Kết quả chính và kết luận Thiết lập mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của các cấp chính quyền huyện Gia Lâm, nhằm nân
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Quyền Đình Hà
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Thắng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS.Quyền Đình Hà đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của các cơ quan Huyện ủy, UBND Huyện Gia Lâm, Đảng ủy, UBND xã Kim Sơn, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Kim Sơn, xã Lệ Chi, xã Đặng Xá đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Thắng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục .iii
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ, hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chuối 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế kỹ thuật sản phẩm chuối 8
2.1.3 Các loại hình liên kết, đặc điểm và vai trò của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối 13
2.1.4 Nội dung nghiên cứu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối 17
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối 21
2.2 Cơ sở thực tiễn 25
2.2.1 Kinh nghiệm liên kết trong sản xuất và tiêu thụ một số loại nông sản trên thế giới 25
2.2.2 Kinh nghiệm liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản tại một số địa phương 29
Trang 52.2.3 Kinh nghiệm rút ra cho liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
trên địa bàn huyện Gia Lâm 33
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 41
3.2.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 41
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu 42
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46
4.1 Thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối địa bàn huyện Gia Lâm 46
4.1.1 Khái quát tình hình sản xuất, tiêu thụ chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 46
4.1.2 Thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện gia lâm 51
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 72
4.2.1 Cơ chế chính sách của Nhà nước 72
4.2.2 Các cấp chính quyền địa phương 73
4.2.3 Sự hiểu biết về liên kết của các tác nhân 75
4.2.4 Thị trường sản xuất và tiêu thụ chuối 78
4.2.5 Phân tích SWOT trong liên kết sản xuất và tiêu thụ chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 79
4.3 Định hướng và giải pháp thúc đẩy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 83
4.3.1 Định hướng đẩy mạnh liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 83
4.3.2 Giải pháp đẩy mạnh liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 84
Trang 6Phần 5 Kết luận và kiến nghị 92
5.1 Kết luận 92
5.2 Kiến nghị 93
Tài liệu tham khảo 96
Phụ lục 98
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm 39
Bảng 3.2 Tổng hợp dữ liệu thứ cấp 41
Bảng 3.3 Tổng hợp số lượng mẫu điều tra 42
Bảng 4.1 Kết quả sản xuất chuối huyện Gia Lâm giai đoạn 2016 -2018 47
Bảng 4.2 Hình thức tổ chức sản xuất chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 48
Bảng 4.3 Địa điểm bán chuối của các hộ điều tra 50
Bảng 4.4 Hình thức liên kết giữa các hộ sản xuất chuối tại huyện Gia Lâm 52
Bảng 4.5 Tình hình liên kết trong cung ứng giống chuối của hộ sản xuất 53
Bảng 4.6 Tình hình liên kết trong cung ứng phân bón trong sản xuất chuối 54
Bảng 4.7 Tình hình liên kết trong cung ứng vốn 55
Bảng 4.8 Thông tin chung về người sản xuất 56
Bảng 4.9 Nội dung liên kết giữa người sản xuất với người sản xuất 57
Bảng 4.10 Tình hình liên kết với các đơn vị cung ứng dịch vụ kỹ thuật của các hộ sản xuất chối trên địa bàn huyện Gia Lâm 58
Bảng 4.11 Chi phí sản xuất chuối của hộ 59
Bảng 4.12 So sánh hiệu quả giữa các hộ 60
Bảng 4.13 Cách thức liên kết giữa người thu gom với người thu gom 61
Bảng 4.14 Cách thức liên kết giữa người sản xuất với tác nhân tiêu thụ 61
Bảng 4.15 Nội dung liên kết giữa người sản xuất với người thu gom 62
Bảng 4.16 Thông tin người thu gom chuối (*) 64
Bảng 4.17 Nội dung liên kết của người sản xuất với các tác nhân tiêu thụ 64
Bảng 4.18 Cách thức liên kết giữa người thu gom và doanh nghiệp 65
Bảng 4.19 Nội dung liên kết giữa người thu gom với doanh nghiệp 66
Bảng 4.20 Lợi ích trong sản xuất và tiêu thụ chuối đối với hộ liên kết và hộ không liên kết 67
Bảng 4.21 Lợi ích liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chuối của các tác nhân khác liên quan 68
Bảng 4.22 Hiểu biết của các tác nhân về vấn đề liên kết 76
Bảng 4.23 Kết hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chuối Gia Lâm 82
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 2.1 Liên kết ngang trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 13
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm chuối tại huyện Gia Lâm 49
Sơ đồ 4.2 Liên kết giữa người sản xuất và người sản xuất trong sản xuất và tiêu
thụ chuối 51
Sơ đồ 4.3 Mạng lưới thu gom chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm 63
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội 35
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Viết Thắng
Tên đề tài:“Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm” Chuyên ngành: Phát triển nông thôn; Khoa: Kinh tế và PTNT; Mã số: 8620116
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập thông tin thứ cấp từ các báo cáo, kế hoạch, đài, báo, ti vi; thông tin sơ cấp từ các đối tượng bao gồm các đối tượng tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm Sử dụng các phương pháp tổng hợp thông tin như thống kê mô tả, thống kê so sánh bằng các công cụ word và excel
Kết quả chính và kết luận
Thiết lập mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của các cấp chính quyền huyện Gia Lâm, nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm chuối và hỗ trợ các hộ trồng chuối trong khâu tiêu thụ sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao từ việc trồng chuối trên địa bàn huyện
Luận văn đã đưa ra được các kết quả nghiên cứu chính như sau:
Đã nêu lên thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm
Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm bao gồm yếu tố thị trường, cơ chế chính sách, các cấp chính quyền địa phương, sự hiểu biết của người dân
Trang 10- Giải pháp về hoàn thiện cơ chế chính sách liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Nhà nước với vai trò định hướng, tổ chức, dẫn dắt và tạo môi trường thuận lợi
để các nhà tham gia liên kết Ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp để huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế tham gia ngày càng mạnh mẽ vào mô hình và các quan hệ liên kết sản xuất trong nông nghiệp, trọng tâm là liên kết 4 nhà
- Giải pháp về nâng cao hiệu quả tổ chức, triển khai mô hình liên kết: Việc tổ chức, triển khai mô hình liên kết trong nông nghiệp là giải pháp rất quan trọng, hiệu quả triển khai và áp dụng vào thực tiễn mô hình liên kết phụ thuộc rất lớn vào các phương thức tác động của nhà doanh nghiệp để bảo đảm mối quan hệ liên kết, nhất là doanh nghiệp chế biến gắn với vùng sản xuất
- Giải pháp về nâng cao chất lượng hoạt động của các HTX, tổ hợp tác Để HTX, tổ hợp tác thực sự làm cầu nối tiêu thụ hàng nông sản bằng hợp đồng ký kết giữa nông dân và doanh nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước các cấp, đặc biệt là huyện Gia Lâm, các xã có diện tích trồng chuối trong thời gian tới
Trang 11THESIS ABSTRACT
Mastercandidate: Nguyen Viet Thang
Thesis title: Linkages in producing and consuming the banana product in Gia Lam
district, Hanoi city
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
To propose solutions to enhance the linkage in producing and consuming the banana product in Gia Lam district, Hanoi city base on assessing the status and analyzing the effecting factors
Materials and Methods
The research collected the secondary data from reports, statistics yearbooks, etc The primary data came from interviewing stakeholders in the linkages The author used Microsoft word and Microsoft excel to process the collected information and analyzed by some methods such as descriptive statistical method and comparative statistical method
Main findings and conclusions
The study clearly articulates the concepts, principles, contents, and affecting factors
of linkage of producing and consuming the agricultural product At the same time, the study has reviewed the experiences from some cases in the world and Vietnam
The study has evaluated the status of linkage in producing and consuming the banana product in Gia Lam district, Hanoi city Besides, the thesis has also analyzed the factors affect the improvement of the linkage in producing and consuming the banana product in Gia Lam district, Hanoi city such as: development policies of local government; market factors; people’s knowledge
Base on the results of evaluating the situation and analyzing some impact factors, the thesis proposed some solutions to enhance the linkage in producing and consuming the banana production Gia Lam district, Hanoi in the future: (1) Strengthening the capacity of producers, firms, and scientists in order to continue developing and improving the efficiency of the model of linkages Based on that, it facilitates the operation of the safe banana linkages toward export; (2) To perfect the associated mechanisms and policies in agricultural production and consumption: The State, with the role of orienting, organizing, guiding and creating a favorable environment, needs to promulgate mechanisms and policies It is suitable to mobilize the participation from all sectors in agriculture activities, with a focus on 4-house
Trang 12linkages; (3) Enhance the efficiency of organizing and implementing linkage models with importance role of enterprises; (4) Improving the quality of operations of cooperatives and production groups, thereby helping cooperatives and production groups really become a bridge to consume agricultural products through the signing of contracts between farmers and firms
From the results of the study, the author also made some recommendations to the State management agencies at all levels, especially Gia Lam district in the near future
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn là ngành nghề chính của người dân Việt Nam Sản xuất nông nghiệp không những phải đảm bảo thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước, mà còn phục vụ xuất khẩu ra thị trường thế giới Vì vậy, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo ở nước ta Nếu trước đây sản phẩm nông sản chính đem lại thu nhập chủ yếu cho người nông dân là các cây lương thực và các cây hoa màu như: lúa, ngô, đậu tương, lạc Ngày nay nhờ có kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất, xác định được tiềm năng trong tương lai nhiều loại cây ăn quả đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ nông dân ở các địa phương đồng thời trở thành cây trồng đặc trưng của mỗi vùng ở Việt Nam Một trong số cây ăn quả đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao trong những năm gần đây là cây chuối Chuối là loại cây trồng có mặt khắp mọi miền trên đất nước ta, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi,
ở đâu và mùa nào cũng có chuối Chuối đối với người Việt Nam là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm Chuối dễ thích nghi với điều kiện tự nhiên khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta Cây chuối là cây có thời gian sinh trưởng ngắn, mức đầu tư không cao, dễ trồng, thích nghi với mọi thời tiết, ít bị sâu bệnh, do vậy không tốn công chăm sóc nhưng mang lại hiệu quả cao
Huyện Gia Lâm có vị trí nằm ven sông Đuống và sông Hồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại cây ăn quả đặc biệt là cây chuối Đây có thể xem
là cây trồng đã mang lại sự khởi sắc trong nền kinh tế nông nghiệp của huyện Gia Lâm trong trong thời gian qua Tuy nhiên, quá trình sản xuất và tiêu thụ chuối của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm vẫn còn tồn tại những khó khăn như chưa có quy hoạch phát triển cụ thể, kỹ thuật còn thủ công, sự đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất còn mang tính tự phát dẫn đến sự phân bố không đều, người dân chưa thực sự làm chủ được công nghệ dẫn đến năng suất chưa cao Mặt khác, trong khâu tiêu thụ, người nông dân còn gặp nhiều khó khăn như bị các cơ sở thu mua chuối ép giá hoặc đối mặt với tình trạng chuối thu hoạch về nhưng không tìm được đầu ra Vì vậy thiết lập mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của các cấp
Trang 14chính quyền huyện Gia Lâm, nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm chuối và hỗ trợ các hộ trồng chuối trong khâu tiêu thụ sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao từ việc trồng chuối trên địa bàn huyện Xuất phát từ vấn đề trên,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Về nội dung
Đề tài nghiên cứu thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn một số xã huyện Gia Lâm, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới
1.3.2.2 Về không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Trang 15sản phẩm chuối trên địa bàn các xã Đặng Xá, Kim Sơn, Lệ Chi
1.3.2.3 Về thời gian
- Số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm 2016, 2017, 2018 Số liệu sơ cấp được điều tra thu thập năm 2019 và tổng hợp năm 2019
- Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 15/10/2018 đến ngày 30/10/2019
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Về mặt lý luận: Luận văn đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và
thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
- Về mặt thực tiễn: Việc liên kết trong sản suất và tiêu thụ sản phẩm có ý
nghĩa quan trọng đối với các hộ sản xuất, các doanh nghiệp và nền kinh tế Việc liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối giúp cho các hộ nông dân trồng chuối được hỗ trợ về giống, vốn, kỹ thuật, đảm bảo thị trường tiêu thụ làm tăng thu nhập và việc làm; giúp cho các doanh nghiệp có nguồn cung ổn định, chất lượng cao Đề tài liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm đã đánh giá được thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chuối, phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chuối, tìm ra được các hạn chế, nguyên nhân của hạn chế để đề xuất giải pháp thúc đẩy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối trên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
VỀ LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CHUỐI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về liên kết
Liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết Sau đây là một số quan điểm về liên kết:
The từ điển Thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa thì “liên kết là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do các đơn
vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước” Mục tiêu là tạo ra mối liên kết ổn định thông qua các hoạt động kinh tế hoặc các quy chế hoạt động
để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung và bảo vệ lợi ích cho nhau
David W Pearce (1999), trong từ điển kinh tế học hiện đại cho rằng liên kết thị trường chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững
Tác giả Phạm Thị Minh Nguyệt (2006), cho rằng: “Liên kết chính là những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết phát triển ngày càng phong phú, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế, tất cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định gọi là liên kết”
Theo ThS Hồ Quế Hậu (2013) thì liên kết trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung
Theo quyết định số 38/1989/QĐ- HĐBT ngày 4 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng về liên kết trong sản xuất lưu thông và dịch vụ và các văn
Trang 17bản của nhà nước thì liên kết được hiểu là những hình thức phối hợp hoạt động
do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất
Như vậy liên kết là sự phối hợp của hai hay nhiều chủ thể nhằm phản ánh mối quan hệ về hợp tác và phân công lao động trong quá trình sản xuất và tiêu thụ của các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế…trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ có thể diễn ra và thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu thuộc mọi thành phần kinh tế mà không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý
2.1.1.2 Khái niệm sản xuất
Nhìn chung, sản xuất mang ý nghĩa là quá trình tạo ra của cải vật chất cho
xã hội, quá trình đó đã sử dụng sức lao động và các công cụ lao động để tạo ra hàng hóa, dịch vụ mua bán trên thị trường hoặc phục vụ cho một đơn vị nào đó
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất Q = F (X1, X2, … Xn)
Trong đó Q là biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định X1, X2, Xn
là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá trình sản xuất (Nguyễn Thanh Liêm, 2011)
2.1.1.3 Khái niệm tiêu thụ
* Khái niệm
Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng của hàng hoá Trong quá trình tiêu thụ, hàng hoá chuyển dịch từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và vòng chu chuyển vốn được hình thành (Nguyễn Xuân Quang, 2007)
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá
trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như người sản xuất Do đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố:
Trang 18+ Chủ thể kinh tế tham gia là người bán và người mua
+ Đối tượng là sản phẩm hàng hoá và tiền tệ
+ Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người bán và người mua
Doanh nghiệp tiêu thụ hàng hoá phải thông qua thị trường, thị trường được coi là một nơi mà người mua và người bán tự mình tìm đến với nhau để thoả mãn nhu cầu của hai bên
Chức năng của thị trường bao gồm chức năng thừa nhận, chức năng thực hiện, chức năng điều tiết, chức năng thông tin
Quy luật của Thị trường bao gồm quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị thặng dư (Nguyễn Xuân Quang, 2007)
Kênh tiêu thụ sản phẩm
* Kênh tiêu thụ
Kênh tiêu thụ sản phẩm hay kênh phân phối sản phẩm là sự kết hợp giữa người sản xuất, người tiêu dùng và giới trung gian để chuyển giao quyền sở hữu đối với một hàng hoá cụ thể hay một dịch vụ nào đó từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Kênh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp: Việt Nam là nước có nhiều loại hàng nông sản đáp ứng thị trường trong và ngoài nước Tuy nhiên, chất lượng nông sản của nước ta hiện nay còn thấp, giá thành sản xuất cao, công nghệ bảo quản chế biến chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu… dẫn đến hiện tượng ứ đọng, không tiêu thụ được, giá cả bấp bênh và bị ép giá gây thiệt hại không nhỏ cho người sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp Để tạo dựng vị thế trên thị trường trong nước và thế giới cần có nhiều giải pháp, các giải pháp này phải được giải quyết đồng bộ có lựa chọn, có mục tiêu, có bước đi vững chắc, trong đó lựa chọn kênh tiêu thụ nông sản phẩm trong thị trường tiêu thụ đóng vai trò rất quan trọng
a Chức năng của kênh tiêu thụ
Nhờ có mạng lưới kênh tiêu thụ mà người sản xuất khắc phục được những khó khăn về thời gian, địa điểm, khoảng cách trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Các thành viên kênh phải thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thu thập thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ
Trang 19- Thiết lập mối quan hệ với khách hàng mới
- Hoàn thiện hàng hóa về chất lượng, chủng loại, mẫu mã
- Thoả thuận giá cả với người mua
- Tổ chức lưu thông, vận chuyển, bảo quản và dự trữ hàng hoá
- Nghiên cứu và đề ra những biện pháp phòng chống nhằm giảm bớt rủi ro
về mọi hoạt động của kênh tiêu thụ
b Phân loại kênh tiêu thụ
Trên thực tế có nhiều loại kênh tiêu thụ khác nhau Các kênh tiêu thụ của sản phẩm do tính chất của sản phẩm đó quy định và tình hình phát triển thị trường ở mỗi vùng, mỗi quốc gia quy định Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người
tiêu dùng cuối cùng, có hai hình thức tiêu thụ như sau:
Kênh tiêu thụ trực tiếp: Người sản xuất trực tiếp phân phối hay bán các
sản phẩm làm ra cho tận tay người tiêu dùng, không qua trung gian Kênh tiêu thụ trực tiếp thường xảy ra ở quy mô sản xuất nhỏ, người sản xuất gần người tiêu thụ và sản phẩm tươi sống khó bảo quản
Kênh tiêu thụ gián tiếp: là kênh có trung gian tham gia Trung gian là cầu
nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, các loại trung gian bao gồm: người thu gom, đại lý, HTX tiêu thụ, các cửa hàng, người bán lẻ, người bán buôn, siêu thị, các công ty, các tổng công ty, các công ty và các tổng công ty xuyên quốc gia Thông qua vai trò của các trung gian phân phối, người sản xuất và doanh nghiệp có thể đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, rút ngắn chu kỳ sản xuất, có điều kiện tập trung vào sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm
2.1.1.4 Khái niệm về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Chuỗi giá trị nông nghiệp (Agricultural value chain) được sử dụng từ khi
bắt đầu thiên niên kỷ mới, chủ yếu bởi những người làm trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển Mặc dù không có một định nghĩa chính thức được sử dụng, nó thường đề cập đến toàn bộ chuỗi hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho sản phẩm nông nghiệp để di chuyển từ nông trại đến khách hàng cuối cùng hay khách hàng đơn thuần
Chuỗi giá trị ám chỉ đến một loạt những hoạt động cần thiết để mang một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản
Trang 20xuất khác nhau đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng ( Kaplinsky 1999; Kaplinsky và Morris 2001) Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi đều hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v…) để biến nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên vật liệu và chuyển dịch theo các mối liên kết với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lắp ráp, chế biến v.v… Chuỗi giá trị bao gồm các chức năng trực tiếp như sản xuất hàng hóa cơ bản, thu gom, chế biến, bán sỉ, bán lẻ, cũng như các chức năng hỗ trợ như cung cấp vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch vụ tài
chính, đóng gói và tiếp thị (Sonja Vermeulen et al., 2008) Khái niệm chuỗi giá
trị bao gồm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối, chiến lược và mối quan hệ quyền lực của các tác nhân khác nhau trong chuỗi Chuỗi giá trị còn gắn liền với các khía cạnh xã hội và môi trường Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như nước, đất đai), có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm Đồng thời, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống Cách tiếp cận của chuỗi giá trị theo nguyên tắc là xem xét từng tác nhân tham gia trong chuỗi và quan hệ một bước tiến, một bước lùi, bắt đầu từ sản xuất nguyên vật liệu cho đến người tiêu dùng cuối cùng
Theo tôi, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản là biểu hiện sự hợp tác, nó phản ánh mối quan hệ về hợp tác và phân công lao động trong các quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản trong các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh
tế Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản là hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng
có lợi nhất Liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ có thể diễn ra và thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu thuộc mọi thành phần kinh tế
và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế kỹ thuật sản phẩm chuối
2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên của cây chuối
Chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa, trái của nó là trái cây được
ăn rộng rãi nhất Chuối được trồng ở ít nhất 107 quốc gia Việt Nam là một quốc
Trang 21gia với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa rất thích hợp để trồng chuối quanh năm với nhiều giống chuối quý như: chuối tiêu, chuối ngự, chuối bom… Chuối là loại cây
ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và cho sản lượng khá cao cùng với giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng vitamin phong phú như vitamin A, B1, B2, C Thân giả của chuối cao từ 2,2- 2,6 m, đường kính 17,9-18,3 cm, thời gian từ trồng đến thu hoạch là từ 10-11 tháng, buồng quả hình trụ có 9 nải, 168 quả Khối lượng buồng trung bình 20,4 kg, cho năng suất cao từ 45-50 tấn/ha
Tác dụng của chuối: chữa táo bón, giảm huyết áp cao và phòng trúng gió, tăng khả năng miễn dịch, giúp điều trị các bệnh về tâm lý, ngăn ngừa thiếu máu
và các bệnh về da… (Trần Danh Sửu và cs., 2017)
2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản xuất chuối
* Giá trị cây chuối
- Giá trị kinh tế
Chuối là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao và giá thành rẻ nên chuối được tiêu thụ với số lượng lớn trên thế giới Bên cạnh tiêu thụ quả tươi, sản phẩm chuối có thể là nguyên liệu sản xuất ra bột chuối và chuối sấy khô Bột chuối là loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao, với giá xuất khẩu từ 1500 – 2300 USD/tấn (năm 2011) Chuối sấy là một sản phẩm cho năng lượng cao, khối lượng nhẹ, dễ dàng vận chuyển và bảo quản
Chuối là một trong những loại cây đem lại rất nhiều sản phẩm có giá trị từ quả chuối cho đến thân cây, lá chuối hay bắp chuối Theo đề án quy hoạch phát triển rau quả và hoa, cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), chuối được nhiều địa phương chọn làm cây trồng chủ lực
Theo ông Vũ Mạnh Hải (2008), chuối là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Hàng năm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm tỷ lệ lớn và không bị cảnh được mùa, mất giá Chuối có thể được coi là cây chủ lực
mà các tỉnh nên quan tâm Không chỉ là xuất khẩu quả chuối, mà những năm gần đây một lượng lá chuối được xuất khẩu sang thị trường thế giới như Thái Lan,
Mỹ thu về một nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước
Xác định cây chuối là một trong những cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế cao, cho thu nhập quanh năm, vốn đầu tư ít nên người dân ở nhiều địa phương trên cả nước đã tập trung mở rộng diện tích, trong đó có một số địa phương như: Lào Cai, Đồng Nai, Chuối còn được nông dân nhiều địa phương trồng xen canh,
Trang 22như xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trồng xen canh hơn 1.200 ha Chuối được trồng khá đa dạng như chuối bom, chuối sứ, chuối ngọc
nữ, chuối chà bột và chuối cau Nhiều hộ dân cho rằng, trồng chuối ít lo mất mùa, gần đây các tiểu thương đến tận vườn mua (Vũ Mạnh Hải, 2008)
Nhiều địa phương trồng chuyên canh cây chuối Gần 600 ha chuối móc tập trung ở một số xã huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên đang vào mùa thu hoạch Chuối móc năng suất bình quân 250 kg/sào, cao gấp đôi chuối tiêu bình thường, bình quân thu lãi trên 100 triệu đồng/ha, gấp khoảng 4 lần trồng lúa (Vũ Mạnh Hải, 2008)
So với nhiều loại cây trồng khác, toàn bộ sản phẩm của cây chuối có thể làm lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, thuốc nhuộm, công nghiệp chế biến thực phẩm (làm rượu, mứt) và vì lý do đó trong sản xuất kinh doanh, việc sản xuất quả tươi gặp trở ngại thì cũng dễ dàng sử dụng sản phẩm chuối vào những mục đích khác với trang thiết bị yêu cầu không cao như chuối sấy khô, làm bột, ủ chua (Vũ Mạnh Hải, 2008)
- Giá trị dinh dưỡng
Chuối là loại cây ăn trái rất được ưa chuông trên thế giới Ở một số quốc gia, đặc biệt là các nước có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, trái chuối là món ăn chính trong thực đơn của họ (Vũ Mạnh Hải, 2008)
Trong quả chuối có một lượng vitamin khá lớn, đặc biệt là các vitamin nhóm A và C Tùy thuộc vào giống, hàm lượng vitamin có thể thay đổi, các giống chuối ăn được thường giàu vitamin C và B6, còn các giống chuối trong nhóm chuối nấu lại giàu vitamin A (Vũ Mạnh Hải, 2008)
Chuối là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao, thể hiện khi ăn 100g thịt quả cho mức năng lượng 110 – 120 calo Trong khi đó, 100g táo chỉ cho mức năng lượng 64 calo, 100g cam cho 53 calo Mặt khác, các thành phần dinh dưỡng trong quả chuối được cơ thể hấp thụ nhanh Vì vậy, chuối được coi là loại quả lý tưởng cho người già, sức khỏe yếu, suy dinh dưỡng, mệt mỏi Ngoài ra, quả chuối cũng có vị trí đặc biệt trong khẩu phần ăn giảm mỡ, Cholesteron và muối Natri (Vũ Mạnh Hải, 2008)
Đối với người Việt Nam, từ xưa tới nay chuối mang lại nhiều lợi ích thiết thực và rất gần gũi với cuộc sống, cây chuối được trồng rất phổ biến trong vườn của mỗi người dân ở nông thôn Quả chuối là một loại thức ăn quý cho người ở
Trang 23bất kể lứa tuổi nào Hoa chuối và thân cây chuối non cũng là một thứ rau tốt, củ chuối cũng ăn được, thân chuối già dùng làm thức ăn gia súc, lá chuối dùng để gói bánh Hạt của giống chuối hột được ngâm với rượu là vị thuốc chữa bệnh sỏi thận và tiểu đường Chuối xanh còn có tác dụng diệt nấm, làm se Quả Chuối chín nhuận tràng, chống scorbut và làm dịu Chuối chín thúc đẩy sự lên da non của các vết thương tổn của ruột trong viêm ruột kết có loét Lá non dùng băng bó
để làm dịu vết bỏng, vết cháy Ở Ấn Độ, thân và củ Chuối dùng chữa rối loạn về máu và trị bệnh hoa liễu còn nhựa cây được dùng trị bệnh đau về thần kinh như icteria và động kinh, trị lỵ và tiêu chảy và làm nước giải khát khi bị thổ tả (Vũ Mạnh Hải, 2008)
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật
- Đặc điểm kỹ thuật
Ở nước ta, khí hậu bốn mùa đều phù hợp cho chuối phát triển, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi, ở đâu và mùa nào cũng có chuối chuối phù hợp với địa hình cao ráo lẫn đồng bằng bởi tính ưa nước tuy nhiên chịu hạn kém, vì vậy cần bố trí chăm sóc phù hợp để cho ra năng suất cao (Nguyễn Ngọc Kiểm, 1993)
- Điều kiện sinh thái
Nhiệt độ:Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi trong phạm vi
25-350C Khi nhiệt độ giảm đến 10oC thì quả chuối nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm Chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô Như vậy, ở nước ta, nhất là các tỉnh miền Nam, Nam Trung bộ, bình quân nhiệt độ hàng năm lớn hơn 240C, nên có lượng nhiệt rất tốt cho chuối phát triển (Nguyễn Ngọc Kiểm, 1993)
Nước: Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân
già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96% Độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm2/phút Với giống chuối mật mốc, cần từ 15-20 lít nước/ngày tuỳ theo trời râm hay trời nắng, vào mùa đông ở nước ta thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối (Nguyễn Ngọc Kiểm, 1993)
Ánh sáng: Chuối có khả năng thích ứng trong phạm vi cường độ ánh sáng
tương đối rộng Cho nên lượng ánh sáng ở điều kiện nước ta cũng cho phép cây chuối sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Ngọc Kiểm, 1993)
Trang 24- Điều kiện về giống
Hình thức nhân giống chuối chủ yếu là nhân giống vô tính Người ta thường dùng loại chồi con để trồng Chồi con được hình thành từ những mầm ngủ mọc trên thân ngầm của chuối, thường có 2 loại chồi con: Chồi con đuôi chiên và chồi con lá rộng Theo nhiều kinh nghiệm, loại chồi con đuôi chiên được sử dụng trồng tốt nhất, nó được sinh ra khoảng tháng 4 đến tháng 6 Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, loại chồi non này sinh ra rất nhanh, tốc độ sinh trưởng rất mạnh, chồi này rất sung sức, khi trồng mau bén rễ, tốc độ hồi sinh nhanh, sinh trưởng mạnh và mau ra buồng, sản lượng cao (Vũ Công Hậu, 2000)
- Điều kiện đất đai
Chuối là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng
có cấu tượng tốt và độ xốp cao Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và K
Chuối mọc bình thường trong đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 7,5 Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối (Vũ Công Hậu, 2000)
6 Thời vụ
Đối với khí hậu nước ta, chuối có thể trồng quanh năm đều sống được, vì vậy về mặt thời vụ không yêu cầu nghiêm ngặt lắm Đối với các giống chuối gòn, chuối lá mật, chuối ngự,… có thể trồng được vụ xuân (tháng 2-3 âm lịch), nhưng với chuối tiêu thì phải trồng vụ thu (tháng 6-7 âm lịch) và cây sẽ ra hoa vào tháng 6-8 năm sau, đến tháng 9-11 thu hoạch, lúc này năng suất, phẩm chất chuối tiêu rất tốt Vì vậy mà trong dân gian cũng đã có kinh nghiệm ăn chuối: vào mùa nóng thì nên ăn chuối gòn, chuối lá, còn vào mùa rét thì ăn chuối tiêu ngon hơn
(Vũ Công Hậu, 2000)
- Phân bón, chăm sóc
Đạm (N), Lân (P), Kali (K) đều rất cần thiết bón cho chuối, ảnh hưởng đến năng suất chuối, K liên quan đến sự phát triển chiều cao và P có tác dụng tạo phẩm chất quả tốt, chống sâu bệnh Lượng bón phân tuỳ thuộc vào sản lượng thu hoạch Đối với nước ta, qua các thí nghiệm cho thấy liều lượng N, P, K thích hợp bón cho 1 cây chuối tiêu trong 1 năm ở đất phù sa ven sông là: 100-200g N nguyên chất, 20-40g P nguyên chất, 250-300g K Hàm lượng chất hữu cơ trong
Trang 25đất trồng chuối nhất thiết phải đạt 3-4% là tốt, nếu thấp hơn phải bón phân hữu
cơ Đối với chuối thường bón 30-50kg phân chuồng cho một gốc một năm Có thể phủ cỏ, vỏ cà phê, mùn cưa, lá thông,…một lớp dày 30-40cm quanh gốc chuối để dần thành mùn và giữ ẩm cho đất cũng rất tốt Hoặc có thể trồng cây phân xanh để tạo chất hữu cơ cho đất Nên nhớ vào các tháng 7-8-10 sau khi trồng là giai đoạn bón thúc quan trọng, giúp nâng cao năng suất và phẩm chất chuối Chuối có nhu cầu nước cao, chịu hạn kém, cho nên cần lưu ý tưới nước đủ cho chuối Một nghiên cứu đã cho biết một cây chuối có diện tích bộ lá 13,5m2 cần 50-70kg nước để thoát nước trong một phút Mùa mưa không nên đi lại, cày xới trong vườn chuối Và quan trọng phải theo dõi sâu hại chuối và có cách phòng trừ hiệu quả (Vũ Công Hậu, 2000)
2.1.3 Các loại hình liên kết, đặc điểm và vai trò của liên kết trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm chuối
2.1.3.1 Các loại hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
Về mặt hình thức, liên kết kinh tế phải là sự hợp tác và phối hợp giữa các đơn
vị kinh tế Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (2006), liên kết có thể theo chiều ngang và liên kết theo chiều dọc:
a Liên kết ngang
Sơ đồ 2.1: Liên kết ngang trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là
Nông dân/HTX
Nông dân
Nông dân
Nông dân Nông dân
Trang 26một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ canh tranh nhau nhưng liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế nhờ quy mô của tổ chức liên kết Kết quả của liên kết theo chiều ngang là hình thành nên những tổ chức liên kết như hợp tác xã, liên minh, hiệp hội… và cũng có thể dẫn đến độc quyền
trong một thị trường nhất định
b Liên kết dọc
Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theo chiều dọc toàn diện nhất bao gồm các giai đoạn từ khâu sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm Trong mối liên kết này, thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời là người cung cấp sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, 2006)
Liên kết dọc bao gồm liên kết giữa: Nông dân – Doanh nghiệp; liên kết giữa Nông dân – HTX/tổ hợp tác – Doanh nghiệp; liên kết giữa Nông dân –
Người thu gom – Doanh nghiệp
2.1.3.2 Đặc điểm của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
Liên kết là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ lợi ích kinh tế cũng như quá trình vận động và phát triển theo tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ, phạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh
Liên kết là những quan hệ kinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định, thường xuyên, lâu dài thông qua những thoả thuận, hợp đồng từ trước giữa các bên tham gia liên kết Không phải tất cả quan hệ kinh tế nào cũng là liên kết Những quan hệ kinh tế nhất thời, những trao đổi ngẫu nhiên không thường xuyên giữa các chủ thể kinh tế không phải là liên kết
Liên kết là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng gắn kết với nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết (Dương Bá Phượng, 1995) Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang từ quan hệ hợp
Trang 27tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp tác lại Như vậy phân công lao động
và chuyên môn hoá là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những bước phát triển của liên kết (Lê Văn Lương, 2008)
Liên kết là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữa chủ thể liên kết thông qua những thoả thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp định, điều lệ… nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh…) Tuỳ theo góc độ xem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra liên kết theo ngành, liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ
Liên kết nhằm tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác nhiều hơn tiềm lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập của các bên liên kết, cũng như tăng thu ngân sách Nhà nước
Liên kết để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để bảo vệ lợi ích kinh
tế của nhau, tạo cho nhau những khoản lợi nhuận cao nhất
Liên kết nhằm mục đích giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và quản lý, giúp đỡ nhau về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật, cũng như thưc hiện cho nhau các công việc cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ vận chuyển, thông tin, xử lý thông tin v.v… Các hoạt động này được ghi thành hợp đồng kinh tế
Liên kết còn tạo ra lợi nhuận tối đa và ổn định nhằm tăng cường sức mạnh trên thị trường ngày càng mở rộng phạm vi Lợi ích kinh tế là sợi dây nhằm gắn kết các doanh nghiệp, chủ thể kinh tế lại với nhau Cạnh tranh là nhân tố khách quan thúc đẩy các chủ thể “tự nguyện” liên kết lại với nhau trên cơ sở đảm bảo lợi ích cho nhau Để đạt được lợi nhuận tối đa và ổn định giữa các chủ thể tham gia liên kết cần nâng cao năng suất lao động, đa dạng hoá quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường để mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao
2.1.3.3 Vai trò của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
Liên kết là một hình thức đem lại lợi ích chắc chắn cho các bên liên quan Khác với liên kết lỏng lẻo giữa nông dân và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, liên kết thông qua hợp đồng loại bỏ các tầng lớp mua bán trung gian
Trang 28nên trực tiếp bảo vệ được người sản xuất, nhất là người nghèo khi bán sản phẩm Liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân cho phép xoá bỏ độc quyền đối với doanh nghiệp trong việc ép giá khi mua sản phẩm của người nông dân Mặt khác, thực hiện liên kết thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến có nguồn cung cấp ổn định để phấn đấu giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao được năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm của mình trên thị trường trong nước và quốc tế (Minh Hoài, 2006)
Thực hiện liên kết thông qua hợp đồng giúp cho các cơ sở chế biến, xuất khẩu có điều kiện mở rộng quy mô hoạt động do có sự đảm bảo ổn định về số lượng, chất lượng và tiến độ của nông sản cung cấp cho sản xuất
Như vậy, việc thực hiện liên kết theo hợp đồng sẽ đưa lại lợi ích cho cả hai bên, tạo nên cơ hội để đầu tư theo chiều sâu, áp dụng đồng bộ công nghệ, kỹ thuật mới để phát triển sản xuất một cách bền vững Việc gia tăng khả năng tiếp cận các công nghệ, kỹ thuật mới còn giúp người nông dân giải phóng được sức lao động,cho phép giảm giá thành tăng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Đây là hướng tích cực và có nhiều triển vọng giúp cho hàng triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ chưa có điều kiện tích luỹ đất đai có điều kiện áp dụng công nghệ mới trong sản xuất
Nhờ chuyển tổ chức sản xuất từ liên kết ngang (người sản xuất/người thu gom/người kinh doanh lớn xuất khẩu…) sang hình thức liên kết dọc theo ngành hàng (sản xuất- chế biến- tiêu thụ), liên kết thông qua hợp đồng giữa người sản xuất nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến đem lại tác dụng to lớn như sau:
Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian hoặc công ty kinh doanh sang cho người sản xuất, trực tiếp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu
Chia sẻ một phần rủi ro trong sản xuất nông nghiệp sang cho các cơ sở chế biến, tiêu thụ tham gia gánh chịu, người sản xuất nông nghiệp chỉ còn chịu rủi ro ở khâu sản xuất nguyên liệu
Nối kết thông tin hai chiều giữa thị trường tiêu dùng với người sản xuất, nhờ đó sản phẩm đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm do thị trường đòi hỏi, trên cơ sở đó tăng được khả năng cạnh tranh và nâng cao được giá trị của sản phẩm
Thông qua hợp đồng sẽ tập trung được nhiều hộ sản xuất tiểu nông nhỏ lẻ thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung với chất lượng đồng đều và ổn định
Trang 29Gắn kết được công nghiệp chế biến và hoạt động kinh doanh phục vụ địa bàn nông thôn, góp phần quan trọng chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá, công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Thông qua liên kết, các đơn vị kinh tế, các tổ chức có điều kiện hỗ trợ, giúp cho các hộ, hợp tác xã phát triển, tạo ra những khả năng phát triển năng lực nội tại của kinh tế hộ, đồng thời tạo lập môi trường kinh tế - xã hội cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển
2.1.4 Nội dung nghiên cứu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
2.1.4.1 Liên kết trong sản xuất chuối
Liên kết trong sản xuất chuối bao gồm liên kết giữa các hộ nông dân/HTX liên kết trực tiếp với doanh nghiệp và hộ nông dân liên liên kết sản xuất với hộ nông dân;
Đây là một hình thức liên kết thường được tiến hành giữa nhà khoa học với người nông dân, giữa nhà khoa học (trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia ) với các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp, giữa cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp với nông dân Theo hình thức liên kết này, thông qua đó nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất chuối tiên tiến cho người nông dân Khi đã được tiếp nhận công nghệ sản xuất chuối tiên tiến người nông dân đưa vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt hơn Thông qua liên kết đó người ta ký hợp đồng hoặc thỏa thuận với hộ nông dân thông qua địa phương với các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp để chuyển giao công nghệ sản xuất chuối tiên tiến Khi liên kết theo hình thức này người nông dân sẽ nhận những tiến bộ kỹ thuật mới để áp dụng vào sản xuất, đổi lại người nông dân sẽ phải trả chi phí hoặc không phải trả cho đơn vị tổ chức chuyển giao công nghệ tiên tiến đó
Trong khi chuyển giao công nghệ sản xuất tiên tiến sẽ phát sinh nhiều vấn
đề từ khoa học từ khả năng tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, mạng lưới cộng tác viên cấp
cơ sở, nguồn vốn xây dựng mô hình và nhân rộng trong sản xuất để tạo nguồn hàng hóa nông sản trong quá trình hội nhập Vì thế cần có phương hướng, cách thức tiếp cận người dân để liên kết nhằm mang lại hiệu quả
Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa các cửa hàng, đại lý, công ty, doanh nghiệp với nông dân Người nông dân có tư liệu sản xuất (đất đai, sức lao động ) họ cần các nguyên liệu đầu vào là giống, phân bón, thức ăn
Trang 30khi được thực hiện mối liên kết này, các cửa hàng, đại lý, công ty sẽ đứng ra ký hợp đồng hoặc thỏa thuận trực tiếp với người nông dân hoặc thông qua chính quyền địa phương Qua hình thức này các nhà cung cấp sẽ cung cấp các đầu vào
để người nông dân có vật tư đầu vào và họ sẽ sản xuất Như vậy, thông qua mối liên kết này các nhà cung cấp vật tư sẽ bán được sản phẩm mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình Đồng thời người nông dân lại
có đầu vào để sản xuất với cam kết đảm bảo số lượng, chất lượng vật tư đầu vào Khi liên kết này được thực hiện đều mang lại lợi ích cho các bên tham gia
Từ đó người nông dân sẽ chủ động về các nguồn đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn Mối liên kết này có các dạng chủ yếu sau:
- Ứng trước vật tư, vốn, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ, mua bán lại nông sản trong liên kết này thường diễn ra giữa các chủ thể trực tiếp sản xuất, kinh doanh
là các hộ, doanh nghiệp với các đối tượng hộ hay doanh nghiệp hoặc với các trung tâm, viện nghiên cứu của các trường đại học, cao đẳng, nhà chuyển giao tiến bộ cho doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh Hay là liên kết giữa doanh nghiệp cho bà con nông dân ứng trước vật tư để sản xuất, từ đó chủ động nguồn nguyên liệu và bán thành phẩm cho doanh nghiệp Liên kết này phần lớn được thể hiện qua hợp đồng kinh tế, một phần là sự thỏa thuận ngầm định giữa các bên tham gia nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các bên tham gia liên kết
- Bán vật tư, mua lại sản phẩm: phổ biến nhất là liên kết giữa doanh nghiệp bán chịu vật tư cho bà con sản xuất và cuối vụ mua lại sản phẩm Thực hiện tốt liên kết này sẽ mang lại nhiều lợi ích mà doanh nghiệp ở đây chủ động nguồn nguyên liệu sản xuất và có một thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định Còn nông dân có vốn, vật tư để sản xuất và yên tâm khi có đầu ra cho sản phẩm
- Liên kết trong khâu cung ứng dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa các tác nhân là tổ chức (hợp tác xã dich vụ), cá nhân cung cấp dịch vụ nông nghiệp với người nông dân Khi sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, ngoài những tư liệu sản xuất chủ yếu (đất đai, sức lao động ) hộ nông dân còn cần các dịch vụ phục vụ cho khâu sản xuất khác như: khâu làm đất, khâu chăm sóc, thủy lợi
Khi thực hiện mối liên kết này, các tổ chức cá nhân cung ứng dịch vụ sẽ đứng ra ký các hợp đồng hoặc thỏa thuận liên kết với người dân để cung ứng các dịch vụ đầu vào Qua hình thức này các nhà cung ứng đầu vào sẽ cung cấp các dịch
vụ đầu vào để người nông dân thực hiện tốt khâu sản xuất Như vậy, thông qua mối
Trang 31liên kết này, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ cung cấp dịch vụ cho người nông dân và thu lại thu nhập cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình Đồng thời người nông dân lại có dịch vụ đầu vào để sản xuất với cam kết từ nhà sản xuất mang lại như đảm bảo chất lượng, đúng đầu vào sản xuất trong các dịch vụ đầu vào Khi liên kết này được thực hiện đều mang lại lợi ích cho các bên tham gia Từ đó thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, nhất là trong thời đại hiện nay
2.1.4.2 Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm chuối
Tiêu thụ nông sản luôn là nỗi lo của người nông dân mỗi khi vào chính vụ Mỗi năm cứ vào lúc chính vụ thu hoạch, được mùa nông dân chưa kịp mừng đã
ập đến nỗi lo về tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm của mình Chính vì thế, nhu cầu liên kết trong khâu tiêu thụ sản phẩm là một nhu cầu thiết yếu nhằm mục đích bao tiêu sản phẩm sản xuất của người nông dân
Trong mối liên kết này người sản xuất thường liên kết với các doanh nghiệp, cơ sở tiêu thụ sản phẩm Hộ sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các tổ chức chính quyền) ký kết hợp đồng hoặc thỏa thuận miệng với các cam kết về số lượng, chất lượng để cung cấp các sản phẩm mà mình sản xuất ra cho các nhà thu mua Còn nhiệm vụ của mỗi đơn vị, tổ chức thu mua sẽ phải bao tiêu hết số lượng như đã cam kết với người dân Mỗi bên liên kết đều mang lại lợi ích cho nhau Theo đó thì lợi ích mà người nông dân được hưởng là được bao tiêu sản phẩm và mình làm ra với giá cả ổn định, giảm thiểu rủi ro khi được mùa mất giá Gắn với nó thì nhà sản xuất cũng sẽ có nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định cho việc sản xuất – kinh doanh của mình Trong nội dung liên kết này, cơ bản là vậy nhưng ngoài ra nó còn phát sinh nhiều vấn đề Ví dụ như trong việc tiêu thụ thì gắn vào trước đó trong khâu sản xuất thì tổ chức đơn vị tiêu thụ có thể ứng trước một phần chi phí đầu vào và để đảm bảo nhà sản xuất sẽ cung ứng đầu vào cho mình Hay họ sẽ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người nông dân Nói chung, kèm theo mỗi nội dung liên kết thì sẽ kèm theo nó những lợi ích chi phí mà mỗi bên nhận được và bỏ ra
Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm chuối còn thể hiện thông qua mối quan hệ giữa hộ nông dân với HTX, doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm đầu ra Việc đảm bảo cho sự tồn tại của các mối liên kết này thường thông qua hai hình thức liên kết là liên kết chính thức và không chính thức Liên kết chính thức là những liên kết ràng buộc bởi các hợp đồng bằng văn bản với các điều khoản cam kết chặt chẽ, được pháp luật công nhận và bảo hộ Liên kết không chính thức bao
Trang 32gồm các hình thức như thỏa thuận qua điện thoại, hợp đồng miệng….với những cam kết không chính thống và không được bảo hộ bởi pháp luật
2.1.4.3 Kết quả và hiệu quả liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
Kết quả và hiệu quả liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chuối thể hiện ở năng suất và giá bán của sản phẩm chuối Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối giúp các hộ nông dân được tiếp cận với công nghệ sản xuất chuối tiên tiến từ đó giúp tăng về năng suất và chất lượng của sản phẩm chuối Mặt khác liên kết trong khâu tiêu thụ giúp cho các hộ nông dân ký kết được các hợp đồng với các doanh nghiệp với mức giá bán cao hơn
Theo Phùng Giang Hải (2015), “hiệu quả” là một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định tồn tại của liên kết Tính hiệu quả trong liên kết sẽ đảm bảo cho liên kết đạt được mục tiêu và đảm bảo cho các bên tham gia có được lợi ích tốt hơn so với khi tổ chức sản xuất kinh doanh đơn lẻ Theo quan điểm hiện đại, hiệu quả không chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu về kinh tế mà còn bao hàm cả các vấn đề xã hội và môi trường Điều này có nghĩa, hiệu quả là việc đạt được mục tiêu xác định với chi phí (thời gian, nhân lực, tài chính…) bỏ ra ít nhất nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định (Trương Hòa Bình và Võ Thị Tuyết, 2009) Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định Đối với khu vực sản xuất nông nghiệp, các mục tiêu xã hội thường thấy là tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, nâng cao trình độ hiểu biết, đời sống văn hóa, tinh thần và sức khỏe của người nông dân (Trương Hòa Bình và Võ Thị Tuyết, 2009)
Hiệu quả môi trường là một yếu tố phản ánh mức độ ảnh hưởng của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đối với môi trường sinh thái Hiệu quả môi trường được đánh giá dựa trên kết quả thực hiện của các mục tiêu môi trường đã xác định gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh (Phùng Giang Hải, 2015) Theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế môi trường thì hiệu quả môi trường đạt tối đa khi hoạt động sản xuất kinh doanh cho lợi nhuận tối đa nhưng lại tạo ra những tác động tối thiểu đối với môi trường sinh thái và các cộng đồng dân cư trong các
khu vực lân cận (Galarraga et al, 2013)
Trang 33Như vậy, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối được coi là hiệu quả khi liên kết đó không những phải đạt được hiệu quả cao hơn cả về mặt kinh tế, xã hội mà cả về môi trường so với khi hoạt động riêng lẻ (Phùng Giang Hải, 2015)
Về tính hiệu lực của liên kết thường thể hiện thông qua việc thực thi các cam kết của liên kết đó Thông thường hiệu lực thi hành liên kết thông qua các hợp đồng văn bản mang tính pháp lý cao và được pháp luật bảo hộ bao giờ cũng
có tính hiệu lực cao hơn so với các hình thức liên kết khác Hiệu lực của liên kết bị giới hạn bởi các điều khoản theo hợp đồng như về không gian, về thời gian và đối tượng tham gia vào liên kết Hiệu lực về không gian là giới hạn về phạm vi lãnh thổ, địa lý mà các cam kết đó có hiệu lực Hiệu lực về thời gian là khoảng thời gian nhất định được giới hạn trong các thỏa thuận hay hợp đồng liên kết và đó cũng chính là khoảng thời gian được xác định cần tuân thủ các điều khoản đã cam kết Hiệu lực của liên kết cũng chỉ được áp dụng đối với các đối tượng tham gia trong liên kết đó Thông thường, để liên kết được chặt chẽ và có tính bảo hộ cao, cần có
sự tham gia của cơ quan Nhà nước theo hình thức xác nhận hoặc chứng thực Đây cũng là căn cứ để Nhà nước can thiệp nhằm xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế buộc các bên tham gia phải thực hiện theo đúng cam kết, tránh gây thiệt hại cho các bên tham gia trong trường hợp xảy ra rủi ro (Phùng Giang Hải, 2015)
Tính bền vững được hiểu là sự phát triển lâu dài của một quá trình và không xác định được thời gian Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (1987), phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại
mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Nghĩa là, liên kết được coi là bền vững khi có thể tồn tại lâu dài và phát triển, mở rộng nhưng không gây ra tác động tiêu cực cho các bên tham gia cũng như môi trường xung quanh Liên kết phải đảm bảo được lợi ích cao hơn so với hoạt động riêng lẻ, điều này sẽ khuyến khích được sự tự nguyện tham gia của các bên
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
2.1.5.1 Cơ chế chính sách của Nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước có tác động mạnh mẽ đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối Các chính sách về đất đai, vốn tín dụng, đầu
tư cơ sở hạ tầng và hàng loạt các chính sách khác hỗ trợ các hộ sản xuất, các
Trang 34doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chuối
Về chính sách bảo hiểm nông nghiệp: Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo
mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường được hỗ trợ tối đa 20% phí bảo hiểm nông nghiệp
2.1.5.2 Các cấp chính quyền địa phương
Các cấp chính quyền có vai trò quan trọng trong việc đứng ra làm trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp trong các hợp đồng sản xuất, tiêu thụ đồng thời các cấp chính quyền địa phương có vai trò trung gian, là cầu nối giữa các doanh nghiệp, các hộ nông dân và các nhà khoa học với các chủ trương, chính sách của nhà nước Tuy vậy, những chủ trương đưa ra thì đúng nhưng những hoạt động triển khai vẫn rất tắc Thực tế hiện nay cho thấy chính quyền các cấp vẫn chưa thực sự vào cuộc mà vẫn để các chính sách thả nổi
Trong các hợp đồng liên kết kinh tế thì chưa xác định rõ trách nhiệm, ràng buộc, lợi ích giữa các bên tham gia liên kết nên dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong liên kết đồng thời các chính sách kinh tế chưa thực sự đi sát với thực tế phát triển sản xuất, tiêu thụ tại các hộ nông dân mà còn ở dạng chung chung chưa
cụ thể nên rất khó khăn cho các hộ nông dân trong việc vận dụng vào sản xuất cũng như tham gia liên kết (Nguyễn Thúy Hạnh, 2018)
2.1.5.3 Ý thức tham gia liên kết của các tác nhân (hộ nông dân, HTX, doanh nghiệp, Nhà nước, Tổ chức khoa học
a Từ phía hộ nông dân
Một số những yếu tố tâm lý và tư tưởng cũ vẫn ăn xâu và bám rễ vào mỗi người nông dân Việt Nam: đó là tâm lý sợ rủi ro, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu là hình thức tự cung tự cấp, ít đầu tư và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, luôn bị
ám ảnh bởi những cái nhìn thiển cận luôn coi trọng cái lợi trước mắt mà không quan tâm đến uy tín lâu dài Chính vì vậy, đã gây ra nhiều khó khăn trong phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Ngày nay, hình thức ký kết các hợp đồng thay cho hình thức thoả thuận bằng miệng như trước đây đang được sử dụng phổ biến Không chỉ đối với các hoạt động của nhà nước mà cả các doanh nghiệp cũng áp dụng rất nhiều nhằm mục đích tránh và hạn chế tình trạng bội tín của các bên tham gia Tuy vậy, tình trạng này vẫn xảy ra do người nông dân chưa hiểu được luật hợp
Trang 35đồngvà lợi ích lâu dài mà các hợp đồng tiêu thụ, ứng trước nông sản mang lại Nên nhiều doanh nghiệp tuy đã ký kết các hợp đồng tiêu thụ từ đầu vụ nhưng khi được thu hoạch thì bà con lại bán ra ngoài nên doanh nghiệp lại không
có nguyên liệu đồng thời nhiều chi phí đầu tư liên quan đầu tư cho sản xuất không thu lại nên nhiều cảnh “dở khóc dở cười” đồng thời nhiều hộ còn không chịu thanh toán cho các doanh nghiệp khi doanh nghiệp đã ứng trước nguyên liệu
do vậy nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng vốn đầu tư đã quá hạn mà không thu hồi nổi Do đó, gây nên nhiều mâu thuẫn giữa các hộ nông dân và doanh nghiệp Sự bội tín của nhiều hộ nông dân khiến cho nhiều doanh nghiệp không dám ký kết các hợp đồng liên kết trước vớicác hộ nông dân Gây khó khăn cho nhiều hộ nông dân thực hiện đúng hợp đồng và phát triển nông nghiệp nói chung trong việc đầu tư cho phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Ngày nay, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển kinh
tế nông nghiệp Trong đó, Nhà nước cũng đã rất chú trọng đến việc cử các cán
bộ khuyến nông đến tận các hộ nông dân để chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhưng do nhiều nguyên nhân từ chính phía các hộ nông dân như: trình độ hiểu biết và tiếp thu, khả năng đầu tư thấp, quen với tập quán sản xuất nhỏ lẻ cho nên thường rất ít các hộ nông dân có thể tiếp thu và sử dụng nó trong sản xuất Chính vì vậy, mà mối liên kết trong phát triển kinh tế nông nghiệp không thực sự bền chặt và phát huy được hiệu quả Do đó, trong xu hướng phát triển kinh tế thời hội nhập người nông dân phải thay đổi cách nghĩ, cách làm để theo kịp với những đổi mới đó để mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thực sự mang lại ý nghĩa to lớn trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng, góp phần xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống (Nguyễn Thúy Hạnh, 2018)
b Từ phía doanh nghiệp
Doanh nghiệp vẫn luôn theo đuổi mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận cho nên nhiều lúc doanh nghiệp ép giá các hộ nông dân khi vào chính vụ Do đó, gây nên nhiều sức ép cho các hộ nông dân Nhiều doanh nghiệp không hoạt động liên tục
và ổn định gây nên khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm của các hộ nông dân Đồng thời do việc ký hợp đồng với các hộ nông dân trước và cho hộ nông dân tạm ứng trước các nguyên liệu đầu vào cho nên doanh nghiệp thường ký mua sản phẩm của hộ nông dân với giá thấp hơn nhiều so với giá thực tế ngoài thị trường, khi giá thị trường thay đổi thì giá ký hợp đồng thay đổi không kịp thời, thường
Trang 36thay đổi chậm Tuy nhiều hợp đồng sản xuất đã được ký kết nhưng các doanh nghiệp không theo sát quá trình sản xuất của các hộ nông dân cho nên nhiều sản phẩm không đạt yêu cầu về chất lượng gây khó khăn cho quá trình tiêu thụ, nhiều doanh nghiệp quy định quá khắt khe về mẫu mã và chất lượng sản phẩm nên nhiều lúc sản phẩm của hộ nông dân không đủ phẩm chất phải bán với giá thấp hơn rất nhiều so với giá thực tế trên thị trường
Sự phối hợp giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học, giữa nhà nước và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ để phát huy hết sức mạnh tiềm ẩn trong liên kết kinh tế Do vậy để giúp các doanh nghiệp vào cuộc không chỉ hoạt động kinh
tế mà còn tham gia thúc đẩy xã hội phát triển thì luôn cần có sự liên kết chặt chẽ
từ phía các hộ nông dân, nhà khoa học và nhà nước
c Từ phía các tổ chức khoa học
Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu là những người hiểu và trực tiếp tiếp nhận, nghiên cứu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến mang lại hiệu quả cao trong phát triển kinh tế Tuy nhiên, sự vào cuộc của các nhà khoa học trong phát triển kinh
tế nông nghiệp còn nhiều hạn chế Vai trò của các nhà khoa học rất quan trọng trong mối liên kết Họ chính là những người trực tiếp chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cho các hộ nông dân để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Nhưng các nhà khoa học vẫn chưa thực sự nhiệt tình tham gia và phát huy vai trò lớn lao của mình trong quá trình liên kết
Trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập thì người nông dân rấtcần có sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía các nhà khoa học trong việc định hướng cũng như phương pháp triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Những mâu thuẫn xảy ra trong liên kết giữa doanh nghiệp và người nông dân về các vấn đề chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm Tuy nhiên vai trò, quyền lợi vật chất của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu chưa thực sự chưa rõ ràng (Nguyễn Thúy Hạnh, 2018)
2.1.5.4 Thị trường sản xuất và tiêu thụ chuối
- Các yếu tố đầu vào bao gồm: Lao động, đất đai, vốn, các loại phân bón,
thuốc BVTV … Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau: Lao động là hoạt động
có mục đích, có ý thức của con người, nhằm tạo ra của cải vật chất cho hay các sản phẩm tinh thần cho chính bản thân người lao động và xã hội Sức lao động là
Trang 37toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động Chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Trong nông nghiệp đất tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất Trong công nghiệp, thương mại đất đai đóng vai trò là cơ sở, nền móng, địa bàn phân bố Vốn sản xuất là giá trị của toàn
bộ các đầu vào bao gồm các tài sản, vật phẩm và tiền dùng trong sản xuất kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa (vốn vận động không ngừng trong quá trình sản xuất, lưu thông), giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng thời tạo điều kiện khai thác tốt hơn các nguồn lực khác Quy trình công nghệ là tổng thể các phương pháp sản xuất, chế biến, thay đổi trạng thái, thuộc tính, hình thức nguyên liệu, vật tư hay bán thành phẩm có liên hệ với nhau trong quá trình sản xuất Nó là yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm và là chỉ tiêu kinh tế của đơn vị sản xuất
- Các yếu tố đầu ra là sản phẩm của sự kết hợp các yếu tố đầu vào thông qua quá trình sản xuất Những sản phẩm này thường được sản xuất ra để phục vụ cho nhu cầu của con người, nó có thể được tiêu dùng trực tiếp nhưng cũng có thể trở thành các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất khác Do đó đòi hỏi trong quá trình sản xuất thì việc tổ chức các yếu tố đầu vào phải cân đối với nhau và các đầu vào trong sản xuất phải được hoạch toán để tối thiểu hoá chi phí nhằm tăng lợi nhuận cho các hộ nông dân Vì vậy, khi sản xuất cần chú ý tới giá trị các yếu
tố đầu vào tạo ra chi phí trong sản xuất (Nguyễn Thúy Hạnh, 2018)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm liên kết trong sản xuất và tiêu thụ một số loại nông sản trên thế giới
2.2.1.1 Liên kết sản xuất và tiêu thụ chè ở Trung quốc
Tại Trung Quốc, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm phát triển rất nhanh chóng trong thời gian gần đây Điều này đã khuyến khích các thành phần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản Trung Quốc gọi là “Kinh doanh sản nghiệp hoá nông nghiệp” Đây là phương thức kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong đó nhà nước phối hợp với các xí nghiệp và các nhà khoa học trong các khâu tác nghiệp trước sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất của hàng triệu hộ nông dân, nhằm hướng vào thị
Trang 38trường nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất thực hiện nhất thể hoá sản xuất - chế biến- tiêu thụ, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng quy mô hoá, chuyên môn hoá và thâm canh hoá
Có 4 hình thức chính của sản nghiệp hoá:
Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: tức là doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hình thức ký hợp đồng, khế ước, cổ phần rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản xuất nguyên liệu Trong đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông sản định hướng sản xuất cho nông dân Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổn định cho doanh nghiệp sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông dân vay vốn, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và nông dân trước các thay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân yên tâm sản xuất
Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp tác nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn vị kinh doanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họ đóng vai trò như chiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ với nông dân
Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức chia
sẻ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ Giữa các hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi
Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này hạt nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản Tức là các chợ công ty này tác động hướng dân nông dân sản xuất các mặt hàng riêng biệt,
từ đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình (Trần Hoàng Hiếu, 2016).
2.2.1.2 Liên kết sản xuất và tiêu thụ rau quả ở Thái Lan
Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới va ôn đới nên có thể nói chủng loại rau của Thái Lan rất phong phú Hiện nay có trên 100 loại rau được trồng ở Thái Lan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến
Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53kg/người/năm với các kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:
Loại kênh thứ nhất: người sản xuất- nhóm nông dân tự thành lập- người bán buôn/người chế biến/xuất khẩu- người bán buôn- người bán lẻ- người tiêu dùng
Trang 39Loại kênh thứ hai: người sản xuất- người thu gom trên địa bàn trồng rau- thị trường bán buôn trung tâm- người bán buôn tại Băng Cốc- người bán lẻ- người tiêu dùng
Thông thường phần lớn các thương lái thu gom rau trực tiếp tại các nông
hộ và chở rau bằng xe tải, một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp rau ra chợ bằng cách chuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình Rau thường được vận chuyển vào buổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn lớn ở Băng Cốc khoảng hơn 20% lượng rau ở các chợ bán buôn được đưa đến siêu thị và khuynh hướng nay đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau an toàn ở Thái Lan
Đối với thị trường giao dịch theo hợp đồng: cục nội thương trực thuộc Bộ Thương mại thiết lập thị trường để phục vụ cho các giao dịch theo hợp đồng giữa người nông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng Cục nội thương đề ra tiêu chuẩn hàng hóa, đề ra mẫu họp đồng tiêu chuẩn, văn phòng thương mại của cục nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạt động ký kết, giám sát thực hiện hợp đồng, tham gia cùng với bên trọng tài và các bên ký kết, giải quyết mâu thuẫn khi có tranh chấp, người bán và người mua nhà máy chế biến công nghiệp, nhà xuất khẩu… mong muốn được ký kết hợp đồng để mua bán các nông sản sẽ phải thông báo ý định đó cho cục nội thương hoặc văn phòng thương mại ở các tỉnh để họ xem xét Nếu được chấp nhận các bên phải đến văn phòng thương mại làm hợp đồng theo sự quản lý và quy chế của văn phòng thay cho việc trước đây người mua thiết kế hợp đồng Do kiến thức của nông dân hạn chế nên Bộ Thương mại phải thường xuyên tuyên truyền phổ biến kiến thức liên quan đến việc ký kết hợp đồng thỏa thuận va phân loại chất lượng nông sản Để khuyến khích việc ký kết hợp đồng mua bán nông sản giữa nông dân với các doanh nghiệp, cục nội thương tổ chức hợi nghị với sự tham gia của người mua, người bán và các đối tượng có liên quan đến việc ký hợp đồng, đồng thời hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc chấp hành hợp đồng, hỗ trợ tài chính cho người mua đã ký hợp đồng thỏa thuận trong trường hợp đặc biệt Những loại nông sản
có khả năng ký kết hợp đồng được xác định là cà chua, gừng, ngũ cốc non, măng tây, măng tre, dưa, đu đủ, đậu tương… (Trần Hoàng Hiếu, 2016)
2.2.1.3 Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa tại Malaysia
Theo Trần Hoàng Hiếu (2016), chính phủ Malaysia chủ trương khuyến khích phát triển các cánh đồng lớn sản xuất lúa nhằm tăng năng suất, lợi nhuận,
Trang 40giảm chi phí, còn làm giảm áp lực do thiếu lao động nông nghiệp cũng như giảm
xu hướng đất lúa bị chuyển đổi mục đích sang cây trồng có lợi nhuận lớn hơn Điều này được thể hiện rất rõ nét ở quy mô và trình độ phát triển rất cao ở cánh đồng lớn, điển hình tại huyện Sekinchan thuộc bang Selangor, bang trù phú nhất của Malaysia, cách Kuala Lumpur khoảng 100 km
Về quy mô, cánh đồng lớn này có diện tích 3.000 ha nhưng được chia thành hơn 2.000 thửa, mỗi thửa có chiều dài trong khoảng 200 – 250 m, chiều rộng 45 – 60 m và diện tích là 1,2 ha Ngăn cách giữa hai thửa ruộng về chiều rộng là một mương tiêu nhỏ rộng một mét và ngăn cách về chiều dài là một mương nổi cấp nước được xây dựng bằng bê tông, phía mỗi đầu bờ ruộng là mương tiêu chung rộng 4m Hai bên mương tiêu chung là đường giao thông Trong đó, một đường
bê tông nhựa, còn một đường cấp phối dành cho xe nông cơ các loại
Malaysia thực hiện liên kết với mục đích tăng quy mô các cánh đồng lớn qua 3 hình thức:
1) Doanh nghiệp thuê những mảnh đất nhỏ của nông dân và tổ chức sản xuất; 2) Nông dân tập hợp lại thành HTX và tổ chức sản xuất trên cánh đồng lớn
từ những mảnh ruộng của xã viên;
3) Doanh nghiệp thu mua tích tụ ruộng đất từ các mảnh ruộng liền kề phát triển thành những cánh đồng lớn
Về trình độ canh tác, hầu như toàn bộ công việc chính như cày bừa, trang đất đã được cơ giới hóa bằng máy nông cơ gắn theo máy cày công suất 90 sức ngựa, còn khâu cấy thì hoàn toàn sử dụng máy cấy công suất 4 ha/ca của hãng Kobuta Nhật Bản
Hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh Hệ thống tưới vận hành dễ dàng Việc tiêu nước được tiến hành tự động nhờ van đặt ở vị trí cố định
Việc bón phân được cơ giới hóa một phần bằng việc sử dụng máy cao áp ở đầu bờ, chỉ việc kéo dây để phun; phun thuốc trừ sâu còn dùng máy đeo lưng nên hiệu suất chưa cao Hai công việc này, một số nông dân đã thuê lao động từ Indonesia, Ấn Độ
Khâu thu hoạch đã sử dụng máy gặt đập liên hợp công suất lớn (hàm cắt rộng 3,8 m) của hãng New Holland, lúa hạt sau đó được bơm lên ô tô chở về kho của công ty mua lúa