thân dạng hình cầu hoặc hơi dẹt, các lớp trong của thân có màu xanh non hay trắng ngà, giòn và chứa nước, lớp ngoài cùng có màu nâu còn gọi là lớp áo Một củ già gồm: đế củ, vảy già, vảy mới ra, trục thân sơ cấp, trục thân thứ cấp và đỉnh sinh trưởng Vảy già bên ngoài tạo thành lớp áo mỏng bảo vệ củ (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
Lá: Lá song đính, tập trung ở gốc gần như thành 2 dãy, lá dày, rộng từ 2-5
cm phiến lá hình dải, hình kiếm, hoặc hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, dài, cứng, có nhiều gân song song (Trịnh Thị Mai Dung, 2015)
Hoa: Hoa Lan Huệ mọc thành cụm hoa tán có từ 2 đến nhiều hoa Mỗi bông hoa có một cuống riêng và đều nằm trên một trục hoa Trục hoa (ngồng hoa) có hình trụ, thẳng đứng, rỗng trong , dài từ 25 - 70 cm, đường kính từ 1,5 - 4,0 cm
Lá bắc tổng bao dạng mo, gồm 2 cái, mỏng, tồn tại và khi hoa nở lá bắc khô Hoa Lan Huệ là hoa lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, có cuống, bao hoa hình phễu, nằm ngang, dạng tràng Hoa Lan Huệ có 2 dạng: hoa Lan Huệ cánh đơn với 6 đài hoa (3 lá đài bên ngoài, ba cánh hoa bên trong, có vẻ ngoài tương tự như nhau (Kathie Carter, 2007) và hoa Lan Huệ cánh kép hoặc bán kép với nhiều cánh hoa xếp từ 3 lớp cánh trở lên Về màu sắc hoa Lan Huệ có màu sắc đa dạng, phong phú như đỏ, hồng, cánh sen, cam, vàng, xanh nhạt…nhưng phổ biến nhất vẫn là
đỏ dại, đỏ sọc trắng, hồng đào, đỏ nhung và trắng Sự sắp xếp màu trên cánh hoa được tạo nên bởi các đường kẻ sọc, vân hoa, chấm màu làm cho màu sắc của các dạng hoa Lan Huệ lai ngày càng phong phú Hoa Lan Huệ có mùi thơm nhẹ hoặc không mùi Hoa Lan Huệ thường có 6 nhị (hoa cánh đơn) hoăc ít hơn 6 (hoa cánh
Trang 17kép), chỉ nhị tách rời nhau, đính ở họng ống bao hoa Bao phấn được chia làm 2
ô, đính lưng vào nhau, hướng trong, mở bằng khe dọc Bầu hạ, 3 ô, mỗi ô có nhiều noãn, đính noãn trung trụ Vòi nhụy dài, mảnh, đầu nhụy dạng đầu hoặc 3 thùy (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) Ở các dòng Lan Huệ cánh kép, nhị và nhụy có xu hướng biến đổi thành cánh hoàn toàn hoặc không hoàn toàn, nhị biến đổi không hoàn toàn thường ngắn hơn hoặc biến dạng, bao phấn dính ở mép cánh Hoa Lan Huệ từ khi nở đến khi héo khoảng 5-10 ngày, lúc đầu nở 2 nụ vài ngày sau nở 2
nụ còn lại
Quả và hạt: Quả nang hình cầu hoặc hơi dẹt, mở ở khe lưng ô thành 3 mảnh, trong quả chứa nhiều hạt, hình dẹt, màu đen, nội nhũ hạt bao lấy phôi nhỏ, xung quanh hạt có lớp cánh mỏng (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
2.1.2.1 Đặc điểm sinh trưởng
Đa số các loài trong chi Hippeastrum thường ra hoa vào lúc thời tiết mát
mẻ Cây thường ra hoa trong khoảng đầu tháng 2 đến hết tháng 5, nở tập trung vào cuối tháng 3 đến giữa tháng 4 (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014)
Đối với Lan Huệ được trồng từ hạt, thời gian từ lúc gieo trồng đến lúc ra hoa dao động trong khoảng 3 năm thậm chí dài hơn Kích thước củ cũng cho biết khả năng ra hoa của các giống Lan Huệ Đối với Lan Huệ được trồng từ củ, phải tùy thuộc vào giống, kích thước củ, số lá trên cây và chế độ chăm sóc để biết được thời gian ra hoa và số ngồng/củ Thông thường, một củ cần phải ra ít nhất 4
lá to, khỏe vào năm trước thì mới có khả năng cho 1 ngồng hoa vào năm sau; kích thước củ càng to càng cho nhiều ngồng hoa hơn củ có kích thước bé, cây có thể cho 3 đến 4 ngồng trong một vụ nếu củ to và được chăm sóc tốt Các ngồng hoa trên một cây thường không xuất hiện cùng một thời điểm mà xuất hiện rải rác cách nhau vài ngày hoặc vài tuần Số lượng hoa trên một ngồng cũng có sự khác biệt, thậm chí đặc điểm hoa trên một củ cũng có sự khác nhau như hoa cánh đơn, hoa cánh kép, màu sắc và kích thước cánh hoa… đó là tùy thuộc vào sự ổn định của giống (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014)
2.1.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây Lan Huệ
2.1.3.1 Nhiệt độ
Lan Huệ là một loài cây dễ tính, có khả năng chịu nóng, ưa lạnh và ẩm Nhiệt độ thích hợp từ 20 - 280C vào ban ngày và 13 - 170C vào ban đêm, khi nhiệt độ thấp hơn 50C hoặc cao hơn 300C sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả
Trang 18năng ra hoa của cây Nhiệt độ thấp có lợi cho sự sinh trưởng của rễ và sự phân hóa hoa Nhiệt độ trung bình ấm áp (22 - 280C) có lợi cho sự phát triển của hoa Nhiệt độ thấp (180C) làm tăng độ bền hoa (Kathie Carter, 2007)
2.1.3.2 Ánh sáng
Lan Huệ có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nên cây Lan Huệ có thể sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện chiếu sáng đầy đủ và thường xuyên, cường độ ánh sáng thích hợp khoảng 12.000 - 15.000 lux Trong điều kiện tối thích cây sẽ sinh trưởng tốt về thân lá, ngồng hoa cứng cáp, phát triển nhanh, cân đối, nhanh cho hoa Ngoài ra chúng có thể thích nghi được cả trong điều kiện bóng râm với mức chiếu sáng cần thiết khoảng 6 giờ/ngày Tuy nhiên nếu sinh trưởng trong điều kiện thiếu ánh sáng lâu ngày dễ bị rệp sáp gây hại (Nguyễn Thị Nhung, 2017)
2.1.3.3 Nước
Lan Huệ là là cây có khả năng chịu hạn tốt nhưng chịu úng kém Độ ẩm cần thiết cho Lan Huệ sinh trưởng, phát triển dao động từ 50-90% Vào mùa ra hoa là thời điểm cây yêu cầu lượng nước cao, đây là lúc cây cần nước để phát triển ngồng, nếu thời kì này độ ẩm quá thấp ngồng hoa có thể có hiện tượng còi cọc, cánh hoa mỏng, yếu và màu sắc hoa không tươi (Arroyo S ,1982)
2.1.3.4 Đất và dinh dưỡng
Lan Huệ thích hợp trồng trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, không chứa mầm bệnh, có độ pH từ 6,0-6,8 Đất giàu chất hữu cơ sẽ giúp cho cây sinh trưởng, phát triển tốt nhất Phân hữu cơ và phân tổng hợp nên được cung cấp đầy đủ cho cây trong giai đoạn sau khi hoa héo để bổ sung dinh dưỡng nuôi củ Ngoài ra, nên bổ sung thêm nguồn dinh dưỡng qua lá trong giai đoạn ra hoa để hoa có màu sắc tươi đẹp và độ bền lâu hơn Nên bón cho cây 2 tuần/lần đối với phân hữu cơ và 1 tháng/lần đối với phân tổng hợp Hàm lượng muối trong đất không được cao hơn 1,5mg/cm2, lượng hợp chất Clo không vượt quá 1,5 mol/lít nếu không sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của Lan Huệ (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014)
2.1.4 Giá trị của cây hoa Lan Huệ
2.1.4.1 Giá trị thẩm mỹ
Trên thế giới, hoa Lan Huệ được trồng phổ biến tại nhiều khu vực bởi chúng có ưu điểm là hoa to, đẹp, đa dạng về màu sắc Lan Huệ có thể sử dụng
Trang 19làm hoa cắt cành, hoa trồng chậu hoặc trồng thảm giúp mang lại vẻ đẹp đặc sắc cho khu vực cảnh quan tại nơi trồng Hoa cũng có thể được sử dụng trong ngày
lễ, tết, được trang trí trong nội thất, hoặc làm quà tặng rất trang trọng Nhiều giống hoa mang hương thơm dịu nhẹ, màu sắc thanh nhã, làm tăng vẻ đẹp, tăng sức sống cho căn nhà (Đặng Văn Quy, 2018)
Tại Việt Nam, vẻ đẹp của Lan Huệ cùng ý nghĩa may mắn của nó đã khiến cho nhiều người chơi hoa đón nhận và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau từ các giống bản địa, các giống mới được lai tạo và cả giống nhập nội Cây Lan Huệ được người chơi sử dụng với nhiều hình thức khác nhau như hoa cắt cành cắm lọ, giỏ hoa, thảm hoa thậm chí là củ cũng được trang trí và đưa vào sử dụng Nhiều người chơi hoa đã xem Lan Huệ như người bạn tri kỉ của mình và hết lòng chăm bón, giữ gìn Ngoài ra, Lan Huệ cũng được xem như là cầu nối gắn kết nhiều người yêu hoa từ nhiều vùng miền khác nhau để cùng nhau trao đổi, mua bán, quảng bá vẻ đẹp của Lan Huệ
2.1.4.2 Giá trị y dược
Trong đông y, Lan Huệ là một vị thuốc quan trọng vì củ có vị ngọt cay, có tác dụng tán ứ, tiêu thũng (Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi, 2006) Thân hành của cây có thể dùng giã nát để đắp cầm máu và trị tổn thương khi trầy xước da Bên cạnh đó, Lan Huệ là một trong những loài hoa có tiềm năng phát
triển của chi Hippeastrum do củ có chứa các biệt dược giá trị như các loại
alkaloids, lectins Trong số các Alkaloids, lycorine là chất được chú ý nhất khi có thể trị bệnh thấp khớp Các alkaloids trong Lan Huệ đang được nghiên cứu về một số tác động dược học (Đặng Văn Quy, 2018)
2.1.4.3 Giá trị kinh tế
Ngày nay, con người đã đi vào khai thác tiềm năng của cây Lan Huệ và đưa
nó trở thành sản phẩm thương mại có giá trị kinh tế cao Trên thế giới đã có nhiều nước như Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Mỹ, Brazilia… nghiên cứu và phát triển loại hoa này, Lan Huệ đang dần trở thành một trong những loại hoa có củ có thị trường lớn Việc sản xuất, kinh doanh Lan Huệ đã mang lại nguồn lợi nhuận cao cho người sản xuất
Tại Việt Nam những năm gần đây, Lan Huệ ngày càng được nhiều người biết đến, góp phần làm cho thị trường hoa Lan Huệ ngày càng lớn mạnh trong cộng đồng những người chơi hoa Cả các giống bản địa và các giống nhập nội đều được sử
Trang 20dụng rộng rãi với nhiều mục đích khác nhau như các giống bản địa được sử dụng để trồng thảm, trồng viền, trồng bồn trong cảnh quan còn các giống nhập nội được sử dụng để làm cảnh, trồng chậu , vì vậy đã tạo cơ hội để các nhà sản xuất phát triển loại hoa này Trước đây việc mua bán Lan Huệ còn nhỏ hẹp, đơn lẻ trong phạm vi
hộ gia đình, hội nhóm thì bây giờ phạm vi mua bán đã được mở rộng với quy mô nhà vườn, cơ sở sản xuất chuyên biệt… và thậm chí còn vươn ra tầm quốc tế Như vậy, Lan Huệ rất là loại cây có tiềm năng kinh tế lớn, từ đó, việc sản xuất Lan Huệ
sẽ ngày càng phát triển và đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất
Bên cạnh đó, một số loại Lan Huệ được lai tạo tại Việt Nam có giá dao động từ 50.000 - 200.000 đồng cho một củ giống có chu vi từ 10 - 12 cm và giá -
từ 150.000 - 300.000 đồng cho một củ trưởng thành (Nhóm Giao lưu - mua bán Lan Huệ Việt Nam, 2018)
Bảng 2.1 Bảng giá một số giống Lan Huệ nội năm 2018 tại Việt Nam
(cm)
Giá bán
lẻ (VNĐ)
(cm)
Giá bán
lẻ (VNĐ)
14 Double King 26/28 220.000 29 Dancing Queen 26/28 240.000
Nguồn: Nhóm Giao lưu - mua bán Lan Huệ Việt Nam (2018)
Trang 212.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ HOA CÓ CỦ TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây cảnh và hoa có củ trên thế giới
Sản xuất kinh doanh hoa cây cảnh trên thế giới ngày càng phát triển Tại
Mỹ, tổng chi phí đầu tư cho ngành này của những người trồng hoa và vườn ươm đang tăng dần qua từng năm Như kết quả khảo sát được đưa ra trong bảng 2.1, trong giai đoạn 10 năm từ năm 2010 đến năm 2015, chi phí đầu tư cho việc sản xuất hoa cây cảnh tại Mỹ đã tăng gần 10 triệu USD
Hình 2.1 Tổng chi phí tiêu dùng cho người trồng hoa và
vườn ươm tại Mỹ
Nguồn: U.S Bureau of Economic Analysis (2016)
Tình hình sản xuất hoa cây cảnh trên thế giới ngày nay có nhiều chuyển biến Những nước sản xuất hoa - cây cảnh vốn nổi tiếng như Hà Lan, Pháp nay
đã trở thành những nước nhập khẩu và cũng là thị trường tiêu thụ Thay vào đấy, những nước đang phát triển, nơi lao động đang còn rẻ và giá trị đất chưa cao như Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Do Thái, Ấn Độ, Colombia, Kenya, Ethiopia và Ecuador lại trở thành những nước sản xuất và xuất khẩu Về mặt địa lý, có thể nói Nam Phi, Kenya là xuất khẩu hoa - cây cảnh lớn sang Âu châu trong khi Colombia là nước chủ chốt xuất khẩu sang Hoa kỳ Ở Châu Á, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan và gần đây Trung Quốc là những nước xuất khẩu, phần lớn sang Nhật Bản (Phạm Đức Trọng, 2014)
Trang 22Sản phẩm hoa cây cảnh gồm 4 nhóm chính: hoa có củ, hoa cắt cành, lá cảnh, cây hoa trồng chậu Hoa cắt cành luôn là nhóm chính trong thị trường hoa.Với sự kết hợp của sản xuất hoa trong nước và hoa nhập khẩu, Hà Lan là một thị trường trung tâm chi phối cho thương mại hoa cắt toàn cầu Tuy nhiên, thị phần xuất khẩu hoa cắt cành của Hà Lan trong toàn cầu giảm từ 50% năm 2005 xuống còn 43% năm 2015 Trong khi thị phần xuất khẩu hoa cắt cành của các nước Kenya, Ecuador, Ethiopia, Colombia và Malaysia có xu hướng tăng rõ rệt Điều này được thể hiện trong hình 2.2 dưới đây
Hình 2.2 Sự thay đổi thị phần xuất khẩu hoa cắt cành của các nước trên thế
giới năm 2005 - 2015
Nguồn: U.S Bureau of Economic Analysis (2016)
Ngành sản xuất và kinh doanh hoa có củ có nguồn gốc từ Hà Lan Hà Lan
là nước sản xuất và xuất khẩu hoa có củ lớn nhất thế giới, với trên 22.000 ha (chiếm hơn 60% nguồn cung trên thế giới), đạt khoảng 8,5 tỷ củ hoa được sản xuất mỗi năm, theo sau đó là các nước Israel, Columbia và Ecuador Hiện nay, việc sản xuất và tiêu thụ các loại hoa có củ chủ yếu là tulip, hoa ly, tiên ông, các loại thủy tiên, thược dược, lay ơn,… tuy nhiên, một số loài hoa có củ khác cũng được chú trọng sản xuất Giá trị xuất khẩu hoa có củ đã tăng khoảng 7% lên xấp
xỉ 900 triệu euro trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2015 Xuất khẩu hoa có củ cho các nước không thuộc EU tăng nhanh hơn (hơn 10%) trong giai đoạn này
Trang 23Đức là thị trường lớn nhất của Hà Lan Năm 2015, Đức đã mua số củ hoa có trị giá hơn 118 triệu Euro từ Hà Lan Với giá trị xuất khẩu chỉ hơn 109 triệu Euro,
Mỹ là thị trường lớn thứ hai (Phạm Đức Trọng, 2014)
Lan Huệ được trồng phổ biến ở các nước Nam Phi, Brazil và gần đây là Israel Theo số liệu đã công bố, Brazil và Peru là nơi sản xuất lớn nhất cung cấp cho toàn thế giới Hàng năm Brazil sản xuất khoảng 17 triệu củ Lan Huệ, trong
đó 60% số củ được sử dụng cho xuất khẩu, 40% còn lại phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước Trong đó 92% số củ được xuất sang Hà Lan, Hoa Kỳ 5%, Canada 2% (Rina Kamenetsky & Hiroshi Okubo, 2012)
2.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây cảnh và hoa có củ tại Việt Nam
Nghề sản xuất hoa cây cảnh ở Việt Nam có từ lâu đời nhưng nó chỉ được coi là một ngành kinh tế và có giá trị hàng hoá từ những năm 1980 Cũng như một số ngành trên thế giới, ngành kinh tế này có tốc độ phát triển khá nhanh Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi để có thể phát triển nhiều loại hoa cây cảnh Chúng ta đang sở hữu nhiều loài hoa đa dạng, từ các loài hoa xứ nhiệt đới được trồng ở các vùng đồng bằng đến hoa xứ lạnh trồng trên các cao nguyên và vùng núi Diện tích trồng hoa cây cảnh của nước ta tăng hàng năm, cả nước có gần 35.000 ha (2014), phân bố đều ở trên cả nước Trong vòng 10 năm
từ 2005 - 2015, diện tích hoa đã tăng 2,3 lần, giá trị sản lượng tăng 7,2 lần Thu nhập trên một đơn vị (ha) tăng gấp 3 lần, hình thành nhiều ô hình trồng hoa đạt từ
800 triệu đến 2,5 tỷ đồng/ha (Trung tâm khuyến nông Quốc gia, 2016)
Việc sản xuất, kinh doanh hoa có củ đang là xu thế tại Việt Nam trong những năm gần đây Với một số loại giống hoa có củ như lay ơn, lily, Lan Huệ, tulip, tiên ông thị trường hoa cây cảnh Việt Nam đã trở nên đa dạng và sôi động hơn rất nhiều, đặc biệt là vào các dịp lễ Tết
Trước năm 2000, lily chủ yếu được trồng ở Đà Lạt, sau năm 2001, lily bắt đầu lan ra miền Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Mộc Châu, Sơn La, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình,…) Hoa lily được người dân sử dụng nhiều trong tất cả các ngày trong năm, mỗi năm thị trường Việt Nam yêu cầu tới hàng chục triệu bông lily Hoa tulip thì thường được sử dụng vào dịp Tết (Phạm Đức Trọng, 2014) Trong các năm gần đây, thị trường hoa Tết tại Việt Nam ngày càng đa dạng hơn, không khó để nhận ra rằng hoa có củ đã chiếm một phần lớn thị trường hoa Tết như lily, lay ơn, tiên ông, tulip… Chúng rất được ưa chuộng và nhận được sự yêu
Trang 24thích của người chơi hoa, điều này cũng giúp cho những người sản xuất đầu tư vào sản xuất thêm nhiều loại hoa có củ với số lượng lớn để phục vụ cho thị trường hoa tại Việt Nam Tuy nhiên, những loài hoa này cũng có những nhược điểm hạn chế cho người chơi như: hoa lily hiện nay trên thị trường màu sắc chưa
đa dạng, chủ yếu là màu hồng, vàng, cam; hoa lay ơn tương tự với màu đỏ, vàng, cam; hoa Tiên ông hình dáng hạn chế nên chỉ có thể sử dụng trồng trong bình thủy tinh; hoa tuylip cũng có màu sắc không đa dạng và có độ bền hoa ngắn… Vì vậy, với màu sắc, kiểu dáng đa dạng, độ bền hoa cao,… Lan Huệ hứa hẹn sẽ là một loại hoa tiềm năng trong thị trường hoa cây cảnh Việt Nam
Việc sản xuất kinh doanh Lan Huệ ngày càng được mở rộng quy mô tại Việt Nam thông qua các nhà vườn, cơ sở sản xuất chuyên biệt, các nhóm hội… Dẫn đầu là các cơ sở sản xuất tại Đà Lạt (Lâm Đồng), Sa Đéc (Đồng Tháp)… tuy nhiên chủ yếu là những giống Lan Huệ nội, màu sắc chưa thực sự bắt mắt và giá trị kinh tế chưa cao Giá bán của một số giống Lan Huệ tại Việt Nam dao động trong khoảng từ 10.000 đồng (giống bản địa) đến 450.000 đồng (giống nhập nội) Nhiều người chơi hoa trong nước vì muốn thu thập nhiều loại Lan Huệ mới lạ mà sẵn sàng chi trả số tiền lớn để nhập nội các giống từ nước ngoài, vì vậy đã tạo điều kiện để nhiều cơ sở kinh doanh Lan Huệ ngoại với mức giá hợp lý
Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, mạng xã hội và các loại hình chuyển phát nhanh… Lan Huệ ngày càng được nhiều người biết đến rộng rãi, giúp cho việc sản xuất, kinh doanh Lan Huệ thêm phát triển từng ngày Tại mạng
xã hội Facebook, các hoạt động quảng bá, mua bán, trao đổi Lan Huệ diễn ra rất sôi nổi hằng ngày Người bán tiếp cận đến người mua và người chơi tương tác với nhau ngày càng dễ dàng hơn Các giống hoa nhập nội được mua từ nhiều nước trên Thế giới như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hà Lan… được giới thiệu và mua bán qua trang mạng với mức giá hợp lý, bên cạnh đó là các giống hoa được lai tạo với nhiều ưu điểm vượt trội như màu sắc, hình dáng, kích thước cũng được giới thiệu và mua bán tại đây
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình nghiên cứu lai tạo giống hoa Lan Huệ
Trên thế giới hoa Lan huệ cánh kép đã được thương mại hóa từ những năm 1990, cho đến đầu thế kỉ XXI mới có khoảng 30 giống Lan Huệ phổ biến ở
Trang 25một số nước như Hà Lan, Úc, Nhật Bản, Việc lai tạo giống diễn ra ngày càng nhiều và đã có nhiều giống mới được công bố trên thế giới Năm 2009, tại Hàn Quốc, Sung & et al đã thực hiện phép lai hữu tính giữa H.Red lion và H.Minerva
để tạo ra giống lai Sanho (đã được công nhận giống) Hippeastrum Johnsonni được công nhận là giống lai đầu tiên giữa H.vittatum và H.reginae được lai tạo ở Anh năm 1799 Giống Rozetta ra đời năm 1987 tại Nam Phi, là kết quả của việc lai tạo giữa Double beauty (bố) và Safari (mẹ) với một số đặc điểm nổi trội như
hoa đôi, màu hồng vân trắng và 2 đường gân đỏ, đường kính khoảng 20cm, nhanh cho hoa và có mùi thơm (Tạp chí Khoa học & Phát triển, Chọn tạo giống hoa Lan huệ, 2014)
Lan Huệ ngày càng được ưa chuộng, sử dụng vào nhiều mục đích như làm hoa trồng trong chậu, làm hoa cắt hoặc hoa mini bonsai Để đáp ứng nhu cầu của người chơi, các nhà chọn tạo giống đã nỗ lực tạo ra các sản phẩm mới cung cấp
cho thị trường
Năm 1987, nhà chọn tạo giống Maraisburg ở Nam Phi đã tạo ra giống
Hippeastrum rozetta có 2 hoa, với tông màu hồng, sọc trắng và vân màu đỏ hẹp,
có nhiều ngồng hoa trên một củ, các hoa trên một ngồng thường nở đồng thời,
kích thước nhỏ gọn và nhanh ra (Trần Văn Tuân, 2015)
2.3.1.2 Nghiên cứu điều khiển ra hoa
Trên thế giới, xét về đối tượng cây hoa có củ nói chung đã có nhiều nghiên cứu về xử lý ra hoa, quá trình hình thành và phân hóa mầm hoa trên đối tượng hoa tulip và lily, tuy nhiên các nghiên cứu đã được công bố về điều khiển
ra hoa trên cây lan huệ còn rất hạn chế mặc dù phương pháp xử lý lạnh đã được
áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia sản xuất lan huệ thương mại Tại Israel, củ Lan Huệ được xử lý được bảo quản trong kho lạnh 2 tháng ở nhiệt độ 9 - 130C, tại Nam Phi, củ Lan Huệ sau khi thu hoạch được đưa vào xử lý theo từng mức nhiệt
230C, 130C và 70C cho đến khi ngồng hoa xuất hiện (Trần Thị Xuân, 1997)
Ở các nước Châu Âu, Bắc Mỹ thì nhu cầu sử dụng hoa Lan Huệ lớn nhất tập trung vào dịp Giáng sinh và năm mới Trong thực tế mùa hoa lan huệ bắt đầu
từ tháng 3 đến tháng 5 tùy thuộc vào từng quốc gia Để Lan Huệ nở hoa vào thời điểm tháng 12 thì việc xử lý Lan Huệ trong điều kiện nhiệt độ thấp luôn được triển khai ở nhiều nước như Hà Lan, Isarael… với nhiệt độ xử lý thường từ 5-
130Ctrong thời gian từ 8 - 10 tuần (Phạm Thị Minh Phượng, 2017)
Trang 26Các nghiên cứu đã được công bố về điều khiển ra hoa trên cây Lan Huệ còn rất hạn chế mặc dù phương pháp xử lý lạnh đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia sản xuất Lan Huệ thương mại Tại Israel, củ Lan Huệ xử lý được bảo quản trong kho lạnh 2 tháng ở nhiệt độ 9 - 130C, tại Nam Phi, củ Lan Huệ sau khi thu hoạch được đưa vào xử lý theo từng mức nhiệt 230C, 130C và 70Ccho đến khi ngồng hoa xuất hiện (Phạm Thanh Tùng, 2018)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu lai tạo giống hoa có củ và Lan huệ
Việc nhân giống hoa lan huệ bằng phương pháp nuôi cấy in vitro đã được
nghiên cứu thực hiện trên một số dòng lai bởi Trần Thị Xuân (2017) đã cho kết quả bước đầu khá khả quan Tuy nhiên chúng đòi hỏi phải có điều kiện kỹ thuật tốt và nguồn nhân lực trình độ cao nên viêc ứng dụng trong sản xuất còn rất hạn chế Phương pháp được sử dụng khá phổ biến hiện nay trong nhân giống hoa Lan Huệ là phương pháp chẻ củ Theo Phạm Thị Minh Phượng và cs (2014) thì chẻ
củ thành 32 mảnh với chu vi củ giống từ 28 - 30 cm là thích hợp, cho hệ số nhân giống cao, cây khỏe mạnh, giá thể giâm mảnh tốt nhất là đất: cát: perlite (2:1:1) rút ngắn thời gian tạo củ con còn 28 ngày Xứ lý mảnh củ lan huệ bằng chế phẩm kích thích ra rễ N3M (10 g/1) trong 10 giây giúp rễ sớm xuất hiện, rễ nhiều
và dài (4,0 rễ/mảnh; chiều dài bộ rễ là 27,1 cm và số củ trung bình trên mảnh củ
là 1,25) Cây con có chất lượng tốt
Năm 2015, Ngô Thị Hồng Ngát đã tiến hành xử lý mảnh củ Lan Huệ bằng hóa chất sử dụng IAA nồng độ 200ppm cho kết quả tốt nhất với tỷ lệ sống 100%, tỷ lệ ra rễ 95,8%, tỷ lệ mảnh có củ con 75% Tiến hành tưới BA nồng độ 50ppm lượng tưới 1ml/mảnh củ cho kết quả tốt nhất số củ con tạo ra 3,7 củ, đường kính trung bình 1cm và hệ số nhân giống 21,3/ củ mẹ Trong điều kiện thời tiết tại Hà Nội, tiến hành chẻ củ Lan Huệ vào tháng 9 cho tỷ lệ sống và hiệu quả tốt nhất (thời gian ra từ khi giâm đến 10% số mảnh củ ra rễ 16 ngày; tỷ lệ sống 74,1, tỷ lệ ra rễ 68,5% )
Trần Thị Xuân (2015) đã nghiên cứu so sánh hệ số nhân giống giữa các phương pháp chẻ củ thành 8 mảnh, 16 mảnh và 32 mảnh cho thấy chẻ củ Lan Huệ thành 32 mảnh tách 3 vảy khi nhân giống cho hệ số nhân giống cao nhất là
32 cây con/củ mẹ Chẻ củ lan huệ thành 8 mảnh và tách thành 3 vảy khi nhân giống cho tỷ lệ sống và tỷ lệ cây ra ngôi cao, chất lượng cây giống tốt nhưng hệ
số nhân giống thấp bằng 9,7
Trang 27Về thời vụ nhân giống hoa Lan Huệ Hồng Đào, Nguyễn Thị Thu Hường (2017) kết luận chất lượng mảnh củ và hệ số nhân giống cao nhất vào tháng 3 và
hệ số nhân giống 28 (sau 4 tháng nhân giống)
Nguyễn Hạnh Hoa và Quách Thị Phương (2010) đã tạo ra hàng loạt con lai
có màu sắc đa dạng, phong phú, đẹp mắt, độ bền hoa cao, và có thời gian ra hoa vào đúng dịp Valentine Điển hình các dòng H1, H3, H5, H12, H37, H85 Các dòng lai trên có ưu điểm màu sắc cánh hoa đẹp và khác biệt so với bố mẹ, hoa có
độ bền lâu
Sau 6 năm thu thập, nghiên cứu và lai tạo giống Lan Huệ, Phạm Thị Minh Phượng và cs (2014) đã chọn ra được 3 cây lai Lan Huệ từ tập đoàn các cây lai THL3-6, THL4-7, THL9-5 Những cây lai này đều có đặc điểm hoa nổi trội: THL3-6 có dạng cánh đơn, màu cam nhạt, vân trắng ở gốc cánh, đường kính hóa 18cm THL 4-7 có dạng hoa tròn cánh đơn, đường kính hoa 19,5cm, màu hoa hồng sen, xếp cân đối, chiều cao ngồng hoa 33cm THL 9-5 có dạng hoa hình tam giác, cánh bán kép(8-9 cánh/bông), đường kính hoa 17,2cm, màu cánh đổ đậm, chiều cao ngồng hoa 42cm Đây là các vật liệu có giá trị cho công tác đánh giá và lựa chọn vật liệu Lan Huệ lai tại Việt Nam (Phạm Thị Minh Phượng và cs., 2014)
2.3.2.2 Nghiên cứu điều khiển ra hoa trên cây có củ và Lan huệ
Hoa Lan Huệ ở Việt Nam được trồng rất phổ biến ở nhiều tỉnh thành phố trên cả nước tuy nhiên các nghiên cứu trên đối tượng này còn hạn chế Hiện nay cũng có nhiều người tìm hiểu và thử lai tạo và nhân giống các giống cây hoa
thuộc chi Hippeastrum, nhưng đa số chỉ tham gia trong quy mô nhỏ như các diễn
đàn, các câu lạc bộ chơi hoa, các hộ gia đình Những năm gần đây, việc nghiên
cứu các loài hoa thuộc chi Hippeastrum ngày càng thu hút được sự quan tâm của
các nhà chọn tạo giống Các nghiên cứu đã được công bố chủ yếu về lai tạo và nhân giống vô tính trên cây Lan Huệ, các nhà nghiên cứu đã đạt được thành tựu nhất định, góp phần vào công tác chọn giống mới hoa Lan Huệ trong nước Trên đối tượng cây hoa có củ tại Việt Nam đã có những nghiên cứu về xử
lý nảy mầm, ra hoa cho cây hoa lily Theo các nghiên cứu đã công bố thì tỉ lệ củ nảy mầm, tỉ lệ hoa hữu hiệu trên cây hoa lily đạt cao nhất khi xử lý củ ở nhiệt độ
từ 2-5oC, độ ẩm 85-90% trong suốt thời gian bắt đầu bảo quản cho đến khi củ nẩy mầm là 6-8 tuần (Trần Thị Xuân, 2018) Tuy nhiên vẫn chưa có những nghiên cứu về việc điều khiển ra hoa trên cây Lan Huệ Việc điều khiển ra hoa
Trang 28trên cây Lan Huệ có được thực hiện bởi những người chơi hoa trong nước, với nhu cầu điều khiển hoa nở đúng dịp tết Nguyên Đán thì đến tháng 10 âm lịch người chơi sẽ tiến hành nhổ củ Lan Huệ lên cắt hết rễ, lá và phơi khô, để chỗ mát cho đến khi xuất hiện ngồng hoa Tuy nhiên tỉ lệ cây lan huệ ra hoa vào thời điểm mong muốn không cao và quá trình thực hiện phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, đặc biệt phương pháp này càng khó áp dụng đối với miền Bắc do có mùa Đông lạnh và độ ẩm cao Nhu cầu sử dụng hoa nói chung cao nhất vào tết Nguyên Đán và ngày quốc tế phụ nữ 8/3 nhưng mùa hoa Lan Huệ chính là vào giữa tháng 3 - tháng 4, các giống Lan Huệ nhập nội nở hoa trong tháng 12, tháng
1 do vậy thị trường hoa còn thiếu vắng Lan Huệ dịp tết Nguyên Đán và ngày quốc tế phu nữ 8/3
Năm 2018, Phạm Thanh Tùng đã nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm xử
lý lạnh đến khả năng ra hoa và chất lượng hoa Lan Huệ Hồng Đào cho dịp tết Nguyên Đán và ngày quốc tế phụ nữ 8/3 Củ được cho vào 3 thời điểm khác nhau trước tết và ngày quốc tế phụ nữ 8/3 là 18,19 và 20 tuần Kết quả cho thấy thời điểm xử lý lạnh tốt nhất để điều khiển giống Lan Huệ ra hoa là trước 20 tuần đối với cả dịp tết và ngày quốc tế phụ nữ 8/3
Trang 29PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- 60 dòng lai Lan Huệ đã được chọn năm 2018 (30 dòng đơn, 30 dòng kép) (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Một số dòng lai Lan Huệ đã được lai tạo năm 2015
STT Kí hiệu
dòng lai STT
Kí hiệu dòng lai STT
Kí hiệu dòng
Kí hiệu dòng lai
3.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Thước thẳng, thước dây, thước Palme, dao, kéo, đất, cát, trấu hun, chậu nhựa, bình tưới, máy ảnh và một số vật tư nông nghiệp khác
- Phân bón: Phân chuồng hoai được ủ 6 tháng, phân bón vô cơ NPK (15:15:15 + TE, của Công ty cổ phần phân bón Bình Điền - Mekong), thuốc bảo
vệ thực vật: Prevathon 5SC, thuốc xử lý nấm củ Ridolmil Gold 68WG, chất kích
Trang 30thích ra rễ N3M
3.3 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.3.1 Địa điểm
- Xã Phụng Công, Xuân Quan , Huyện Văn Giang, Tỉnh Hưng Yên
- Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, Thị trấn Trâu Quỳ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
3.3.2 Thời gian
Thời gian: Tháng 5/2018 đến 10/2019
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất hoa Lan Huệ tại Văn Giang, Hưng
Yên (cụ thể ở 2 xã Phụng Công và Xuân Quan)
- Nội dung 2: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của tập đoàn Lan
Huệ lai năm 2018-2019 tại Gia Lâm – Hà Nội
- Nội dung 3: Nghiên cứu kỹ thuật điều khiển ra hoa Lan Huệ Hồng Đào tại
Gia Lâm - Hà Nội
+ Ảnh hưởng của thời điểm xử lý
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của 2 xã Phụng Công
và Xuân Quan một vài năm gần đây từ phòng thống kê của xã, huyện
- Điều tra nguồn lao động tại địa phương :
+ Lao động nông nghiệp
+ Số hộ trồng hoa (hộ)
- Điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Lan Huệ tại 2 xã Phụng Công
và Xuân Quan thông qua phiếu điều tra với 30 tiêu chí, phỏng vấn trực tiếp với các nội dung sau: chủng loại, số lượng, nguồn gốc các giống Lan Huệ hiện đang
Trang 31trồng; quan điểm của họ về một giống/loài Lan Huệ đẹp; một số vấn đề về kỹ thuật chăm sóc và chơi hoa như tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh
3.5.1.2 Nội dung 2: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của tập đoàn Lan Huệ năm 2018 - 2019 tại Gia Lâm - Hà Nội
- Thí nghiệm 1: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của tập đoàn Lan Huệ năm 2018 - 2019 tại Gia Lâm - Hà Nội
Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại, theo dõi trên 60 dòng lai được lựa chọn tháng 5/2018 (30 dòng đơn, 30 dòng kép) Củ Lan Huệ được trồng vào trong chậu có đường kính 25cm có chứa giá thể phối trộn gồm hỗn hợp đất, cát, trấu hun, phân hữu cơ tỉ lệ (3:1:1:0,5) Củ trồng ½ xuống giá thể Sau khi trồng đưa chậu cây vào chỗ mát, tưới nước giữ độ ẩm ở mức 60% Thường xuyên nhổ cỏ, nhặt bỏ lá già, lá sâu bệnh Quan sát và kiểm tra tình hình sâu bênh hại thường xuyên và kịp thời
3.5.1.3 Nội dung 3: Nghiên cứu kĩ thuật điều khiển ra hoa Lan Huệ tại Gia Lâm - Hà Nội
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm xử lí lạnh đến thời gian ra hoa và chất lượng hoa Lan Huệ Hồng Đào
Thí nghiệm được bố trí 3 lần nhắc lại, mỗi công thức xử lý 20 củ Phương pháp xử lý củ giống như sau: Củ Lan Huệ Hồng Đào được cắt bỏ lá và rễ, rửa sạch sau đó xử lí Ridomil Gold 68WG khoảng 2 phút Để trong nhiệt độ thường
6 - 7 ngày sau đó bọc báo, bảo quản trong kho lạnh ở nhiệt độ 2 - 40C trong 7 tuần Các công thức cụ thể như sau:
+ CT1: Đưa xử lý lạnh ngày 25/9 (trước tết Nguyên Đán 2019 20 tuần ) + CT2: Đưa xử lý lạnh ngày 4/10 (trước tết Nguyên Đán 2019 19 tuần ) + CT3: Đưa xử lý lạnh ngày 9/10 ( trước tết Nguyên Đán 2019 18 tuần ) Ngoài yếu tố thời gian xử lý, các yếu tố khác như giá thể, kỹ thuật chăm sóc, giống là đồng đều như nhau đối với các công thức
- Kỹ Thuật trồng: Củ giống sau khi được xử lý sẽ được trồng trong chậu
có đường kính 25cm Sử dụng giá thể phối trộn theo tỷ lệ: 3 đất, 1 cát, 0,5 phân theo thể tích Trong giai đoạn sinh trưởng, định kỳ 1 tháng bón phân NPK 10:10:10 1 lần với lượng bón 1,5g/ chậu
Trang 323.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi
3.5.2.1 Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất hoa Lan Huệ tại Văn Giang, Hưng Yên (cụ thể ở 2 xã Phụng Công và Xuân Quan)
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải vv
- Diện tích đất trồng hoa (ha)
- Cơ cấu chủng loại các giống hoa nói chung và hoa Lan Huệ nói riêng
- Thời vụ, cách trồng, hình thức nhân giống, nguồn gốc giống
- Kỹ thuật chăm sóc: Mật độ trồng, chế độ tưới tiêu
- Phân bón: Loại phân, liều lượng, thời điểm bón
- Bảo vệ thực vật: Loại sâu, bệnh hại, bộ phận bị gây hại, mức độ gây hại và biện pháp phòng trừ
3.5.2.2 Nội dung 2: Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của tập đoàn Lan Huệ năm 2018-2019 tại Gia Lâm - Hà Nội
- Chiều dài ngồng hoa (cm):
- Đường kính ngồng hoa (cm): Bắt đầu đo khi ngồng hoa xuất hiện bao hoa,
Trang 33dùng thước Palme đo cách gốc 3cm, đo 2 chiều vuông góc với nhau Định kỳ đo
7 ngày/lần, dừng đo khi hoa nở
- Đường kính hoa (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn, dùng thước thẳng đo khoảng cách 2 đầu đối diện nhau, đo 2 lần vuông góc và tính giá trị trung bình
- Kích thước cánh hoa (cm): Đo khi hoa nở hoàn toàn, đo 3 cánh trong và 3 cánh ngoài, đo 3 hoa trên cụm sau đó tình giá trị trung bình
+ Chiều dài cánh hoa: Đo từ gốc cánh hoa đến đầu cánh
+ Chiều rộng cánh hoa: Đo vị trí rộng nhất của cánh
- Số lượng cánh hoa/bông (xác định khi hoa nở hoàn toàn)
- Màu sắc hoa: Quan sát, mô tả màu trên cánh hoa, cách bố trí màu trên cánh hoa
- Độ bền hoa (ngày): Từ khi hoa bắt đầu nở đến khi hoa héo (cánh hoa có hiện tượng héo rũ)
- Độ bền cụm hoa (ngày): từ khi hoa/cụm đầu tiên bắt đầu nở đến khi hoa/cụm cuối cùng héo
- Mùi hương: không thơm (-), thơm (+), rất thơm (++)
Nghiên cứu kỹ thuật điều khiển ra hoa Lan Huệ tại Gia Lâm - Hà Nội
+ Các chỉ tiêu thời gian ( ngày )
- Thời gian từ xử lý đến khi xuất hiện ngồng quan sát được bằng mắt (ngày)
- Thời gian từ khi xuất hiện ngồng xé bao hoa (ngày)
- Thời gian từ khi xuất hiện ngồng hoa đến khi nụ hoa báo màu (có thể quan sát được màu trên cánh hoa) (ngày)
- Độ bền một bông hoa (ngày): từ khi bông bắt đầu nở đến khi bông có dấu hiệu héo
Trang 34- Độ bền của một cụm hoa (ngày): từ khi bông đầu tiên bắt đầu nở đến khi bông cuối cùng có dấu hiệu héo trên cùng một cụm hoa
- Độ bền trang trí (ngày): từ khi bông đầu tiên bắt đầu nở đến khi bông cuối cùng trên cụm hoa cuối cùng có dấu hiệu héo
- Tỉ lệ cây ra nụ (%) = số cây ra nụ / tổng số cây xử lý x 100
- Tỉ lệ cây ra hoa (%) = số cây ra hoa / tổng số cây xử lý x 100
- Tỉ lệ nở hoa (%) = số hoa nở / số nụ hoa x 100
- Tỉ lệ cây nở hoa đúng tết (bắt đầu báo màu từ 25 tết) (%) = số cây nở hoa đúng Tết (bắt đầu báo màu từ 25 tết )/ số cây ra hoa x 100
- Số nụ hoa/cụm (nụ)
- Số ngồng hoa/củ (ngồng)
- Đường kính nụ (cm): Đo chiều dài nụ ở giai đoạn to nhất
- Đường kính hoa (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn, dùng thước thẳng đo khoảng cách 2 đầu đối diện nhau, đo 2 lần vuông góc và tính giá trị trung bình
- Chiều cao ngồng hoa (cm): đo từ mặt đất đến đỉnh bao hoa khi cây bắt đầu
xé bao hoa
- Màu sắc hoa: Quan sát, mô tả màu trên cánh hoa
3.5.3 Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại
- Đối tượng sâu, bệnh hại
- Thời gian xuất hiện (ngày, tháng)
- Bộ phận bị hại: hoa, lá
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2013, phần mềm IRRISTAT 5.0
Trang 35PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT HOA LAN HUỆ TẠI VĂN GIANG, HƯNG YÊN (CỤ THỂ Ở 2 XÃ PHỤNG CÔNG VÀ XUÂN QUAN) 4.1.1 Tình hình sản xuất chung
Chúng tôi đã tiến hành điều tra tại 40 hộ sản xuất hoa cây cảnh tại 2 xã Phụng Công và Xuân Quan với độ tuổi từ 25 đến 55 tuổi với số năm kinh nghiệm
từ 3 đến 10 năm kinh nghiệm sản xuất hoa cây cảnh
Các giống hoa trồng tại địa điểm điều tra tương đối phong phú, chúng được trồng theo mùa luôn có hoa cung cấp ra thị trường quanh năm và được trình bày ở bảng 4.1 dưới đây
Bảng 4.1 Chủng loại cây trồng được sản xuất tại Văn Giang
ngoại
Hồng nội
Trạng nguyên
Trà hoa
Hải đường
Cây trồng thảm
Cây khác
Lan Huệ
tư ban đầu dao động từ 50 đến trên 300 triệu đồng đầu tư cho các hạng mục
Trang 36như thuê mặt bằng sản xuất, hệ thống nhà lưới (khung giàn), cây giống, phân bón, công chăm sóc và một số hạng mục khác)
Từ bảng 4.1 trên nhận thấy, tỷ lệ cơ cấu chủng loại hoa tại Văn Giang có
sự biến đổi rõ rệt từ năm 2012 trở về đây thị trường hoa cây cảnh, hoa trồng thảm tại 2 xã Phụng Công và Xuân Quan có bước thay đổi đáng kể chính sác chuyển đổi từ mô hình canh tác ngô, cây rau màu sang sản xuất hoa - cây cảnh ngày càng mạnh mẽ Tại đây, các hộ sản xuất không sản xuất chuyên canh mà thay vào đó họ sản xuất hoa theo mùa vụ, theo nhu cầu của thị trường Vài năm gần đây là hoa Hồng - loài hoa mang lại hiệu quả kinh tế vô cùng lớn cho người sản xuất với sự phát triển mạnh mẽ và nhu cầu thị trường cao người dân sản xuất đã tập trung vào loài cây này có 33/40 hộ sản xuất loại hoa này Được biết Phụng Công là xã nổi tiếng với nghề trồng cây lâu năm như Trà, Hải đường tuy nhiên qua quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy rằng chỉ có 8/40
hộ sản xuất cây hoa Hải Đường và 4/40 hộ sản xuất hoa Trà tại đây Qua trao đổi chúng tôi được biết do nhu cầu của thị trường ngày một thay đổi và với đặc điểm nông sinh học của các loại cây này khác khắt khe, thời gian trồng kéo dài, kỹ thuật chăm sóc còn gặp nhiều khó khăn tuy nhiên giá thành, hiệu quả kinh tế không được cao chính vì vậy các hộ dân tại đây đã dần chuyển đổi sang trồng các loại cây trồng khác như Hồng, Trạng Nguyên, hoa thời vụ theo mùa Theo một số nhận định từ người sản xuất, đối tượng hoa được tiêu thụ nhiều nhất là hoa trồng thảm với sự đa dạng về màu sắc, chủng loại giá thành thấp chính vì vậy loại đối tượng cây trồng này được mọi người sử dụng phổ biến với số lượng lớn, chi phí đầu tư thấp lợi nhuận đem lại cao chính vì vậy đây được coi là đối tượng ưu chuộng nhất tại đây Hoa trồng thảm và cây hoa khác chiếm tỷ lệ khá cao lần lượt là 38/40 (95%) và 33/40 hộ sản xuất Hoa Lan Huệ tại 2 xã Phụng Công và Xuân Quan chiếm tỷ lệ không cao 11/40 hộ sản xuất Qua kết quả điều tra thể hiện được nhu cầu của người tiêu dùng đối với loại hoa được trồng phổ biến với quy mô lớn nhất tại xã Xuân Quan và Phụng Công là cây trồng thảm
Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi đã điều tra về các chủng loại Lan Huệ tại Văn Giang Kết quả được thể hiện tại bảng 4.2
Trang 37Bảng 4.2 Chủng loại giống hoa Lan Huệ được sản xuất tại Văn Giang
Hồng sọc
Cam
Đỏ nhung
Loại phân bón được sử dụng nhằm cung cấp cho cây chủ yếu là NPK tổng hợp được pha loãng và được bổ sung cho cây với liều lượng vô cùng nhỏ, thời gian tưới thường từ 3 - 4 tháng/ 1 lần, trước và sau khi hoa tàn
Người dân tại đây đã sử dụng biện pháp tách củ con để nhân giống đối với loại cây này, tuy nhiên kỹ thuật này không đem lại hiệu quả khi thời gian sinh củ của loại cây này tương đối lâu, số củ con ít Trong quá trình trao đổi chúng tôi đã hướng dẫn thêm tới người dân hình thức chẻ củ, đây là biện pháp dễ thực hiện và đem lại hiệu quả cao hơn so với kỹ thuật tách củ con thông thường Ngoài ra với công nghệ, khoa học hiện đại hình thức nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy
mô còn khá xa lạ đối với người dân sản xuất loại cây trồng này
Lan Huệ là loài cây dễ xử lý ra hoa, vì vậy nhiều người trồng hoa đã xử lý
ra hoa đối với các củ của họ để có thể cho hoa vào thời gian mong muốn bằng các biện pháp từ đơn giản như cắt hết lá ở củ, cắt rễ… cho đến các phương pháp phức tạp hơn Qua chia sẻ từ người dân sản xuất chúng tôi được biết họ mong muốn loại hoa này có thời gian nở hoa vào đúng dịp tết để có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong thời gian cây ra hoa tự nhiên thường thấy Nhờ học hỏi
từ các kỹ thuật xử lý ra hoa đúng dịp tết dương lịch đã có 1 trong số 11 hộ đã áp dụng thành công biện pháp này cụ thể: Họ lựa chọn những củ cây khỏe mạnh (không bị dập nát, sâu bệnh) từ vụ trước cắt bỏ phần rễ (tránh làm tổn thương
Trang 38phần đế củ nơi tập chung dinh dưỡng và phôi mầm của cây) chúng được đưa vào bảo quản trong kho lạnh tới vụ tiếp theo
Trong quá trình sản xuất người sản xuất cũng gặp rất nhiều khó khăn trong đó khó khăn nhất chính là đầu ra của sản phẩm, với mức giá thành tương đối thấp, màu sắc và chủng loại cây giống còn hạn hẹp không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng Chính vì vậy, khả năng đầu tư cũng như nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất qua quá trình chúng tôi điều tra tại các hộ sản xuất là không có nhu cầu
Dựa trên những tiêu chí đánh giá và điều tra sự đánh giá các chỉ tiêu của một bông Lan Huệ đẹp được yêu thích từ những người sản xuất (các đặc điểm trong một bông Lan Huệ mà họ yêu thích nhất) ta có thể có cái nhìn tổng quát hơn về xu hướng phát triển Lan Huệ trong tương lai và có thêm những định hướng hợp lý cho công tác lai tạo, phát triển giống Sau khi tổng hợp, ta có được ý kiến của những người trả lời về một bông Lan Huệ mà họ yêu thích được thể hiện trong bảng 4.3 dưới đây
Bảng 4.3 Tiêu chí đánh giá một giống/loài hoa Lan Huệ đẹp
của các nhà sản xuất
Địa điểm điều tra Tiêu chí
Xuân Quan
Phụng Công
Tổng số hộ (hộ) Dạng hoa