1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển các mô hình tổ chức sản xuất trong nuôi trồng thủy sản huyện hải hậu tỉnh nam định luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

131 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 17,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MỤC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

      • 1.2.1. Mục tiêu chung

      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể

    • 1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

    • 1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

    • 1.5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

  • PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦAPHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

    • 2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

      • 2.1.1. Quan điểm về vai trò của phụ nữ

        • 2.1.1.1. Quan điểm về vai trò của phụ nữ

      • 2.1.2. Quan điểm về xây dựng nông thôn mới

        • 2.1.2.1. Thế nào là xây dựng nông thôn mới

        • 2.1.2.2. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

      • 2.1.3. Quan điểm của nhà nước Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong xâydựng Nông thôn mới

      • 2.1.4. Nội dung nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới

        • 2.1.4.1. Vai trò của phụ nữ trong việc tham gia Ban chỉ đạo xây dựng NTM

        • 2.1.4.2. Vai trò của phụ nữ trong quy hoạch tổng thể và lập kế hoạch xâydựng NTM

        • 2.1.4.3. Vai trò của phụ nữ trong công tác thông tin tuyên truyền xây dựng NTM

        • 2.1.4.4. Vai trò của phụ nữ trong đóng góp nguồn lực cho xây dựng NTM

        • 2.1.4.5. Vai trò của phụ nữ trong việc tiếp cận khoa học kĩ thuật mới trong sảnxuất kinh tế hộ gia đình

        • 2.1.4.6. Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định về phát triển kinh tế hộ vàxây dựng Nông thôn mới

        • 2.1.4.7. Vai trò của phụ nữ trong việc kiểm tra giám sát, sử dụng các côngtrình xây dựng Nông thôn mới

      • 2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM

        • 2.1.5.1. Yếu tố về cơ chế chính sách

        • 2.1.5.2. Yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ

        • 2.1.5.3. Yếu tố liên quan đến tố chức hội phụ nữ

    • 2.2. CỞ SỞ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

      • 2.2.1. Những kinh nghiệm của một số nước về phát huy vai trò của phụ nữtrong xây dựng nông thôn mới

        • 2.2.1.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong phát huy vai trò của phụ nữ trongphong trào Seamaul Undong

        • 2.2.1.2. Kinh nghiệm về phát huy vai trò của phụ nữ trong phong trào “ Mỗilàng, một sản phẩm” của Nhật Bản

      • 2.2.2. Những kinh nghiệm phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nôngthôn mới của một số địa phương tiêu biểu ở Việt Nam

        • 2.2.2.1. Hà Nội phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới

        • 2.2.2.2. Hải Hậu phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

        • 2.2.2.3. Vĩnh Phúc phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

    • 2.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ CỦA PHỤNỮ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG

  • PHẦN 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên

        • 3.1.1.1. Vị trí địa lý

        • 3.1.1.2. Địa hình

        • 3.1.1.3. Khí hậu, thủy văn

      • 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

        • 3.1.2.1. Hiện trạng sử dụng đất

        • 3.1.2.2. Tình hình dân số và lao động

        • 3.1.2.3. Cơ sở hạ tầng

        • 3.1.2.4. Tình hình phát triển kinh tế huyện Mỹ Lộc

        • 3.1.2.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường

        • 3.1.2.6. Tình hình triển khai xây dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc

    • 3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra

        • 3.2.1.1. Chọn điểm nghiên cứu

        • 3.2.1.2. Chọn mẫu điều tra

      • 3.2.2. Phương pháp điều tra thông tin

        • 3.2.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

        • 3.2.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

      • 3.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

        • 3.2.3.1. Phương pháp xử lý thông tin

        • 3.2.3.2. Phương pháp phân tích thông tin

      • 3.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

        • 3.2.4.1. Nhóm chỉ tiêu về thực trạng

        • 3.2.4.2. Nhóm chỉ tiêu thể hiện yếu tố ảnh hưởng

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1. THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNGTHÔN MỚI TẠI HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

      • 4.1.1. Khái quát kết quả thực hiện xây dựng Nông thôn mới huyện Mỹ Lộc

        • 4.1.1.1. Công tác chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới

        • 4.1.1.2. Kết quả thực hiện một số tiêu chí theo bộ tiêu chí của chương trìnhxây dựng Nông thôn mới

      • 4.1.2. Vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc

        • 4.1.2.1. Vai trò của phụ nữ trong việc tham gia Ban chỉ đạo xây dựng NTM

        • 4.1.2.2. Vai trò của phụ nữ trong quy hoạch tổng thể và lập kế hoạch xây dựngNông thôn mới

        • 4.1.2.3. Vai trò của phụ nữ trong công tác thông tin tuyên truyền xây dựng NTM

        • 4.1.2.4. Vai trò của phụ nữ trong đóng góp nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

        • 4.1.2.5. Vai trò của phụ nữ trong việc tiếp nhận khoa học kĩ thuật mới trongsản xuất kinh tế hộ gia đình

        • 4.1.2.6. Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định về phát triển kinh tế hộ vàxây dựng nông thôn mới

        • 4.1.2.7. Vai trò của phụ nữ trong việc kiểm tra giám sát, sử dụng các côngtrình xây dựng Nông thôn mới

    • 4.2. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA PHỤNỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN MỸ LỘC,TỈNH NAM ĐỊNH

      • 4.2.1. Yếu tố về cơ chế chính sách

      • 4.2.2. Yếu tố thuộc về bản thân người phụ nữ nông thôn

      • 4.2.3. Yếu tố liên quan đến tố chức hội phụ nữ

      • 4.2.4. Ảnh hưởng của các tổ chức chính quyền địa phương đến phụ nữ nôngthôn

      • 4.2.5. Đánh giá của phụ nữ về kết quả thực hiện các tiêu chí Nông thôn mớitại thôn xóm

      • 4.2.6. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của phụ nữ trong việc tham giaxây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Đinh

    • 4.3. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮTRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN MỸ LỘC

      • 4.3.1. Chính quyền địa phương tăng cường tạo điều kiện cho chị em phụ nữđược hoàn thiện, phát triển bản thân một cách toàn diện

      • 4.3.2. Quan tâm công tác khuyến nông và đào tạo nghề cho phụ nữ

      • 4.3.3. Đổi mới, phát triển hình thức sản xuất, tăng cường áp dụng khoa họckỹ thuật phát triển kinh tế hộ

      • 4.3.4. Nâng cao trình độ học vấn, khả năng nhận thức của phụ nữ

      • 4.3.5. Nâng cao vai trò của Hội phụ nữ

      • 4.3.6. Tăng cường phối hợp hoạt động giữa Hội phụ nữ và các tổ chức chínhtrị xã hội khác

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

    • 5.2. KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ huyện Mỹ Lộc trong xây dựng NTM: Nhóm yếu tố về cơ chế chính sách: Đường lối, Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy vai trò của

Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

Cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ

2.1.1 Quan điểm về vai trò của phụ nữ

2.1.1.1 Quan điểm về vai trò của phụ nữ a Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” gọi tắt là WID (Women in Development) và “Giới và phát triển” gọi tắt là GAD (Gender and Development)

Trong nghiên cứu phụ nữ xuất hiện lý luận của nhà nữ quyền và nội dung của hai quản điểm nổi tiếng ở hai giai đoạn khác nhau đó là “Phụ nữ trong phát triển” gọi tắt là WID (Women in Development) và “Giới và phát triển” gọi tắt là GAD (Gender and Development) Đây chính là nguồn lý luận cơ bản hình thành nên lý thuyết về giới Vấn đề bình quyền được hình thành từ các phong trào của hiệp hội đấu tranh đòi quyền lợi và sự công bằng của phụ nữ Anh, sau đó lan rộng và trở thành làn sóng chính trị quan trọng ở Hoa Kỳ và các nước khác, thì cuộc tranh luận WID và GAD lại bắt nguồn từ thực tế tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở các nước đang phát triển Tiếp cận WID và GAD được đặt trong những khía cạnh khác nhau trong mối quan hệ giữa vai trò của phụ nữ trong sự phát triển Tiếp cận giới đưa ra những câu trả lời về vai trò của phụ nữ trong phát triển Tuy nhiên, các câu trả lời này không giống nhau và không có tranh cãi về vai trò của phụ nữ trong sự phát triển cộng đồng (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Quan điểm “Phụ nữ và phát triển”(WID)

Sau chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống Liên hiệp quốc được hình thành với các hoạt động điều phối hỗ trợ phát triển ngày càng được mở rộng Tuy nhiên, thời gian đầu chưa có bất cứ một luận điểm nào chú ý hoặc đề cập đến phụ nữ bởi quan niệm bất kỳ sự phát triển kinh tế xã hội nào cũng đem lại đổi thay cho mọi người, trong đó có phụ nữ Sự thay đổi được xuất hiện trong Chiến lược phát triển quốc tế cho thập kỷ thứ hai do Đại hội đồng Liên hiệp quốc nhấn mạnh: Khuyến khích sự hòa nhập của phụ nữ và nỗ lực phát triển một cách đầy đủ và vấn đề của phụ nữ và vấn đề phát triển Thuật ngữ “Phụ nữ trong phát triển” được ra đời từ đó (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” được chú trọng vào phụ nữ, vào các vấn đề nảy sinh đối với phụ nữ trong phát triển như cơ hội được học hành, có việc làm, được bình đẳng trong gia đình và tham gia các hoạt động xã hội, được hưởng các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe và trong đời sống Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã hội và quyền lợi cho phụ nữ

Các quan niệm trước đây chỉ nhìn nhận phụ nữ trong vai trò người mẹ, người vợ nên chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn ở phúc lợi xã hội và sinh đẻ Với quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có việc làm trong sản xuất và tham gia công tác xã hội là biện pháp nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ Quan điểm này khẳng định, việc không thừa nhận và sử dụng vai trò sản xuất của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội là những sai lầm dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Cách tiếp cận WID dựa vào cơ sở nổi bật là các quá trình phát triển sẽ được tiến hành tốt hơn nếu phụ nữ được coi là trọng tâm trong nghiên cứu và trong chuyển giao các nguồn lực của dự án Cách tiếp cận này cũng thách thức quan điểm trước đây cho rằng: những lợi ích thu được từ dự án phát triển sẽ tự động làm lợi cho phụ nữ và người yếu thế khác trong các quốc gia phát triển và hiện đại hóa sẽ tự động làm tăng sự bình đẳng giới

Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” đã nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, coi trọng vai trò của phụ nữ với tư cách là người hưởng thụ thành quả của sự phát triển, nắm giữ được các nguồn lực như chìa khóa mở đường giúp cho phụ nữ thoát khỏi sự lệ thuộc Tuy nhiên, cách tiếp cận này mới chủ đặt phụ nữ trong khuôn khổ phát triển đã được định sẵn chứ chưa coi phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế xã hội, do đó không chỉ hạn chế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ mà có thể làm giảm hiệu quả của các quá trình kinh tế Hơn nữa, cách tiếp cận WID còn xem xét vấn đề phụ nữ một cách tách biệt, quá nhấn mạnh đến khía cạnh sản xuất trong công việc và lao động của phụ nữ, nhất là việc tạo ra thu nhập, trong khi đó đã bỏ qua khía cạnh tái sản xuất (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Quan điểm “Giới và phát triển” (GAD)

Tiếp cận “Giới và phát triển” ra đời sau tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển” nên có được kinh nghiệm từ những thất bại của nhiều chương trình phát triển Phương pháp tiếp cận “Giới và phát triển” quan tâm đến mối tương quan giữa phụ nữ và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tiếp cận giới và phát triển quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng giới và các chương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu cả nam và nữ Tức là GAD tạo sự chuyển biến trong suy nghĩ, cũng như nhìn nhận về vai trò, trách nhiệm, các quyền tiếp cận, kiểm soát nguồn lực kinh tế của phụ nữ và nam giới, điểu chỉnh các yếu tố cơ cấu tác động ảnh hưởng nhằm cải thiện tình trạng, vai trò của phụ nữ và cân bằng các quan hệ giới (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Theo phương pháp tiếp cận này, phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá như là những nhân tố tích cực chứ không phải là những người thừa hưởng thành quả của sự phát triển Mục tiêu phát triển theo phương pháp này là sự tự lực, sức mạnh của bản thân phụ nữ, tức là phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với nam giới Sự tham gia của phụ nữ và phát huy hết tiềm năng, kinh nghiệm của họ trong hoạt động kinh tế, xã hội hay quản lý cộng đồng có ý nghĩa chính trị-xã hội tích cực, vừa tăng cường năng lực cá nhân, vừa tạo quyền cho chính họ, vừa thúc đẩy tốc độ phát triển chung của xã hội Phương pháp tiếp cận này cho rằng, mỗi nam và nữ giới sẽ thường được đảm nhận các vai trò quyền lực khác nhau, nên họ có nhu cầu thực tế khác nhau Chính vì vậy, phân tích theo quan điểm GAD đã đề xuất được các hướng giải quyết không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt mà cả những nguyên nhân sâu xa của vấn đề nghiên cứu Đây là một phương pháp tiếp cận được ưa chuộng và được đánh giá là phương pháp có hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong thời gian hiện nay (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng xã hội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau Cần đánh giá những đóng góp của phụ nữ đối với cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy được năng lực của mình, chủ động cùng nam giới tham gia các hoạt động phát triển kinh tế gia đình và cộng đồng, các hoạt động văn hóa, chính trị, chăm sóc sức khỏe, sinh sản … Quan trọng là hình thành được thói quen, các chuẩn mực và giá trị mới về vai trò phụ nữ trong cộng đồng ở giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập và phát triển (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

GAD quan niệm, phụ nữ và nam giới cùng có vai trò trong xây dựng và duy trì xã hội, cùng quyết định phân công lao động xã hội Tuy nhiên, họ lại không bình đẳng trong việc hưởng thụ lợi ích và trong việc đối mặt với những khó khăn, điều này là do phụ nữ là nhóm yếu thế, vì vậy, cần phải tập trung sự quan tâm dành cho phụ nữ Mặc dù giữa phụ nữ và nam giới có mối quan hệ nương tựa vào nhau, tuy nhiên phương thức và phạm vi hoạt động của họ trong xã hội lại không giống nhau, có những vai trò khác nhau trong những lĩnh vực xã hội khác nhau Vì vậy, mỗi giới đều có những vấn đề ưu tiên riêng, có cách nhìn nhận sự vật riêng Trong quan hệ vai trò giới, nam giới có thể hạn chế hoặc mở rộng những khó khăn của phụ nữ Phát triển có ảnh hưởng khác nhau tới phụ nữ và nam giới, đồng thời, nam giới và phụ nữ cũng có những ảnh hưởng khác nhau đối với các dự án sản xuất, để thúc đẩy lợi ích và phúc lợi của xã hội, phụ nữ và nam giới phải có cùng cách nhìn nhận về các vấn đề và cùng tìm ra phương thức để giải quyết các vấn đề đó Phương pháp tiếp cận GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng trên các lĩnh vực hoạt động khác nhau GAD xem phụ nữ như là chủ thể của quá trình biến đổi chứ không coi phụ nữ như nhóm đối tượng thụ hưởng bị động Phương thức thực hiện là thông qua trao quyền, tăng cường sức mạnh nội tại của phụ nữ, thực hiện năng lực cải tạo xã hội của phụ nữ Để thực hiện trao quyền, nội dung căn bản nhất là lập kế hoạch giới, GAD nhấn mạnh trong thực hiện các dự án phát triển quốc tế, phát triển đất nước, phát triển khu vực cần phải thực hiện tổng hợp yếu tố giới Vấn đề công bằng phải được thể hiện trong thực tiễn chứ không phải chỉ trên khẩu hiệu (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000) b Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ trong xã hội

Tư tưởng nhất quán xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ là nhằm mục đích cao nhất giải phóng con người và ra sức tranh đấu để đòi lại những quyền thiêng liêng của con người Trong đó, Người đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ và đấu tranh bảo vệ quyền bình đẳng cho họ Những tư tưởng của Người về vấn đề giải phóng phụ nữ vẫn còn nguyên giá trị Trong tư tưởng của Người về phụ nữ được xuất phát từ tình cảm đặc biệt đối với những người phụ nữ nói chung và từ thực trạng bất bình đẳng của phụ nữ dưới chế độ phong kiến, sự cai trị thâm độc của thực dân Pháp đối với nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò to lớn của phụ nữ Việt

Nam và cho chúng ta thấy những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội Với họ, việc giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng là một mục tiêu lớn của cách mạng do đảng cách mạng lãnh đạo Điều này có thể lý giải tại sao từ năm 1910 thế giới tiến bộ lấy ngày 08 tháng 3 là “Ngày đàn bà và con gái”, sau đổi là Ngày Phụ nữ quốc tế, nhằm đoàn kết phụ nữ các nước đấu tranh để giải phóng giới mình, giành các quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị và xã hội cho họ; cũng vì vậy mà khi thành lập Quốc tế Cộng sản (3/1919) hay Quốc tế III đã tổ chức phụ nữ quốc tế vì những mục tiêu đó (Khuất Minh Phương, 2014)

Cũng như Mác và Lênin, từ lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, Bác Hồ thấy rõ vai trò của phụ nữ thế giới nói chung, phụ nữ nói riêng Người nhận xét: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Người cũng rút ra kết luận “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà tham gia”, rồi Người khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” (Khuất Minh Phương, 2014)

Với cách nhìn toàn diện, Bác Hồ nhấn mạnh rằng phụ nữ chiếm một nửa nhân loại; “Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội”, cũng tương tự “Phụ nữ Việt Nam chiếm một nửa tổng số nhân dân ta”; Người còn chỉ rõ: “Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng” Vì vậy, theo Người, “Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng”, “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Bác Hồ phân tích có lý, có tình, rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, “Nhất định phải sản xuất thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn nhiều sức lao động thì phải giải phóng lao động của phụ nữ” Tuy Bác Hồ không viết những tác phẩm lớn về vấn đề giải phóng phụ nữ, nhưng từng nơi, từng lúc những câu nói của Người về bình đẳng nam nữ thật giản dị và dễ hiểu Người nói: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ chỉ: Hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng, bình quyền Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng to và khó” (Khuất Minh Phương, 2014)

Cở sở thực tiễn về vai trò của phụ nữ

2.2.1 Những kinh nghiệm của một số nước về phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong phát huy vai trò của phụ nữ trong phong trào Seamaul Undong

Hàn Quốc vào những năm đầu thập niên 60 vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn Trong khi đó khắp đất nước liên tiếp bị lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên Xã hội Hàn Quốc thời đó là một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng Nỗi lo lớn nhất của Chính phủ là làm cách nào để thoát khỏi đói nghèo Các sản phẩm xuất khẩu lúc đó trở thành mục tiêu chính để tăng trưởng kinh tế Tổng thống Park Chung-hee nhận ra rằng việc hỗ trợ của Chính phủ cũng sẽ là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu giúp chính mình Hơn nữa khuyến khích người dân hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của Phong trào Làng mới (Đinh Quang Hải, 2014)

Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần cù, sáng tạo, độc lập và cộng đồng Tổng thống Hàn Quốc Park Jeong-hee phát biểu: “Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Seamaul Undong đó là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới” Như vậy, phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là

“phát triển tinh thần của người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân (Đinh Quang Hải, 2014)

Lập ra “Ủy ban Phát triển Làng mới” có 5-10 người, đầy đủ nam và nữ Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Ủy ban Phát triển Làng mới”, Ủy ban này có khoảng 5-10 người, có đầy đủ nam và nữa, những người này là đại diện cho cộng đồng ở làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự án phát triển nông thôn cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện cũng được thành lập Ủy ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho Ủy ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Chương trình này do Tổng thống trực tiếp đứng ra lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan làm việc (Đinh Quang Hải, 2014) Đội ngũ lãnh đạo thôn gồm 2 người, một nam và một nữ làm nòng cốt cho chương trình phát triển Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Việc bầu ra một nam một nữ đã tạo quyền bình đẳng cũng như phát huy tinh thần tự chủ, năng nổ với các công việc chung của chị em phụ nữ Những người này độc lập với hệ thống chính trị và hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào Nguồn tinh thần chính cho những người này là sự kính trọng của cộng đồng và sự vận động tinh thần kịp thời từ Chính phủ, những người lãnh đạo tinh thần này không bị một sức ép bào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế, mà chỉ chịu sự phán xét của nông dân và được cộng động tin yêu (Đinh Quang Hải, 2014) Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, chú trọng đào tạo cán bộ nữ, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần gắn bó thực sự cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức Trung ương được đưa về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân; Chính phủ mở các khóa đào tạo ngắn ngày khoảng từ một đến hai tuần, nội dung tùy theo nhu cầu từng giai đoạn của sự phát triển, đào tạo chủ yếu là học theo các mô hình, rút kinh nghiệm từ các mô hình Các chị em phụ nữ được cán bộ hướng dẫn học tập các mô hình đặc biệt, có hiệu quả của phụ nữ trong cả nước (Đinh Quang Hải, 2014) Phát huy dân chủ, mọi người đều được tham gia vào quá trình ra quyết định, không phân biệt giới tính nam hay nữ Để tập hợp hay huy động nhanh, thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, các làng đã xây dựng hội trường làng của mình Nông dân đều tự ra quyết định lựa chọn thứ tự ưu tiên cho mỗi hoạt động, họ tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi và quản lý, giám sát công trình Các ý kiến phù hợp, hiệu quả sẽ được đem ra thảo luận và tổ chức thực hiện Người phụ nữ luôn được khuyến khích thể hiện và đóng góp ý kiến của mình trong công việc chung của cộng đồng (Đinh Quang Hải, 2014)

Phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào “Làng mới”, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có Trong vòng 6 năm thu nhập bình quân của các nông hộ tăng gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường làng, nhà xưởng, hộ thống cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ tích lũy vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình đều được cải thiện (Đinh Quang Hải, 2014)

2.2.1.2 Kinh nghiệm về phát huy vai trò của phụ nữ trong phong trào “ Mỗi làng, một sản phẩm” của Nhật Bản a Xuất xứ phong trào “ mỗi làng, một sản phẩm”

Sau những hệ lụy về công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhật Bản, diện tích các thành phố chiếm 20% tổng diện tích cả nước nhưng những vùng này chiếm đến 80% dân số, các căn nhà bị bỏ không do không có người ở, nông nghiệp bị đình đốn do thiếu người làm Nhiều vùng nông thôn chỉ còn lại người già và trẻ nhỏ, cuộc sống của người dân nông thôn vì thế mà ngày càng trở lên nghèo khổ hơn, trong khi những cơ hội tìm việc làm ở khu vực thành phố cứ hẹp dần lại theo thời gian Ông Morihiko Hiramalsu, người đứng đầu chính quyền tỉnh Oita, đã đề xuất thực hiện Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” trên địa bàn tỉnh Mục tiêu ban đầu của Phong trào này là khuyến khích người dân nông thôn làm sống lại các giá trị tốt đẹp của quê hương mình, qua đó tăng thu nhập và cải thiện bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, mục tiêu sâu xa hơn chính là thông qua các hoạt đồng này, tạo sức quyến rũ của khu vực nông thôn, hạn chế sự di dân tự do ra các thành phố và khu công nghiệp lớn trong cả nước, xây dựng nguồn nhân lực đủ mạnh thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực này trong tương lai, đồng thời tạo ra sự chuyển dịch để đạt đến sự cân bằng về kinh tế cũng như về xã hội giữa vùng nông thôn của địa phương với các thành phố lớn, giảm sự phụ thuộc về kinh tế vào ngân sách vào chính quyền trung ương (Vũ Hồng Thư, 2013) b Nội dung phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm”

Mỗi địa phương (làng, xã, huyện), “mỗi làng” tùy theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mình lựa chọn ra sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Các sản phẩm này có thể là những sản phẩm tiêu dùng cụ thể như rau, quả, đồ gỗ nhưng cũng có thể là các sản phẩm văn hóa, du lịch Điều quan trọng đối với các sản phẩm được lựa chọn là mặc dù chúng phải mang nét đặc trưng, kết hợp được các yếu tốt địa lý, văn hóa, truyền thống của địa phương đó, nhưng phải được thị trường Nhật Bản và thế giới chấp nhận (Vũ Hồng Thư, 2013) c Vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm”

Trong hoàn cảnh dân số tụt giảm hằng năm, nguồn nhân công khan hiếm, cách tốt nhất có thể sản xuất ra những sản phẩm của địa phương như Phong trào mong muốn, làm sống lại niềm tự hào của người dân trong vùng là tổ chức những nhóm phụ nữ (theo truyền thống thường không tham gia công việc xã hội) làm công tác chế biến nông sản Các nhóm này, ban đầu được chính quyền trợ cấp một phần kinh tế để xây dựng cơ sở sản xuất, tư vấn công nghệ chế biến, nơi tiêu thụ sản phẩm, còn người sản xuất tiến hành mua sắm thiết bị, tổ chức sản xuất và tiêu dùng sản phẩm Ở xưởng sản xuất nước cà chua cô đặc tại thị trấn Ogi, 2-3 nhóm phụ nữ chung nhau một khu nhà sản xuất do chính quyền trợ giúp để tiến hành sản xuất sản phẩm của mình Điều quan trọng là Phong trào đã thổi được lòng tin, niềm tự hào và ý nghĩa của công việc sản xuất vào các nhóm này để họ ngày càng nâng cao chất lượng, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình (Vũ Hồng Thư, 2013)

Trải qua hơn 20 năm tiến hành Phong trào, đã có 339 nhóm phụ nữ chế biến nông sản được thành lập và đi vào hoạt động Những khẩu hiệu như “Nước ép cà chua Ogi đi lên Hockaido” hay “Karinto (một loại bánh vùng Amagase) tiến vào Hoa Kỳ” đã song hành cùng họ nhiều năm qua tạo ra một niềm kiêu hãnh và tự tin để vượt qua những khó khăn trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra các mô hình như Điểm dừng xe ven đường trong Phong trào

“Mỗi làng, một sản phẩm”, Thị trấn Oyama: “Đưa cây mận (Ume) và hạt dẻ tiến vào” Himeshima; Nơi sản xuất tôm lớn nhất Nhật Bản, Kitsuki: Trồng quýt bằng nền công nghiệp công nghệ cao, Yufuin: Phát triển quê hương băng du lịch phong cảnh, Nakatsue; Mang vỏ vàng vào cuộc sống, Showa; Khôi phục thị trấn từ truyền thống văn hóa và lịch sử, Ajimu: Đưa khách du lịch vào tận nhà người dân, Saganoseki; Thương hiệu làm lên sự thành công đều có sự đóng góp rất lớn của chị em phụ nữ Nhật Bản (Vũ Hồng Thư, 2013)

Phụ nữ Nhật Bản đóng góp rất lớn vào công cuộc chung, góp phần tạo ra số lượng sản phẩm thủ công được làm và bán ra tăng từ 143 loại sản phẩm, thu nhập 35,9 tỷ yên khi phong trào mới bắt đầu lên 336 loại sản phẩm và cho thu nhập 141 tỷ yên vào năm 2001 Các mặt hàng nông sản phổ biến của địa phương từ chỗ ít được biết đến ngay trên thị trường nội địa như nấm khô, rượu cất sochu từ lúa mạch, cam, chanh đã trở lên phổ biến và có giá trị khá cao như nấm khô Shiitake từ 1% tăng lên 32%, rượu sochu từ 1% lên 30,7% thị phần của thị trường nội địa, chanh Kabosu từ Oita đã có mặt hàng ngày ở Hockaido (Vũ Hồng Thư, 2013)

Người phụ nữ Nhật ở vùng này từ chỗ chỉ quen với công việc nội trợ, sống phụ thuộc vào chồng, đến nay đã rất quen thuộc với công việc chế biến nông sản

Họ tự tạo được thu nhập cho bản thân, tạo thêm thu nhập cho gia đình và đóng góp cho xã hội Với tiêu biểu có 339 nhóm phụ nữ tự quản làm công tác chế biến nông sản đã tiếp thêm sức mạnh cho chị em phụ nữ trong cả nước, họ muốn thể hiện mình hơn trong công tác khác ngoài việc nội trợ gia đình, như vậy người phụ nữ cũng coi trọng hơn, tự khẳng định mình, có chỗ đứng trong xã hội, đời sống tinh thần được nâng cao do tiếp thu môi trường mới, công việc mới, ý thức về bình đẳng giới của phụ nữ Nhật Bản cũng cao hơn (Vũ Hồng Thư, 2013) Với truyền thống Á Đông, người phụ nữ chính là người “giữ lửa” trong gia đình, các gia đình Nhật Bản cũng không ngoại lệ Người phụ nữ chính là người lo toan, quán xuyến việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, phụng dưỡng bố mẹ, là người bạn tâm giao tri kỉ để chia sẻ mọi việc với người chồng của mình Chính vì sự gần gũi như vậy, những tư tưởng sống của người phụ nữ Nhật Bản đã góp phần khơi dậy niềm tin cho lớp trẻ - những người vốn đã có mặc cảm về sự yếu kém kinh tế của địa phương, về sự phát triển kinh tế nông thôn nơi họ đã sinh ra và lớn lên Chính vì vậy, các thế hệ sau của các gia đình Nhật bản lại càng hoàn thiện hơn, có tinh thần, nghị lực làm việc hơn, chính họ là những người tìm ra những giải pháp khả thi để phát triển quê hương họ (Vũ Hồng Thư, 2013)

Trải qua 20 năm phát triển, Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” đã đạt được những thành công vang dội trong quá trình phát triển nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị về cả kinh tế, văn hóa và lối sống trong đó có đóng góp rất lớn của chị em phụ nữ Nhật Bản Phụ nữ Nhật Bản tích cực tham gia các hoạt động triển lãm về sản phẩm của bản thân, tổ nhóm, của địa phương và luôn tích cực nâng tầm các hoạt động triển lãm này tại Tokyo và các thành phố lớn khác của Nhật Bản thành những sự kiện phổ biến và có ảnh hưởng tốt trong dân cư các thành phố lớn Ở quận Oita, nơi khởi thủy của phong trào

Những nghiên cứu có liên quan đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong xây dựng cộng đồng

NỮ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG

Nhận thức được vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình, trong nông nghiệp, nông thôn và trong xây dựng Nông thôn mới, những năm gần đây có nhiều tác giả đã nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong hộ gia đình và trong nông nghiệp, nông thôn và xây dựng Nông thôn mới

Trong phát triển kinh tế hộ của phụ nữ nông thôn cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu trong đó có tác phẩm: “Khảo sát vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang” của đồng tác giả Phạm Ngọc Nhàn và cs (2014) Đề tài nói lên vai trò rất quan trọng của phụ nữ trong việc tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình và ra quyết định các vấn đề điều hành trong sản xuất Phụ nữ chưa hoàn toàn bình đẳng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề lớn trong sản xuất mặc dù họ được đánh giá cao trong kiểm soát nguồn lực của hộ Đề tài nhấn mạnh cần nâng cao năng lực của người phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ, bên cạnh đó chú ý bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho họ qua các chương trình tập huấn, khuyến nông trên địa bàn

Học viện Nông nghiệp Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến phụ nữ nông thôn của các thầy cô giáo cũng như học viên trong trường như đề tài: “ Khảo sát vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp nông thôn ở xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên” của tác giả Quyền Đình Hà và cs (2006) Trong nghiên cứu, nhóm tác giả so sánh vai trò của phụ nữ so với nam giới trong sản xuất, kiểm soát nguồn lực kinh tế Khi khảo sát sự tham gia của phụ nữ trong các tổ chức chính quyền, đoàn thể và việc tiếp cận các kênh thông tin và các quan hệ xã hội thông qua các hoạt động cộng đồng, nghiên cứu cũng đã phát hiện và chủ ra

“Phụ nữ nông thôn ít được tham gia hội họp thôn xóm, ít được tiếp cận các phương tiện truyền nông Nhưng phụ nữ có ưu thế và trách nhiệm hơn nam giới khi tham gia các hoạt động xã hội, môi trường và xây dựng nông thôn” Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy năng lực của phụ nữ nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ hoàn thành tốt vai trò của mình trong sản xuất, trong đời sống và xã hội

Về vai trò của cộng đồng trong xây dựng Nông thôn mới, có nhiều công trình nghiên cứu cũng như các bài báo nói về vấn đề này Mới đây nhất có bài viết: “Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng Nông thôn mới” của Nguyễn Linh Khiếu (2017) đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 23 tháng 5 năm 2017 Tác giả khẳng định nông dân có vai trò quan trọng trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia Trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam thì vai trò của Nông dân càng được khẳng định và thể hiện một cách sâu sắc

Về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới có công trình nghiên cứu của Cao Thị Kim Dung (2015) với đề tài “Vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh” Tác giả đã đưa ra những quan điểm về vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới Tổng hợp được vai trò của phụ nữ huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh trong việc xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn đồng thời nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ huyện Hương Sơn trong xây dựng Nông thôn mới Từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị để có thể nâng cao vai trò của phụ nữ trong việc xây dựng Nông thôn mới trong thời gian sắp tới để hoàn thành mục tiêu về đích Nông thôn mới của toàn huyện

Hiện nay ở tỉnh Nam Định nói chung, huyện Mỹ Lộc nói riêng chưa có công trình nghiên cứu nào về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

Vì vậy đề tài này chúng tôi đưa ra các lý luận và thực tiễn để có thể làm rõ hơn vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Tóm lại, qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Vai trò của phụ nữ trong một lĩnh vực nào đó tương đương với vị thế mà họ nắm giữ là tất cả những gì họ thực hiện để giữ vị thế của mình có giá trị, là những hành vi mà xã hội mong chờ họ để thực hiện phù hợp với vị thế và vai trò của họ Khi xét về vai trò của phụ nữ, cần xét trong mối tương quan của họ với cộng đồng, nam giới và cần có sự chia sẻ của cộng đồng, của Chính phủ, chính quyền các cấp đặc biệt là nam giới để phụ nữ thích ứng với sự phát triển của xã hội để có thể đảm đương tốt một hay nhiều vai trò của mình trong các lĩnh vực khác nhau trong đời sống

Quan điểm của nhà nước Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới là tiếp tục đổi mới, nâng cao công tác phụ nữ có thể tham gia nhiều hơn, tốt hơn, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước, đặc biệt góp phần vào Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM

Vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM được thể hiện qua các nội dung sau:

Vai trò của phụ nữ trong việc tham gia Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới;

Vai trò của phụ nữ trong quy hoạch tổng thể và lập kế hoạch xây dựng NTM; Vai trò của phụ nữ trong xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn;

Vai trò của phụ nữ trong đóng góp nguồn lực cho xây dựng Nông thôn mới; Vai trò của phụ nữ trong việc tiếp cận khoa học kĩ thuật mới trong sản xuất kinh tế hộ gia đình;

Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định về phát triển kinh tế hộ và xây dựng Nông thôn mới;

Vai trò của phụ nữ trong việc kiểm tra giám sát, sử dụng các công trình xây dựng NTM;

Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới gồm 3 nhóm: Yếu tố về cơ chế chính sách; Yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ; Yếu tố liên quan đến tố chức hội phụ nữ

Nhóm yếu tố về cơ chế chính sách gồm: Đường lối, Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy vai trò của Phụ nữ trong xây dựng NTM; Nhận thức và tạo điều kiện của chính quyền địa phương về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới; Công tác khuyến nông, tập huấn khoa học kỹ thuật mới phục vụ sản xuất nông nghiệp

Nhóm yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ gồm: Trình độ học vấn, chuyên môn, nhận thức của phụ nữ; Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ; Điều kiện kinh tế hộ gia đình của phụ nữ; Việc ra quyết định trong gia đình của phụ nữ Nhóm yếu tố liên quan đến tố chức hội phụ nữ nói đến sự vào cuộc của Hội phụ nữ trong vận động phụ nữ tham gia xây dựng Nông thôn mới

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 12/06/2021, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Nguyễn Thị Phương (2017). Từ “Phụ nữ trong phát triển” đến “Giới và phát triển” với vấn đề tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam. Truy cập ngày 15/10/2017 từ trang : http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2017/ 43836/Tu- Phu-nu-trong-phat-trien-den-Gioi-va-phat-trien-voi.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ trong phát triển” đến “Giới và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Phương
Năm: 2017
1. Ban biên tập cổng thông tin điện tử huyện Phú Ninh (2015). Tài liệu hỏi đáp về xây dựng NTM, Truy cập ngày 09/02/2017 từ trang http://phuninh.gov.vn/index .php/y- ban-nhan-dan/nong-thon-mi/2055-tai-li-u-h-i-dap-v-xay-d-ng-nong-thon-m-i Link
6. Đinh Quang Hải (2014). Phong trào làng mới ở Hàn Quốc. Truy cập ngày 23/10/2017 từ trang http://www.inas.gov.vn/719-phong-trao-lang-moi-o-han-quoc.html Link
7. Đoàn Trần (2018). 37 tỉnh nợ đọng xây dựng nông thôn mới. Truy cập ngày 10/6/2018 tại trang: http://vneconomy.vn/37-tinh-no-dong-xay-dung-nong-thon-moi-20180515143010588.htm Link
8. Hà Nam (2016). Phong trào làng mới ở Hàn Quốc và vai trò của phụ nữ. 'Làng mới' và sự phát triển thần kì của Hàn Quốc (P3). Truy cập ngày 23/10/2017 từ trang http://phunuvietnam.vn/kho-bau/lang-moi-va-su-phat-trien-than-ki-cua-han-quoc-p3-post7589.html Link
13. Khuất Minh Phương (2014). Tư tưởng của Bác Hồ về vai trò của phụ nữ trong xã hội. Truy cập ngày 15/10/2017 từ trang http://baolamdong.vn/chinhtri/201402/tu- Link
14. Minh Tâm (2015) Phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới. Truy cập ngày 27/10/2017 từ trang https://hanoi.gov.vn/huong_toi_dai_hoi_dang/-/hn/FJNMlsYREDd4/7320/2764485/6/phat-huy-vai-tro-cua-phu-nu-trong-xay-dung-nong-thon-moi.html;jsessionid=gUZLur00b+URGV5HDrG9Qyx8.app2 Link
15. Nguyên Hảo (2016). Phụ nữ Hải Hậu chung tay giữ gìn vệ sinh môi trường, tạo cảnh quan xanh – sạch – đẹp. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017 từ trang:http://haihau.namdinh.gov.vn/huyenhaihau/1207/26918/37386/70676/tin-trong--huyen/phu-nu-hai-hau-chung-tay-giu-gin-ve-sinh-moi-truong--tao-canh-quan-xanh---sach---dep.aspx Link
16. Nguyễn Hồng Thư (2013). Phát triển Nông nghiệp, nông thôn của Nhật Bản - kinh nghiệm cho Việt Nam. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017 từ trang:http://iasvn.org/tin-tuc/Phat-trien-Nong-nghiep,-nong-thon-cua-Nhat-Ban---kinh-nghiem-cho-Viet-Na m-2392.html Link
17. Nguyễn Linh Khiếu (2017). Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới. Truy cập ngày 21/10/2017 từ trang http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2017/45045/Vai-tro-chu-the-cua-nong-dan-trong-xay-dung-nong-thon.aspx Link
20. Nguyễn Thị Thu Chầm (2016). Phát huy vai trò phụ nữ Vĩnh Phúc trong xây dựng nông thôn mới. Truy cập ngày 18/01/2018 từ http://sonnptnt.vinhphuc.gov.vn/xaydungnongthonmoi/Pages/tin-tuc-hoat-dong.aspx?ItemID=33228 Link
25. Phưong Vi (2017). Diện mạo nông thôn mới ở Nam Định: Không còn xã dưới 10 tiêu chí. Truy cập ngày 15/10/2017 từ: http://nongnghiep.vn/dien-mao-nong-thon-moi-o-nam-dinh-khong-con-xa-duoi-10-tieu-chi-post207041.html Link
26. Quyền Đình Hà, Nguyễn Tuyết Lan và Nguyễn Viết Đăng (2006). Khảo sát vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp và nông thôn xã Nghía Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên. Truy cập ngày 27/ 10/2017 tại: http://www1.vnua.edu.vn/tapchi/Upload/vaitrocuaphunu_yenmyHY_ktptnt452006.pdf Link
27. Thành Chung (2018). Phó thủ tướng: Nam Định sẽ là tỉnh Nông thôn mới đầu tiên. Truy cập ngày 20/5/2018 từ trang http://vuongdinhhue.chinhphu.vn/Home/ Link
30. Tuấn Anh (2012). Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới. Truy cập ngày 23/10/2017 tại: http://www.tapchicongsan .org.vn/Home/nong- nghiep-nong-thon/2012/14689/Kinh-nghiem-xay-dung-nong-thon-moi-o-mot-so-nuoc-tren.aspx Link
35. Vũ Lan Hương (2014). Phụ nữ và khát vọng lãnh đạo trong công việc và tại gia đình. Truy cập ngày 15/10/2017 từ http://www.worldbank.org/vi/news/feature/ Link
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT- Hội LHPN Việt Nam (2018). Chương trình phối hợp về đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động hỗ trợ phụ nữ tham gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2018-2020 (Văn bản số 243/CTPH- BNN&HLHPNVN Ngày 1/1/2018) Khác
3. Cao Thị Kim Dung (2015). Vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh Khác
5. Dương Thị Bích Diệp (2014). Chương trình Nông thôn mới ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Trong, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 8(81). Tr.61-68 Khác
9. Hội liên hiệp phụ nữ huyện Mỹ Lộc (2017). Báo cáo tổng kết công tác Hội và phong trào phụ nữ năm 2017, phương hướng nhiệm vụ năm 2018 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm