1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện gia lâm thành phố hà nội luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

116 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số lượng các công trình xây dựng được kiểm tra liên quan đến môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn xã Đa Tốn .... Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý môi trường tron

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THÀNH CÔNG

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Ngọc Hướng

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng

để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà N ội, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Tác gi ả luận văn

N guyễn Thành Công

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc TS Lê Ngọc Hướng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý Đào tạo,

Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài

và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ và các hộ dân thuộc các xã: Trâu Quỳ, Kiêu Kỵ, Đa Tốn và Bát Tràng cùng các ban ngành của huyện Gia Lâm đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà N ội, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Tác gi ả luận văn

N guyễn Thành Công

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

THESIS ABSTRACT xi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 4

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

2.1.1 Một số khái niệm 5

2.1.2 Nội dung của quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng 13

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng 14

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 16

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng ở một số nước trên thế giới 16

2.2.2 Một số văn bản pháp quy liên quan đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng 17

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM 23

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hôi 25

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

Trang 5

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 31

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 33

3.3 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 33

3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng đội ngũ quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng 33

3.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kiểm tra trong công tác quản lý môi trường 33

3.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm 34

3.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ hài lòng của tổ chức, người dân 34

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35

4.1.1 Các cơ quan liên quan đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm 35

4.1.2 Thực trạng quản lý mô trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm 55

4.1.3 Công tác thanh kiểm tra về quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng 77

4.2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM 86

4.2.1 Các yếu tố bên trong 86

4.2.2 Các yếu tố bên ngoài 89

4.3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM 90

4.3.1 Giải pháp về tổ chức, quản lý và cơ chế, chính sách 90

4.3.2 Giải pháp về phối hợp giữa các đơn vị 91

4.3.3 Giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn trong xây dựng 92

4.3.4 Giải pháp tăng cường quản lý chất thải lỏng trong xây dựng 94

4.3.5 Giải pháp tăng cường quản lý khói bụi, tiếng ồn trong xây dựng 95

4.3.6 Giải pháp về truyền thông, nâng cao nhận thức cho cộng đồng 96

Trang 6

4.3.7 Giải pháp về tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra 97

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

5.1 KẾT LUẬN 98

5.2 KIẾN NGHỊ 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HOẠ 102

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BTNMT Bộ Tài nguyên và môi trường

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm (theo giá so sánh

2014) 26

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế do huyện Gia Lâm quản lý (theo giá hiện hành) 27

Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của huyện Gia Lâm 29

Bảng 3.4 Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm giai đoạn 2014- 2016 30

Bảng 3.5 Tổng hợp số lượng mẫu điều tra 32

Bảng 4.1 Số điểm tập kết vật liệu xây dựng trên địa bàn điều tra 61

Bảng 4.2 Số điểm tập kết rác thải trên địa bàn điều tra 61

Bảng 4.3 Nồng độ các chất ô nhiễm do giao thông trong giai đoạn thi công xây dựng cơ sở hạ tầng 70

Bảng 4.4 Hệ số ô nhiễm đối với các loại xe của một số chất ô nhiễm chính 71

Bảng 4.5 Tổng hợp số lượng các công trình xây dựng được kiểm tra liên quan đến môi trường của các xã, thị trấn điều tra 78

Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả xử lý vi phạm liên quan đến môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn điều tra 78

Bảng 4.7 Số lượng các công trình xây dựng được kiểm tra liên quan đến môi trường trên địa bàn Thị trấn Trâu Quỳ 79

Bảng 4.8 Kết quả xử lý vi phạm liên quan đến môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn Thị trấn Trâu Quỳ 79

Bảng 4.9 Số lượng các công trình xây dựng được kiểm tra liên quan đến môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn xã Đa Tốn 81

Bảng 4.10 Kết quả xử lý vi phạm liên quan đến môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn xã Đa Tốn 82

Bảng 4.11 Số lượng các công trình xây dựng được kiểm tra liên quan đến môi trường trên địa bàn xã Kiêu Kỵ 83

Bảng 4.12 Kết quả xử lý vi phạm liên quan đến môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn xã Kiêu Kỵ 83

Bảng 4.13 Số lượng các công trình xây dựng được kiểm tra liên quan đến môi trường trên địa bàn xã Bát Tràng 84

Trang 9

Bảng 4.14 Kết quả xử lý vi phạm liên quan đến môi trường trong lĩnh vực

xây dựng trên địa bàn xã Bát Tràng 85Bảng 4.15 Số lượng công trình vi phạm về cam kết môi trường 72Bảng 4.16 Kết quả thăm dò của chủ đầu tư xây dựng về ô nhiễm môi trường

trên địa bàn nghiên cứu 73Bảng 4.17 Ý kiến đánh giá của các hộ về quản lý chất thải rắn trong lĩnh vực

xây dựng trên địa bàn điều tra 74Bảng 4.18 Ý kiến đánh giá của các hộ về quản lý chất thải lỏng trong lĩnh

vực xây dựng trên địa bàn điều tra 75Bảng 4.19 Ý kiến đánh giá của các cán bộ về quản lý môi trường trong lĩnh

vực xây dựng của các hộ dân trên địa bàn điều tra 76Bảng 4.20 Ý kiến đánh giá của các hộ về quản lý tiếng ồn, khói bụi trong

lĩnh vực xây dựng trên địa bàn điều tra 77Bảng 4.21 Số lượng cán bộ quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên

địa bàn huyện Gia Lâm 87Bảng 4.22 Nhân sự và trang bị chủ yếu của tổ thu gom vận chuyển rác 87

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thành Công

Tên luận văn: Quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia

Lâm, TP Hà Nội

Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8340410

Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu

Số lıệu sơ cấp được thu thập bằng cách đıều tra phỏng vấn 80 hộ có công trình xây dựng và 35 cán bộ Số liệu thứ cấp được thu thập từ các sách, tạp chí, báo, báo cáo của các ngành, các cấp, trang web… có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng các phương pháp phân tích như thống kê mô tả, thống kê so sánh để đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, phương pháp phân tích Số liệu sơ cấp được tác giả thu thập bằng cách điều tra phỏng vấn 80 chủ hộ có công trình xây dựng thuộc địa bàn 4 xã, thị trấn: Trâu Quỳ, Đa Tốn, Kiêu Kỵ và Bát Tràng, ngoài

ra còn phỏng vấn 35 cán bộ có liên quan Nội dung khảo sát gồm: Thông tin chung về

người và nhóm đối tượng phỏng vấn; tình hình quản lý chất thải trong lĩnh vực xây dựng bao gồm chất thải rắn, chất thải lỏng, khói bụi và tiếng ốn, đánh giá của họ về thực trạng và công tác quản lý, những thuận lợi, khó khăn, những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân và đề xuất Số liệu thứ cấp được thu thập từ các sách, tạp chí, báo, báo cáo của các ngành, các cấp, trang web… có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài Số liệu sau khi được tác giả thu thập về sẽ được tổng hợp và phân tích để đánh giá thực trạng tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới

Kết quả chính và kết luận

Về thực trạng quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội: Chất thải trong lĩnh vực này xả ra môi trường khá nhiều, đặc biệt

Trang 11

là chất thải rắn Khối lượng chất thải rắn liên quan đến xây dựng làm gia tăng khối lượng vận chuyển của bộ phận thu gom rác thải, nhiều khi đổ không đúng nơi đúng chỗ, tuỳ tiện ảnh hướng không tốt đến môi trường nói chung Điều này cũng không ngoại

lệ đối với chất thải lỏng, gây ô nhiềm đến nguồn nước, cả nước mặt và nước ngầm Đối

với khói bụi và tiếng ồn cũng là một tồn tại không nhỏ, ảnh hưởng đến sức khoẻ và dễ gây bức xúc cho người dân Dưới góc độ quản lý nhà nước, có khá nhiều văn bản liên quan điều chỉnh vấn đề này, tuy nhiên do địa bàn rộng, lực lượng thi hành công vụ còn

mỏng nên công tác thanh kiểm tra hàng ngày chưa đạt kết quả như mong đợi Có nhiều

yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội, trong đó chủ yếu là: Nhóm yếu tố bên trong (Lực lượng tham gia trực tiếp, gián tiếp; Lực lượng tham gia thu gom, vận chuyển, tập kết rác thải;

Ý thức chấp hành các quy định của của chủ đầu tư xây dựng; Ý thức chấp hành của người dân; Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật môi trường; Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật môi trường; Nhóm yếu tố bên ngoài (Cơ chế chính sách; Sự vào cuộc của các cấp chính quyền địa phương)

Để tăng cường công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới cần phải thực hiện nhiều giải pháp: Giải pháp về tổ chức, quản lý và cơ chế chính sách; Giải pháp về phối hợp giữa các đơn vị; Giải pháp về tăng cường quản lý chất thải rắn; Giải pháp về tăng cường quản lý chất thải lỏng; Giải pháp về tăng cường khói bụi, tiếng ồn; Giải pháp về truyền thông, nâng cao nhận thức cho cộng đồng; Giải pháp về tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Thanh Cong

Thesis title: Environmental management in the construction in Gia Lam district, Hanoi Major: Economic Management Code: 8340410

Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Objective of the study

To evaluate the situation of environmental management in the construction in Gia Lâm district, Hanoi and propose possible solutions to strengthen environmaental management in the construction in this district in the next coming time

Research methods

In this study, primary data was collected by interviewing 80 households, that have construction and 35 official Secondary data was collected through books, magazines, statistical year books, reports finals, the literature on natural, economic and socio conditions in Gia Lam district, the results of research projects concerned have been announced The writing master use the analysis methods such as descriptive statistics, comparative statistics, to assess the current situation and the factors affecting

on environmental management in the construction in Gia Lam district, Hanoi

Findings and conclusions of the graduated thesis

The study assessed the state of environmental management in the construction in Gia Lam district: : Construction waste discharge quite a lot, especially solid waste The solid construction waste volume increases the transportation volume of the garbage collector, sometimes it disburse in the wrong place cause badly affect the environment This

is similar to liquid waste, polluting the water source, both surface water and groundwater For dust and noise is also a non-existent, affecting health and easy to annoy human

In terms of Government management, there are many documents related to this issue, however, due to large area, forces personnel on duty less should work bar daily checks have not achieved results as expected

A number of factors affecting the environmental management in the construction in Gia Lam district, Hanoi: Participating forces collect, transport and gather garbage; Aware observance of the provisions of the investor's construction; Aware of the executive of the resident; Communication, dissemination and education on environmental law and Policy mechanisms; Involvement of local government

Trang 13

In order to strengthen the environmental management in the construction in GiaLam district in the upcoming time, the research has proposed some solutions: Solutions on organization, management and policy mechanism; Solutions on coordination between units; Measures for enhancing solid waste management; Enhancing the management of liquid waste; To increase dust, noise; Solutions for communication, raising awareness for the community; Measures for strengthening supervision, inspection and inspection

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, Gia Lâm là huyện có tốc độ đô thị hóa nhanh, nhiều khu đô thị mới mọc lên như khu đô thị Đặng Xá, Thị trấn Trâu Quỳ, thị trấn Yên Viên các công trình xây dựng, cải tạo nâng cấp trong khu dân cư và các công trình công cộng cùng nhiều tuyến đường được xây dựng, cải tạo nâng cấp như

Quốc lộ 5b, đường Hà Nội – Hưng Yên, đường Ngô Xuân Quảng, Cổ Bi, trục đường Đào Xuyên – xã Đa Tốn Kinh tế - xã hội phát triển, dân số tăng nhanh khoảng 25 vạn người, chất lượng cuộc sống của nhân dân dần được nâng lên là nguyên nhân phát sinh lượng rác thải xây dựng trên địa bàn huyện ngày càng nhiều Do đó, công tác đảm bảo vệ sinh môi trường (VSMT) được huyện hết sức quan tâm, chỉ đạo và coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế bền

vững Xí nghiệp Môi trường đô thị Gia Lâm là đơn vị được UBND huyện giao nhiệm vụ thực hiện công tác duy trì vệ sinh trên địa bàn, cùng với nhân dân các ban ngành đoàn thể trên địa bàn huyện tuyên truyền vận động các cá nhân, tổ

chức thực hiện tốt, giải quyết một cách triệt để và hiệu quả công tác VSMT trên toàn huyện

Môi trường trên địa bàn huyện Gia Lâm hiện đang bị ô nhiễm nghiêm trọng

do chất thải rắn và chất thải lỏng chưa được thu gom và xử lý theo đúng quy định Cùng với đó là khí thải, tiếng ồn, bụi của các công trình xây dựng gây ra Đặc biệt hệ thống cấp thoát nước lạc hậu do ao hồ bị san lấp, xuống cấp không đáp ứng được yêu cầu Mức ô nhiễm không khí về bụi và các khí thải độc hại nhiều nơi vượt mức tiêu chuẩn cho phép nhiều lần

Nhiệm vụ bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Gia Lâm luôn được Đảng

và chính quyền địa phương coi trọng, bởi mặt trái của sự phát triển kinh tế đã gây

ra những tác động tiêu cực tới môi trường và đe dọa sức khỏe của mỗi chũng ta

Hệ thống chính sách pháp luật của chúng ta trong thời gian gần đây đã không ngừng hoàn thiện để từng bước khắc phục và hạn chế những sự cố môi trường trong lĩnh vực xây dựng gây ra Tuy nhiên môi trường trên địa bàn huyện

vẫn chưa được cá nhân, tổ chức coi trọng dẫn đến việc đổ chất thải xây dựng bừa bãi, không đúng nơi quy định, nước thải, khói bụi gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe và làm thiệt hại đến nền kinh tế

Trang 15

Công tác bảo vệ môi trường nói chung và quản lý môi trường nói riêng cần có nhiều đổi mới để đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý của các cấp, các ngành; tăng cường pháp chế; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong công tác vệ sinh môi trường; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý môi trườngtrong lĩnh vực xây dựng trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập; hiệu quả quanr lý chưa cao, đặc biệt là việc xử lý chưa triệt để; quản lý chưa đáp ứng yêu cầu đề ra Có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn nguyên nhân chủ quan dẫn đến những bất cập, hạn chế nêu trên Việc đúc rút kinh nghiệm, đề xuất cơ chế, giải pháp cũng như tăng cường nhận thức cho tổ chức cá nhân trong việc thực hiện đảm bảo công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn chưa đạt được hiệu quả, Ủy ban nhân dân các cấp, các ngành còn nhiều hạn chế trong công tác quản lý vệ sinh môi trường Đội ngũ cán bộ quản lý môi trườngcác xã thị trấn, đang còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, công tác phối hợp với các lực lượng như công an, thanh tra xây dựng chưa được chặt chẽ còn nhiều thiếu sót và đặc biệt là né tránh trong nhiệm vụ được phân công;

Để góp phần vào công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng ở các địa phương trong toàn huyện Gia Lâm được tốt hơn

Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý môi trường trong lĩnh vực xây

dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, TP Hà Nội” là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa

lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm trong tình hình mới hiện nay

Đánh giá thực trạng quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng

Trang 16

- Đánh giá thực trạng quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian qua

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian qua

- Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

- Thực trạng quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian qua như thế nào?

- Đâu là các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội?

- Cần có giải pháp gì để tăng cường quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới?

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý vệ sinh môi trường, xử lý chất thải xây dựng, xử lý cá nhân tổ chức đổ chất thải, phế thải không đúng nơi quy định, gây tiếng ồn, nước thải và bụi trong quá trình thi công xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm và nâng cao hiệu lực hành chính trong công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng

- Phạm vi nôi dung: Quản lý chất thải rắn, ô nhiễm nguồn nước, tiếng ồn trong lĩnh vực xây dựng

Đối tượng khảo sát:

- Các chủ hộ có công trình xây dựng

- Xí nghiệp môi trường đô thị huyện Gia Lâm;

- Cán bộ quản lý môi trường các xã, thị trấn;

- Các ban ngành có liên quan trong việc thực hiện công tác phối hợp xử lý môi trường về chất thải, nước thải, bụi xây dựng;

- Ý kiến của đoàn thể xã hội các ông bà trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố trong công tác vận động, tuyên truyền cá nhân tổ chức thực hiện việc tập kết chất

Trang 17

thải xây dựng giảm thiểu tiếng ồn khi thi công và nước thải, khí thải khi phá dỡ, cải tạo các công trình xây dựng;

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng, đặc biệt là quản lý chất thải rắn trong lĩnh vực xây dựng; phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng ở huyện Gia Lâm

- Phạm vi không gian: Quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội

- Phạm vi về thời gian:

+ Số liệu thứ cấp 2015- 2017

+ Số liệu sơ cấp từ năm 2016–6/2017 giải pháp đề xuất đến năm 2020 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2018, đề xuất giải pháp thực hiện đến năm 2025

* Về lý luận: Đề tài đã góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng, nội dung quản lý, các yếu tố ảnh hưởng; Đối với quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng, quan trọng nhất là nguồn lực, cơ chế quản lý và tập trung quản lý được chất thải rắn, chất thải lỏng, khói bụi và tiếng ồn

* Về thực tiễn: Đã phản ánh được thực trạng quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, còn khá nhiều tồn tại mặc dù các bộ phận liên quan đã có nhiều cố gắng trong công tác này Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng chủ yếu là do ý thức của chủ xây dựng, bên cạnh đó địa bàn rộng, vị trí tập kết chất thải không thuận tiện…

Đề tài đã đề xuất nhiều giải pháp góp phần tăng cường quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng với sự phối hợp của nhiều bộ phận có liên quan, tăng cường tuyên truyền đến người dân cũng như công tác thanh, kiểm tra, xử phạt nghiêm minh, kịp thời

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Tại sao phải quản lý môi trường

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Quốc hội, 2014a)

Quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng là nhiệm vụ rất quan trọng

ko chỉ của riêng ta mà của toàn xã hội, quản lý môi trường nói chung và quản

lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng nói riêng là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (Quốc hội, 2014a)

Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2014a)

Môi trường là nguồn tài nguyên của con người cần phải bảo vệ và đưa vào quản lý, đặc biệt là môi trường trong lĩnh vực xây dựng, môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió, Các sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hoá, du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh trái đất (Quốc hội, 2014a)

Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo Ví dụ như nước ngọt, đất, sinh vật, là loại tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu

Trang 19

Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo Ví

dụ như tài nguyên khoáng sản, gien di truyền Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ mỏ, sẽ được chế biến thành các vật liệu của con người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian Tài nguyên gen di truyền của các loài sinh vật quý hiếm, có thể mất đi cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi về môi trường sống Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống Do vậy chúng ta cần thiết phải tăng cường quản lý môi trường, đặc biệt là môi trường trong lĩnh

vực xây dựng

2.1.1.2 Khái niệm môi trường

Theo Quốc hội (2014a) Môi trường và bảo vệ môi trường từ lâu đã trở thành một vấn đề quan trọng và cấp bách của toàn cầu, mà một trong những vấn

đề được đặt lên hàng đầu hiện nay là môi trường sống của con người

Môi trường là khái niệm rộng và đa dạng, do vậy tuỳ thuộc vào cách tiếp cận phạm vi xem xét, nghiên cứu để xây dựng khái niệm môi trường (Quốc hội, 2014a) Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Quốc hội, 2012) Môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế - xã hội, tác động trực tiếp lên từng cá thể hay cộng đồng (Lê Huy Bá, 2004)

Môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển kinh tế

là quá trình sử dụng và cải thiện các điều kiện đó (Nguyễn Văn Song, 2006) Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự vật và sự việc đó Chẳng hạn môi trường chân không trong hiện tượng vật lý dòng điện, làm phát sáng dây tóc bóng đèn; môi trường đầu tư liên quan đến các điều kiện bên ngoài để các chủ thể bỏ vốn nhằm tìm kiếm lợi ích (Nguyễn Thế Chinh, 2003) Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống

và phát triển của cơ thể sống Chẳng hạn, môi trường sống của sinh vật 6 biển và môi trường sống của sinh vật nước ngọt; môi trường sống của sinh vật trên cạn và môi trường sống của sinh vật dưới nước Mỗi loài, mỗi cộng đồng và mỗi cá thể sinh vật lại cần có môi trường sống đặc trưng riêng (Nguyễn Thế Chinh, 2003)

Trang 20

Môi trường là tổng hợp các điều kiện (hoá học, vật lý, sinh vật và xã hội) bao quanh có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của cá nhân, cộng đồng con người Đây là loại môi trường chỉ dành cho con người, nên nó vừa phải nằm trong môi trường sống của thế giới sinh vật nói chung, lại vừa phải có đặc thù riêng liên quan đến hoạt động của con người Như vậy, môi trường là tổng hợp các điều kiện bao quanh, có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các vật thể, sinh vật hoặc sự kiện Mỗi vật thể, sinh vật, sự kiện thường tồn tại và phát triển trong một môi trường nhất định Do vậy khi nghiên cứu về cơ thể sống, chúng ta thường quan tâm đến "môi trường sống", bao gồm các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh, có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển ở mỗi cá nhân, cộng đồng người (Nguyễn Thế Chinh, 2003)

2.1.1.3 Phân loại môi trường

Môi trường tự nhiên: Bao gồm những yếu tố được hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các

hệ thực vật, hệ động vật (Trần Văn Chử, 2006)

Môi trường nhân tạo: Bao gồm toàn bộ những yếu tố vật chất, sản phẩm do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân mình như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình văn hoá kiến trúc, hoá kiến trúc (Trần Văn Chử, 2006)

Môi trường xã hội: Là tổng thể các mối quan hệ giữa người với người tạo nên những thuận lợi hoặc khó khăn cho sự tồn tại phát triển của cá nhân và cộng đồng người (Trần Văn Chử, 2006)

Trong thực tế cả 3 loại môi trường đều cùng loại, xen kẽ lẫn nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ Vì thế sự suy thoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên sẽ dẫn đến sự suy thoái và ô nhiễm môi trường tự nhiên, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống của con người

Như vậy, môi trường được tạo thành bởi vô số 7 các yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật Ngoài những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo, những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân mình như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình văn hoá kiến trúc mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác dựng lên (Trần Văn Chử, 2006)

Trang 21

2.1.1.4 Khái niệm về quản lý

Quản lý là sự tác động có tổ chức, hướng tới đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Theo định nghĩa trên thì hoạt động quản lý có một số đặc trưng sau:

- Quản lý luôn là một tác động hướng đích, có mục tiêu

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận, gồm chủ thể quản lý (cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (bộ phận chịu sự quản lý), đây là mối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và

có tính bắt buộc Chủ thể qua các cơ chế quản lý (nguyên tắc, phương pháp, công cụ) tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu xác định Mối quan

hệ tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng quản lý tạo thành hệ thống quản lý (Hồ Văn Vĩnh, 2005)

2.1.1.5 Khái niệm về quản lý môi trường

Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh

tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên (Lưu Đức Hải, 2001)

Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, 8 quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình, Một cộng đồng muốn được sống bền vững, thì trước hết phải quan tâm bảo vệ cuộc sống của chính mình và không làm ảnh hưởng đến môi trường của cộng đồng khác Để quản lý môi trường có hiệu quả cần phải nâng cao nhận thức của người dân được xem là giải pháp cho những vấn đề của cộng đồng (Lưu Đức Hải, 2001)

Như vậy, quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệ môi trường và các thành phần của môi trường, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và xã hội

Trang 22

2.1.1.6 Quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng

Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế,

kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp

cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên (Lưu Đức Hải, 2001)

Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, 8 quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình, Một cộng đồng muốn được sống bền vững, thì trước hết phải quan tâm bảo vệ cuộc sống của chính mình và không làm ảnh hưởng đến môi trường của cộng đồng khác Để quản lý môi trường có hiệu quả cần phải nâng cao nhận thức của người dân được xem là giải pháp cho những vấn đề của cộng đồng (Lưu Đức Hải, 2001)

Như vậy, quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệ môi trường và các thành phần của môi trường, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và xã hội

Theo thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội, trên địa bàn thủ đô luôn có hơn 1.000 công trường xây dựng lớn nhỏ đang thi công, ngoài ra mỗi tháng có khoảng hơn 10.000 m2 đường bị đào bới để thi công các công trình hạ tầng kỹ thuật Với lượng lớn các công trình thi công nhưng công tác vệ sinh, môi trường lại không được quan tâm đúng mức như: các phương tiện chở vật liệu xây dựng không có hệ thống che chắn, công trình xây dựng không được bao bọc để hạn chế bụi, chưa có hệ thống thu gom các rác thải nguy hại trong lĩnh vực xây dựng… Trong khi đó, ngày 26/7/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1259/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, dự báo dân số của Hà Nội đến năm 2030 đạt khoảng 4,6 triệu người; diện tích đất xây dựng

đô thị khoảng 55.200 ha; đất dân dụng khoảng 34.900ha; Các loại công trình được tập trung xây dựng như công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông vận tải, năng

lượng.(Sở Xây dựng Hà Nội, 2011)

Trang 23

Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chất lượng môi trường nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng đã và đang giảm sút nghiêm trọng trong những năm gần đây, trong đó có tác nhân từ hoạt động xây dựng cơ bản Mỗi năm môi trường không khí Hà Nội phải tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO2, 19.000 tấn khí NO2, 46.000 tấn khí CO2; trong đó

có sự “đóng góp” không nhỏ từ quá trình đô thị hóa xây dựng thủ đô Quá trình phá dỡ, đào, san lấp, vận chuyển vật tư, và do tập trung nhiều thiết bị thi công, phục vụ thi công và sử dụng động cơ diezen công suất cao phát thải khí độc hại như SO2, NOx, CO,… làm ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân trên một diện rộng sống quanh khu vực thi công (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)

Nước thải sinh ra từ hoạt động xây dựng cơ bản là các loại dầu máy, nước thải xây dựng và nước thải sinh hoạt không qua xử lý được thải bỏ trực tiếp ra các nguồn nước mặt, cống thoát nước chung của thành phố và tiêu thoát xuống bốn con sông Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu của thành phố Hậu quả là làm ô nhiễm các dòng sông này, thể hiện nước có mùi hôi thối, các chỉ tiêu BOD5, COD, NO3- luôn vượt quá tiêu chuẩn cho phép (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)

Môi trường đất bị suy thoái do các chất thải rắn thải từ các công đoạn trong hoạt động thi công Việc phân loại chất thải cũng chưa được thực hiện, loại chất gây ô nhiễm môi trường đất là hydrocacbon, kim loại nặng (Hg, Cd, Pb, As, Sb,

Cr, Cu, Zn, Mn), ngấm sâu xuống đất, ảnh hưởng đến chất lượng của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân (Sở Xây dựng Hà Nội, 2011)

Không chỉ bị ô nhiễm vì bụi, khí thải mà Hà Nội còn đang bị “tra tấn” bởi tiếng ồn Cũng như ô nhiễm do bụi, trong các nguồn sinh ra tiếng ồn ở đô thị thì các phương tiện giao thông vận tải đóng vai trò chủ yếu; 60 - 80% tiếng ồn gây

ra từ động cơ, ống xả, rung động các bộ phận xe, đóng cửa xe, còi và phanh xe,

sự tương tác giữa lốp xe và mặt đường Ngoài ra, ô nhiễm tiếng ồn còn do hoạt động thi công và phục vụ thi công như nổ mìn, đóng ép cọc, san lấp, vận chuyển vật liệu xây dựng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)

Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Y Tế cho thấy, trong những năm qua sức khỏe của người dân Thủ đô có chiều hướng suy giảm, đặc biệt đối với người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi, người đang mang bệnh, người lao động thường xuyên phải làm việc ngoài trời, người bị bệnh phổi và tim mạch Hậu quả của ô nhiễm môi trường đối với người dân thủ đô đi liền với những thiệt

Trang 24

hại cho nền kinh tế như chi phí khám, chữa bệnh gia tăng, thiệt hại cho sản xuất

và nền kinh tế Trung bình mỗi hộ gia đình phải chi phí đi viện và số ngày nghỉ

ốm từ 1,5 - 2 lần/người/năm; ngày nghỉ trung bình vào khoảng từ 8 đến 16 ngày/người/năm (Bộ Y tế, 2015)

Vấn đề nêu trên có thể nói có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, song tập trung chủ yếu ở một số những nguyên nhân cơ bản sau:

+ Quy định trong các văn bản pháp luật còn thiếu, yếu và lỏng lẻo

+ Nguồn lực đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường trong lĩnh vực xây dựng cơ bản của thủ đô vẫn còn “khiêm tốn”

+ Công nghệ áp dụng bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản vẫn còn rất thô sơ, công nghệ xử lý các phế liệu cũng như biện pháp tái chế chưa được xem trọng Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) đối với từng ngành, lĩnh vực trong xây dựng cơ bản Tuy nhiên, công nghệ hiện nay được áp dụng tại các công trình thủ đô chưa đáp ứng được như QCVN 31:2010/BTNMT - QCKTQG về môi trường đối với phế liệu sắt, thép nhập khẩu, QCVN 29:2010/BTNMT - Nước thải của kho và cửa hàng xăng dầu, (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010)

+ Nhận thức của nhà đầu tư các dự án, cán bộ kỹ thuật, người dân còn về công tác bảo vệ môi trường còn yếu yếu kém (Bộ Y tế, 2015)

Để khắc phục các nguyên nhân cơ bản trên thì việc kiểm soát và giảm thiểu hạn chế ô nhiễm môi trường trong hoạt động xây dựng cơ bản phải dựa trên một loạt các giải pháp đồng bộ Điều 40 của Luật Bảo vệ Môi trường

2005 quy định đối với hoạt động xây dựng đó là: “Quy hoạch xây dựng phải tuân thủ tiêu chuẩn và yêu cầu về bảo vệ môi trường” Trên cơ sở pháp luật quy định để đảm bảo hạn chế ô nhiễm môi trường trong hoạt động xây dựng

cơ bản cần chú ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần xây dựng quy trình khảo sát phục vụ công tác đánh giá tác

động môi trường đối với từng ngành, lĩnh vực trong xây dựng cơ bản, trong đó đưa ra được các giải pháp nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường (Quốc hội, 2005)

Thứ hai, nghiên cứu và ban hành các chính sách bắt buộc về phân bổ kinh

phí dự án trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và phải đảm bảo một nguồn ngân sách

Trang 25

nhất định thực hiện các mục giám sát, quản lý, khắc phục và xử lý các vấn đề môi trường phát sinh (Quốc hội, 2005)

Thứ ba, áp dụng các công nghệ tái chế các nguyên vật liệu bị thải bỏ trong

quá trình xây dựng như bê tông, phế vật liệu,… Đặc biệt, các đơn vị tham gia thi công xây dựng phải thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn lao động và vệ sinh

môi trường Ở giai đoạn thi công, các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tới môi trường không khí, ồn, rung được áp dụng như phun nước ít nhất 2 lần/ngày vào những ngày không mưa trong mùa mưa; 4 lần/ngày, 2 lần vào buổi sáng, 2 lần vào buổi chiều vào những ngày không mưa của mùa khô Các phương tiện vận chuyển đều phải có bạt phủ kín, công nhân cần phải được trang bị đầy đủ phương tiện, trang thiết bị bảo hộ lao động trong quá trình thi công xây dựng, các loại thiết bị sử dụng trong thi công phải phát âm thanh ở mức cho phép Đối với môi trường nước, đất thì các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình triển khai xây dựng các công trường đều phải có hệ thống thu gom nước thải, xử lý sơ bộ rồi mới cho thoát ra hệ thống chung (Quốc hội, 2005)

Thứ tư, nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường, như xây dựng các chương

trình đào tạo mang tính ngắn hạn phục vụ cho từng dự án cụ thể cũng như phát triển các chương trình đào tạo dài hạn cho các cán bộ làm công tác quản lý dự án; tuyên truyền, vận động, tham vấn ý kiến cộng đồng nhằm nâng cao ý thức và kiến thức về môi trường của người dân xung quanh khu vực dự án; các cơ quan quản lý phải có chương trình bồi dưỡng kiến thức môi trường và nghiệp vụ quản lý môi trường cho lực lượng cán bộ, kỹ thuật ngoài công trường (Quốc hội, 2005)

Thứ năm, đối với lực lượng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về Môi trường

Cần thực thi tốt công tác thanh tra, kiểm tra, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các

vi phạm về môi trường, kiểm định tiêu chuẩn môi trường Thực hiện tốt công tác này sẽ góp phần hoàn thành tốt chức năng quản lý Nhà nước về môi trường trên lĩnh vực an ninh trật tự theo “tinh thần” Nghị định 72 của Chính phủ và để hướng tới mục tiêu - phát triển môi trường Hà Nội bền vững (Quốc hội, 2005)

Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan hữu quan khác giám sát tốt quá trình thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường của các khu xây dựng Tập trung vào các điểm “nóng” xả thải rác thải, nước thải công nghiệp, xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 26

Cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, thường xuyên thông tin rộng rãi cho người dân xung quanh các khu vực có các dự án thi công, cũng như các bên tham gia dự án đầu tư Chú trọng công tác phòng ngừa bao gồm sử dụng các biện pháp phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng đối với các hành vi vi phạm (Bộ Y tế, 2015)

2.1.2 Nội dung của quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng

* Tổ chức bộ máy, nhân lực

Theo Bộ Xây dựng (2017) quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng có nhiều cơ quan, trực tiếp hoặc gián tiếp Thông thường gồm các cư quan sau: + Đội Thanh tra xây dựng huyện

* Quản lý chất thải rắn trong lĩnh vực xây dựng

Chất thải rắn trong lĩnh vực xây dựng gồm: Vật liệu xây dựng (xi măng, cát, sỏi, vôi vữa…) kể cả trong quá trình vận chuyển nguyên vật liệu cũng có thể làm rơi vãi hoặc vật liệu sau khi phá dỡ các công trình, bùn đất, phế thải khi đào móng, san lấp mặt bằng của các công trình…

Chất thải rắn chiếm khối lượng chủ yếu trong chất thải xây dựng, khối lượng nhiều khi rất lớn đối với các công trình được phá dỡ để xây dựng mới hoặc sửa chữa, nâng cấp Chi phí để vận chuyển và đặc biệt là vị trí tập kết chất thải này nhiều khi không thuận lợi và khá tốn kém nên nhiều chủ công trình xây dựng, bên thi công lợi dụng sơ hở trong quản lý để đổ bừa bãi, gây tác động xấu đến môi trường cảnh quan (Bộ Xây dựng, 2016)

* Quản lý chất thải lỏng trong lĩnh vực xây dựng

Trang 27

Các công trình xây dựng thải chất lỏng ra môi trường tuy không nhiều như chất thải rắn nhưng thường xả thẳng xuống hệ thống cống rãnh hoặc khu vực công cộng, bờ sông Đặc biệt là các công trình xây dựng mới trên nền công trình cũ đã hư hỏng xuống cấp nghiêm trọng, liên quan đến công tác hút, làm sạch bể phốt là chủ yếu Nếu không quản lý tốt, bộ phận dịch vụ có thể đổ chất thải này một cách bừa bãi không đúng nơi quy định, dễ gây ô nhiễm môi trường cũng như liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khoẻ cộng đồng (Bộ Xây dựng, 2016)

* Quản lý tiếng ồn, khói bụi trong lĩnh vực xây dựng

Đối với các công trình xây dựng nhỏ thì đây không phải là vấn đề lớn Tuy nhiên, đối với những công trình cao tầng, khối lượng xây dựng lớn thì vấn đề khói bụi, tiếng ồn khi thi công nhiều khi rất nghiêm trọng, dễ gây bức xúc cho người dân Đối với khói bụi, nếu công trình không được che chắn cẩn thận, khi gặp gió to cuốn theo 1 lượng cát, xi măng ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân cũng như các phương tiện lưu thong trên đường lân cận với khu vực thi công Tiếng ồn do khoan đóng cọc làm móng, khoan cắt bê tong nhiều khi quá mức cho phép, có thể gây ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ người dân, nhất là vào giờ nghỉ trưa, những ngày nóng bức

Để quản lý vấn đề này không hề đơn giản, hầu hết đều xuất phát từ phản ảnh của người dân, sự phối hợp giữa chính quyền sở tại và bộ phận chuyên trách một cách kịp thời mới đem lại hiệu quả mong đợi (Bộ Xây dựng, 2016)

* Tổ chức thanh kiểm tra

Đối với lĩnh vực xây dựng, đây là công việc diễn ra hang ngày, kể cả những ngày nghỉ vì các công trình xây dựn có thể diễn ra bất cứ khi nào Đối với các công trình lớn cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng trong công tác này Ngược lại, bên cạnh sự tuyên truyền vận động người dân, chủ công trình xây dựng chấp hành nghiêm chỉnh các quy định hiện hành, công tác kiểm tra nhắc nhở, xử phạt nếu vi phạm quy định một cách kịp thơiì, công bằng, công khai sẽ

có tác dụng tích cực (Bộ Xây dựng, 2016)

* Lực lượng tham gia trực tiếp, gián tiếp

Lực lượng tham gia trực tiếp, gián tiếp (số lượng, chất lượng) có vai trò rất quan trọng trong quản lý, giám sát để các chủ công trình xây dựng thực hiện tốt quy định hiện hành Nếu lực lượng quá mỏng, địa bàn rộng sẽ khó quán xuyết

Trang 28

hết, chủ xây dựng hoặc bộ phận dịch vụ vận chuyển sẽ lợi dụng kẽ hở này để đổ trộ, đổ bừa bãi chất thải xây dựng Mặt khác, nhân lực tham gia không bảo đảm sức khoẻ, chuyên môn nghiệp vụ cũng khó đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao, nhất là trong xử lý các vụ việc vi phạm (Quốc hội 2014a)

* Lực lượng tham gia thu gom, vận chuyển, tập kết rác thải

Chất thải xây dựng cũng là 1 phần tham gia vào chất thải sinh hoạt của người dân, số lượng đang ngày một tăng lên Công tác thu gom, vận chuyển rác thải đang có nhiều vấn đề tồn tại, nhất là khâu phân loại, chế biến Hầu hết rác thải sinh hoạt hiện nay được xử lý rất sơ sài, chủ yếu là đốt, chon lấp… Nếu năng lực của bộ phận này không bảo đảm, rác không được thu gom tập kết kịp thời hàng ngày sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cộng đồng cũng như môi trường cảnh quan Chức năng giám sát vệ sinh môi trường và thu gom rác thải được quy định tại nghị định 59 là trách nhiệm của cấp xã, phường,các tổ chức cá nhân đoàn thể thôn xóm, tuy nhiên ý kiến của các cấp thôn xóm, tổ thu gom rác thì cơ chế phối hợp trong việc giám sát vệ sinh môi trường và hoạt động giữa chính quyền phường/xã với các thôn xóm nhiều nơi chưa tốt, chưa thông báo các thông tin liên quan đến việc thu gom rác (hợp đồng thu gom rác) để có cơ sở giám sát, kiểm tra Nhiều phản ánh của người dân, chính quyền thôn lên UBND phường về các vi phạm trong việc thu gom rác không được xử lý kịp thời (Quốc hội 2014a)

* Ý thức chấp hành các quy định của của chủ công trình xây dựng

Điều này rất quan trọng, xuất phát từ chi phí vận chuyển chất thải trong xây dựng thường không nhỏ đối với những công trình có quy mô lớn Tâm lý chọn có lợi cho mình mà không tính đến thiệt hại cho người khác hoặc cộng đồng đang khá phổ biến ở 1 bộ phận dân cư Nếu ý thức của chủ công trình xây dựng hoặc của bộ phận dịch vụ vận chuyển được nâng lên, chắc chắn góp phần quản lý tốt môi trường trong lĩnh vực xây dựng (Quốc hội 2014a)

* Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật môi trường

Hiện nay hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng cũng khá phong phú, tuy nhiên không phải đại bộ phận người dân đã am hiểu hoặc cập nhật Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật nói chung thời gian qua đã được các cấp các ngành chú trọng hơn nhưng trên thực tế chưa đáp ứng được như kỳ vọng (Quốc hội 2014a)

Trang 29

2.1.3.2 Nhóm yếu tố bên ngoài

* Cơ chế chính sách

Cơ chế chính sách có ảnh hưởng khá nhiều đến công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng Trước hết là việc phân cấp, phân quyền, quy định chức năng nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị, thẩm quyền thanh kiểm tra, lập biên bản

và quyết định xử phạt hành chính Mức phạt với các vi phạm cụ thể cũng rất quan trọng, có thể góp phần điều chỉnh hành vi, giúp người dân chấp hành tốt hơn các quy định hiện hành Ngoài ra, vấn đề quy hoạch các bãi tập kết vật liệu, tập kết rác thải cũng ảnh hưởng nhiều đến quyết định của chủ công trình xây dựng, của bộ phận dịch vụ vận chuyển chất thải, vật liệu xây dựng (Quốc hội 2014a)

* Sự vào cuộc của các cấp chính quyền địa phương

Tuỳ theo phân cấp, sự vào cuộc các các cấp chính quyền là rất quan trọng Đối với cơ sở, chính quyền sở tại là gần dân nhất, hiểu rõ dân nhất và cũng được nhà nước giao nhiều thẩm quyền liên quan đến hành pháp Nếu chính quyền sở tại phối kết hợp không tốt với các bộ phận chức năng, chuyên trách thì rất khó khăn trong việc giải quyết các tồn tại, đặc biệt là các phi phạm về môi trường trong lĩnh vực xây dựng (Quốc hội 2014a)

Chính từ tư duy là kiểm soát, sản xuất hợp lý, phát thải ít nhất ngay từ đầu vào, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành những quy định pháp luật nghiêm ngặt về tiêu chuẩn phát thải chất thải, kiểm soát ô nhiễm nước, không khí và giám sát ô nhiễm chất độc hại Đặc biệt coi trọng chính sách giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, khuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chức

nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm môi trường (Minh Anh, 2016)

Trang 30

Năm 1972, Luật Bảo tồn thiên nhiên chính thức được ban hành Hệ thống Luật Môi trường cơ bản được ban hành vào năm 1993, đã đưa ra Hệ thống kiểm soát ô nhiễm, bao gồm các chính sách và quy định về Hệ thống kiểm soát ô

nhiễm không khí, Hệ thống kiểm soát ô nhiễm nước, các vấn đề ô nhiễm đất, các tiêu chuẩn quốc gia về chất độc hại; Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; Những biện pháp kiểm tra và kiểm soát nghiêm ngặt môi trường sản xuất công nghiệp; Các quy định về trách nhiệm của cơ sở gây ô nhiễm (Minh Anh, 2016)

2.2.1.2 Singapore

Đâu phải ngẫu nhiên mà Singapore trở thành một đất nước xanh

sạch bậc nhất thế giới Quốc đảo này đã có một chiến lược quản lý môi trường

hợp lý, đồng thời, chú trọng quản lý hạ tầng cơ sở đi đôi với việc ban hành luật

và kiểm tra giáo dục nghiêm ngặt Vậy chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm

gì từ trường hợp của Singapore? (Minh Anh, 2016)

Theo Buildvietinfo, ngay từ những năm 1970, Singapore đã tổ chức riêng

Bộ Môi trường và Cục Phòng chống ô nhiễm nhằm thực hiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và quản lý chất thải rắn Tiếp đó, hai tổ chức này lại kiêm thêm trách nhiệm kiểm soát và xử lý các chất độc hại (Minh Anh, 2016)

Hai vấn đề lớn được chú trọng và cũng là thành công lớn ở Singapore là quản lý hệ thống thoát nước và quản lý chất thải rắn Đó là việc cung cấp hệ thống thoát nước toàn diện để thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải sản

xuất; tổ chức một hệ thống quản lý chất thải rắn rất có hiệu quả (Minh Anh,

2016)

2.2.2 Một số văn bản pháp quy liên quan đến quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng

Theo Quyết định số 15/2004/QĐ-BTNMT ngày 05/7/2004 của Bộ trưởng

Bộ tài nguyên môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục bảo vệ môi trường thì Cục bảo vệ môi trường là tổ chức thuộc Bộ tài nguyên môi trường, có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường: Kiểm tra và đề xuất giải pháp xử lý tiêu huỷ chất thải các lưu vực sông, khu công nghiệp, đô thị làng nghề, khu vực bị ô nhiễm, suy thoái môi trường nghiêm trọng Như vậy Cục bảo vệ môi trường thuộc Bộ

Trang 31

Tài nguyên và môi trường là cơ quan trực tiếp nhất trong việc triển khai thực hiện những văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của chính quyền Nhà nước cấp trên và của Bộ tài nguyên và môi trường

Thanh tra Bộ tài nguyên môi trường và đặc biệt là bộ phận thanh tra của Cục bảo vệ môi trường kiểm tra các cơ quan Nhà nước có liên quan trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường

Ủy ban nhân dân tỉnh Bộ Tài Nguyên và Môi trường Các Bộ khác Các sở khác

Sở Tài nguyên và Môi trường Cục Bảo vệ Môi trường Phòng Môi trường Các Phòng chức năng Các vụ khác Các vụ khác Phòng Môi trường Vụ KHCN MT

Bộ xây dựng có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ tài nguyên và môi trường, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan và UBND cấp tỉnh để chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối với các hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước, thoát nước thải tại đô thị, khu sản xuất dịch vụ tập trung, cơ sở vật liệu xây dựng, làng nghề và khu dân cư nông thôn tập trung UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương: chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án trên địa bàn quản lý thuộc thẩm quyền quyết định,

phê duyệt của mình và của hội đồng nhân dân cùng cấp

UBND cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để chỉ đạo, tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường đối với khu sản xuất kinh doanh, dịch vụ tập trung trên địa bàn quản lý của mình (Quyết định số 15/2004/QĐ-BTNMT ngày 05/7/2004 của Bộ trưởng

Bộ tài nguyên môi trường)

Theo Thông tư số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/3003 của Bộ tài nguyên và môi trường, Sở tài nguyên môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường theo quy định của pháp luật đối với các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp, định kỳ báo cáo UBND tỉnh, và Bộ tài nguyên và môi trường theo quy định tham gia công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, thanh tra, xử lý

Trang 32

Thanh tra bảo vệ môi trường cấp tỉnh kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bảo

vệ môi trường của tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn đơn vị các dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các dự án thuộc thẩm quyền kiểm tra, thanh tra của Bộ tài nguyên và môi trường trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)

- Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất

và khu kinh tế Ban quản lý các khu công nghiệp là cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trực tiếp đơn vị khu công nghiệp,

tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đơn vị dự án thuộc thẩm quyền quyết định của UBND cấp tỉnh trong khu công nghiệp; thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái trong khu công nghiệp (Chính Phủ, 2008)

- Quyết định số 1899/2006/QĐ-BCA ngày 29/11/2006 thành lập Cục cảnh sát môi trường trực thuộc Tổng cục cảnh sát để tổ chức điều tra hình sự và xử lý các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật

- Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp - Các chủ đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp

– Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

– Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường

– Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính Phủ

về quản lý chất thải và phế liệu

– Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường

– Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007của chính phủ ban hành quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến QLCTR

– Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

Trang 33

– Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030

– Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050

– Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ

về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dậy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường

– Quyết định số 1440/2008/QĐ-TTg ngày 6 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt kế hoạch các cơ sở xử lý chất thải tại ba vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, Trung, Nam đến năm 2020

– Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại

Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ

về quản lý chất thải rắn

– Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 7/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại

– Thông tư liên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18 tháng 1 năm 2001 hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn

– Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn

– QCVN 07:2009/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất

thải nguy hại

– QCVN 02:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế

– QCVN 30:2012/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải công nghiệp,

Trang 34

– QCVN 41: 2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý chất thải nguy hại trong lò nung xi măng

– QCVN 56: 2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái chế dầu thải – TCXDVN 261-2001: Bãi chôn lấp chất thải rắn Tiêu chuẩn thiết kế – TCVN 6696/2000: Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – các yêu cầu

về môi trường

– TCVN 6706/2009: Chất thải nguy hại – Phân loại

– TCXDVN 320/2004 bãi chôn lấp chất thải nguy hại – tiêu chuẩn thiết kế

trường trong lĩnh vực xây dựng

Trong những năm gần đây, công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến, nhất là ý thức chấp hành kỷ cương trong quản lý TTXD, chỉnh trang đô thị và giữ gìn vệ sinh môi trường của nhân dân từng bước được nâng cao

Nhiều xã, thị trấn xây dựng và quản lý được những tuyến phố, khu dân cư văn minh “xanh, sạch, đẹp” và từng bước hình thành hệ thống các đô thị theo hướng hiện đại

Tuy nhiên, qua kiểm tra của ngành chức năng trên địa bàn 22 xã, thị trấn cho thấy tình hình vi phạm về Bảo vệ môi trường một số nơi vẫn còn phổ biến Tại các xã Đa Tốn, Bát Tràng, Trâu Quỳ, Kiêu Kỵ và một số xã xa trung tâm huyện hiện tượng đổ chộm phế thải vật liệu xây dựng trên một số tuyến đường, đồng ruộng và ao hồ diễn ra rất phức tạp, nhiều công trình xây dựng trong đó cả những công trình thuộc dự án của thành phố không có các biện pháp che chắn chống bụi và tiếng ồn, các phương tiện chở vật liệu xây dựng không có biện pháp che chắn để vật liệu rơi vãi trên đường gây bức xúc cho nhân dân sống trong khu vực và người tham gia giao thông Hiện tượng chất thải lỏng không được quản

lý để chảy xuống hệ thống mương máng, ao hồ ảnh hưởng đến môi trường sống

và ô nhiễm môi trường nước

Thực trạng này là do ý thức chấp hành về quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng của các tổ chức, cá nhân chưa đầy đủ Hay tác động từ quy định thu phí khi xin cấp GPXD cũng ảnh hưởng đến việc chủ đầu tư không muốn hoặc

né tránh xin cấp GPXD để tránh việc phải mất phí cho việc xử lý chất thải trong

Trang 35

hoạt động xây dựng Trong khi đó, nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng tại các địa phương còn hạn chế, có biểu hiện buông lỏng Có vi phạm được phát hiện nhưng không giải quyết, hoặc

xử lý thiếu triệt để, nhiều trường hợp “phạt cho tồn tại”

Ngoài ra, năng lực cán bộ quản lý môi trường đặc biệt là môi trường trong lĩnh vực xây dựng của các chính quyền địa phương chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao cả về số lượng lẫn chất lượng Cán bộ thậm chí phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác

Toàn huyện Gia Lâm đang phấn đấu lên Quận do vậy đặt ra nhiều thách thức cho hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó quản lý môi trường đặc biệt

là môi trường trong lĩnh vực xây dựng có vai trò quan trọng để tạo dựng lên diện mạo văn minh đô thị

Để quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng đi vào nền nếp, các phòng ban của huyện Gia Lâm và các địa phương thống nhất một số giải pháp như: Tích cực phổ biến, hướng dẫn pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực xây dựng

và đẩy mạnh hoạt động kiểm tra Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền các cấp, gắn trách nhiệm của người đứng đầu với nhiệm vụ quản lý môi trường trên địa bàn Đồng thời, tập trung kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy làm công tác quản lý môi trường đặc biệt là quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng của các địa phương Thường xuyên có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng Không để xảy ra tình trạng các cơ quan quản lý thiếu cán bộ có chuyên môn về quản lý môi trường trong lĩnh vực xây dựng

Trang 36

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông thành phố Hà Nội, huyện có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp quận Long Biên, huyện Đông Anh và tỉnh Bắc Ninh

- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hưng Yên

- Phía Tây giáp quận Long Biên và quận Hoàng Mai

- Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên

Huyện Gia Lâm có vị trí địa lý thuận lợi trong phát triển kinh tế – xã hội và giao lưu thương mại Khu vực nông thôn huyện Gia Lâm là địa bàn hấp dẫn các nhà đầu tư do có những thuận lợi về địa lý kinh tế

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Huyện Gia Lâm thuộc vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình

thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình và theo hướng dòng chảy của sông Hồng Tuy vậy, địa hình của huyện khá đa dạng, làm

nền tảng cho cảnh quan tự nhiên, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng và khu công nghiệp, đảm bảo yêu cầu cho phát triển kinh tế xã hội của huyên

hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,50C, mùa nóng nhiệt độ trung bình tháng đạt 27,40C

- Lượng mưa trung bình hàng năm 1400-1600mm Mưa tập trung vào mùa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8

Trang 37

- Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.500 giờ, thấp nhất là 1.150 giờ, cao

4.272Kcal/m2/tháng

- Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Gió

mùa Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường gây ra lạnh và khô Rét đậm trong tháng 12 và tháng 1 và thường gây ra những thiệt hại cho sản xuất (Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm, 2017)

* Khu vực Bắc sông Đuống:

- Phần đất phía Tây Bắc đường 1A: Cao độ giảm dần từ ven sông vào phía trong đồng, từ Tây Nam sang Đông Bắc và thay đổi cao độ trung bình từ 7, 20m đến 5,5m

- Phần đất phía Đông Nam đường 1A: Cao độ cũng giảm dần từ ven sông vào phía trong đồng, từ Tây Bắc xống Đông Nam và thay đổi cao độ trung bình

từ 6, 2m đến 4,2m (Theo chi cục thống kê huyện Gia Lâm năm 2017)

*Khu vực Nam sông Đuống:

Cao độ giảm dần từ ven sông vào trong đồng, từ Tây Bắc xuống Đông Nam

và thay đổi trung bình từ 7, 2m đến 3, 2m Tại các điểm dân cư cao độ nền thường cao hơn từ 0,4 đến 0,7m so với cao độ ruộng lân cận Đê sông Hồng có cao độ thay đổi trong khoảng 13,5-14,0m Đê sông Đuống có cao độ 12,5-13,0m Huyện Gia Lâm chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ văn của các sông:

- Sông Hồng: lưu lượng trung bình nhiều năm 2710m3/s mực nước lũ thường cao 9-12m Mực lũ cao nhất là 12, 38m vào năm 1904; 12,60m (1915); 13,9m (1945); 12,23m (1968); 13,22m (1969); 14,13m (1971); 13,2m (1983) 13,30m (1985) 12,25m (1986) và 12,36m (1996) (Theo chi cục thống kê huyện Gia Lâm năm 2017)

Trang 38

- Sông Đuống: Mực nước lớn nhất tại Thượng Cát trên sông Đuống là 13,68m (1971) Tỷ lệ phần nước sông Hồng vào sông Đuống khoảng 25%

- Sông Cầu Bây: Mực nước ở cao độ 3m với tần suất 10%

3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo số liệu của Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm (2016), kinh tế huyện Gia Lâm trong những năm gần đây tăng trưởng khá, giai đoạn 2010-

2015 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 10,29% Trong đó ngành thương mại dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân nhanh nhất (15,5%), ngành nông nghiệp thấp nhất với 1,61%

* Khu vực kinh tế nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp huyện Gia Lâm đang từng bước hình thành các vùng

sản xuất tập trung chuyên canh như: Vùng chăn nuôi bò sữa và bò thịt ở các xã ven đê Sông Đuống và ven sông Hồng như: Phù Đổng, Văn Đức, Lệ Chi, Trung

Mầu, Dương Hà Vùng nuôi lợn nạc được hình thành ở các xã: Đa Tốn, Dương Quang, Văn Đức, Đặng Xá, Yên Thường Vùng rau an toàn được hình thành tại các xã: Văn Đức, Đông Dư, Đặng Xá, Lệ Chi Vùng cây ăn quả tập trung ở các xã:

Đa Tốn, Kiêu Kỵ, Đông Dư Vùng lúa cao sản, chất lượng cao tập trung ở các xã:

Đa Tốn, Dương Xá, Yên Thường, Phù Đổng, Trung Mầu.Vùng trồng hoa, cây cảnh hình thành ở một số xã: Lệ Chi, Đa Tốn, Ninh Hiệp, Phù Đổng (Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm, 2016)

Nông nghiệp ở huyện Gia Lâm trong những năm qua đã có bước phát triển đáng khích lệ song vẫn còn thể hiện một số hạn chế, cụ thể là: Sản xuất nhỏ lẻ, các

mô hình trang trại còn ít; Đầu tư thâm canh và ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng là một địa bàn ở gần các trung tâm đào tạo, nghiên cứu lớn về nông nghiệp; Chưa thật sự quan tâm đến vấn đề chất lượng và

vệ sinh an toàn thực phẩm, các hoạt động dịch vụ tiêu thụ sản phẩm còn non yếu, chủ yếu do nông dân tự sản tự tiêu (Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm, 2016)

* Khu vực kinh tế công nghiệp

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Gia Lâm cũng chủ yếu phát triển theo mô hình kinh tế hộ gia đình Toàn vùng có 6325 hộ cá thể tham gia các hoạt động công nghiệp, TTCN và xây dựng Số doanh nghiệp tại 20 xã hiện có

200 doanh nghiệp Công nghiệp - TTCN, chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ (Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm, 2016)

Trang 39

Bảng 3.1 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm (theo giá so sánh 2014)

Ch ỉ tiêu

GTSX (t ỷ đồng)

Cơ cấu (%)

GTSX (t ỷ đồng)

Cơ cấu (%)

GTSX (t ỷ đồng)

Cơ cấu (%)

* Lâm nghiệp 0,1 0,01 0,1 0,01 0,1 0,01 100,00 100,00 100,00

* Thủy sản 51,2 5,10 52,0 5,08 54,0 5,14 101,56 103,85 102,70

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm (2017)

Trang 40

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế do huyện Gia Lâm quản lý (theo giá hiện hành)

Ch ỉ tiêu

GTSX (t ỷ đồng)

Cơ cấu (%)

GTSX (t ỷ đồng)

Cơ cấu (%)

GTSX (t ỷ đồng)

Cơ cấu (%)

II Chỉ tiêu bình quân

- Giá trị sản xuất NN-TS trên 1ha đất (triệu

Ngày đăng: 12/06/2021, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w