Tổ chức triển khai có hiệu quả hoạt động tự đánh giá trong công tác KĐCL cơ sở GDPT minh chứng dựa vào nội hàm của các chỉ số/tiêu chí/tiêu chuẩn – Đó là những yêu cầu cần phải đạt được [r]
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĂN GIANG
TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN QUAN
- -TỔ CHỨC TRIỂN KHAI CÓ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG CÔNG TÁC
KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Xuân Quan
Văn Giang - Hưng Yên
Năm học: 2011 - 2012 S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Trang 2III Đối tượng, phạm vi, kế hoạch nghiên cứu 6
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
Trang 3PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦUI.CƠ SỞ KHOA HỌC
Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục nói chung.Muốn duy trì và phát triển nhà trường, một then chốt, cơ bản và có tínhquyết định là phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng
Chất lượng – Giá trị về mặt lợi ích – là một khái niệm động, nhiều
chiều dành cho tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội trong đó có chấtlượng giáo dục
Quan điểm về chất lượng giáo dục và đào tạo ở Việt Nam có nhữngđiểm khác nhau qua các thời đại:
Dưới thời phong kiến: Xã hội và nhà nước phong kiến Việt Nam về
nguyên tắc là đo chất lượng giáo dục theo mục tiêu đào tạo những người cókhả năng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Đó là những người trướchết và tối thiểu phải có khả năng tự học, tự rèn luyện; tiếp theo là có khảnăng xây dựng và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của gia đình mình Cao hơnnữa là tham gia quản lí nhà nước các cấp và cuối cùng là có khả năng dựngnước và giữ nước trong an bình Đó là những nhân lực và nhân tài trong bộmáy cai trị của nhà vua, để dạy dỗ cho dân và lo cho dân an cư lạc nghiệp
Trang 4Nhưng trên thực tế thì thước đo chất lượng giáo dục là “ Văn hay, chữ tốt”
để chuyển tải đạo lí thánh hiền (tức nho giáo) Từ đó trượt đến chỗ giáo dục
chỉ tạo nên những loại văn chương phù phiếm, sáo rỗng, và thù tạc, vô bổ
( đó là điều thường thấy trong đa số những nhà nho thời trước).
Dưới thời Pháp thuộc: Mục tiêu giáo dục công khai cho người học là
một số kiến thức và những kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến các kiến thức đó
( kĩ năng làm văn, kĩ năng tính toán, ) mà cơ sở giáo dục có trách nhiệm
truyền thụ và người học có trách nhiệm tiếp thu Các kiến thức kic năng đóđược trình bày rõ ràng trong chương trình học của mỗi cơ sở giáo dục, còn
về mục tiêu nửa úp nửa mở là đào tạo một lớp người trung thành với nhànước bảo hộ thì chỉ được ghi đầy đủ trong các chỉ thị mật của nhà cầmquyền
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945: Chúng ta có một quan
niệm đầy đủ và rõ ràng về chất lượng giáo dục Trước hết đó là quan điểmchất lượng toàn diện Nói theo kiểu các nhà giáo dục tiến bộ phương Tây là
“Đức, trí, thể, mĩ” Nói theo truyền thống phương Đông là “ Đức và Tài”
(hoặc hiền và tài) Theo thuật ngữ XHCN là “ Chính trị và Chuyên môn”
hoặc bóng bảy hơn là “ Hồng và Chuyên” Từ quan điểm đó, nền giáo dụccủa nhà nước ta đã cụ thể hóa nội dung của hai khái niệm đức và tài, tùy theonhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng
Năm 1945, đó là người lao động tốt, người công dân tốt, người
chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt.
Năm 1958, đó là người lao động trung thành với chủ nghĩa xã hội,
có văn hóa, có khoa học- kĩ thuật, có sức khỏe.
Năm 1979, trong Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục
có bổ sung một tiêu chuẩn mới là biết xây dựng sự nghiệp làm chủ tập thể
của nhân dân lao động.
Trong thời kì đổi mới giáo dục (từ năm 1987), quan điểm về chất
lượng được bổ sung thêm một tiêu chuẩn là năng động, biết tự tìm việc làm
Trang 5và tự lấy việc làm, biết làm giàu cho mình và cho đất nước một cách chính đáng ( Theo phương châm dân giàu, nước mạnh )
Qua lịch sử giáo dục của Việt Nam cũng như trên thế giới thì việcquan niệm cho đúng, cho đủ các yêu cầu về chất lượng là không dễ
Ngày nay, quan niệm về chất lượng có thể hiểu là sự thỏa mãn mộtyêu cầu nào đó Trong sản xuất, chất lượng của một sản phẩm được đánh giáqua mức độ đạt các tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra của sản phẩm Trong giáodục-đào tạo, chất lượng được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đã đề
ra của chương trình giáo dục-đào tạo Có nhiều mô hình đảm bảo chất lượng
đó là: Mô hình Kiểm soát chất lượng, mô hình đảm bảo chất lượng, mô hìnhthanh tra chất lượng, đánh giá chất lượng và kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng là một trong những hoạt động đảm bảo chất
lượng bên ngoài các cơ sở giáo dục, là một công cụ hữu hiệu của nhiều nướctrên thế giới để duy trì các chuẩn mực chât lượng giáo dục đồng thời khôngngừng nâng cao chất lượng dạy và học
Kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lí chất lượng và hiệu quảnhằm các mục tiêu sau đây:
Một là: Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu
chuẩn đề ra như thế nào? ( Tức là hiện trạng cơ sở giáo dục có chất lượng
và hiệu quả ra sao?)
Hai là: Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các
tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục
Ba là: Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các tiêu
chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục
Bốn là: Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với các
tiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu
để phát triển
Trang 6Tóm lại: Kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là
người học sự đảm bảo chắc chắn một cơ sở giáo dục đã được chứng minhthỏa mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng cơ
sở giáo dục này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra bởi kế hoạchcải tiến chất lượng mang tính khả thi
2 Cơ sở thực tiễn
Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, giáo dụcđào tạo giữ một vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc xây dựng một nền kinh tế trithức Tuy nhiên, giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đang phải đốimặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng chất lượnggiáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn hiệnnay Thực hiện Luật giáo dục và Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục, Bộ GD&ĐT đangtriển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, tiếp tục đàotạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnhcông tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục ở các cấp học nhằmnhanh chóng tạo bước chuyển biến lớn về chất lượng giáo dục
Công tác đánh giá và Kiểm định chất lượng được triển khai từ học kì 2của năm học 2008-2009 Đây là một cách làm mới của giáo dục Việt Namnhằm quản lí chất lượng của các cơ sở giáo dục Việc làm này đã có nhữngtác động tích cực đến chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, không ít các nhà trường (cơ
sở giáo dục) còn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tự đánh giá chất
lượng của đơn vị, nhất là việc thu thập các thông tin minh chứng cho báo cáo
tự đánh giá, đảm bảo các yêu cầu của từng chỉ số, theo từng tiêu chí/tiêuchuẩn
Trang 7Tự đánh giá theo bộ tiêu chuẩn chất lượng của Bộ đối với các trường
là những công việc rất mới lạ, đặc biệt là cách tiếp cận tự đánh giá theo tiêuchuẩn/tiêu chí/chỉ số, dựa trên minh chứng(cách phân tích minh chứng, viết
báo cáo tiêu chí/ tiêu chuẩn ), thực tế các trường chưa ý thức hết được ý
nghĩa của kiểm định chất lượng, chưa lường hết sự vất vả, tốn công, tốn sứccủa quá trình tự đánh giá Vì thế chưa có sự đầu tư thích đáng, mà cũngkhông có nguồn để đầu tư và cũng chưa thực sự quan tâm một cách quyếtliệt Mặt khác, hoạt động tự đánh giá chưa trở thành hoạt động thường kì,các thành viên trong Hội đồng tự đánh giá là CBQL, là giáo viên, nhân viênphải trực tiếp giảng dạy nên không có nhiều thời gian tập trung cho hoạtđộng tự đánh giá, chưa được tập huấn các kĩ thuật thu thập, xử lí thông tinminh chứng, thiếu hoặc ít sự phối hợp giữa các nhóm chuyên trách trongquá trình tự đánh giá Khi thu thập thông tin minh chứng còn gặp khó khăntrong việc xác định mức độ phù hợp của minh chứng với nội hàm của từngchỉ số trong tiêu chí Khi viết báo cáo còn nặng tính chủ quan, không dựatrên minh chứng, văn phong báo cáo tiêu chí không thống nhất(do nhiều
người viết), nhiều chỗ trùng lặp và chưa đáp ứng yêu cầu của báo cáo tự
đánh giá nhằm mục đích cải tiến nâng cao chất lượng và đăng kí kiểm định.Công tác lưu trữ dữ liệu ở các trường nhìn chung chưa tốt
Với trường Tiểu học Xuân Quan, ngay từ học kì 2 của năm học
2008-2009, sau khi tôi được Sở GD&ĐT Hưng Yên cử đi dự lớp tập huấn tại BộGD&ĐT, chúng tôi đã bắt tay vào việc làm công tác Tự đánh giá chất lượngnhà trường theo Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường
tiểu học(Ban hành kèm theo Quyết định số 04/ QĐ- BGD ĐT ngày 04/2/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) cùng với trường THCS Phụng Công
của huyện Đây là việc làm mới, lạ nên thật sự chúng tôi mất khá nhiều thờigian, công sức và nhiều nguồn lực cho việc này nhưng trong năm đầu tiênthực hiện chúng tôi vẫn chưa tìm ra hướng đi (cách làm) hiệu quả, chưa đủ
Trang 8tự tin để báo cáo với Phòng GD&ĐT đăng kí đánh giá ngoài chất lượng cơ
sở sở GDPT( Giáo dục phổ thông) với Sở GD& ĐT
Sau gần 3 năm học hỏi, tìm tòi và nghiên cứu (có trải nghiệm) tôi
cùng tập thể Hội đồng Tự đánh giá của nhà trường đã tìm ra một cách làmmới, được đoàn Đánh giá ngoài Sở GD&ĐT Hưng Yên đánh giá là một đơn
vị làm tốt nhất trong số các đơn vị Sở đã tiến hành Đánh giá ngoài đến thờiđiểm đó Hướng đi đó, cách làm đó vừa bám sát các văn bản chỉ đạo, hướngdẫn của cấp trên vừa thực hiện có sáng tạo để báo cáo đó thể hiện rõ cáchoạt động của Hội đồng Tự đánh giá: bài bản, khoa học, logic và hiệu quả.Nay tôi trình bày sáng kiến kinh nghiệm: Tổ chức triển khai có hiệu quả hoạt động Tự đánh giá trong công tác Kiểm định chất lượng cơ sở GDPT.
II Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc thực hiện công tác Tựđánh giá chất lượng trường Tiểu học qua các văn bản hướng dẫn của cấptrên, chỉ ra thực trạng và nguyên nhân của thực trạng, từ đó đề xuất các biệnpháp tổ chức triển khai có hiệu quả hoạt động Tự đánh giá của Hội đồng Tựđánh giá chất lượng cơ sở GDPT
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động Tự đánh giá trong công tác Kiểm định chất lượng cơ sởGDPT
2 Phạm vi nghiên cứu:
Biện pháp thực hiện trong các khâu của hoạt động Tự đánh giá chấtlượng cơ sở GDPT
4 Kế hoạch nghiên cứu:
- Đối tượng thực nghiệm: Hội đồng Tự đánh giá chất lượng trường
Tiểu học Xuân Quan – Văn Giang – Hưng Yên
Trang 9- Thời gian bắt đầu thực hiện: Từ tháng 10/2010 của năm học
2009-2010
-Thời gian kết thúc: Tháng 3/2012 của năm học 2011-2012
5 Nhiệm vụ nghiên cứu :
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm tập trunggiải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Khảo sát thực trạng hoạt động Tự đánh giá chấtlượng cơ sở GDPT tại trường TH Xuân Quan – Văn Giang – Hưng Yên
- Nhiệm vụ thứ hai: Đề xuất một số biện pháp mới để tổ chức triển khai cóhiệu quả hoạt động Tự đánh giá trong công tác Kiểm định chất lượng cơ sởGDPT
6 Phương pháp nghiên cứu :
-Nghiên cứu các tài liệu văn bản, khái quát hệ thống hoá cơ sở lý luận
cơ bản của SKKN
- Phương pháp điều tra (Aket)
- Phương pháp quan sát dự giờ theo dõi hoạt động giảng dạy
- Phương pháp trò chuyện phỏng vấn, trao đổi với các thành viên trongHội đồng Tự đánh giá của nhà trường
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động Tự đánh giá: Báo cáo
Tự đánh giá và danh mục các thông tin minh chứng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp kiểm chứng
- Phương pháp xử lý số liệu bằng số liệu thống kê toán học, minh
họa
Trang 10PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG
Tự đánh giá của cơ sở giáo dục phổ thông là hoạt động tự xem xét, tựkiểm tra, đánh giá của cơ sở giáo dục phổ thông căn cứ vào tiêu chuẩn đánhgiá chất lượng giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành để chỉ ra các điểm mạnh,điểm yếu, xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiệnnhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Trong thực tế, năm đầu tiên khi trường tôi cùng với trường THCSPhụng Công thực hiện kế hoạch chỉ đạo điểm của Phòng GD&ĐT về côngtác Tự đánh giá chất lượng cơ sở GDPT, mặc dù chúng tôi đã có rất nhiều cốgắng, đi đầu trong công tác này nhưng việc tổ chức thực hiện vừa mất nhiềuthời gian, công sức vừa chưa đạt hiệu quả cao, điều đó thể hiện ở:
Thứ nhất: Báo cáo Tự đánh giá còn nặng về liệt kê thành tích với
những lời hay, ý đẹp chưa sát với nội hàm của các tiêu chí, chưa có thông tinminh chứng đầy đủ cho từng chỉ số của tiêu chí, do viết trước báo cáo theochủ quan, cảm tính về các hoạt động của nhà trường mà không căn cứ vàothông tin minh chứng có hay không có
Thứ hai: Kế hoạch cải tiến chất lượng còn chung chung, chưa mang
tính khả thi cao
Thứ ba: Việc thu thập, sử dụng và sắp xếp danh mục các thông tin
minh chứng chưa khoa học, chưa mạnh dạn linh hoạt dẫn đến có những việclàm đã được lưu giữ bằng văn bản nhưng lại chưa biết có thay thế được chocác thông tin minh chứng cần phải có hay không; hoặc có những thông tinminh chứng cần minh họa cho một, một vài hoặc nhiều chỉ số thì lại chưabiết sử dụng như thế nào? Hay việc việc sắp xếp danh mục các thông tinminh chứng theo đầu việc hay theo tiêu chuẩn sao cho việc tìm kiếm đượcthuận lợi, dễ dàng cũng là một vấn đề hết sức lan giải
Trang 11Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại(điểm yếu) trong công tác Tự đánh
giá đã nêu trên, một mặt do từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn còn chungchung; mặt khác do việc làm này là rất mới, lạ với các cơ sở GDPT của ViệtNam và hoạt động này cần rất nhiều thời gian, công sức do:
Một là : Trước đây, khi chưa có Bộ tiêu chuẩn chất lượng giáo dục qui
định cho mỗi cấp học, ngành học của Bộ GD& ĐT thì các nhà trường có
phong cách tổ chức và quản lí không đồng nhất.( Có trường tổ chức được nhiều hoạt động nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh và lưu giữ được bằng văn bản, có trường không tổ chức được hoặc tổ chức được ít và có trường việc làm thì có mà văn bản cần lưu giữ thì không )
Hai là: Chưa có các chuyên gia, cố vấn sắc nét cho công tác này ở cơ
sở nên khi tổ chức thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, đôi lúc cảm thấy mônglung, khó tìm ra hướng đi đúng đắn và hiệu quả Thậm chí, có một số Hiệutrưởng, qua tâm sự thấy rằng: họ chưa thật sự hiểu bức tranh Kiểm định chất
lượng ra sao nên để “ nhẹ đầu” và còn tập trung vào chỉ đạo các hoạt động
khác, họ giao cho Phó Hiệu trưởng, ! Có những thành viên trong Hội đồng
tự đánh giá còn phát biểu làm Kiểm định chất lượng thì được gì?
Vậy nên nguyên nhân thứ ba là: Việc quán triệt mục đích và ý nghĩacủa Kiểm định chất lượng của các nhà trường (cơ sở GDPT) chưa đầy đủ,chưa nghiêm túc
Căn cứ vào thực trạng nêu trên, bằng tâm huyết của bản thân, sự tíchcực học hỏi và tự nghiên cứu, tôi đã có sáng kiến kinh nghiệm tổ chức triểnkhai hoạt động Tự đánh giá chất lượng giáo dục trong công tác kiểm địnhchất lượng cơ sở GDPT đạt hiệu quả
II CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRIỂN KHAI CÓ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP
1.1 Căn cứ vào mục đích, phạm vi Tự đánh giá
Trang 12Mục đích Tự đánh giá là nhà trường(Cơ sở GDPT) tự xem xét, tự
kiểm tra, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu của từng tiêu chí, xây dựng kếhoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện để đáp ứng các tiêuchuẩn chất lượng giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành nhằm không ngừng cảitiến, nâng cao chất lượng giáo dục và để đăng kí kiểm định chất lượng giáodục với cơ quan quản lí cấp trên
Phạm vi của Tự đánh giá bao quát toàn bộ các hoạt động giáo dục
nhà trường theo từng tiêu chí trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
do Bộ GD&ĐT ban hành cho từng cấp học, ngành học
1.2 Căn cứ vào mục đích Kiểm định chất lượng cơ sở GDPT.
Kiểm định chất lượng cơ sở GDPT nhằm xác định mức độ đáp ứng
mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của cơ sở GDPT nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan quản lí nhà nước và xãhội về thực trạng giáo dục, để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận cơ
sở GDPT đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (theo từng cấp độ)
1.3 Căn cứ vào thực trạng hoạt động Tự đánh giá của nhà trường.
Thứ nhất: Một số thành viên trong Hội đồng Tự đánh giá chưa nhận
thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa của kiểm định chất lượng giáo dục
Thứ hai: Báo cáo Tự đánh giá còn nặng về liệt kê thành tích với
những lời hay, ý đẹp chưa sát với nội hàm của các tiêu chí, chưa có thông tinminh chứng đầy đủ cho từng chỉ số của tiêu chí do viết trước báo cáo theonhận thức cảm tính về các hoạt động của nhà trường
Thứ ba: Kế hoạch cải tiến chất lượng còn chung chung, chưa mang
tính khả thi cao
Thứ tư: Việc thu thập, sử dụng và sắp xếp danh mục các thông tin
minh chứng chưa khoa học, chưa mạnh dạn linh hoạt dẫn đến có những việclàm đã được lưu giữ bằng văn bản nhưng lại chưa biết có thay thế được chocác thông tin minh chứng cần phải có hay không; hoặc có những thông tinminh chứng cần minh họa cho một, một vài hoặc nhiều chỉ số thì lại chưa
Trang 13biết sử dụng như thế nào? Hoặc việc sắp xếp danh mục các thông tin minhchứng theo mảng công việc hay theo tiêu chuẩn sao cho việc tìm kiếm đượcthuận lợi, dễ dàng cũng là một vấn đề phải cân nhắc kĩ càng.
*** Căn cứ vào các cơ sở khoa học như đã trình bày ở trên, ngoài việc bám sát các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, tôi đã mạnh dạn đổi mới cách làm đạt hiệu quả bằng các biện pháp chủ yếu sau đây:
2 NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ YẾU
2.1 Biện pháp 1 :
Quán triệt vai trò và ý nghĩa của Kiểm định chất lượng.
Khi làm bất cứ công việc gì, chúng ta cũng cần phải hiểu làm côngviệc đó nhằm mục đích gì? Làm như thế nào? Ý nghĩa của việc làm đó rasao? Trong công tác Kiểm định chất lượng cũng vậy Vì thế Hiệu trưởng,Chi bộ, Ban giám hiệu và các cán bộ chủ chốt nhất thiết phải quán triệt cácnội dung sau đây:
Thứ nhất: Mục đích của Kiểm định chất lượng giáo dục.
Hiệu trưởng cần làm cho các thành viên trong Hội đồng lãnh đạo củanhà trường nhận thức đầy đủ mục đích của Kiểm định chất lượng
Mục đích của Kiểm định chất lượng không chỉ là đảm bảo nhà trường
có trách nhiệm đối với chất lượng giáo dục mà còn mang lại động lực cảitiến và nâng cao chất lượng chương trình GD-ĐT cũng như chất lượng mọimặt của nhà trường
Kiểm định chất lượng cơ sở GDPT nhằm xác định mức độ đáp ứngmục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của cơ sở GDPT nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan quản lí nhà nước và xãhội về thực trạng giáo dục, để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận cơ
sở GDPT đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (theo từng cấp độ)
Một kiểm định chất lượng được coi là hoạt động có hiệu quả khikhông chỉ đánh giá xem trường đó có đạt chuẩn chất lượng hay không mà
Trang 14còn phải có vai trò như những chuyên gia tư vấn ( những thành viên trong đoàn Đánh giá ngoài, Đánh giá lại theo quyết định của cơ quan quản lí cấp
trên), sẵn sàng giúp nhà trường giải quyết các vấn đề còn tồn đọng ( khắc phục điểm yếu) và nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường.
Thứ hai: Mục tiêu của Kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục là một giải pháp quản lí chất lượng vàhiệu quả của cơ sở GDPT nhằm các mục tiêu sau đây:
Một là: Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu chuẩn
đề ra như thế nào? ( Tức là hiện trạng cơ sở giáo dục có chất lượng và hiệu quả ra sao?)
Hai là: Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với cáctiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục
Ba là: Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các tiêuchuẩn đề ra của cơ sở giáo dục
Bốn là: Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với cáctiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu
những người liên quan hành động theo chất lượng( theo đúng nghĩa của
chất lượng- Giá trị về mặt lợi ích)
Thứ ba: Ý nghĩa của Kiểm định chất lượng giáo dục
Khi tham gia tập huấn về công tác Kiểm định chất lượng hay khinghiên cứu các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tôi chưa thấy được hết ý nghĩa
của Kiểm định chất lượng( đơn giản là hoàn thành báo cáo (có các thông tin
Trang 15minh chứng) dựa vào nội hàm của các chỉ số/tiêu chí/tiêu chuẩn – Đó là những yêu cầu cần phải đạt được theo nội dung bộ tiêu chuẩn chất lượng do
Bộ GD&DDT qui định cho từng cấp học, ngành học), chỉ đến khi nhà trường
được đón đoàn Đánh giá ngoài của Sở về xem xét, đánh giá công nhận nhà
trường đạt tiêu chuẩn chất lượng ( cấp độ 2), tôi và các thành viên trong nhà
trường mới thấy được ý nghĩa lớn lao của Kiểm định chất lượng:
Kiểm định chất lượng giáo dục là một bằng chứng về chất lượng, nângcao vị thế của nhà trường, sự tin tưởng của chính quyền địa phương, củanhân dân và của cha mẹ học sinh đối với nhà trường Từ đó, cha mẹ học sinhyên tâm gửi gắm con em họ cho nhà trường khi đã đạt tiêu chuẩn chất lượng
( chất lượng toàn diện) Sau kiểm định chất lượng, nhà trường được các
thành viên trong đoàn đánh giá tư vấn tích cực để có kế hoạch cải tiến chấtlượng tốt hơn, được cơ quan quản lí cấp trên và chính quyền địa phươngquan tâm để cùng nhà trường khắc phục điểm yếu, xây dựng cơ sở vật chấtđáp ứng, nâng cao chất lượng để phát triển nhà trường
Tóm lại: Tự đánh giá là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ đối với nhàtrường Nhận thức của lãnh đạo các trường về kiểm định chất lượng nóichung và Tự đánh giá nói riêng có khác nhau Chỉ khi nào cán bộ chủ chốtcủa nhà trường quán triệt được vai trò và ý nghĩa của Kiểm định chất lượngnhư đã nêu ở trên thì mới chuyển từ “bị ép” làm tự đánh giá sang “Tự
nguyện” tham gia tự đánh giá và có quyết tâm cao, có biện pháp đúng, để từ
đó tận tâm, trung thực trong việc tự đánh giá
2.2 Biện pháp 2:
Thành lập Hội đồng Tự đánh giá, chọn cử Ban thư kí và xây dựng kế hoạch Tự đánh giá mang tính khả thi.
Theo Quyết định số 83/2008/QĐ-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2008
về việc ban hành Quy định về quy trình và chu kì Kiểm định chất lượng cơ
sở GDPT thì việc thành lập Hội đồng Tự đánh giá là khâu đầu tiên Tại qui
Trang 16định này, qui định người ra quyết định thành lập, thành phần, nhiệm vụ vàquyền hạn của Hội đồng tự đánh giá đã rất rõ ràng, cụ thể
Tuy nhiên, bản thân tôi là một Hiệu trưởng, được trực tiếp tham dự tậphuấn tại Bộ và đã được tham gia đoàn Đánh giá ngoài của Sở đối với 6trường trong tỉnh, qua làm việc tại các nhà trường, tôi thấy Hội đồng tự đánhgiá có vai trò quyết định trong triển khai tự đánh giá Hội đồng có chức năngthẩm định, phê duyệt bản báo cáo Tự đánh giá Vì vậy, tham gia Hội đồng tựđánh giá phải là những cán bộ chủ chốt ( HT, PHT, TTCM, trưởng các
đoàn thể), những cán bộ chuyên trách của nhà trường – Đây là điểm mới, tôi
đã vận dụng linh hoạt theo hướng ưu tiên để làm việc hiệu quả của các thành
phần trong Hội đồng tự đánh giá (nhân viên văn thư-kế toán, thư viện-thiết
bị, y tế học đường)– Họ là những người nắm được kĩ thuật hoạt động chuyên
môn theo chuyên ngành được đào tạo theo các tiêu chuẩn kiểm định và cónăng lực phân tích, đánh giá các hoạt động theo tác nghiệp chuyên môn củamình Và một điều hết sức quan trọng: Chủ tịch Hội đồng nhất thiết phải làHiệu trưởng /Thủ trưởng đơn vị vì như vậy mới có đủ quyền lực trong triểnkhai Tự đánh giá
Ví dụ 1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG TỰ ĐÁNH GIÁ
Cũng theo QĐ 83/ BGD&ĐT, nhóm thư kí có từ 2 đến 3 người, nhómtrưởng là một thành viên trong Hội đồng tự đánh giá Vậy phải chọn nhữngngười như thế nào vào ban thư kí?
Trang 17Nhóm thư kí có vai trò quan trọng trong việc thu thập và chuẩn bị cáctài liệu cho các bước tự đánh giá :
Một là : Thu thập thông tin minh chứng
Hai là : Thẩm định báo cáo tiêu chí của các thành viên theo các tiêu
chí/tiêu chuẩn được phân công
Ba là: Hoàn thiện báo cáo tự đánh giá
Bốn là : Thẩm định báo cáo tự đánh giá.
(Theo qui định không có bước 2 và bước 4 nhưng khi triển khai thực hiện, tôi thấy cần thiết phải làm để bản báo cáo khi đã công bố trước tập thể
và trình cơ quan quản lí cấp trên phải chỉn chu, ít thiếu sót nhất)
Vì vậy, chọn người vào nhóm thư kí không chỉ là người có tinh thầntrách nhiệm, nhiệt tình mà còn phải có năng lực tổ chức và năng lực soạn
thảo văn bản tốt (Tôi đã chọn nhóm trưởng là TTCM4-5 có trình độ Đại học
và đáp ứng tất cả các yêu cầu trên nên nhóm thư kí làm việc rất hiệu quả),
thành viên khác trong nhóm thư kí phải là người có trình độ Tin học, thànhthạo vi tính để xử lí tốt văn bản trên Word, Exel
Ví dụ 2
DANH SÁCH NHÓM THƯ KÝ
trách Tin học
Ủy viên
Sau khi đã thành lập, Hội đồng Tự đánh giá phải xây dựng kế hoạch tựđánh giá Kế hoạch này được Chủ tịch Hội đồng tự đánh giá phê duyệt baogồm các nội dung sau: Mục đích, phạm vi Tự đánh giá; phân công nhiệm vụcho từng thành viên; dự kiến các nguồn lực, các thông tin minh chứng cầnthu thập; thời gian biểu cho từng hoạt động
Trang 18sở, Trung học phổ thông.
Căn cứ QĐ số 04/2008/QĐ – BGD – ĐT ngày 04 /02/ 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về việc quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Tiểu học
Thực hiện công văn hướng dẫn số 773 ngày 23/3/2009 của Sở giáo dục Đào tạo tỉnh Hưng Yên về việc hướng dẫn tự đánh giá chất lượng giáo dục trường phổ thông
Trường Tiểu họpc Xuân Quan xây dựng kế hoạch tự đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường như sau:
I MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục nhằm mục đích để nhà trường tự xem xét, kiểm tra chỉ định ra các điểm mạnh, điểm yếu của từng tiêu chí quyđịnh trong các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục tiểu học theo quyết định 83 của Bộ giáo dục Đào tạo
- Căn cứ kết quả tự đánh giá, nhà trường xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện để đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục tiểu học, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục hướng tới đăng kí kiểm định chất lượng giáo dục
- Nhà trường triển khai công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục theo đúng quy trình, nghiên cứu kí nội dung từng tiêu chí, đảm bảo đầy đủ thông tin và minh chứng, xử lý và phân tích kĩ trước khi đưa ra nhận định để kết quả tự đánh giá phải đảm bảo độ tin cậy, chính xác, khách quan, hồ sơ báo cáo tự đánh giá đầy đủ đúng quy định
- Mỗi cán bộ giáo viên nhân viên tham gia công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường phải có tinh thần trách nhiệm, ý thức giác và trung thực, hoàn thành công việc đúng tiến độ thời gian
II PHẠM VI TỰ ĐÁNH GIÁ
- Đánh giá toàn bộ các hoạt động giáo dục của nhà trường theo từng tiêu hcí trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường tiểu học theo quyết định số 04/2008/QĐ – BGD – ĐT
III PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ CHO CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
TỰ ĐÁNH GIÁ
1 Trần Thị Chinh Hiệu trưởng - CTHĐ Phụ trách chung
Trang 19IV DỰ KIẾN CÁC NGUỒN LỰC VÀ THỜI ĐIỂM CẦN HUY ĐỘNG
- 100% Các bộ giáo viên nhân viên tham gia công tác thu thập thông tin minh chứng của 5 nhóm theo tiêu chuẩn
- Thời gian bắt đầu đi thu thập thông tin minh chứng từ 25 tháng 9 năm 2011đến 27 tháng 10 năm 2011
V CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ
1 Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường tiểu học
2 Dự kiến kế hoạch các thông tin minh chứng cần thu thập theo từng tiêu chí
thời gian thuthập
1 Tổ chuyên môn
và quản ký nhà
trường
Lãnh đạo nhà trường + các tổ chuyên môn
TTCM và giáo viên lớp 5
từ 24/9 đến 27/10/2011
2 Cán bộ quản lý
giáo viên - nhân
viên
Lãnh đạo nhà trường
Tổ phó chuyên môn 4
- 5 và giáo
từ 24/9 đến 27/10/2011
Trang 203 Chương trình và
hoạt động giáo
dục
Lãnh đạo + tổ chuyên môn + lớp học sinh
PHT và giáo viên chuyên biệt
từ 24/9 đến 27/10/2011
4 Kết quả giáo dục Lãnh đạo + tổ
chuyên môn + lớp học sinh
Tổ phó chuyên môn 2
- 3 và giáo viên lớp 2
từ 24/9 đến 27/10/2011
5 Tài chính và cơ
sở vạt chất
Hiệu trưởng, kế toán, nhân viên bảo vệ, TV - TB
KT - VT và CBTBDH
từ 24/9 đến 27/10/2011
6 Nhà trường - gia
đình - xã hội
Bí thư chi đoàn VTKT - hội CMHS
-TTCM 2- 3 - hào và giáo viên lớp 3
từ 24/9 đến 27/10/2011
Ví dụ 4:
THỜI GIAN BIỂU
Từ ngày 8 tháng 8 năm 2011
Đến ngày 19 tháng 8 năm 2011
- Họp lãnh đạo nhà trường để thảo luận mục đích, phạm vị thời gian biểu và xác định các thành viên của Hội đồng tự đánh giá (TĐG)
- Hiệu trưởng ra QĐ thành lậpHội đồng TĐG; Công bố QĐ thành lập Hội đồng TĐG; Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từngthành viên; Phân công dự thảo kế hoạch TĐG
Từ ngày 22 tháng 8 năm 2011
Đến ngày 26 tháng 8 năm 2011
- Phổ biến chủ chương triển khai TĐG đến toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường
- Tổ chức hội thảo chuyên môn, nghiệp vụ triển khai TĐG tới các thành viên trong Hội đồng TĐG, giáo viên và nhân viên
- Hoàn thành kế hoạch TĐG
Từ ngày 07 tháng 9 năm 2011
Đến ngày 26 tháng 9 năm 2011
- Chuẩn bị để báo cáo TĐG
- Thu nhập thông tin minh chứng