Trong thời gian tới, để hoàn thiện tăng cường công tác quản lý nợ thuế, Chi cục cần áp dụng đồng bộ các giải pháp sau: Hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện về cơ cấu tổ chức về công tác quản
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN HỌC
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Văn Viện
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Học
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy giáo, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và các Thầy giáo, Cô giáo, cán bộ Khoa sau đại học trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam Đặc biệt, tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo, PGS.TS Đỗ Văn Viện, người đã luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn
và giúp đỡ tôi thực hiện nghiên cứu và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Chi cục Thuế thành phố Thái Bình, lãnh đạo và cán bộ, công chức đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đã tận tình giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin và số liệu của Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ, động viên khích lệ, đồng thời có những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện Luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
sự đóng góp quý báu của quý Thầy giáo, Cô giáo và các bạn học viên
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Học
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 4
2.1 Cơ sở lý 4
2.1.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 4
2.1.2 Lý luận về nợ thuế 7
2.1.3 Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 14
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế 21
2.2 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế tại các nước trên thế giới và Việt Nam 24
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế của các nước trên thế giới 24
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế của Cục và Chi cục thuế đối với DN NQD tại Việt Nam 25
2.2.3 Bài học kinh nghiệm quản lý nợ thuế đối với DN NQD rút ra cho Chi cục Thuế TP Thái Bình 28
2.2.4 Các công trình nghiên cứu liên quan 29
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
Trang 53.1.1 Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Thái
Bình 31
3.1.2 Khái quát Chi cục Thuế thành phố Thái Bình 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 39
3.2.2 Phương pháp phân tích 41
3.3 Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 41
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 42
4.1 Thực trạng quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Thái Bình 42
4.1.1 Thực trạng xây dựng chỉ tiêu thu tiền nợ thuế qua các năm 42
4.1.2 Thực trạng phân công thu nợ thuế theo kế hoạch 45
4.1.3 Phân loại nợ thuế, đôn đốc thu nộp 47
4.1.4 Công tác tuyên truyền hỗ trợ để hạn chế nợ thuế 57
4.1.5 Cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế 58
4.1.6 Thanh tra, kiểm tra, phối hợp liên ngành ngăn chặn các hành vi gian lận, trốn lậu, nợ đọng thuế 59
4.1.7 Thu hồi nợ đọng thuế và hạn chế mới phát sinh 60
4.1.8 Cưỡng chế nợ thuế 62
4.2 Đánh giá chung về công tác quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Chi cục Thuế thành phố Thái Bình quản lý thời gian qua 64
4.2.1 Kết quả đã đạt được 64
4.2.2 Những hạn chế tồn tại 66
4.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 68
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế đối với các DN NQD trên địa bàn thành phố Thái Bình giai đoạn 2015-2017 70
4.3.1 Yếu tố khách quan 70
4.3.2 Yếu tố chủ quan 74
4.4 Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nợ thuế đối với DN NQD của Chi cục Thuế thành phố Thái Bình giai đoạn 2018-2022 75
4.4.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Thái Bình và định hướng tăng cường quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh (2018 - 2022) 75
Trang 64.4.2 Giải pháp tăng cường quản lý nợ thuế đối với DN NQD trên địa bàn
thành phố Thái Bình giai đoạn 2018-2022 76
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 90
5.1 Kết luận 90
5.2 Kiến nghị 90
5.2.1 Đối với Bộ Tài chính 90
5.2.2 Đối với Tổng Cục Thuế 91
5.2.3 Đối với Tỉnh ủy, Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình 92
Tài liệu tham khảo 93
Phụ lục 94
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT Công nghệ thông tin
CQT Cơ quan thuế
DN Doanh nghiệp
DN NQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh DNTN Doanh nghiệp tư nhân
GTGT Giá trị gia tăng
HĐND Hội đồng nhân dân
HSKT Hồ sơ khai thuế
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình tăng giảm số lượng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Thái
Bình 33
Bảng 3.2 Kết quả SXKD của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh qua các năm 34
Bảng 3.3 Tình hình lao động tại Chi cục 3 năm 2015 - 2017 38
Bảng 3.4 Trang thiết bị của Chi cục năm 2017 39
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 40
Bảng 4.1 Tình hình nợ thuế luỹ kế của DN NQD qua các năm 42
Bảng 4.2 Giao chỉ tiêu thu nợ tiền thuế qua các năm 45
Bảng 4.3 Tình hình thu nợ thuế của các DN NQD theo Đội thuế 46
Bảng 4.4 Tình hình nợ thuế của các DN NQD theo các khoản nợ 48
Bảng 4.5 Tình hình đôn đốc thu nợ thuế đối với DN NQD tại Chi cục Thuế thành phố Thái Bình qua các năm 53
Bảng 4.6 Tình hình nợ thuế theo thời gian nợ 54
Bảng 4.7 Mức nợ thuế theo số lượng nợ của DN NQD qua các năm 55
Bảng 4.8 Số nợ thuế của DN NQD phân theo sắc thuế qua các năm 56
Bảng 4.9 Kết quả thu nợ đọng thuế của Chi cục giai đoạn 2015-2017 61
Bảng 4.10 Tình hình cưỡng chế nợ thuế qua các năm 63
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Văn Học
Tên luận văn: “Tăng cường quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh trên địa bàn thành phố Thái Bình”
- Định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Thái Bình trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương pháp thu thập
số liệu sơ cấp; phương pháp phân tích số liệu như thống kê mô tả; phân tích so sánh, xử
lý thông tin, số liệu
Trang 10vẫn ở mức cao Công tác phối hợp với các ngành chức năng có liên quan trong việc thu hồi nợ đọng tiền thuế vẫn còn hạn chế, chưa quyết liệt Ngành Thuế chưa có giải pháp đào tạo chuyên sau công chức quản lý nợ thuế
Trong thời gian tới, để hoàn thiện tăng cường công tác quản lý nợ thuế, Chi cục cần áp dụng đồng bộ các giải pháp sau: Hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện về cơ cấu tổ chức về công tác quản lý, về con người, hoàn thiện quy trình quản lý nợ, ban hành các tiêu chí đánh giá rủi ro trong công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế, ứng dụng công nghệ thông tin vào đánh giá rủi ro và thu nợ thuế
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Van Hoc
Thesis title: Increasing tax debt management for non-state enterprises in Thai Binh city
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
- Contribute to the systematization of arguments and practical basic about Tax
debt management for non-State enterprises of the Tax Department
To evaluate the actual situation and analyze of the factors affecting to tax debt management of non-state enterprises in Thai Binh city during 2015-2017
- Orientate and propose solutions to improve tax debt management for non-state enterprises in Thai Binh city in the next time
Materials and Methods
Topics used the following research methods: Methods of data collection include secondary data collection, primary data collection; method of data analysis include method of descriptive statistics, comparative method, method of processing information and data
Main findings and conclusions
Tax debt management is one of four basic functions of the tax management model by function include: Propaganda support, declaration of tax accounting, inspection and management of tax debts Results of debt collection is a measure to evaluate the effectiveness of tax management
Tax debt management for non-state enterprises in Thai Binh city increasingly effective, contribute to improve efficiency of debt management àn forced payment of tax in general, increase budget revenue, to prevent losses of the state budget Most of the enterprises have strictly followed the policies of the State The staff is increasingly mature and strong, qualified and level to complete all tasks assigned Enhancing knowledge, awareness about tax for taxpayers, creating a fair business environment for taxpayers of all economic ingredient in performing the tax obligation to the State
However, tax debit manager at the Department still exist: Tax debt is high level
Coordination with related functional agencies in the recovery of tax debt is still limited,
not drastic The tax department branch has no solution to train specialized tax officers
In the next time, to improve and increase the management of tax debts, the
Trang 12department should apply the following solutions in a uniform manner: perfecting the law, perfecting the organizational structure of the management, perfecting the debt management process, issue risk assessment criteria for debt collection and tax debt enforcement, application of information technology in risk assessment and debt collection
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng để Nhà nước điều hành, quản lý vĩ
mô nền kinh tế mà còn là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước Thông qua việc thu thuế, Nhà nước tập trung một phần nguồn lực xã hội vào NSNN
để duy trì phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng và giữ gìn trật
tự an toàn xã hội Quản lý tốt nguồn thu và tăng thu cho Ngân sách từ thuế không những có ý nghĩa thực thi có hiệu quả pháp luật về thuế mà còn làm tăng thêm nguồn lực tài chính phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng
Với nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCN, các cá nhân, tổ chức trong xã hội được tự do sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế quốc
tế và chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước các Doanh nghiệp, nhất là các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về quy mô, số lượng và lĩnh vực hoạt động chính vì thế hệ thống thuế của nước ta đã không ngừng được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện thực tế trong nước cũng như chuẩn mực quốc tế, Chính phủ đã thông qua Đề án “Chiến lược cải cách thuế đến năm 2020” Các sắc thuế ngày càng đa dạng và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn Quy trình quản
lý thu thuế ngày càng đơn giản và tiết kiệm chi phí hơn Song cho đến nay quản lý thu thuế vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu, bởi lẽ việc quản lý thu thuế không những phản ánh các quan hệ kinh tế, mà còn giải quyết nhiều quan
hệ xã hội sâu sắc Thuế không những đòi hỏi tính khoa học, hiện thực, hợp lý
về mặt chế độ, sự chính xác trong luật định mà còn cần đến kỹ thuật và quy trình hiệu quả trong hành thu
Trong những năm qua, công tác quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Chi cục Thuế thành phố Thái Bình đã đạt được những kết quả nhất định, việc giám sát kê khai, thu nợ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tương đối chặt chẽ, số thu thuế năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, trong công tác quản lý vẫn còn có những hạn chế, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp nợ thuế chây ỳ tiền thuế Hơn nữa công tác
Trang 14quản lý nợ thuế còn chưa theo kịp với tình hình thực tiễn, chưa bao quát hết nguồn thu Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ thuế là một đòi hỏi cấp thiết, là một nhiệm vụ trọng tâm của Chi cục Thuế thành phố Thái
Bình trong giai đoạn hiện nay
Là một cán bộ đang công tác tại Chi cục Thuế thành phố Thái Bình, nhận thức được ý nghĩa của công tác quản lý nợ thuế cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn, em đã chọn đề tài:
“Tăng cường quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Thái Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Thái Bình trong thời gian qua Từ đó đề xuất số giải pháp để hoàn thiện quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh của thành phố Thái Bình trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nợ thuế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Thái Bình
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện tại Chi cục Thuế thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Trang 151.4 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Kết cấu của luận văn gồm 5 phần:
Phần 1 Mở đầu
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5 Kết luận và Kiến nghị
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
2.1.1.1 Khái niệm và phân loại luận về quản lý nợ
- Khái niệm: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý” Từ khái niệm chung này cho thấy, việc phân loại doanh nghiệp, tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà người ta phân ra các loại doanh nghiệp khác nhau Theo ngành kinh tế có thể chia ra doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp thương mại dịch vụ …
- Phân loại: Theo quy định của Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các loại hình: Công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn (1 thành viên hoặc từ 2 thành viên trở lên), công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã
2.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Một là, doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường hoạt động rất có hiệu quả
về hiệu suất sử dụng vốn Tính chất của sở hữu tư về vốn là động lực mạnh để các chủ doanh nghiệp luôn tìm đến ngành nghề kinh doanh có suất lợi nhuận cao, địa điểm đặt doanh nghiệp thuận lợi, lựa chọn phương thức kinh doanh hợp lý và chú trọng việc xây dựng các quan hệ thị trường, quan hệ xã hội có liên quan đến kinh doanh Song, cũng vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi cách, khu vực tư cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề đi ngược với lợi ích nhà nước và lợi ích xã hội
- Hai là, doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta phần đông là có quy
mô nhỏ và vừa Ưu điểm của loại quy mô này là dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh doanh nghiệp ngoài quốc doanh có mặt trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề không thuộc danh mục cấm, và có thể được đặt ở bất kỳ địa bàn nào, thậm chí không ít doanh nghiệp ngoài quốc doanh đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh ngay tại nhà dân Việc theo dõi, quản lý các DN này vì thế cũng có những yêu cầu riêng
Trang 17- Ba là, tốc độ chuyển thể của các doanh nghiệp này rất nhanh Tính sở hữu tư cho phép DN nhanh chóng ra quyết định một cách độc lập Vì vậy, doanh nghiệp ngoài quốc doanh dễ dàng tham gia hay rút khỏi thị trường, DN cũng có thể được thuyên chuyển, giải thể hay tuyên bố phá sản bất cứ lúc nào, thậm chí lặng lẽ "biến mất" Đây là một trong những nguy cơ cho các quan hệ tài chính Những khoản vốn vay được thế chấp bởi dàn máy móc lạc hậu, đơn giản hoặc những khoản nợ thuế, v.v gần như khó được bảo đảm
- Bốn là, nhân công mà doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng thường là nguồn lao động không thường xuyên Ngoài việc các quy chế về bảo hộ lao động, bảo hiểm không được thực hiện, NSNN còn thất thu thuế thu nhập cá nhân của người lao động ở khu vực này do các hoạt động kinh doanh ở phần lớn các DN không được phản ánh đầy đủ qua hệ thống sổ sách kế toán
Có thể nói, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là lực lượng sản xuất kinh doanh có hiệu quả ngay cả ở những nơi hẻo lánh, hay trong những thời kỳ khó khăn của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn chiếm tỷ trọng áp đảo Mức độ biến động của khu vực này cũng rất nhanh cả về số lượng, quy mô hay tốc độ rút khỏi thị trường Quản lý nhà nước nói chung, quản lý thuế nói riêng đối với khu vực này vì thế cần được luôn điều chỉnh để theo kịp sự phát triển của thực tiễn
2.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
- Thứ nhất, động viên tối đa mọi nguồn lực cho mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước
Bởi doanh nghiệp ngoài quốc doanh là loại hình doanh nghiệp phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế Trong thời kỳ đổi mới của đất nước giai đoạn vừa qua (từ 1991 đến nay) cho thấy, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là động lực phát triển cho nền kinh tế đất nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh với quy mô nhỏ và vừa, với mức độ đầu tư không lớn, linh hoạt, rất phù hợp cho phát triển kinh tế dân doanh
- Thứ hai, doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh là phương thức
tạo việc làm, thu nhập tại chỗ hữu hiệu cho người dân
Đầu tư cho một chỗ làm việc trong các doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài
Trang 18quốc doanh rất thấp so với doanh nghiệp Nhà ước Mỗi năm chúng ta có thêm khoảng hơn 1 triệu người lao động mới, nếu không có khu vực tư nhân thì chắc chắn vấn đề công ăn việc làm, một vấn đề cốt lỏi của xã hội, sẽ không thể được giải quyết thỏa đáng
- Thứ ba, doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện sự bổ sung hoàn hảo cho thị trường
Do những tiêu chí chuẩn mực trong tổ chức kinh doanh, và thường có quy
mô lớn, các DN có vốn nhà nước hoặc DN có vốn nước ngoài thường nhắm tới những mục tiêu lớn Trong khi đó, những phân đoạn thị trường nhỏ, có suất lợi nhuận không cao còn bỏ ngỏ Đó là cơ hội cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với tính linh hoạt trong việc ra quyết định Đến lượt nó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh lấp đầy những khoảng trống trên các thị trường ngách, đến tận những địa bàn xa xôi
Không những thế, doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn làm vệ tinh cho các Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hay Doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài (DN FDI) trong một số công đoạn sản xuất, từ khâu thu gom nguyên liệu, sơ chế nguyên liệu để cung cấp cho các nhà sản xuất lớn
- Thứ tư, doanh nghiệp NQD có những đóng góp to lớn cho NSNN thông qua việc đóng thuế về các hoạt động kinh doanh
Do tính chất linh hoạt về vốn, về hình thức tổ chức, về quy mô và phương thức kinh doanh của loại hình này, doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trên mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi địa bàn Nhờ đó, thuế từ khu vực này là nguồn thu lớn cho các cấp ngân sách
- Thứ năm, doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần tích cực vào việc thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền
Nhờ sự phân bố rộng khắp của loại hình này, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, giảm phân hoá vùng miền, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Loại hình doanh nghiệp này có vai trò quan trọng đặc biệt đối với người dân ở nông thôn, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn và có vai trò quan trọng trong việc thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên linh hoạt, dễ thích ứng với những biến động của kinh tế toàn cầu
Có thể nói, trong khi đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế, xã
Trang 19hội, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã khởi đầu một phản ứng dây chuyền về sản xuất, lưu thông hàng hóa, giải quyết việc làm, góp phần ổn định xã hội, và cuối cùng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng góp phần to lớn trong tổng thu thuế nói chung, thuế nội địa nói riêng, chưa kể đến tác động thứ phát về số thu thuế
TN cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp
2.1.2 Cơ sở lý luận về nợ thuế
2.1.2.1 Khái niệm
Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu
từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng
đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN Ví dụ như, theo Luật Quản lý thuế ban hành và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2007 thì thời hạn nộp đối với thuế Giá trị gia tăng là ngày 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế sau thời hạn nộp này, nếu người nộp thuế chưa nộp thuế vào ngân sách nhà nước thì được coi là nợ thuế
Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định
Khoản nợ là số tiền thuế bắt đầu được tính nợ hay được gọi là bắt đầu phát sinh tiền thuế nợ Chẳng hạn như tại một thời điểm, một người nộp thuế nợ 1 tỷ đồng tiền thuế thì cơ quan thuế có trách nhiệm xem xét số thuế nợ đó là nợ của những lần phát sinh nào, loại thuế nào? Chẳng hạn như nợ 3 khoản thuế GTGT,
nợ 1 khoản thuế TNDN Trên cơ sở đó, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp thu
nợ hiệu quả đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước sau khi áp dụng các biện pháp đó
Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ
và số ngày nợ thuế của một khoản nợ
Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính
theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo
ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày khoản nợ
được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác
Trang 202.1.2.2 Đặc điểm của nợ thuế
- Thứ nhất, nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Thuế là một hành vi phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà người có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước Rõ ràng, việc nộp thuế luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của NNT Vì thế tâm lý trốn thuế, tránh thuế là tâm lý phổ biến của NNT Đặc biệt ở nước ta khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất và lợi ích của thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho CQT để thu thuế Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu cho NSNN, vừa không bảo đảm công bằng xã hội Hay nói cách khác, họ tìm mọi cách
để tối thiểu hóa số thuế phải nộp Một trong những cách đó là nợ thuế Vì thế, để hạn chế nợ thuế, bên cạnh những biện pháp có tính chất pháp luật để cưỡng chế NNT tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền, phổ biến để NNT tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng
- Thứ hai, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Quy phạm pháp luật về thuế bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN Qui phạm pháp luật thuế là các qui tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện có điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN Trong các qui định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, ĐTNT, NNT và thời gian phải nộp thuế
Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của ĐTNT bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo qui định của pháp luật thuế
Trong luật quản lý thuế qui định mức xử phạt vi phạm về hành vi chậm nộp tiền thuế, tiền phạt là 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đó
- Thứ ba, nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Hành vi trốn thuế bao gồm: Chậm nộp tiền thuế và không nộp tiền thuế Trốn thuế: Là hành vi cố ý vi phạm luật thuế của ĐTNT bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp cho NN Ví dụ: Doanh nghiệp bán hàng hóa cung cấp dịch vụ hàng hóa không xuất hóa đơn, không kê khai thuế GTGT đầu ra đối với người mua không cần sử dụng hóa đơn để thanh toán nhằm
Trang 21mục đích trốn thuế GTGT phải nộp NSNN
Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Về chủ quan, do NNT cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng hoặc trốn thuế Như vậy, trong trường hợp này, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật, phát sinh do ĐTNT không tự giác kê khai, nộp thuế đúng hạn và cố tình vi phạm pháp luật Về khách quan, do có khó khăn về SXKD hoặc thu nhập chẳng hạn như: Khủng hoảng kinh tế, lạm phát, phá sản, giải thể doanh nghiệp, bỏ địa điểm kinh doanh, bệnh hiểm nghèo, tai nạn bất ngờ sảy ra … mà NNT tạm thời không có khả năng để thanh toán nghĩa vụ cho NSNN
- Thứ tư, nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của pháp luật đề giảm được một phần nghĩa vụ thuế phải nộp Ví dụ: Doanh nghiệp kê khai chi phí thuê bản quyền sáng chế, nhãn mác cao hơn giá trị thị trường của nó để tăng chi phí đầu vào, hạ thấp TNCT
Nợ thuế hoàn toàn khác về bản chất, đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình hoặc dây dưa nộp chậm
2.1.2.3 Nguyên nhân nợ thuế và những tác động của nợ thuế
- Nguyên nhân nợ thuế
Nợ thuế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể khái quát một số nhóm nguyên nhân chủ yếu sau:
+ Nhóm nguyên nhân khách quan
* Thứ nhất, do khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, chính sách quản lý của Nhà nước thay đổi
Ví dụ như những năm gần đây do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh khó khăn, không có tiền nộp thuế Riêng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, dù đã hoàn thành công trình nhưng không được giải ngân kịp thời dẫn đến nợ thuế Mặt khác, ngân hàng đang siết chặt việc cho vay khiến không ít doanh nghiệp không tiếp cận được vốn để phục hồi sản xuất kinh doanh Hoặc về chính sách thuế hiện nay đang áp dụng tỷ lệ tính phạt chậm nộp 0,03%/ngày tỷ lệ này thấp hơn lãi suất ngân hàng nên doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận nộp phạt để chiếm dụng tiền thuế…
* Thứ hai, do NNT bị thiên tai hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, mắc bệnh hiểm
Trang 22nghèo nên mất khả năng thanh toán khoản nợ thuế đối với NSNN
* Thư ba, các khoản nợ của khách hàng chậm thanh toán khi đã bàn giao hàng hóa, bàn giao công trình xong đối tác không có khả năng thanh toán chi trả các khoản nợ, đơn vị đã kê khai thuế GTGT và xác định doanh thu dẫn đến lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính không có khả năng thanh toán tiền thuế
+ Nhóm nguyên nhân chủ quan
* Thứ nhất, đại bộ phận người dân chưa phê phán và lên án mạnh mẽ
các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ, phối hợp với CQT để thu thuế vào NSNN Do đó, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, chiếm dụng tiền thuế của NSNN còn xảy ra phổ biến, vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng giữa các ĐTNT
* Thứ hai, do ý thức chấp hành luật thuế của một bộ phận NNT còn hạn
chế, chưa tự giác nộp thuế, cố tình dây dưa, trây ỳ, chiếm dụng tiền thuế của NSNN để thực hiện những mục đích khác
* Thứ ba, do một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, sản xuất
kinh doanh thua lỗ nhiều năm nên không có nguồn lực để nộp thuế, dẫn đến nợ thuế kéo dài nhiều năm
* Thứ tư, NNT từ trước đã quen với việc đôn đốc, ra thông báo nộp thuế
của CQT Vì vậy nhiều ĐTNT chưa hình thành thói quen tự giác nộp thuế vào NSNN khi chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp
- Những tác động của nợ thuế
Nợ thuế không những có tác động nghiêm trọng với công tác quản lý thuế
mà còn có tác động nghiêm trọng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Những tác động đó có thể khái quát trên một số mặt sau:
+ Thứ nhất, Nợ thuế gây thất thu cho NSNN Thuế là nguồn thu chủ yếu
của NSNN Yêu cầu đối với quản lý thuế là phải thu đúng, thu đủ và thu kịp thời
số thuế phải nộp vào NSNN để Nhà nước có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội Nếu nguồn tài chính không đủ hoặc không kịp thời thì các nhiệm vụ chi tiêu của Chính phủ sẽ không thực hiện đúng tiến độ, các cân đối kinh tế bị phá vỡ, các nhiệm vụ về an sinh, xã hội không được thực hiện làm cho kinh tế suy thoái hoặc kém hiệu quả
+ Thứ hai, nợ thuế gây mất công bằng về nghĩa vụ thuế giữa các ĐTNT và
Trang 23tạo môi trường kinh doanh không bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân đang kinh doanh trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế
+ Thứ ba, nợ thuế tạo ra chi phí không cần thiết đối với xã hội liên quan
đến công tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc quản lý
Phân loại nợ thuế là việc sắp xếp nợ thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Việc phân loại nợ thuế giúp cơ quan thuế xác định được nguyên nhân nợ, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý thu nợ thuế có hiệu quả Phân loại nợ thuế sẽ giúp cơ quan thuế đưa ra các biện pháp quản lý, đôn đốc thu nợ; đồng thời, tạo thuận lợi cho công tác tổng hợp số liệu báo cáo, khắc phục được sự không rõ ràng, không thống nhất trong công tác quản lý nợ
- Tiêu chí phân loại nợ thuế
Theo Quy trình quản lý nợ thuế ban hành kèm theo Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế tiền thuế nợ được chia thành các nhóm sau:
+ Tiền thuế nợ từ 01 đến 30 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 01 đến 30 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN
+ Tiền thuế nợ từ 31 đến 60 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 31 đến 60 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN
+ Tiền thuế nợ từ 61 đến 90 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 61
Trang 24đến 90 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN
+ Tiền thuế nợ từ 91 ngày đến 120 ngày là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 91 ngày đến 120 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN
+ Tiền thuế nợ từ 121 ngày trở lên là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ
121 trở lên nhưng NNT chưa nộp vào NSNN
+Tiền thuế đang khiếu nại là số tiền thuế mà NNT phải nộp NSNN theo quy định nhưng NNT đã có văn bản gửi cơ quan thuế khiếu nại về số tiền thuế phải nộp, cơ quan thuế đang trong giai đoạn giải quyết khiếu nại
+ Tiền thuế đã hết thời gian gia hạn nộp thuế là số tiền thuế đã được gia hạn nộp thuế nhưng khi hết thời gian gia hạn nộp thuế, NNT chưa nộp thuế vào NSNN
+ Tiền thuế nợ đang xử lý: là số tiền thuế nợ của NNT có văn bản đề nghị
xử lý nợ, hồ sơ kèm theo văn bản đề nghị đầy đủ theo quy định, cơ quan thuế đã tiếp nhận hồ sơ và đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để
ban hành quyết định hoặc văn bản xử lý nợ, bao gồm các trường hợp sau:
+ Tiền thuế nợ khó thu, bao gồm các trường hợp sau:
a Tiền thuế nợ đang xác định đối tượng để thu, bao gồm các trường hợp sau:
* Tiền thuế nợ của NNT được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ
* Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là số tiền thuế nợ của NNT đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật, chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế
* Tiền thuế nợ của NNT bỏ địa chỉ kinh doanh: là số tiền thuế nợ của NNT mà cơ quan thuế đã kiểm tra, xác định NNT không còn hoạt động kinh doanh và đã thông báo cơ sở kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế
* Tiền thuế nợ của NNT chờ giải thể: là số tiền thuế nợ của NNT đã thông
Trang 25qua quyết định giải thể doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán đầy đủ các khoản
nợ thuế theo quy định của pháp luật
* Tiền thuế nợ của NNT mất khả năng thanh toán: là số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật
b Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế
* Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế và dưới 10 năm: là các khoản tiền thuế nợ mà cơ quan thuế đã áp dụng đến biện pháp cưỡng chế nợ thuế cuối cùng là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề nhưng vẫn không thu hồi được
tiền thuế nợ, thời gian nợ dưới 10 năm
* Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế và từ 10 năm trở lên: là các khoản tiền thuế nợ mà cơ quan thuế đã áp dụng đến biện pháp cưỡng chế nợ thuế cuối cùng là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề nhưng vẫn không thu hồi được tiền thuế nợ, thời gian nợ từ 10 năm trở lên
+ Tiền thuế đang chờ điều chỉnh, bao gồm các trường hợp sau:
a Tiền thuế chờ điều chỉnh do sai sót:
* NNT ghi sai, ghi thiếu các chỉ tiêu trên chứng từ thu NSNN;
* Các sai sót của KBNN, NHTM;
* Các sai sót của cơ quan thuế như: xử lý sai dữ liệu về số thuế phải nộp hoặc đã nộp NSNN; NNT kê khai thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, đã nộp thuế của cơ sở sản xuất trực thuộc tại địa bàn tỉnh/thành phố khác nơi đóng trụ sở chính, cơ quan thuế quản lý trực tiếp
cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính chưa nhận được chứng từ nộp thuế
* Các sai sót khác
b, Tiền thuế chờ điều chỉnh do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc: chứng từ luân chuyển từ KBNN, NHTM sang cơ quan thuế không thực hiện đúng quy định; chứng từ thất lạc, cơ quan thuế đã nhận được sau thời gian thất lạc
do NNT hoặc KBNN, ngân hàng cung cấp; chứng từ do công chức thuế hoặc ủy nhiệm thu đã thu nhưng chưa kịp thời thực hiện các thủ tục thanh toán tiền thuế,
Trang 26nộp tiền vào NSNN theo đúng quy định
c, Tiền thuế chờ ghi thu - ghi chi: là số tiền thuế NNT đã kê khai và thực hiện các thủ tục nộp NSNN nhưng cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục ghi thu, ghi chi vào NSNN hoặc số tiền chưa đến thời hạn được cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục ghi thu - ghi chi theo định kỳ (tháng, quý, năm)
d, Tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưng chưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng dẫn đến hệ thống vẫn theo dõi là tiền thuế nợ
e, Tiền thuế không tính tiền chậm nộp: là số tiền thuế nợ của NNT đã được cơ quan thuế ban hành quyết định không tính tiền chậm nộp
2.1.3 Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
2.1.3.1 Quản lý nợ thuế
a Khái niệm
Khái niệm quản lý nợ thuế là việc áp dụng các biện pháp và mô hình tổ chức quản lý của cơ quan thuế nhằm phân loại nợ thuế, đánh giá thực trạng nợ, tổ chức công tác thu nợ tại Cơ quan Thuế các cấp, để từ đó đưa ra các hình thức thu
nợ thuế phù hợp nhằm thu đúng, thu đủ, tiết kiệm chi phí quản lý, phù hợp với từng đối tượng, theo từng thời kỳ và theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước thời kỳ đó
Thông thường, khi chuẩn bị áp dụng một biện pháp thu nợ cụ thể thì ngoài việc phân loại các khoản nợ để thu nợ hiệu quả cơ quan thuế thường đưa ra một mức tiền nợ khởi điểm để quản lý khoản nợ đó Do vậy, số tiền thuế nợ của người nộp thuế tại một thời điểm ở một ngưỡng nhất định được gọi là mức nợ Việc chia ra thành các mức nợ thuế khác nhau giúp cho cơ quan thuế có thể quản
lý từng loại nợ với từng đối tượng từ đó áp dụng các biện pháp thu nợ phù hợp đối với từng mức nợ nhất định Tương tự như cách phân loại mức nợ như trên, cũng với một khoản nợ thì tuổi nợ được coi là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu nợ phát sinh đến thời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê nó Tuổi nợ thường được tính theo ngày, tuy nhiên việc xác định tuổi nợ
sẽ không giống như qui định của Bộ Luật lao động khi xác định số ngày chậm nộp tờ khai, chậm nộp thuế mà tuổi nợ được tính liên tục từ khi nó phát sinh Việc thống kê theo tuổi nợ cũng có ý nghĩa giúp cơ quan chức năng quản lý nợ một cách khoa học và có các biện pháp thu nợ phù hợp Việc phân ra mức nợ, tuổi nợ như trên có ý nghĩa quan trọng đối với biện pháp quản lý nợ của cơ quan
Trang 27thuế, bởi trong cùng một thời điểm, có thể mức nợ 2 tỷ đồng chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với khả năng trả nợ của một người nộp thuế này nhưng đối với người nộp thuế khác thì mức nợ trên là rủi ro trong thu nợ của cơ quan thuế
Do vậy, trong công tác quản lý nợ thuế, để đảm bảo thu đúng nợ, chính xác, kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước, đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của pháp luật thuế thì việc phân loại nợ, kết hợp với mức nợ và tuổi nợ có ý nghĩa quan trọng trong biện pháp quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế của cơ quan thuế, nó là một trong những yếu tố đảm bảo các biện pháp thu nợ, các biện pháp cưỡng chế của cơ quan thuế là chính xác, kịp thời
b Vai trò của quản lý nợ thuế
Công tác quản lý thu nợ là một trong những chức năng có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý thuế Quản lý nợ thuế là khâu cuối cùng trong
hệ thống quản lý thuế, nó là một chức năng chính và cơ bản của mô hình quản lý thuế được sử dụng để quản lý hệ thống thuế Do đó, quản lý nợ thuế đóng vai trò rất quan trọng, được thể hiện trên các khía cạnh sau:
+ Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vào Ngân sách Nhà nước; đảm bảo công bằng xã hội khi các
cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào Ngân sách Nhà nước đúng hạn
+ Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà nước, chống thất thoát Ngân sách Nhà nước, quản lý nợ sẽ đảm bảo các chính sách thuế được thực hiện đúng và triệt để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp có hành vi vi phạm về kê khai, nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế + Thứ ba, việc quản lý nợ để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu nợ phù hợp, hiệu quả, mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như: thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế
c Yêu cầu đối với công tác quản lý nợ thuế
Yêu cầu của công tác quản lý nợ là một định hướng tất yếu trong quản lý
nợ, nó chính là yếu tố tiên quyết để công tác quản lý nợ đạt hiệu quả Cụ thể:
Trang 28+ Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng, việc quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoản thu của ngân sách nhà nước là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nợ Đặt giả thiết việc quản lý nợ của cơ quan thuế không đầy đủ, không bao quát hết các khoản phải thu của ngân sách thì sẽ dẫn tới thất thoát ngân sách nhà nước Mặt khác, công tác cưỡng chế sẽ không thực hiện được, hoặc thực hiện sẽ không chính xác, đôi khi việc cưỡng chế của
cơ quan thuế đối với các khoản nợ ảo do quản lý không tốt còn mang lại tác dụng ngược khi gặp phản ứng từ phía người nộp thuế Chính vì vậy, việc đảm bảo quản lý đầy đủ, chính xác các khoản nợ thuế của ngân sách nhà nước là yêu cầu quan trọng trong công tác quản lý nợ thuế
+ Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế
có các biện pháp quản lý phù hợp Bên cạnh việc phân loại nợ theo các tiêu thức tại phần trên, việc phân loại phải được nghiên cứu một cách khoa học, các tiêu thức phân loại phải được kết hợp với nhau một cách hợp lý, để cơ quan quản lý đánh giá, xem xét đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước
+ Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu ngân sách nhà nước Yêu cầu này cũng chính là định hướng nghiên cứu xuyên suốt đề tài, đó cũng chính là yêu cầu cần được các nhà quản lý thuế nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể trong quá trình quản lý thuế nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước, góp phần phát triển đất nước tiến lên trên con đường XHCN
d Nội dung quản lý nợ thuế
Tổng cục thuế đã ban hành qui trình quản lý nợ kèm Quyết định số: 1401/QĐ-TCT ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế qui định những nội dung cụ thể trong công tác quản lý nợ Cụ thể:
+ Lập chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thực hiện quản lý thu nợ năm: Việc lập chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ hàng năm có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nợ thuế Không những là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ thuế năm thực hiện mà còn là những biện pháp chỉ đạo vô cùng quan trọng đối với công tác quản lý nợ thuế hàng năm Do đó hiệu quả của công tác lập chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ hàng năm có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nợ thuế
Trang 29+ Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ: Đây là nội dung cơ bản của công tác quản lý nợ thuế Bao gồm các nội dung sau:
1) Phân công quản lý nợ thuế: Là việc thủ trưởng bộ phận quản lý nợ
thực hiện phân công chi tiết từng NNT, từng khoản thuế nợ cho cán bộ theo dõi
nợ thuế
2) Phân loại tiền thuế nợ: Phân loại nợ thuế là việc sắp xếp nợ thuế thành
những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định
3) Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ: Sau khi thực hiện
phân loại nợ thuế, đôn đốc nợ thuế, công chức quản lý nợ thực hiện lập nhật ký
và sổ theo dõi tiền thuế nợ nhằm theo dõi lịch sử đôn đốc nợ thuế của từng NNT Nhật ký theo dõi tiền thuế nợ được lập riêng cho từng người nộp thuế để theo dõi từng khoản tiền thuế nợ
4) Thực hiện đôn đốc thu nộp: Là việc cơ quan thuế thực hiện các biện
pháp đôn đốc thu nợ để thu hồi số tiền nợ đọng vào NSNN, bao gồm: gọi điện thoại nhắc nhở, gửi giấy mời lên làm việc, phạt chậm nộp, cưỡng chế
5) Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn kiêm bù trừ
6) Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ: Tài liệu liên quan đến công tác quản lý
nợ thuế được lưu trữ tại bộ phận quản lý nợ thuế và các bộ phận liên quan tham gia thực hiện qui trình theo chức năng, nhiệm vụ riêng của từng bộ phận trong qui trình quản lý
2.1.3.2 Cưỡng chế nợ thuế
a Khái niệm
Cưỡng chế nợ thuế là việc đến thời hạn qui định được ghi trong thông báo
nợ thuế hoặc trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế nhưng cá nhân hoặc tổ chức vi phạm về thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế thì bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế bằng các biện pháp cưỡng chế theo pháp luật qui định, như khấu trừ vào tiền lương, thu nhập hoặc khấu trừ tiền
từ tài khoản của cá nhân, tổ chức tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tài chính khác; hoặc cưỡng chế, tịch biên tài sản
b Đặc điểm của cưỡng chế nợ thuế
+ Cưỡng chế nợ thuế là một hành vi thi hành pháp luật về thuế
Trang 30Cưỡng chế nợ thuế thể hiện sức mạnh quyền lực của Nhà nước, Nhà nước dùng biện pháp cần thiết để cưỡng chế người nợ thuế bắt buộc nộp tiền thuế nợ vào NSNN Bởi vì với tư cách là một thiết chế quyền lực của giai cấp thống trị xã hội, Nhà nước có đầy đủ những ưu thế cần thiết cho việc nắm bắt, chuyển tải cũng như sự tôn trọng, ý chí của mình trong việc tổ chức, điều hành một nền kinh tế phát triển theo những mục tiêu, định hướng nhất định Bằng các hình thức hoạt động của bộ máy Nhà nước, Nhà nước tác động lên các quan hệ xã hội để đảm bảo cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục tiêu đã định, ngăn ngừa các khuynh hướng phát triển sai lệch, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện sai trái
+ Cưỡng chế nợ thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế
Chỉ khi các biện pháp thu nợ đã được thực hiện nhưng người nợ thuế vẫn chưa chịu nộp số thuế nợ vào NSNN thì khi đó CQT buộc phải dùng đến những biện pháp cưỡng chế thuế Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế đảm bảo 100% các khoản nợ thuế được nộp vào NSNN, góp phần chống thất thu thuế
+ Thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế không chỉ liên quan đến cơ quan Thuế mà còn có sự tham gia của các cơ quan thi hành pháp luật khác
Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối hợp với các cơ quan, ban, ngành chức năng có liên quan: kho bạc, Ngân hàng, công an, viện kiểm soát… Đồng thời khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế sẽ gây tốn kém
về thời gian, chi phí và nhân lực Chẳng hạn như cần có thời gian chuyển hồ sơ cho bên công an hay thông báo trích, chuyển tài khoản của khách hàng…
c Vai trò của công tác cưỡng chế nợ thuế
Quản lý nợ thuế là hai mặt tác động và bổ sung và hỗ trợ cho nhau Quản
lý nợ thuế có vai trò quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế, theo dõi quản lý nợ để đảm bảo số nợ thuế của đối tượng nộp thuế chính xác Cưỡng chế nợ thuế căn cứ vào số liệu nợ từ công tác quản lý nợ để tác động vào tình hình tuân thủ của đối tượng nộp thuế một cách phù hợp và tiết kiệm chi phí tối đa Chính vì vậy, cưỡng chế thuế có vai trò tích cực trong việc đảm bảo việc quản lý thuế nói chung và quản lý nợ nói chung đạt hiệu quả, vai trò của công tác cưỡng chế được thể hiện như sau:
+ Thứ nhất, cưỡng chế nợ thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế thực hiện nghiêm pháp luật thuế, đồng thời đảm bảo thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế
Trang 31vào ngân sách nhà nước
+ Thứ hai, thực tế hiện nay cho thấy, bên cạnh những người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế, kê khai nộp thuế đúng thời hạn thì còn không ít người nộp thuế có hiện tượng chây ỳ, cố tình trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, tiền phạt vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, cơ quan quản lý thuế lại chưa có biện pháp, các chế tài đủ mạnh và có hiệu quả để thu đủ tiền thuế vào ngân sách nhà nước Do
đó, dẫn đến hiện tượng cố tình không nộp thuế đúng hạn, lợi dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi của nhà nước để nhằm chiếm đoạt vốn nhà nước, gây ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế, giữa các thành phần kinh tế Chính vì lẽ đó, việc thu nợ bằng các biện pháp cưỡng chế đóng vai trò quan trọng trong quá trình chống thất thu thuế của ngân sách nhà nước, đảm bảo công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế
+ Thứ ba, trước đây do hậu quả của nền kinh tế tập trung bao cấp để lại, nền kinh tế là tự cấp tự phát, bên cạnh việc hầu hết ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế kém, tình trạng trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, tham nhũng xảy
ra tại các công ty thuộc sở hữu của Nhà nước tràn lan đã ăn sâu vào ý thức của người dân Chính vì vậy, nền kinh tế phát triển không ngừng nhưng một bộ phận không nhỏ người nộp thuế vẫn giữ thói quen cũ, cố tình trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, lợi dụng các kẽ hở của cơ chế, chính sách để trốn thuế, tránh thuế gây thất thu ngân sách, hiện tượng coi thường pháp luật thuế diễn ra ở nhiều nơi, nhiều đối tượng Về phía cơ quan quản lý thuế chưa có biện pháp, chế tài đủ mạnh để có ý nghĩa răn đe, giáo dục người nộp thuế Do đó, cùng với các chế tài
xử phạt khác thì cưỡng chế thuế có vai trò giáo dục, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, góp phần quản lý thuế có hiệu quả, đảm bảo hiệu lực của bộ máy công quyền Nhà nước
d Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế nợ thuế
Cũng như quản lý nợ, công tác cưỡng chế nợ thuế của cơ quan thuế chỉ đạt được hiệu quả khi xác định đúng mục tiêu và các yêu cầu cụ thể Cưỡng chế nợ thuế là việc áp dụng các biện pháp, chế tài xử lý của cơ quan quản lý thuế nhằm mục đích thu đúng, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước Do vậy, công tác cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Thứ nhất, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật nhà nước Yêu cầu này đòi hỏi các quyết định cưỡng chế thuế khi ban hành phải
Trang 32đảm bảo được thực hiện một cách thống nhất từ cấp trung ương tới địa phương Tránh xảy ra tình trạng một quyết định hành chính về cưỡng chế thuế khi ban hành không được thực hiện do các nguyên nhân chủ quan từ phía cơ quan thuế như ban hành không chính xác về số tiền nợ hoặc không chính xác tên đối tượng
nợ, sẽ dẫn đến phản ứng từ đối tượng nợ thuế Việc ban hành các quyết định hành chính nếu không được thi hành sẽ làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật nhà nước, gây mất lòng tin của nhân dân vào bộ máy công quyền Chính vì vậy, đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật nhà nước là yêu cầu tất yếu trong công tác cưỡng chế thuế của cơ quan thuế, góp phần đảm bảo minh bạch trong công tác quản lý thuế của cơ quan thuế
+ Thứ hai, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan
quản lý thuế Có nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế hành chính thì
cơ quan thuế phải đảm bảo chi phí cưỡng chế là tối thiểu Mặt khác, quyết định cưỡng chế khi ban hành phải đảm bảo đầy đủ thẩm quyền của cơ quan thuế, quyền và nghĩa vụ của người nợ thuế, chi phí của người nợ thuế khi thực hiện cưỡng chế được giảm đến tối thiểu… Trước khi ban hành một quyết định cưỡng chế thì cơ quan thuế phải tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện cưỡng chế thuế như thời gian cưỡng chế, địa điểm thi hành, hình thức cưỡng chế… để công tác cưỡng chế đạt hiệu quả nhất Cơ quan thuế cần cân nhắc thật
kỹ lưỡng đối với từng trường hợp nợ thuế, trường hợp nào thì cần cưỡng chế theo hình thức nào, thời gian nào, ví dụ như một đối tượng nợ thuế là 30 triệu đồng thì biện pháp tịch thu tài sản là không thích hợp, do chi phí cao mà hiệu quả lại thấp Hay một đối tượng nợ 3 tỷ đồng thì biện pháp dừng bán hoá đơn hay biện pháp trích tài khoản tiền gửi sẽ đem lại hiệu quả tối ưu… các vấn đề trên đặt ra yêu cầu cho việc cưỡng chế phải đảm bảo tính hiệu quả khi thực hiện
+ Thứ ba, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của
người nộp thuế, thông qua cưỡng chế thuế cơ quan thuế góp phần nâng cao tính hiệu lực của pháp luật đồng thời góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế
2.1.3.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ và cưỡng chế thuế
- Quản lý nợ và cưỡng chế thuế là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt và độc lập với nhau, nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ và bổ sung cho nhau Quản lý thuế chỉ đạt hiệu quả cao khi công tác quản lý nợ thuế song
Trang 33hành và bổ sung lẫn nhau, điều này thể hiện qua các khía cạnh sau:
- Quản lý nợ là cơ sở để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biện pháp cưỡng chế hiệu quả Thông qua các phương pháp phân loại nợ, các tiêu chí đánh giá rủi ro trong quản lý nợ thì cơ quan thuế xác định được những khoản nợ cần
ưu tiên tập trung để thu nợ Đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế, chẳng hạn như có những trường hợp qua phân loại nợ nhận thấy các khoản nợ thông thường chưa cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hoặc qua phân loại nợ xác định được những khoản nợ khó thu thì cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế như trích tiền gửi ngân hàng, tổ chức tín dụng… mục đích cuối cùng là thu đủ thuế vào ngân sách nhà nước
- Quản lý nợ tốt sẽ dẫn tới việc đôn đốc của cơ quan thuế đối với người nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ thông thường giảm, khi
số lượng nợ chuyển sang nợ khó thu giảm đi, nó sẽ tác động trực tiếp đến khối lượng công việc cưỡng chế thuế, từ đó chi phí cưỡng chế thuế giảm đồng thời đạt được yêu cầu đặt ra đối với công tác cưỡng chế thuế là tính hiệu quả khi chi phí cưỡng chế của cơ quan thuế là thấp nhất và hiệu quả thu nợ là tối đa
Ở chiều tác động ngược lại, việc cưỡng chế có hiệu quả sẽ trực tiếp làm cho số tiền nợ thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang được theo dõi tại cơ quan thuế sẽ giảm đi Khi số lượng các khoản nợ giảm thì khối lượng công việc quản lý nợ cũng giảm, từ đó cơ quan thuế sẽ tập trung huy động nguồn lực vào công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, tăng cường thanh tra, kiểm tra hồ
sơ khai thuế
Tóm lại, công tác quản lý nợ thuế có mối quan hệ tác động tương hỗ, do
đó nghiên cứu nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nợ cũng chính là để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thuế, góp phần nâng cao năng lực quản lý thuế Vậy, hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế được thể hiện ra sao
và theo các tiêu chí nào chính là những vấn đề cần được nghiên cứu làm rõ
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế
Trang 34thuế, quản lý nợ thuế, ngoài ra còn do ảnh hưởng từ các yếu tố chính sách pháp luật thuế Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế
- Thứ nhất, tổ chức công tác quản lý nợ không được sắp xếp khoa học sẽ ảnh hưởng tới việc theo dõi nợ không chính xác Mặt khác, quản lý nợ chồng chéo giữa các bộ phận chức năng về thuế sẽ làm tăng tính ỷ lại của bộ phận này vào bộ phận khác, sẽ dẫn đến sự lỏng lẻo trong khâu quản lý, bỏ sót nợ hoặc chậm đôn đốc nợ Bên cạnh việc tổ chức công tác nợ thì việc đào tạo các kỹ năng quản lý nợ cho đội ngũ cán bộ quản lý cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đôn đốc, thu nợ nói riêng và quản lý thuế nói chung Nếu cán bộ quản lý nợ không tinh thông nghiệp vụ thì khi xử lý vấn đề về nợ hoặc cưỡng chế sẽ lúng túng và không kịp thời ban hành các quyết định xử lý
- Thứ hai, các công cụ hỗ trợ quản lý thuế như hệ thống phần mềm hỗ trợ
về kê khai kế toán thuế, quản lý nợ thuế cũng là yếu tố quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ Việc nghiên cứu, thiết kế các phần mềm quản lý nợ nếu không kịp thời sẽ không phát huy hết hiệu quả của công nghệ thông tin, ảnh hưởng trực tiếp đến số liệu nợ trên phần mềm không thống nhất với số liệu của người nộp thuế, sẽ dẫn đến việc tính phạt gặp sai sót, sai ngày nộp tiền của người nộp thuế, sai hạn nộp thuế của từng sắc thuế… làm cho khối lượng công việc của cán bộ quản lý nợ tăng lên khi phải đối chiếu số liệu với người nộp thuế Ngoài
ra nếu áp dụng tính phạt chậm nộp theo Luật quản lý thuế hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế sẽ có nhiều sai lệch, một mặt gây phản ứng từ phía các doanh nghiệp, hoặc sẽ làm cho số nợ ảo tăng lên nhiều
- Thứ ba, chính sách pháp luật cũng có tác động đến các quyết định của cơ quan quản lý đối với việc áp dụng các biện pháp quản lý nợ thuế trong từng thời
kỳ Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời bao quát hết các trường hợp khó khăn để giãn nợ, xoá nợ Tránh trường hợp một
số người nộp thuế không có khả năng nộp thuế, nợ đọng kéo dài nhưng cơ quan thuế vẫn tính phạt nộp chậm lại càng làm cho số nợ tăng lên, sẽ càng làm cho việc quản lý thu nợ gặp nhiều khó khăn Việc đánh giá hiệu quả công tác quản lý
nợ thuế sẽ lại càng không chính xác
- Thứ tư, ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế cũng là một yếu tố tác động chủ yếu tới hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế Giả sử ý thức tuân thủ,
Trang 35chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế không tốt thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ sẽ gặp nhiều khó khăn do đối tượng cố tình dây dưa chây ỳ không nộp, hoặc trường hợp do chính sách qui định chưa rõ thì đối tượng
sẽ cố tình áp dụng tính thuế sai, khi cơ quan thuế phát hiện ra truy thu thì lại khiếu nại, cố tình không nộp…
2.1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan
- Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý nợ thuế Giả sử khi lạm phát tăng cao, khi đó chính phủ sẽ phải thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ, áp dụng mức lãi suất tín dụng tăng cao sẽ làm cho giá cả các mặt hàng, nguyên liệu đầu vào tăng Điều này sẽ dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp tăng làm cho hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp giảm nhiều, dẫn đến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn không có khả năng nộp thuế đúng thời hạn hoặc cố tình chây ỳ nộp thuế dù biết
có thể bị phạt chậm nộp từ phía cơ quan thuế
- Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế trong công tác quản lý nợ thuế cũng rất quan trọng Chẳng hạn như, trường hợp cung cấp số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, hoặc tại một số địa phương, uỷ ban nhân dân nếu không quan tâm chỉ đạo sát sao các cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan thuế để đôn đốc, cưỡng chế nợ thì cũng làm cho công tác thu nợ gặp nhiều khó khăn
- Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế, theo thống kê của các nhà nghiên cứu về thuế thì khi nền kinh tế lạc hậu thì ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế thường không cao, chính điều này đã làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế nói chung và quản lý đôn đốc nợ nói riêng
- Thứ tư, tính tuân thủ pháp luật thuế của NNT còn chưa cao, hiện tượng chây ỳ tiền thuế, lạm dụng tiền thuế để phục vụ hoạt động khác của NNT còn khá phổ biến
- Thứ năm, các biện pháp hỗ trợ tuyên truyền NNT thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước còn hạn chế
- Thứ sau, việc phối hợp thu hồi nợ đọng tiện thuế giữa các cấp các ngành còn thiếu quyết liệt coi việc thu thuế, quản lý thuế là việc làm của ngành thuế
Trang 362.2 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của các nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Malaysia
Cơ quan thuế Malaysia không thành lập đội quản lý nợ và cưỡng chế thuế riêng mà tại mỗi ban của cơ quan thuế đều thành lập một bộ phận thu nợ, và cử một cán bộ lãnh đạo đảm nhận công việc liên quan đến công tác thu nợ có từ ba đến năm thành viên Chức năng chủ yếu của bộ phận thu nợ gồm: Lập kế hoạch thu nợ, chuẩn bị các kế hoạch, chương trình quản lý nợ; tổ chức họp hàng tuần hoặc theo định kỳ hai tuần một lần nhằm theo dõi tình hình thu nợ thuế Trực tiếp liên hệ với người nộp thuế, thoả thuận thanh toán theo phân kỳ và thực hiện các biện pháp cần thiết để nâng cao nhận thức của người nộp thuế về trách nhiệm nộp thuế
Các biện pháp cưỡng chế áp dụng:
+ Đóng cửa các cơ sở kinh doanh còn nợ tiền thuế;
+ Chỉ định ngân hàng là đơn vị nộp thay tiền thuế hoặc phong tỏa tài khoản ngân hàng nếu không có khoản tín dụng nào khác để thanh toán tiền thuế
nợ đọng;
+ Không cho NNT còn đang trong tình trạng nợ đọng thuế được xuất cảnh; + Đình chỉ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của người nộp thuế còn nợ đọng tiền thuế;
+ Tịch thu tài sản của người nộp thuế cũng như gia đình của NNT còn nợ đọng tiền thuế nếu tất cả các tài sản đó do NNT tài trợ
Các biện pháp cưỡng chế không phải thực hiện tuần tự mà được áp dụng linh hoạt với từng đối tượng nhằm thu được số thuế cao nhất với chi phí thấp nhất
Thành lập bộ phận điều tra thuế và thông tin tình báo Kết luận điều tra thuế làm căn cứ để khởi tố vụ án và căn cứ xét xử tội phạm trốn thuế tại Toà án
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, để thực hiện công tác thu nợ thuế, bộ phận quản lý nợ được thành lập tại các cấp Đội thu nợ trực thuộc Ban quản lý và thu Ngân sách đã
Trang 37được thành lập tại Tổng cục thuế, Cục thuế vùng cũng có các đội thu nợ trong khi Chi cục thuế có các nhóm thu nợ
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nợ thuế của Cục và Chi cục thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm của Cục Thuế Hà Nội
Để đạt được kết quả thu nợ thuế tốt, Cục Thuế Hà Nội không chỉ chú trọng vào công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, mà còn đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm tạo thuận lợi và giảm chi phí cho người nộp thuế
Thời gian qua, Cục Thuế Hà Nội đã tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế, quy trình Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Bên cạnh đó, Cục Thuế tiếp tục phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về thuế dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú để cộng đồng doanh nghiệp, NNT biết, hiểu, tự giác tuân thủ pháp luật thuế Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về nợ thuế, qua đó giúp phân loại và xác định chính xác số
nợ, nguyên nhân và thực trạng nợ của từng doanh nghiệp.Cục Thuế còn thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của NNT, luôn lắng nghe và thu thập thông tin từ phía NNT có giải pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể
Trang 38nhằm chia sẻ, hỗ trợ giúp NNT vượt qua khó khăn, sớm hoàn thành nghĩa vụ với NSNN; rà soát, kiến nghị, tham mưu với Thành phố, Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, sửa đổi cơ chế, chính sách theo hướng minh bạch, thông thoáng; thực hiện tốt các chính sách miễn, giảm, gia hạn về thuế của Nhà nước nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp
Để đạt được kết quả thu nợ thuế tốt, Cục Thuế Hà Nội không chỉ chú trọng vào công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, mà còn đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm tạo thuận lợi và giảm chi phí cho NNT; tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thu xếp nguồn tiền để nộp nợ thuế Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các khâu, các bước công việc trong công tác quản lý thuế, qua đó xác định rõ được trách nhiệm của từng bộ phận, từng người, từ đó ngăn ngừa và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm
Tập trung xây dựng cở sở dữ liệu về người nộp thuế, đảm bảo đầy đủ, chính xác, có tính liên kết, tích hợp, hệ thống và lịch sử; đặc biệt hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở dữ liệu về kinh tế đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thuế; nghiên cứu và đẩy mạnh phát triển các công cụ, phần mềm hỗ trợ, các ứng dụng công nghệ thông minh trong triển khai công việc
2.2.2.2 Kinh nghiệm của Cục Thuế Nghệ An
Trong năm 2016 và năm 2017, toàn ngành Thuế Nghệ An đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp quản lý nợ thuế như: Giao chỉ tiêu thu nợ cho từng đội, từng chi cục; thực hiện kiên quyết các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế (CCNT) như ban hành Thông báo nợ và tiền chậm nộp, ban hành các Quyết định CCNT đối với các trường hợp phải cưỡng chế nợ thuế; tham mưu UBND tỉnh công văn không cho đấu thầu đối với các doanh nghiệp nợ thuế trên 1 tỷ đồng; phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường để thu hồi nợ thuế các doanh nghiệp khai thác khoáng sản; nhắn tin đôn đốc nộp nợ thuế đến giám đốc các doanh nghiệp; công bố thông tin NNT chây ỳ nợ thuế lên báo, trang Web Cục Thuế, loa phát thanh phường, xã…
Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trong cưỡng chế nợ thuế; phối hợp các sở,
Trang 39ngành để thu hồi nợ thuế Do vậy, công tác quản lý nợ thuế đạt được những kết quả đáng kể, góp phần quan trọng vào việc thu ngân sách, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của tỉnh, của ngành
Năm 2016, các chi cục đã thực hiện tính tiền chậm nộp 184.093 lượt, số tiền chậm nộp 79 tỷ đồng Thực hiện cưỡng chế nợ thuế 17.989 lượt NNT, số tiền thu được qua CCNT 186,8 tỷ đồng Các Chi cục giảm nợ so với 31/12/2015 gồm: Tân Kỳ 2 tỷ đồng, TX Hoàng Mai 1,6 tỷ đồng, Quỳ Châu 1 tỷ đồng 5 tháng đầu năm công tác chống nợ đọng thuế tiếp tục thực hiện quyết liệt Kết quả, đến thời điểm 31/12/2017, tổng nợ thuế còn 961 tỷ đồng Trong đó, nợ có khả năng thu là 624 tỷ đồng; Nợ khó thu là 337 tỷ đồng (bao gồm: Tiền thuế nợ của người nộp thuế (NNT) được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xóa nợ; tiền nợ thuế có liên quan đến trách nhiệm hình sự chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế; tiền nợ thuế của NNT bỏ địa chỉ kinh doanh; NNT chờ giải thể; NNT mất khả năng thanh toán và tiền thuế
nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế nợ thuế
Thời gian vừa qua, Cục Thuế Nghệ An đã triển khai rất quyết liệt các biện pháp cưỡng chế nợ thuế, như: Cưỡng chế qua tài khoản ngân hàng, thu nợ qua bên thứ ba, cưỡng chế về hóa đơn, kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đồng thời tiến hành phân loại nợ, áp dụng các biện pháp thu nợ như gọi điện thoại đôn đốc nợ, nhắn tin qua điện thoại của người đứng đầu doanh nghiệp, công khai thông tin nợ thuế trên báo, đài, loa phát thanh… để thu hồi nợ đọng và giảm mức tăng nợ thuế đáng kể
Chính vì vậy, mức nợ thuế của Nghệ An hiện nay đang thấp hơn so với bình quân chung của cả nước Tỷ lệ nợ thuế/tổng thu ngân sách của tỉnh là 5,7%
và thấp hơn bình quân chung của cả nước là 9%
Cùng đó, Cục Thuế sẽ gửi công văn cho UBND các huyện, thành phố và thị xã phối hợp chỉ đạo các ban, ngành trên địa bàn vào cuộc thu hồi nợ đọng thuế; đề nghị UBND tỉnh không cho các doanh nghiệp nợ thuế lớn trên 1 tỷ đồng tham gia đấu thầu, triển khai các dự án mới Cục Thuế phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường thu hồi nợ thuế các doanh nghiệp khai thác khoáng sản Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, trong việc cưỡng chế nợ thuế; phối hợp với các sở, ngành thành lập các đoàn liên ngành để thu hồi nợ đọng thuế
Trang 402.2.3 Bài học kinh nghiệm quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh rút ra cho Chi cục Thuế TP Thái Bình
Từ bộ máy tổ chức và kinh nghiệm quản lý nợ của các nước trên thế giới,
và các Cục Thuế trong nước có thể liên hệ rút ra những bài học kinh nghiệm với Chi cục Thuế TP Thái Bình như sau:
- Thứ nhất, tập trung đẩy mạnh việc phối hợp giữa bộ phận quản lý nợ với các bộ phận thực hiện các chức năng khác, phối hợp với người nộp thuế, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, cơ quan ngành kế hoạch đầu tư thực hiện đôn đốc, thu hồi tiền thuế nợ vào NSNN Bên cạnh đó, tăng cường thực hiện các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ thuế theo đúng pháp luật đối với các trường hợp nợ tiền thuế nhưng chây ì…
- Thứ hai, thực hiện quyết liệt các giải pháp quản lý nợ, tăng cường thu hồi nợ, giao nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể cho từng Đội thuế cũng như đến từng cán bộ lãnh đạo và công chức chịu trách nhiệm thực hiện thu hồi Tổ chức theo dõi, giám sát, kiểm tra chặt chẽ tiến độ thực hiện thu nợ hàng ngày đảm bảo số tiền thuế nợ giảm xuống mức tối thiểu nhất, áp dụng cương quyết, triệt
để các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế nợ và công khai thông tin một cách cụ thể số thuế nợ đối với từng doanh nghiệp để thu hồi kịp thời vào NSNN, không để phát sinh nợ mới
- Thứ ba, tập trung rà soát lại tất cả các DN còn nợ đọng tiền thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trên địa bàn Qua đó, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ DN phục hồi sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu, còn đối với trường hợp DN không thực sự khó khăn nhưng chây ỳ nợ thuế sẽ báo cáo các ngành chức năng liên quan kiên quyết xử lý triệt để thu hồi nợ đọng tiền thuế vào ngân sách
- Thứ tư, phối hợp với các chính phường địa phương, Cơ quan Công an tham mưu UBND thành phố Thái Bình thành lập tổ công tác thu hồi nợ đọng tiền thuế đối với các doanh nghiệp bỏ địa điểm kinh doanh nợ thuế
- Thứ năm, cần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý nợ thuế có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có khả năng tin học và trình độ giao tiếp tốt, phát huy tối đa năng lực của từng cán bộ phụ trách công tác quản lý nợ Trên cơ sở đó mới
có được sự phân tích nợ chính xác, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
nợ, khai tác tối ưu các phần mềm quản lý nợ, quản lý thuế Việc ứng dụng CNTT trong quản lý nợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tăng cường công tác