TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Bùi Thị Thu Hiền Tên luận văn: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá đất huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 8850103
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI THỊ THU HIỀN
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ ĐẤT HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 08 tháng 9 năm2018
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tác giả đã hoàn thành luận văn
thạc sĩ Quản lý đất đai với đề tài: “Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá
đất huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Luyện Hữu Cử đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Hệ thống thông tin địa lý - Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Chi cục Thống kê huyện Nho Quan đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm2018
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC HÌNH viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT THEO FAO 3
2.1.1 Khái niệm về đánh giá đất 3
2.1.2 Khái niệm về đất nông nghiệp 3
2.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất đai 4
2.2 TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI 5
2.2.1 Khái niệm về đơn vị bản đồ đất đai 5
2.2.2 Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 7
2.2.3 Các yêu cầu khi xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 9
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 11
2.3.1 Phạm vi toàn quốc, phạm vị cấp vùng 11
2.3.2 Phạm vi cấp tỉnh, phạm vi cấp huyện 13
2.3.3 Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, trên địa bàn huyện Nho Quan 14
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 17
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 17
Trang 63.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 17
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 17
3.4.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan 17
3.4.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Nho Quan tỷ lệ 1/25.000 17
3.4.4 Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Nho Quan 17
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 18
3.5.3 Phương pháp xây dựng các bản đồ 18
3.5.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 18
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 19
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
4.1.2 Các nguồn tài nguyên 22
4.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế-xã hội 25
4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nho Quan 28
4.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN NHO QUAN NĂM 2017 30
4.3 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI HUYỆN NHO QUAN TỶ LỆ 1/25.000 32
4.3.1 Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 32
4.3.2 Xây dựng bản đồ đơn tính 34
4.3.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 53
4.3.4 Mô tả các đơn vị đất đai 55
4.4 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO CÁC ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 67
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
5.1 KẾT LUẬN 70
5.2 KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa HĐND Hội đồng nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Bảng 4.1 Cơ cấu kinh tế của huyện giai đoạn 2005 – 2017 26
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Nho Quan năm 2017 31
Bảng 4.3 Yếu tố tham gia tạo lập đơn vị bản đồ đất đai và chỉ tiêu phân cấp 33
Bảng 4.4 Phân loại đất huyện Nho Quan 34
Bảng 4.5 Thống kê chỉ tiêu thành phần cơ giới huyện Nho Quan 38
Bảng 4.6 Diện tích chỉ tiêu thành phần cơ giới theo đơn vị hành chính huyện Nho Quan 39
Bảng 4.7 Thống kê chỉ tiêu độ dày tầng đất 41
Bảng 4.8 Diện tích chỉ tiêu độ dày tầng đất theo đơn vị hành chính huyện Nho Quan 42
Bảng 4.9 Thống kê chỉ tiêu độ dốc huyện Nho Quan 44
Bảng 4.10 Diện tích chỉ tiêu độ dốc theo đơn vị hành chính huyện Nho Quan 45
Bảng 4.11 Thống kê chỉ tiêu địa hình tương đối 47
Bảng 4.12 Diện tích chỉ tiêu địa hình tương đối theo đơn vị hành chính huyện Nho Quan 48
Bảng 4.13 Thống kê chỉ tiêu chế độ tưới huyện Nho Quan 50
Bảng 4.14 Diện tích chỉ tiêu chế độ tưới theo đơn vị hành chính huyện Nho Quan 51
Bảng 4.15 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại đất xám bạc màu trên phù sa cổ 55
Bảng 4.16 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ 56
Bảng 4.17 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại đất nâu vàng phát triển trên đá vôi 58
Bảng 4.18 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại đất đỏ vàng trên đá sét 59
Bảng 4.19 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại đất đỏ nâu trên đá vôi 60
Bảng 4.21 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua 62
Bảng 4.22 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng 63
Trang 9Bảng 4.23 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại Đất phù
sa glay 64 Bảng 4.24 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại Đất phù
sa úng nước 65 Bảng 4.25 Số lượng và các đặc tính của các đơn vị đất đai nằm trong loại Đất Đất
đen trên sản phẩm bồi tụ cacbonat 66 Bảng 4.26 Định hướng sử dụng đất trên các LMU thuộc nhóm đơn vị đất hiện nay 68
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 7
Hình 4.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Nho Quan năm 2017 30
Hình 4.2 Sơ đồ đất huyện Nho Quan 37
Hình 4.3 Sơ đồ thành phần cơ giới huyện Nho Quan 40
Hình 4.4 Sơ đồ độ dày tầng đất huyện Nho Quan 43
Hình 4.5 Sơ đồ độ dốc huyện Nho Quan 46
Hình 4.6 Sơ đồ địa hình tương đối huyện Nho Quan 49
Hình 4.7 Sơ đồ chế độ tưới huyện Nho Quan 52
Hình 4.8 Sơ đồ đơn vị đất đai 54
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bùi Thị Thu Hiền
Tên luận văn: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá đất huyện Nho Quan,
tỉnh Ninh Bình
Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 8850103
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Nho Quan tỷ lệ 1/25.000,
- Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Nho Quan
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp xây dựng các bản đồ chuyên đề
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Kết quả chính và kết luận
Nho Quan là một huyện thuộc phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình, hệ thống giao thông phát triển tương đối đồng bộ cả về đường bộ, đường sông, đã tạo nên mối liên kết với các huyện, tỉnh khác là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá, khoa học công nghệ giữa các địa phương trong và ngoài huyện Việc sử dụng bền vững, có hiệu quả tài nguyên đất của huyện không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, xã hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng
Diện tích tự nhiên toàn huyện Nho Quan là 45.052,52 ha Trong đó: Đất nông nghiệp: 29.765,61 ha, chiếm 66,07%, Đất phi nông nghiệp: 12.478,43 ha chiếm 27,69% , Đất chưa sử dụng: 2.809,38 ha, chiếm 6,24% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đối với đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp: 15.731,52ha, chiếm 34,92%, Đất lâm nghiệp: 14.033,19ha, chiếm 31,15%, đất nuôi trồng thuỷ sản: 460,51
ha, chiếm 1,02%, đất nông nghiệp khác: 176,65 ha, chiếm 0,39%
Ứng dụng công nghệ GIS với việc sử dụng một số công cụ của phần mềm MicroStation, MapInfo và ArcGIS đã xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai huyện Nho Quan tỷ lệ 1/25.000 từ 6 bản đồ đơn tính tương ứng với các chỉ tiêu được lựa chọn: Loại đất (G); Địa hình tương đối (E); Độ dốc (SL); Độ dày tầng đất (D); Thành phần cơ giới (C); Chế độ tưới (Ir) Bản đồ đơn vị đất đai huyện Nho Quan có 136 đơn vị đất đai, trong đó:
Trang 12+ LMU số 104 có diện tích nhỏ nhất là 0,25 ha thuộc đất phù sa glây phân bố ở
xã Quỳnh Lưu, có địa hình cao, độ dày tầng đất dưới 50 cm, thành phần cơ giới nhẹ, tưới bán chủ động
+ LMU số 122 có diện tích lớn nhất là 2805,77 ha thuộc đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng phân bố chủ yếu ở các xã Phú Lộc, Quỳnh Lưu, Thượng Hòa, Thanh Lạc, LMU số 103 có địa hình trũng, độ dày tầng đất trên 100 cm, thành phần cơ giới nặng, chế độ tưới chủ động
Đề tài đã đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp và các biện pháp sử dụng
và cải tạo các đơn vị đất đai hợp lý trên địa bàn huyện
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Bui Thi Thu Hien
Thesis title: Land unit mapping for Nho Quan district, Ninh Binh province
Major: Land Management Code: 8850103 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research purposes
- Develop a map of land units in Nho Quan district at the rate of 1 / 25,000, - Proposed directions for using and improving land units in Nho Quan district
Research Methods
- Method of secondary data collection
- Method of primary data collection
- Methods for developing thematic maps
- Statistical methods, data processing
Main results and conclusions
Nho Quan is a district in the north-west of Ninh Binh province The transportation system is relatively synchronous both in road and river, which creates linkages with other districts and provinces socio-economic development, cultural exchange, science and technology between localities inside and outside the district The sustainable and effective use of land resources in the district is not only of economic and social importance but also of great significance for national security and defense
Using GIS technology with the use of MicroStation, MapInfo and ArcGIS software has built a map of Nho Quan district land unit at 1 / 25,000 scale from 6 single maps corresponding to only Selected criteria: soil type (G); Relative topography (E); Slope (SL); Soil layer thickness (D); Mechanical composition (C); Irrigation regime (Ir) The land unit of Nho Quan has 136 land units, of which:
+ LMU No 104 has the smallest area of 0.25 ha of alluvial soil distributed in Quynh Luu commune with high terrain, soil thickness of less than 50 cm, light texture, semi-active irrigation
+ LMU No 122 has the largest area of 2805.77 ha of alluvial soils with yellowish reddish patches distributed mainly in Phu Loc, Quynh Luu, Thuong Hoa, Thanh Lac communes, LMU 103 has low terrain soil thickness is over 100cm, heavy texture, active irrigation
Trang 14Topics proposed agricultural land use orientation and measures to use and improve the land units in the district as a basis for the assessment of land potential for use planning land use, effective and sustainable use of land resources
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, là thành phần quan trọng của môi trường, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình văn hóa, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia Để sử dụng, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên đất đai một cách có hiệu quả thì đánh giá đất đai là một công tác có vai trò rất quan trọng Đánh giá đất đai làm cơ sở cho việc phát huy tối đa tiềm năng của đất đai, đồng thời cải tạo hạn chế và sử dụng hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này Theo quy trình đánh giá đất đai của FAO, thì việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là một trog những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng, làm cơ sở để
so sánh với các yêu cầu sử dụng đất của từng loại hình sử dụng đất
Huyện Nho Quan là một huyện vùng núi, nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình khoảng 30 km Là cửa ngõ quan trọng của tỉnh trong việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh vùng Tây Bắc, vùng đồng bằng Bắc Bộ và khu IV cũ Phần lớn diện tích đất đai của huyện được sử dụng cho sản xuất nông
- lâm nghiệp
Tài nguyên đất của Nho Quan chủ yếu là đất phù sa trung tính ít chua, đất phù sa có đốm gỉ, thích hợp với thâm canh cây lúa Ở một số xã có địa hình cao hơn nguồn gốc phát sinh đều do quá trình phong hóa tạo thành nên hầu hết đất đai ở đây là đất xám feralit điển hình, đất xám kết von đá lẫn nông thích nghi với trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả và rau màu các loại Tuy nhiên về mùa mưa với lượng mưa lớn, kết hợp với địa hình phức tạp gây ra úng lụt trên quy mô lớn, gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân
Thực tế hiện nay nền sản xuất nông nghiệp của huyện còn tồn tại nhiều yếu điểm đang làm giảm sút về chất lượng do quá trình khai thác sử dụng đất chưa hợp lý: trình độ khoa học kỹ thuật, chính sách quản lý, tổ chức sản xuất còn hạn chế, tư liệu sản xuất giản đơn, kỹ thuật canh tác truyền thống, đặc biệt
là việc độc canh cây lúa ở một số nơi đã không phát huy được tiềm năng đất đai mà còn có xu thế làm cho nguồn tài nguyên đất có xu hướng bị thoái hoá Nghiên cứu đánh giá các đơn vị đất đai, đánh giá được chất lượng các đơn vị
Trang 16đất đai, làm cơ sở để phân hạng thích hợp đất đai, nhằm định hướng sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững, xây dựng cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Nho Quan là cần thiết
và có ý nghĩa thực tiễn
Được sự đồng ý của khoa Quản lý đất đai - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo TS Luyện Hữu Cử, em tiến hành
thực hiện đề tài: “Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ đánh giá đất huyện
Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Nho Quan tỷ lệ 1/25.000,
- Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Nho Quan
Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng đất đai khoa học phục vụ cho việc
định hướng sử dụng đất nông nghiệp, định hướng sử dụng cây trồng phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cho các nhà khoa học, các nhà quản lý, sinh viên, học viên trong lĩnh vực quản lý đất đai, đặc biệt là trên địa bàn huyện Nho Quan, giúp định hướng sử dụng và cải tạo hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, mang lại hiệu quả cao và bền vững
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ ĐẤT THEO FAO
2.1.1 Khái niệm về đánh giá đất
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm, định nghĩa về đất Có quan điểm cho rằng:
“Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất, đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” Sau này nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cần bổ sung một số yếu tố khác cho định nghĩa về đất, đặc biệt là con người Chính do tác động của con người, nhiều tính chất của đất thay đổi, tạo nên những đặc tính mới Như vậy đất có liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và phát triển của vỏ phong hóa Có thể nói đất tồn tại trong tự nhiên một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người và những thuộc tính của đất trong nghiên cứu và đánh giá đất đai chúng ta có thể đo lường hay ước lượng được (FAO, 1985) Theo nhà nông học người Anh V.R William thì: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây”
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái (FAO, 1976) Với quan điểm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu; dáng đất, địa hình; thổ nhưỡng; thủy văn; thảm thực vật tự nhiên, cỏ dại trên đồng ruộng; động vật tự nhiên; những biến đổi của đất do hoạt động của con người
Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, có những tính chất đặc trưng riêng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào khác đó là: đất có độ phì,
có giới hạn diện tích, có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với thời gian nếu biết sử dụng đúng
2.1.2 Khái niệm về đất nông nghiệp
Theo điều 10, Luật đất đai Việt Nam năm 2013 thì đất tự nhiên được chia thành 3 nhóm lớn là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu sử dụng vào
Trang 18sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng) Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt
Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công
cụ sản xuất nông nghiệp (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
2.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất đai
Nguyên tắc đánh giá đất theo FAO
- Phân loại đất từ cấp phân vị cao xuống cấp phân vị thấp Ở mỗi cấp phân vị, các đất được sắp xếp theo nguyên tắc ưu tiên, nhằm đảm bảo một đất cụ thể chỉ được xếp vào một vị trí trong mỗi cấp phân vị mà thôi
- Việc xác định tên đất được căn cứ vào sự xuất hiện các tiêu chuẩn chẩn đoán trong vòng 0 - 125 cm của cột đất Trường hợp một phẫu diện đất có hai hoặc nhiều tầng chẩn đoán thì tầng B phía trên (trừ tầng B- Cambic) được chọn làm căn cứ phân loại
Trang 19- Ở cấp phân vị thứ nhất (Nhóm đất chính - Major Soil Groupings), tên đất được xác định dựa trên những đặc trưng được tạo ra do các quá trình thổ nhưỡng cơ bản (Primary Pedogenetic Process)
- Ở cấp phân vị thứ hai (Đơn vị đất - Soil Units), tên đất được xác định dựa trên những đặc điểm đất được tạo ra do tác động của các quá trình hình thành đất thứ cấp trội (Predominant Second Soil Forming Process) Trong một số trường hợp, những đặc điểm đất nào có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng đất cũng có thể được đưa ra xem xét (WRB-ISSS/ISRIC/FAO)
- Tên đất của các cấp thấp không được trùng lặp hoặc mâu thuẫn với tên đất ở cấp cao hơn (Hội khoa học đất Việt Nam, 2000)
2.2 TỔNG QUAN VỀ BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI
2.2.1 Khái niệm về đơn vị bản đồ đất đai
- Bản đồ đơn vị đất đai là bản đồ chuyên đề về đất đai được thành lập trên
cơ sở nền bản đồ hiện trạng sử dụng đất, trên đó thể hiện đầy đủ và chính xác các đơn vị đất đai theo ranh giưới hiện trạng Bản đồ đơn vị đất đai là tài liệu kỹ thuật quan trọng trong quá trình đánh giá đất phục vụ cho các trương trình quy hoạch sử dụng đất, cho công tác quản lý tài nguyên đất
- Đơn vị bản đồ đất đai (LMU)là một hợp phần của hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất LMU là một vạt hay một khoanh đất được xác định cụ thể, được thể hiện trên bản đồ, có những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất, có cùng điều kiện quản lý đất, cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng (đặc tính và tính chất) đủ để tạo nên một sự khác biệt với các đơn
vị đất đai khác nhằm đảm bảo sự thích hợp của chúng với các loại sử dụng đất khác nhau
+ Đặc tính của đất đai: là các thuộc tính tác động đặc biệt đến tính thích hợp của đất đó đối với loại sử dụng đất riêng biệt Có thể thể hiện rõ rệt các các điều kiện về đất cho loại sử dụng đất khác nhau
+ Tính chất đất đai: là thuộc tính của đất có thể đo đếm được hoặc ước tính được dùng để phân biệt các đơn vị đất đai với nhau và để mô tả đặc tính đất đai Các tính chất đất đai có thể ảnh hưởng cùng lúc đến một vài đặc tính đất đaivà từ đó sẽ ảnh hưởng đến tính thích hợp đất khác nhau
Trang 20+ Đặc tính và tính chất đất đai là các đặc thù của các đơn vị đất đai,đó chính là cơ sở xác định các yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất trong đánh giá đất
- Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực hoặc vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai
- Tỷ lệ bản đồ đơn vị đất đai: Bản đồ đơn vị đất đai được thành lập theo các cấp hành chính xã, huyện, tỉnh và quốc gia Vì vậy hệ thống tỷ lệ bản đồ đơn
vị đất đai được lựa chon trên cơ sở là phạm vi của khu vực nghiên cứu
+ Bản đồ đơn vị đất đai cấp xã: 1/5.000-1/10.000;
+ Bản đồ đơn vị đất đai cấp huyện: 10/10.000-1/25.000;
+ Bản đồ đơn vị đất đai cấp tỉnh: 1/50.000-1/100.000;
+ Bản đồ đơn vị đất đai cấp toàn quốc: 1;250.000-1/1.000.000
Việc lựa chọn tye lệ sẽ tùy thuộc vào diện tích tự nhiên, hình dạng khu vực và mức độ phức tạp của đất đai
- Hệ quy chiếu trong bản đồ đơn vị đất đai: Bản đồ đơn vị đất đai được thành lập trên cơ sở nền bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ thổ nhưỡng, trong khi đó các bản đồ này được thành lập trên nền là bản đồ địa chính hoặc bản đồ địa hình Vì vậy, hệ quy chiếu và tọa tộ trong bản đồ đơn vị đất đai cũng tuân theo hệ quy chiếu và tọa độ của bản đồ địa chính hay bản đồ địa hình
- Nội dung của bản đồ đơn vị đất đai bao gồm:
+ Địa giới hành chính của đơn vị lập bản đồ và đơn vị hành chính cấp dưới + Ranh giới các đơn vị đất đai, đây là nội dung chính của bản đồ đơn vị đất đai Ranh giới các đơn vị đất đai thể hiện dưới dạng đường viền khép kín, đúng vị trí, hình dạng và kích thước
+ Mạng lưới thủy văn: Thể hiện đường bờ biển, sông ngòi, ao, hồ + Mạng lưới giao thông: Thể hiện đầy đủ đường sắt, đường bộ quốc gia đến đường liên thôn, liên xã
+ Hệ thống các điểm dân cư, các công trình chuyên dùng quan trọng như các khu công nghiệp
Trang 212.2.2 Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (ĐVĐĐ):
Hình 2.1 Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Bước 1: Xác định và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
+ Lựa chọn các chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
Xác định các chỉ tiêu phân cấp của bản đồ ĐVĐĐ có ý nghĩa đảm bảo tính
chính xác của bản đồ ĐVĐĐ và phản ánh đúng điều kiện đất đai đối với nhu cầu
của các loại hình sử dụng đất Cơ sở lựa chọn chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
phụ thuộc vào phạm vi chương trình ĐGĐĐ như: Phạm vi vùng lãnh thổ, tỉnh,
huyện và phụ thuộc vào mối quan hệ giữa yêu cầu đánh giá đất (chi tiết, bán
chi tiết, tổng thể ) với tỷ lệ bản đồ cần thể hiện Ví dụ: Để ĐGĐĐ cho một vùng
với mức độ chi tiết trên bản đồ 1/25.000 thì các yếu tố cần thiết cho việc xây
dựng bản đồ ĐVĐĐ gồm: Đất, độ dốc, địa hình tương đối, độ dày tầng đất, thành
phần cơ giới, độ phì nhiêu ở các tỷ lệ bản đồ 1/5.000 hay lớn hơn thì ngoài các
Xác định và phân cấp chỉ tiêu các yếu tố
Xây dựng các bản đồ đơn tính
Thống kê, mô tả các ĐVĐĐ
Xây dựng bản đồ
ĐVĐĐ
Trang 22yếu tố xây dựng bản đồ ĐVĐĐ kể trên còn có thêm các yếu tố thể hiện mức độ chi tiết hơn của quá trình ĐGĐĐ như: Độ dày tầng canh tác, điều kiện sản xuất, chế độ mặn, phèn
+ Phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
Dựa vào yêu cầu, mục đích của chương trình đánh giá đất, kết hợp với các nguồn tài liệu sẵn có hoặc bổ sung thêm để lựa chọn được chỉ tiêu phân cấp phù hợp với mục đích, yêu cầu sử dụng đất và mức độ thích hợp đất đai
Bước 2: Xây dựng các bản đồ đơn tính
Bản đồ đơn tính là bản đồ chỉ thể hiện duy nhất một yếu tố đơn lẻ, mỗi yếu tố đó là một chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ đã được lựa chọn (loại đất, độ dày tầng đất, địa hình, độ dốc, lượng mưa, điều kiện tưới, tiêu ) Trong xây dựng bản đồ ĐVĐĐ, ở các mức độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau, chủ đề thể hiện của các bản đồ đơn tính cũng khác nhau
Bước 3: Xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
Các bản đồ đơn tính được biên soạn trên cùng một phép chiếu (Projection), được chồng ghép để tạo thành bản đồ ĐVĐĐ Kỹ thuật GIS là một công cụ đắc lực trong việc xây dựng bản đồ ĐVĐĐ GIS thực hiện phép chồng ghép nhanh chóng, có độ chính xác cao đồng thời hỗ trợ nhiều phép xử lý, phân tích không gian (Spatial Analysis) phức tạp nhưng lại rất thuận tiện Phần mềm GIS quản lý các ĐVĐĐ đã tạo bằng các đơn vị không gian (Polygons trong kỹ thuật Vector và Grid Cells trong kỹ thuật Raster) và mô tả chúng bằng các trường
dữ liệu thuộc tính (Attribute Data Fields)
+ Số khoanh, diện tích, mức độ phân tán của từng ĐVĐĐ
+ Mô tả các đặc điểm (Đặc tính, tính chất) của từng ĐVĐĐ (Đặc điểm khí hậu, địa hình, thủy văn, thực vật, động vật và đặc điểm đất)
Trang 23Xây dựng bản đồ ĐVĐĐ là bước đầu tiên, không thể thiếu trong quy trình đánh giá đất đai theo FAO Bản đồ ĐVĐĐ là cơ sở, xuất phát điểm cho toàn bộ quá trình đánh giá đất đai
Việc xác định các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở các vùng khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của vùng nghiên cứu, cấp tỷ lệ bản đồ đơn vị đất đai cần xây dựng Công tác xây dựng bản đồ đơn
vị đất đai là một khái niệm mới, chưa có cá chỉ tiêu phân cấp thống nhất cho từng vùng sinh thái với các cấp tỷ lệ bản đồ khác nhau
Mặt khác, do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Việt Nam phức tạp, nên khi xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cho từng vùng phải được tiến hành lập đề cương với các chỉ tiêu cụ thể, chi tiết nhằm phục vụ cho công tác đánh giá đất đai tốt hơn
2.2.3 Các yêu cầu khi xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
1 LMU cần đảm bảo tính đồng nhất tối đa hoặc các chỉ tiêu phân cấp phải được xác định rõ, nếu chúng không thể hiện được lên bản đồ thì phải được mô tả chi tiết
Các LMU được xác định bởi các chỉ tiêu phân cấp, tuỳ theo khu vực, mục tiêu, phạm vi và tỷ lệ bản đồ mà số các chỉ tiêu phân cấp phù hợp sẽ được lựa chọn, các chỉ tiêu để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phải khớp với các chỉ tiêu đã phân cấp ở các bản đồ chuyên đề (các bản đồ đơn tính), các chỉ tiêu định tính phải diễn giải cụ thể và chú dẫn đầy đủ Sự đồng nhất giữa các khoanh đất để xác định đơn vị bản đồ đất đai luôn phụ thuộc vào chỉ tiêu và mức độ phân cấp
2 Các LMU phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại sử dụng đất (LUT) sẽ được lựa chọn
Mục đích của việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là nhằm xác định được các yêu cầu sử dụng đất cho từng loại sử dụng đất, nó cũng là cơ sở xếp hạng các yếu tố chuẩn đoán và phân hạng thích hợp đất đai một cách gián tiếp (qua các đặc tính và tính chất đất đai) giúp cho việc xác định được loại sử dụng đất thích hợp nhất trong khu vực đánh giá đất được chính xác
Hay nói cách khác các chỉ tiêu xác định đơn vị đất đai phải đáp ứng được mục tiêu đánh giá mức độ thích hợp của đơn vị đất đai với loại sử dụng đất Các LMU phải thích hợp với các yêu cầu sử dụng đất của các LUT Do đó các LMU phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại sử dụng đất sẽ được lựa chọn, có như vậy
Trang 24kết quả của việc đánh giá đất mới đảm bảo tính thích hợp, có hiệu quả và đạt tính khả thi cao
3 Các LMU phải vẽ được trên bản đồ Trường hợp đặc biệt không thể hiện được trên bản đồ thì phải được mô tả chi tiết
Tuỳ theo tỷ lệ bản đồ, mục đích, yêu cầu và phạm vi nghiên cứu của vùng đánh giá đất mà các yếu tố và chỉ tiêu phân cấp xác định đơn vị bản đồ đất đai được quyết định lựa chọn Mỗi yếu tố và chỉ tiêu phân cấp được thể hiện bằng 1 bản đồ đơn tính Chồng xếp các bản đồ đơn tính này để xác định các khoanh đồng nhất cơ bản, đây chính là các đơn vị bản đồ đất đai, hay nói cách khác sau khi chồng xếp các bản đồ đơn tính ta được bản đồ đơn vị đất đai Như vậy các LMU phải vẽ được lên bản đồ thì mới xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai một cách chính xác, qua đó mới thể hiện rõ được mức độ đáp ứng các yêu cầu sử dụng đất đối với các LUT của các LMU này
Các bản đồ đơn tính và bản đồ đơn vị đất đai phải đảm bảo các quy phạm
về xây dựng bản đồ: có tỷ lệ, ranh giới, vị trí, tên, mức độ thể hiện…
4 Các LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những đặc điểm quan sát trực tiếp trên đồng ruộng hoặc qua sử dụng ảnh máy bay, ảnh viễn thám, ảnh vệ tinh
Các đặc tính, tính chất đất đai được xác định trực tiếp trên đồng ruộng (thực địa) sẽ đảm bảo độ chính xác, tin cậy cao, phản ánh đúng thực trạng nhu cầu sử dụng đất của các loại sử dụng đất, tất nhiên các bước tiến hành là rất đơn giản, dễ hiểu như xác định các loại đất; thành phần cơ giới; điều kiện tưới, tiêu; địa hình; chế độ ngập úng v.v
5 Các đặc tính và tính chất của các LMU phải là các đặc tính và tính chất khá ổn định
Chính các đặc tính và tính chất này là các nhu cầu sử dụng đất thích hợp cho các loại sử dụng đất, nó cũng là cơ sở xếp hạng các yếu tố chuẩn đoán và phân hạng thích hợp đất đai cả hiện tại và tương lai
Nếu chúng không ổn định thì các nhu cầu sử dụng đất thích hợp cho các loại sử dụng đất sẽ không phù hợp và không đúng với yêu cầu thực tế cần có của các nhu cầu đó, từ đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình phân hạng thích hợp đất đai, dẫn đến kết quả của quá trình đánh giá đất sẽ không phản ánh đúng với nhu cầu thực tế, không đạt được độ tin cậy cao Do đó các đặc tính và tính chất đất đai
Trang 25của các LMU phải ổn định để đảm bảo tính bền vững cho các LUT
Đây cũng là yêu cầu cho việc chọn các chỉ tiêu phân chia các LMU, người
ta thường lựa chọn các yếu tố ít biến động như loại đất, độ dốc, độ dày, TPCG, khả năng ngập úng mà không lựa chọn các chỉ tiêu nông hoá dễ biến động như đạm, pH, lân dễ tiêu, kali trao đổi…
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI
Ở VIỆT NAM VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phạm vi toàn quốc, phạm vị cấp vùng
Năm 1983, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã ban hành dự thảo “Phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Theo phương pháp này, đất lúa nước được chia làm 8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng là chính, ngoài ra còn
sử dụng các chỉ tiêu như: Độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới (Tổng cục quản lý ruộng đất, 1992)
Từ những năm 1990 trở lại đây, các nhà khoa học đất Việt Nam đã nghiên cứu, áp dụng phương pháp ĐGĐĐ của FAO vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của nước ta Các kết quả thu được từ những nghiên cứu này đã cho thấy tính khả thi cao của phương pháp ĐGĐĐ của FAO và khẳng định việc vận dụng phương pháp này như là một tiến bộ kỹ thuật cần được áp dụng rộng rãi vào Việt Nam Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, áp dụng phương pháp ĐGĐĐ của FAO để đánh giá tài nguyên đất đai ở các phạm vi khác nhau:
Cấp quốc gia:
Theo công trình ĐGĐĐ toàn quốc ở tỷ lệ 1/500.000 của Viện Quy hoạch
và Thiết kế Nông nghiệp (1993 - 1994), có 7 chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai được dựa vào, gồm: Thổ nhưỡng (13 nhóm đất); Tầng dày của đất (3 cấp);
Độ dốc (3 cấp); Lượng mưa năm (3 cấp); Thuỷ văn nước mặt (trong đó có 4 cấp chế độ ngập và 4 cấp xâm nhập mặn); Tưới tiêu (2 cấp); Tổng tích ôn (3 cấp) Các tác giả xây dựng bản đồ đất đai riêng cho từng vùng sinh thái ở tỷ lệ 1/250.000, sau đó tổng hợp lên cấp miền và cấp toàn quốc ở tỷ lệ 1/500.000 Kết quả đã xác định được 270 ĐVĐĐ ở miền Bắc và 196 ĐVĐĐ ở miền Nam, nhưng khi tổ hợp lên cấp toàn quốc thì chỉ còn 373 ĐVĐĐ do tính đồng nhất o (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)
Cấp vùng lãnh thổ:
Trang 26Nguyễn Công Pho (1995) đã tiến hành “ Đánh giá đất vùng Đồng bằng sông Hồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền” theo phương pháp của FAO ở bản đồ tỷ lệ 1/250.000, đã sác quy hoạch tổng thể của cùng Kết quả đánh giá đã xác định được 33 đơn vị đai (trong đó có 22 đơn vị đất đai thuộc vùng đồng bằng, 11 đơn vị đất đai thuộc vùng đồi núi) và 28 loại hình sử dụng đất chính Kết quả phân hạng thích hợp hiện tại và tương lai dựa trên cơ sở đầu tư thủy lợi cho thấy tiềm năng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng còn rất lớn, đặc biệt là khả năng tăng diện tích cây trồng vụ đông trên các vùng đất trồng lúa
Chương trình đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai vùng Tây Bắc đã xây dựng được 230 ĐVĐĐ Các tác giả thống kê được 157 ĐVĐĐ trên đất trống đồi trọc chưa sử dụng với diện tích 3.246.395 ha ĐVĐĐ có diện tích nhỏ nhất là 164
ha, lớn nhất là 264.068 ha Các ĐVĐĐ cũng được thống kê theo cấp độ dốc và tầng dày của đất (Lê Thái Bạt, 1995)
Theo Phạm Dương Ưng, Nguyễn Khang (1995) vùng Tây Nguyên có 195 ĐVĐĐ, trong đó những đơn vị có tiềm năng NN lớn gồm 45 ĐVĐĐ thuộc nhóm đất đỏ bazan, 32 ĐVĐĐ thuộc nhóm đất bồi tụ và đất đen vùng đồng bằng và thung lũng, 35 ĐVĐĐ có độ dốc từ 0 - 15O, tầng dầy trên 100 cm Bản đồ ĐVĐĐ vùng Tây Nguyên tỷ lệ 1/250.000 được xây dựng từ 7 chỉ tiêu, gồm: Đất
và địa chất, địa mạo, độ dốc, độ dày tầng đất, khả năng tưới tiêu, lượng mưa trung bình năm, tổng nhiệt độ
Cùng với các kết quả đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc, Phạm Quang Khánh (1994) đã áp dụng phương pháp đánh giá của FAO để thực hiện đề tài nghiên cứu “Đánh giá đất và các hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ” ở bản đồ tỷ lệ 1/250.000, đã xác định 54 đơn vị đất đai, 7 loại hình sử dụng đất chính với 49 loại hình sử dụng và 50 hệ thống sử dụng đất Kết quả đánh giá cũng chỉ ra khả năng mở rộng và diện tích đất từ 900 ngàn ha lên 1,5 triệu ha cho sản xuất nông nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ
Tác giả Lê Hồng Sơn (1995) đã ứng dụng đánh giá đất vào đa dạng hóa cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng Dựa trên cơ sở đánh giá đất tác giả đã xác định và đề xuất các hệ thống cây trồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền cho 100.000 ha đất bãi ven sông vùng Đồng bằng sông Hồng
Trang 272.3.2 Phạm vi cấp tỉnh, phạm vi cấp huyện
Cấp tỉnh:
Tác giả Vũ Cao Thái và tập thể các nhà khoa học đất đã ĐGĐĐ và quy hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai (1996) xây dựng bản đồ ĐVĐĐ ở tỷ lệ 1/50.000 gồm 66 đơn vị bản đồ đất đai dựa trên 6 chỉ tiêu (Loại hình thổ nhưỡng, khả năng tưới, độ dày tầng đất hữu hiệu, độ dốc, xâm nhập mặn, lượng mưa) Các tác giả đã mô tả chi tiết đặc tính của các ĐVĐĐ theo 15 nhóm đất và thống
kê diện tích của chúng theo các đơn vị hành chính
Nguyễn Đình Bồng (1995) đã vận dụng phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cho đất trồng đồi núi trọc ở Tuyên Quang ở tỷ lệ 1:50.000 Kết quả đánh giá đã xác định
và đề xuất 153.172 ha đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai đối với đất trống, đồi núi trọc của tỉnh được phân thành 125 ĐVĐĐ trên cơ sở xác định 5 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ ĐVĐĐ là: tổ hợp đất, địa hình, độ dốc, độ dày tầng đất, tổng lượng mưa và tổng nhiệt độ/năm Trong 125 ĐVĐĐ được đưa ra, thì có 70 đơn vị có nhiều hạn chế đối với sản xuất nông, lâm nghiệp về độ dốc và tầng dày, còn lại 55 đơn vị là ít bị hạn chế Việc khai thác diện tích đất trống đồi núi trọc
có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường
Cấp huyện:
Các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ ĐVĐĐ huyện Ô Môn - Cần Thơ ở
tỷ lệ 1/25.000 được Đặng Kim Sơn và nhóm tác giả (1995) xác định gồm: Độ sâu tầng phèn (4 cấp), độ dày tầng mùn (2 cấp), độ sâu ngập nước lũ (3 cấp), thời gian ngập lụt (5 cấp), thời gian kênh nước nhiễm chua (2 cấp)
Bản đồ ĐVĐĐ huyện Gia Lâm tỷ lệ 1/25.000 của Vũ Thị Bình (1995) có
20 ĐVĐĐ với gần 200 khoanh đất được xác định với 6 chỉ tiêu phân cấp gồm: Loại đất (G), thành phần cơ giới (T), điều kiện tưới (I), điều kiện tiêu (F), ngập úng (L), độ phì (P)
Theo nghiên cứu của Đoàn Công Quỳ, 2000, tổng diện tích đất điều tra của huyện Đại Từ - Thái Nguyên là 48.801,20 ha bao gồm 680 khoanh và 52 đơn
vị đất đai trên cơ sở xác định 8 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bao gồm: nhóm đất, thành phần cơ giới, địa hình tương đối, độ dốc, độ cao,
độ dày tầng đất, chế độ tưới tiêu
Trang 28Đỗ Nguyên Hải (2000), đã nghiên cứu đề tài “Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - Bắc Ninh” Nghiên cứu này đã xác định được 25 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 6 chỉ tiêu phân cấp, đó là: Loại đất, thành phần cơ giới, địa hình, độ phì, chế độ tưới và ngập úng
Tác giả Phan Thị Thanh Huyền (2007) với đề tài nghiên cứu “Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng kỹ thuật GIS phục vụ cho việc đánh giá đất nông nghiệp huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên” Kết quả đã xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai và xác định được 36 đơn vị đất đai cho đất sản xuất nông nghiệp theo 6 chỉ tiêu phân cấp loại đất, địa hình, thành phần cơ giới, độ dốc, chế độ tưới, chế độ tiêu; định hướng và cải thiện các LMU huyện Phổ Yên
Tác giả Trần Thị Thu Hiền và Đàm Xuân Vận (2012) với đề tài “Nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ cho đánh giá đất sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hý, tỉnh Thái Nguyên” đã xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai cho sản xuất nông nghiệp theo 8 chỉ tiêu phân cấp nhốm đất, độ dốc, độ cao, tầng dày, thành phần cơ giới, pHkcl, mùn và lân tổng số
Tác giả Huỳnh Văn Chương , Vũ Trung Kiên , Lê Thị Thanh Nga (2012)
“Ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch phát triển Cấy cao su tiêu điền tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị”
Hồ Huy Thành, Đào Châu Thu, Trần Quốc Vinh (2016) với đề tài “Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và đánh giá thích hợp đất sản xuất nông nghiệp khu vực ven đô thành phố Hà Tĩnh”
Các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả tiến hành trên nhiều đối tượng
và phạm vi nghiên cứu khác nhau đã chứng tỏ việc xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng vùng Các vùng khác nhau có số lượng cũng như loại chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ cũng khác nhau Các chỉ tiêu được lựa chọn phản ánh đặc thù của vùng nghiên cứu đồng thời cũng phản ánh mức độ và phạm vi nghiên cứu
2.3.3 Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, trên địa bàn huyện Nho Quan
Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình:
Công tác điều tra, phân loại xây dựng bản đổ đất của Ninh Bình đã được tiến hành từ những năm 1960 – 1965 Kết quả năm 1965 đã cho xuất bản bản đổ thổ nhưỡng tỉnh Ninh Bình tỷ lệ 1/50.000, kèm theo báo cáo chú giải Từ 1971 -
Trang 291975, khi xây dựng các dự án liên quan đến bố trí sử dụng đất, Viện QH&TKNN
đã điều tra xây dựng bản đổ đất 1/25.000, 1/10.000 hoặc 1/5.000 ở cấp huyện và một số vùng chuyên canh Ngoài ra, còn có các tài liệu nghiên cứu về địa mạo, địa chất, khí hậu - thủy văn
Trong những năm 1978 - 1985, tỉnh đã tiến hành xây dựng các bản đổ đất
ở cấp huyện và các nông - lâm trường phục vụ cho các dự án phát triển nông nghiệp Trong quá trình đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp và chỉ đạo xây dựng các mô hình đã xây dựng hàng loạt các bản đổ nông hoá thổ nhưỡng tỷ lệ 1/5.000 cổ kèm theo hướng dẫn bón phân cho các xã và hợp tác xã Năm 1990, trong chương trình "Tổng quan ĐBSH" đã tiến hành điều tra tổng hợp lại các nguổn tài nguyên thiên nhiên và xây dựng hệ thống bản đổ chuyên đề tỷ lệ 1/250.000 Phần bản đổ đất của tỉnh Ninh Bình mới chỉ bổ xung phần đất lấn biển, chưa cổ chỉnh lý ở mức độ toàn tỉnh
Bản đổ đất của tỉnh được điều tra xây dựng cánh đây 40 năm, sự tác động của thời gian và quá trình sử dụng đã làm thay đổi đáng kể sự phân bố, quy mô diện tích và thậm chí thay đổi cả đặc tính vật lý hóa học Năm 1993, sau khi tách
từ tỉnh cũ là Hà Nam Ninh tháng 4/1992, Viện QH&TKNN đã tiến hành chương trình “Đánh giá hiện trạng và đề xuất sử dụng đất tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1996 – 2010” Một trong những nội dung nghiên cứu của chương trình là điều tra bổ sung chỉnh lý xây dựng bản đổ đất Bản đổ đất xây dựng năm 1994 có ưu điểm là
đã tiếp cân được một hê thống phân loại khá hoàn chỉnh, nôi dung điều tra xây dựng thống nhất
Mặc dù vậy, những bản đồ đất đã được bổ sung xây dựng nêu trên vẫn còn nhiều tồn tại cần được hoàn thiện như: Tên một số nhóm đất, loại đất, hệ thống ký hiệu dùng trên bản đồ và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng như độ dày tầng đất mịn, độ dốc, đá mẹ, mẫu chất, glây, kết von chưa được thống nhất với các tỉnh trong toàn quốc
Năm 2005 Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giao nhiệm vụ phúc tra chỉnh lý, thu thập tài liệu
về đất đã có để tổng hợp xây dựng bản đồ đất chính thức tỷ lệ 1/50.000 cho tỉnh Ninh Bình trên nền địa hình VN – 2000 cùng báo cáo thuyết minh kèm theo Công tác này đã được thực hiện theo Quy phạm Điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ trung bình và lớn do Bộ Nông nghiệp ban hành 1984, đã áp dụng các công nghệ
Trang 30và kỹ thuật hiện đại như Hệ thống thông tin địa lý, các phần mềm máy tính nên chất lượng bản đồ đã được hoàn thiện hơn Tuy nhiên do điều kiện thời gian hạn chế nên chương trình này mới chỉ điều tra bổ sung được theo 3 tuyến: Nho Quan
- Nho Quan - Gia Viễn, Nho Quan - Yên Khánh - Kim Sơn và Nho Quan - Tam Điệp - Yên Mô; nội dung phân loại, ranh giới khoanh đất vẫn dựa trên cơ sở thừa
kế và nội suy là chính
Trên địa bàn huyện Nho Quan:
Đã có một số nghiên cứu về tài nguyên đất ở Nho Quan, ở các giai đoạn trước, nhưng nhìn chung cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào được tiến hành một cách chi tiết cho cả cấp huyện, cấp xã; Cũng chưa có công trình nghiên cứu ứng dụng CNTT để xây dựng CSDL về đất, sử dụng đất và phân bón với
sự trợ giúp của kỹ thuật GIS nhằm kết nối số liệu với bản đồ trong quản lý sử dụng lãnh thổ
Trang 31PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 3/2017 - tháng 10/2018
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là đất nông nghiệp (không tính đất NTTS và đất nông nghiệp khác) và đất chưa sử dụng (không tính núi đá không có rừng cây) với các đặc tính, tính chất đất đai và các loại sử dụng đất trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Đánh giá điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thủy văn, của huyện Nho Quan
- Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội: dân số và lao động, trình độ dân trí,
cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện, …
3.4.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2017 của huyện Nho Quan
- Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
3.4.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Nho Quan tỷ lệ 1/25.000
- Xác định và phân cấp các đặc tính và tính chất đất đai để xây dựng bản
đồ đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Nho Quan
- Xây dựng các bản đồ chuyên đề từ các chỉ tiêu đã xác định
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Mô tả các đơn vị đất đai
3.4.4 Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Nho Quan
- Đề xuất các biện pháp sử dụng và cải tạo hợp lý các đơn vị đất đai
Trang 323.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu, số liệu, bản đồ tại các phòng Thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Nho Quan, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Bình, Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam, …
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra dã ngoại trực tiếp ngoài thực địa, phục vụ xây dựng các bản đồ
chuyên đề, điều tra xác định các LUT
3.5.3 Phương pháp xây dựng các bản đồ
3.5.3.1 Phương pháp xây dựng các bản đồ đơn tính
- Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn tính: Trên cơ sở kế thừa những tài liệu, số liệu đã khảo sát và thu thập được kết hợp với một số yêu cầu liên quan xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn tính (gồm : Loại đất, độ dốc, địa hình tương đối, độ dầy tầng đất, thành phần cơ giới và chế độ tưới)
- Sử dụng phần mềm ArcGIS, trên cơ sở bản đồ nền đã xây dựng tiến hành nhập thông tin thuộc tính theo từng chỉ tiêu để xây dựng từng bản đồ đơn tính: Loại đất, độ dốc, địa hình tương đối, độ dầy tầng đất, thành phần cơ giới và chế độ tưới Các bản đồ đơn tính có cùng tỷ lệ với bản đồ nền là 1/25.000
3.5.3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Sử dụng chức năng chồng xếp bản đồ của phần mềm ArcGIS, đề tài đã
tiến hành chồng xếp 6 bản đồ đơn tính với nhau theo phương pháp ghép đôi từng cặp để thành lập bản đồ đơn vị đất đai của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình là bản đồ tổ hợp của các bản đồ đơn tính Mỗi đơn vị bản đồ đất đai chứa đựng đầy
đủ các thông tin thể hiện trong các bản đồ đơn tính và phân biệt với các đơn vị khác bởi sự sai khác của ít nhất một yếu tố
3.5.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để thống kê, tổng hợp, phân tích các số liệu nghiên cứu
Trang 33PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới địa chính:
Nho Quan nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình có tọa độ địa lý từ 22°10'00'' đến 22°27'30'' vĩ độ Bắc và từ 105°32'30'' đến 105°51'20'' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình;
- Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Gia Viễn và huyện Hoa Lư;
- Phía Nam giáp thị xã Tam Điệp;
- Phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa
Nho Quan là cửa ngõ quan trọng của tỉnh trong việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh vùng Tây Bắc, vùng đồng bằng Bắc bộ và khu IV cũ Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến giao thông quan trọng: Quốc lộ 12B chạy theo hướng Bắc ÷ Nam dài khoảng 24,0 km từ cầu Lập Cập đến cầu Vĩnh Khương, quốc lộ 45 dài 9 km từ ngã ba Rịa tới dốc Giang đi Thanh Hóa Đường tỉnh lộ
477, 477C, 479, 479B, 479C, 491 chạy qua địa bàn nhiều xã trong huyện, ngoài
ra trên địa bàn huyện còn có mạng lưới sông ngòi khá dày như: Sông Đập (Sông Na), sông Bôi, sông Lạng, sông Rịa, sông Bến Đang, chảy qua giúp cho Nho Quan có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội
4.1.1.2 Địa hình:
Nho Quan nằm trên địa bàn trung chuyển của các hệ thống tự nhiên ở phía Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Cúc Phương, là vùng cuối cùng của vùng núi Tây Bắc trong khu đệm Hòa Bình – Thanh Hóa Địa hình nhìn chung không bằng phẳng được phân thành
03 vùng cụ thể:
* Vùng núi đá vôi
Tập chung chủ yếu ở phía Tây của huyện dọc theo ranh giới giữa Ninh Bình và Hòa Bình, Thanh Hóa, Vườn quốc gia Cúc Phương Ở đây có nhiều núi cao trùng điệp và thung lũng hiểm trở, là vùng rừng nguyên sinh có nhiều giá trị
về kinh tế và khoa học Ngoài ra còn một số núi đá vôi độc lập phân bố rải rác
Trang 34xen kẽ với đất canh tác ở hầu hết các xã trong huyện Vùng này có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế đồi rừng, chăn nuôi đại gia súc đặc sản (hươu, dê, .), phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và du lịch
* Vùng đồng chiêm trũng
Nằm giữa vùng đồi núi và các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, thị xã Tam Điệp, vùng này có địa hình lòng chảo, độ cao trung bình từ 0,7 đến 0,9 m so với mực nước biển, vào mùa mưa thường bị ngập nước Vùng này thuận lợi cho việc canh tác lúa nước, nuôi thả thủy sản
4.1.1.3 Khí hậu thời tiết:
Nho Quan mang những đặc điểm của tiểu vùng khí hậu đồng bằng bắc bộ,
đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm và mưa nhiều
Trang 35b Lượng mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1.850 – 1.970 mm (trung bình năm có
129 ÷ 161 ngày mưa), lượng mưa tập trung chủ yếu vào 6 tháng mùa mưa
(từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm 80 ÷ 85% tổng lượng mưa cả năm, lũ lụt cũng thường xuyên xảy ra trong thời gian này Vào mùa đông lượng mưa thấp khoảng 15 ÷ 20% tổng lượng mưa cả năm, chủ yếu là dạng mưa nhỏ, mưa phùn
c Độ ẩm
Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên huyện Nho Quan có
độ ẩm không khí tương đối cao, bình quân độ ẩm cả năm từ 84 ÷ 86%, chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng không nhiều Tháng có độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 02), thấp nhất là 81% (tháng 10)
d Lượng bốc hơi
Trung bình năm từ 850 ÷ 870 mm, trong đó mùa hạ chiếm 60% lượng bốc hơi cả năm, tháng 7 có lượng bốc hơi lớn nhất là 105 mm, tháng 2 có lượng bốc hơi nhỏ nhất là 45 mm
e Gió
Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, mùa đông hướng gió thịnh hành
là hướng Đông Bắc, những tháng giữa và cuối mùa đông gió có xu hướng lệch đần về hướng Đông Mùa hè hướng gió thịnh hành từ Đông hoặc Đông Nam
Huyện Nho Quan còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió lục địa, hướng Tây hoặc Tây Nam; gió biển theo hướng Đông Nam Vào các tháng 7, 8 ,9 thường có bão làm ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt trên địa bàn
b Sông Hoàng Long
Bắt nguồn từ Hòa Bình chảy vào Nho Quan (tại xã Thạch Bình) và đổ ra sông Bôi tại xã Đức Long, dài 12,5km Đây là con sông khá lớn, chảy cắt ngang huyện, là nguồn cung cấp nước ngọt chủ yếu cho khu vực trung tâm huyện và các
xã lân cận
Trang 36e Sông Đập (Sông Na)
Được bắt nguồn từ tỉnh Hòa Bình và đổ vào sông Bôi, cung cấp nước tưới cho xã Gia Tường và xã Gia Lâm Đây là nguồn tài nguyên quý giá của huyện, không những đảm bảo cung cấp nước ngọt cho sản xuất và đời sống dân sinh của nhân dân trong khu vực mà còn là tiềm năng để khai thác phát triển du lịch, nuôi trồng thủy sản
4.1.2 Các nguồn tài nguyên
4.1.2.1 Tài nguyên đất
- Diện tích đất tự nhiên của huyện là 45.052,52 ha
Theo kết quả xây dựng bản đồ đất huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, đề tài thống kê được 11 loại đất chính trong huyện bao gồm:
+ Đất bạc màu đất xám bạc màu trên phù sa cổ
Diện tích 2.063,99 ha, phân bố ở các xã Thạch Bình, Phú Sơn, Lạc Vân, Đồng Phong, Phú Lộc, Sơn Hà, Quỳnh Lưu
Đất hình thành từ sản phẩm là phù sa cổ, phân bố ở địa hình cao, bậc thang, dốc nằm kề với núi Do quá trình canh tác lâu đời và sự bóc lột đất tới mức tối đa đã làm cho đất mất dần các chất dinh dưỡng Quá trình hình thành cơ bản của đất bạc màu là quá trình rửa trôi, xói mòn bề mặt và rửa trôi thẳng đứng Các quá trình này xảy ra trong tự nhiên và được thúc đẩy bởi lịch sử lâu dài Nguyên nhân thứ hai là do phân bố ở địa hình dốc nên quá trình rửa trôi, xói mòn đất diễn ra liên tục làm đất cũng bị mất các chất dinh dưỡng
+ Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
Diện tích 1.243,24 ha, phân bố ở xã Quảng Lạc
Trang 37Đất hình thành ở những thung lũng thấp, nhỏ trong các vùng đồi núi, do sản phẩm phong hoá của đá mẹ sa thạch, phiến thạch, đá vôi đưa xuống bồi tụ thành
+ Đất nâu vàng phát triển trên đá vôi
Diện tích 5.201,85 ha, phân bố chủ yếu ở xã Kỳ Phú, Quỳnh Lưu, Sơn Lai, Phú Long, Xích Thổ, vườn quốc gia Cúc Phương, xã Quỳnh Lưu, Đồng Phong, Phú Sơn Đất hình thành trên sản phẩm phong hoá của vôi ở địa hình cao
+ Đất đỏ nâu trên đá vôi
Diện tích: 1.833,01 ha, phân bố ở các xã Cúc Phương, Kỳ Phú, Quỳnh Lưu, Sơn Lai, Quảng Lạc
Đất hình thành do quá trình phong hoá của đá vôi, phiến thạch vôi ở địa hình cao nên thường bị hạn vào vụ chiêm Độ che phủ của thảm thực vật thấp, quá trình bốc hơi nước cao Từ đó thúc đẩy nhanh chóng quá trình hình thành kết von Kết von chủ yếu ở dạng hình tròn đường kính từ 1 - 3 mm
+ Đất phù sa được bồi trung tính, ít chua
Diện tích 156,25 ha, phân bố thành dải hẹp dọc theo phía ngoài đê của các
sông thuộc xã Xích Thổ Đất được hình thành do phù sa sông Đáy và sông Bôi
bồi đắp
Đất phù sa được bồi hàng năm phân bố ở bãi thấp, thường xuyên bị ngập trong mùa mưa lũ, đồng thời với quá trình bị ngập có quá trình bồi tích phù sa Đất phù sa được bồi hàng năm thể hiện rõ đặc điểm phân lớp, phẫu diện đất cát
có xen các tầng đất thịt và ngược lại các bãi bồi đất thịt có thể xen các tầng cát
+ Đất phù sa không được bồi trung tính, ít chua
Diện tích 156,25 ha, phân bố ở địa hình thấp trong đê thuộc xã Xích Thổ, Gia Tường, Gia Thủy Đất được hình thành do sản phẩm bồi tích của sông Đáy,
Trang 38sông Bôi nhưng hiện nay đã thoát ly quá trình bồi đắp của phù sa, do hình thành
hệ thống đê ngăn lũ, một vài nơi do phân bố ở địa hình cao nên không còn chịu ảnh hưởng của chế độ ngập lụt, không còn bồi tụ thêm
+ Đất phù sa glây
Diện tích 2.958 ha, phân bố ở các xã thuộc khu vực đồng bằng
Đất cũng được hình thành do sự lắng đọng của phù sa sông nhưng phân bố
ở địa hình thấp, trũng so với địa hình xung quanh Do đặc điểm của địa hình và chế độ nước mà quá trình glây hoá trong đất diễn ra rất mạnh, tỉ lệ sét khá cao, đất chặt, bí, dẻo dính, quá trình khử xảy ra mãnh liệt, sắt 3 bị khử thành sắt 2 có màu xám xanh - đặc trưng của quá trình glây, gây độc hại cho cây trồng
+ Đất phù sa úng nước
Diện tích 4553,4 ha, phân bố ở hầu hết các xã đồng bằng của huyện Nho Quan
Đất phù sa úng nước cũng được hình thành trên sản phẩm bồi tích của phù
sa sông nhưng do phân bố ở địa hình trũng, dạng lòng chảo, không có khả năng thoát nước, mạch nước ngầm nông, đọng nước quanh năm, được coi là dạng địa hình tích đọng điển hình, đất giàu chất hữu cơ, giàu sét, nhão, dẻo dính, yếm khí, glây mạnh
+ Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat
Diện tích 1190,35 ha, phân bố ở các xã như: Văn Phương, Cúc Phương,
Kỳ Phú
Đất hình thành ở địa hình thấp, độ dốc <3o trên sản phẩm bồi tụ của đá vôi
4.1.2.2 Tài nguyên nước
a Tài nguyên nước mặt
Ngoài hệ thống: Sông Đập (Sông Na), sông Bôi, Hoàng Long, sông Rịa, huyện Nho Quan còn có 30 hồ chứa nước với diện tích 586,51 ha Hiện nay đang
Trang 39được cải tạo, nâng cấp để phục vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện
b.Tài nguyên nước ngầm
Theo kết quả nghiên cứu của liên đoàn II – Cục địa chất Việt Nam cho thấy, tại vùng Rịa (Phú Lộc) có tổng lượng nước ngầm đạt 361,391 m³/ngày (Cấp công nghiệp 44,691 m³/ ngày) Qúa trình tìm kiếm và thăm dò tại đây cũng chỉ rõ nguồn nước ngầm dưới đất bị nhiễm mặn Bên cạnh trữ lượng nước ngầm để cung cấp cho sinh hoạt thì huyện Nho Quan còn một số nguồn nước khoáng có chất lượng tốt, có thành phần Magedecacbonat cao, có thể khai thác sử dụng làm nước giải khát, chữa bệnh và phục vụ sinh hoạt trong vùng
4.1.2.3 Tài nguyên rừng
Do quá trình khai thác lâu dài, rừng ở Nho Quan đã bị tàn phá Ngoài Cúc Phương, rừng tự nhiên ở Nho Quan không còn nhiều Trên các sườn núi đá vôi là thảm rừng nghèo, thứ sinh, phần lớn là các cây bụi nhỏ Diện tích rừng của Nho Quan hầu hết là rừng đặc dụng thuộc phạm vi Vườn Quốc gia Cúc Phương Diện tích rừng trồng rất ít chủ yếu là thông nhựa, keo, bạch đàn Hiện nay Nho Quan
đang đẩy mạnh công tác khoanh nuôi bảo vệ và trồng mới rừng
4.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Nho Quan có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, trong đó có các loại đã được khai thác sử dụng, có loại đã hoặc đang được thăm dò, cũng có loại vừa được phát hiện mới qua tìm kiếm hoặc điều tra sơ bộ Kết quả điều tra khảo sát và thăm dò về tài nguyên khoáng sản của đoàn 207 và liên đoàn II- Cục Địa chất Việt Nam cho thấy tại huyện Nho Quan có những loại đất như: đá vôi,
đô lô mít, đất sét, than bùn Ngoài ra trên địa bàn Nho Quan còn có một số loại khoáng sản khác có triển vọng như thủy ngân, Antinon, Firit, phốt pho rít và các loại khác … nhưng trữ lượng nhỏ, phân bố rải rác
4.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế-xã hội
4.1.3.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a Tăng trưởng kinh tế
- Kinh tế từ năm 2013 - 2017 liên tục tăng trưởng ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP của huyện năm 2013 đạt 11,35%, năm 2014 đạt 13,26%, năm 2015
là 16,96%, năm 2016 đạt 15,03%, năm 2017 kế hoạch đạt 16,02% Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng Công nghiệp - xây dựng, Thương mại - dịch vụ, trong đó:
Trang 40Cơ cấu thành phần kinh tế:
+ Nông nghiệp - lâm nghiệp - thuỷ sản: 35,0%
+ Công nghiệp - xây dựng: 33,5%
+ Thương mại - dịch vụ: 31,5%
- Bình quân lương thực đầu người năm 2017 là: 565kg
- Thu nhập bình quân đầu người trên năm là 13,5 triệu đồng
- Giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản bình quân 1,0 ha canh tác năm 2013 đạt 22,0 triệu đồng, năm 2017 đạt 46,0 triệu đồng
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,0%
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 4.1 Cơ cấu kinh tế của huyện giai đoạn 2005 – 2017
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2010 Năm 2017
Nông lâm - thuỷ Sản % 78,92 58,10 35,00 Công nghiệp – xây dựng % 14,16 24,00 33,50 Thương mại – dịch vụ % 6,92 17,90 31,50
Nguồn: Phòng TN&MT huyện Nho Quan (2017)
Cơ cấu ngành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng trong ngành thương mại – dịch vụ và giảm dần tỷ trọng của ngành nông lâm – thuỷ sản; GDP của ngành nông, lâm thuỷ sản giảm 43,92% so với năm 2005 (năm 2005 chiếm 78,92%); GDP của ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 14,16% năm 2005 lên 33,50% năm 2015; GDP của ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 6,92% năm 2005 tăng lên 31,50% năm 2017 Mặc dù có sự chuyển dịch tích cực nhưng cơ cấu kinh tế vẫn chứng tỏ vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nông nghiệp hiện nay Khu vực kinh tế công nghiệp, xây dựng các ngành dịch vụ tuy có tốc độ phát triển khá Mức chuyển dịch tăng tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng của nông lâm và thủy sản là đúng hướng và đạt mục tiêu Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV
Sự chuyển dịch kinh tế của huyện còn theo vùng lãnh thổ, trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng: Khu vực miền núi phát triển cây công