Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tỉnh Bắc Ninh
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh
Nguồn: Chi cục thủy lợi Bắc Ninh
Bắc Ninh, tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Hà Nội, có tổng diện tích tự nhiên là 82.271 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 44.749 ha, tương đương 54,39% tổng diện tích Tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, góp phần vào sự phát triển kinh tế và xã hội của khu vực.
- Từ 20 0 57’51” đến 21 0 15’50” vĩ độ Bắc
- Từ 105 0 54’14” đến 106 0 18’28” kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Giang
- Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và Hà Nội
- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương
Bắc Ninh, tỉnh nằm phía Tây của thủ đô Hà Nội, được bao quanh bởi các con sông như Cà Lồ, Cầu, Thái Bình và Đuống, tạo nên một hệ thống thủy lợi kết nối giữa sông Hồng và sông Thái Bình.
Bắc Ninh bao gồm 8 đơn vị hành chính: Thị Xã Từ Sơn, Huyện Tiên Du, Huyện Quế Võ, Huyện Yên Phong, Thành Phố Bắc Ninh, Huyện Thuận Thành, Huyện Gia Bình, và Huyện Lương Tài, với tổng cộng 126 xã, phường và thị trấn.
- Diện tích tự nhiên của lưu vực là : 82.271 ha
- Diện tích đất canh tác trên toàn lưu vực là : 44.749 ha
Bắc Ninh sở hữu một hệ thống sông ngòi dày đặc với mật độ lưới sông cao, trung bình từ 1-1,2 km/km² Các con sông bao quanh tỉnh này tạo thành ranh giới tự nhiên với các tỉnh lân cận: phía Bắc là sông Cầu giáp với tỉnh Bắc Giang, phía Nam là sông Bùi giáp với huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, phía Đông là sông Thái Bình giáp với huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, và phía Tây Bắc là sông Cà Lồ giáp với huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội.
Địa hình tỉnh có sự đồng nhất cao, với 99,5% diện tích là đồng bằng và chỉ 0,5% là đồi núi thấp Tổng thể địa hình dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, thể hiện qua các dòng chảy đổ về sông Đuống và sông Thái Bình Cao độ đồng bằng thường từ 3-7m, trong khi chênh lệch giữa đồng bằng và khu vực núi, trung du là 100-200m Một số đồi bát úp xuất hiện rải rác tại các huyện Quế Võ, Tiên Du và Gia Bình.
Hệ thống đê điều và các đồi núi xen kẽ đã tạo ra địa hình phức tạp tại tỉnh, dẫn đến tình trạng úng ngập tại các khu trũng ở Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, Quế Võ, Gia Bình và Lương Tài vào mùa mưa Một số diện tích ruộng ở chân đồi cao cũng gặp khó khăn trong việc dẫn nước tưới, dẫn đến hạn hán, mặc dù diện tích này chiếm tỷ lệ nhỏ Tổng diện tích cao và thấp cục bộ chiếm khoảng 30% tổng diện tích đất canh tác của tỉnh.
Bắc Ninh sở hữu địa hình thuận lợi cho việc phát triển đa dạng cây trồng và vật nuôi, cho phép luân canh và canh tác nhiều vụ trong năm Tuy nhiên, tỉnh cũng đối mặt với thách thức trong việc xây dựng các công trình tưới, tiêu cục bộ, và cần lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng dạng địa hình để tối ưu hóa tiềm năng đất đai.
Đặc điểm địa chất tỉnh Bắc Ninh thể hiện cấu trúc sụt trũng sông Hồng với bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng của cấu trúc mỏng Nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc, Bắc Ninh còn mang tính chất của vòng cung Đông Triều Tại đây, có mặt các loại đất đá từ Cambri đến đệ tứ, với thành tạo Kainozoi chiếm ưu thế Các thành tạo Triat chủ yếu là cát kết và sạn kết, phân bố rộng rãi trên các dãy núi Bề dày trầm tích đệ tứ biến đổi từ Bắc xuống Nam, với độ dày ở vùng núi mỏng hơn, trong khi phía Nam có thể đạt tới 100 m, còn phía Bắc (Đáp Cầu) chỉ từ 30 đến 50 m Đất đai tại Bắc Ninh màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
Bắc Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình đạt 31°C và có thể lên tới 39,4°C Trong thời gian này, khu vực thường xuyên xảy ra mưa lớn và bão Ngược lại, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau có nhiệt độ trung bình khoảng 18°C, với mức thấp nhất là 3°C, thời tiết ít mưa và hanh khô.
- Các đặc trưng khí hậu ở khu vực nghiên cứu như sau:
Nhiệt độ, độ ẩm:Nhiệt độ và độ ẩm bình quân các tháng nhiều năm thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.1 Nhiệt độ, độ ẩm bình quân các tháng trong 3 năm (2014-2016)
Nguồn: Chi cục thủy Lợi Bắc Ninh
+ Về nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân nhiều năm 23,2 0 C, nhiệt độ cao nhất 39,4 0 C, nhiệt độ thấp nhất 3 0 C
Độ ẩm tương đối của không khí trong khu vực này có những đặc điểm đáng chú ý, với độ ẩm bình quân nhiều năm đạt 85% Mức độ ẩm thấp nhất trong năm ghi nhận là 65%, trong khi mức cao nhất có thể lên tới 90% Thông tin chi tiết về độ ẩm trung bình tháng nhiều năm được thể hiện trong bảng dưới đây.
Lượng mưa trunh bình của toàn tỉnh qua các tháng trong 3 năm gần đây được tổng hợp ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Lượng mưa trung bình các tháng, 3 năm ( 2014- 2016) ĐVT: mm
Nguồn: Chi cục thủy Lợi Bắc Ninh
Mùa mưa của tỉnh Bắc Ninh thường bắt đầu vào 5 và kết thúc vào tháng
10 Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm 85-90% tổng lượng mưa năm còn lại 6 tháng mùa khô lượng mưa chỉ từ 10-15% tổng lượng mưa năm
Trong ba năm qua, lượng mưa bình quân cho thấy mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 7, 8 và 9, với lượng mưa trung bình vượt quá 250mm/tháng Gần đây, tỉnh đã trải qua những trận mưa cục bộ ngắn hạn kéo dài 3-4 ngày, nhưng tổng lượng mưa lớn lên tới 200mm đã gây ra tình trạng úng ngập tại nhiều địa phương.
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh
Trong những năm gần đây, Bắc Ninh đã ghi nhận sự phát triển vượt bậc trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16,4% trong giai đoạn 2013-2015 Đến năm 2015, thu nhập đầu người (GDP) của tỉnh đạt khoảng 5.665 USD, gấp đôi mức trung bình cả nước Cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 80,2%, dịch vụ 15,4% và nông nghiệp 5,5%.
Năm 2013, Bắc Ninh đạt tổng thu ngân sách Nhà nước 6800 tỷ đồng, lần đầu tiên có khả năng tự cân đối ngân sách và đóng góp vào ngân sách nhà nước Đến năm 2014, tổng thu ngân sách tăng lên 14.908,3 tỷ đồng, đạt 97,2% kế hoạch năm và tăng 21,5% so với năm trước.
Năm 2015, tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 15.050 tỷ đồng, vượt 7,5% so với dự toán và tăng 18,7% so với năm 2014, trong đó thu nội địa đạt 10.035 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.540 tỷ đồng Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện là 13.394 tỷ đồng, tương đương 146% dự toán, với chi đầu tư phát triển đạt trên 3.784 tỷ đồng Đầu tư từ vốn ngân sách tỉnh đã đóng góp đáng kể vào việc xây mới và nâng cấp hệ thống giao thông, hỗ trợ xây dựng hạ tầng nông thôn và các dự án trọng điểm.
Phương pháp nghiên cứu
Phiếu điều tra được thiết kế thành 3 mẫu nhằm thu thập thông tin tại các xí nghiệp kinh tế thủy lợi, các cụm thủy nông và từ người dân sử dụng nước ở ba huyện Quế Võ, Yên Phong và Tiên Du.
- Cán bộ quản lý tại xí nghiệp: phỏng vấn giám đốc xí nghiệp
- Cán bộ quản lý tại cụm thủy nông: Phỏng vấn cụm trưởng
- Người dân dùng nước: độ tuổi từ 30 trở lên và là lao động chính của gia đình
Công ty Bắc Đuống cung cấp dịch vụ nước tưới tiêu cho các địa phương, mang lại lợi ích công bằng cho người dân Để hiểu rõ hơn về trải nghiệm của người dùng nước, tôi đã phỏng vấn 48 đại diện hộ dân từ ba địa phương tiêu biểu: Quế Võ, huyện Yên Phong và Tiên Du Đây là những khu vực có hệ thống công trình thủy lợi phong phú, bao gồm cả hợp tác xã và xí nghiệp thủy nông.
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu
Thông tin được thu thập từ các tài liệu như quy hoạch thủy lợi tỉnh Bắc Ninh và báo cáo thống kê của Chi cục thủy lợi Bắc Ninh, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình thủy lợi tại địa phương.
Công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Đuống quản lý các kênh mương, cống và trạm bơm, theo thông tin từ cổng điện tử tỉnh Bắc Ninh và Tổng cục Thống kê Các tài liệu báo cáo tốt nghiệp từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Trường Đại học Thủy Lợi, cũng như các sách, báo, tạp chí và bài nghiên cứu liên quan đến phân cấp quản lý khai thác hệ thống thủy lợi, đều cung cấp thông tin quý giá cho việc nghiên cứu và phát triển hệ thống này.
Phương pháp nghiên cứu này tập trung vào việc thu thập dữ liệu thông qua phỏng vấn, sử dụng bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn Quá trình phỏng vấn sẽ được thực hiện trực tiếp với các cán bộ quản lý, công nhân vận hành và những người dân thụ hưởng từ hệ thống công trình thủy lợi Bắc Đuống.
Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập từ 101 cán bộ quản lý tại các xí nghiệp, cụm thủy nông và các chủ nhiệm hợp tác xã, với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
Bảng 3.3 Đối tượng khảo sát điều tra ĐVT: Người Đối tượng Số lượng
1.Cán bộ quản lý các xí nghiệp 5
2 Cán bộ quản lý của các cụm thủy nông 48
3 Người dân hưởng lợi trên địa bàn Bắc Đuống 48
3.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
- Miêu tả các mẫu điều tra
Đếm và tính toán các đặc điểm của mẫu điều tra là bước quan trọng nhằm cung cấp những hiểu biết sơ bộ về số liệu, từ đó hỗ trợ việc phân tích dữ liệu mô tả một cách hiệu quả.
3.2.3.2 Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp thống kê so sánh được áp dụng để phân tích và so sánh các kết quả điều tra về hệ thống phân cấp quản lý kinh tế - xã hội trong lĩnh vực thủy lợi Thông qua việc tổng hợp và phân tích số liệu, có thể đánh giá thực trạng và tình hình phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi tại khu vực nghiên cứu Việc so sánh các chỉ tiêu thống kê giúp phản ánh và làm rõ hơn về tình hình thực tế của vấn đề nghiên cứu.
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
-Tỷ lệ diện tích được tưới thực tế (%):
Diện tích tưới chủ động được nghiệm thu / Tổng diện tích tưới theo kế hoạch (khả năng tưới chủ động của công trình)
-Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch diện tích tưới (%):
Diện tích tưới được nghiệm thu của hệ thống/ Diện tích tưới theo kế hoạch (phản ánh trạng thái công trình)
-Tỷ lệ diện tích được tiêu thực tế (%):
Diện tích tiêu úng được nghiệm thu / Tổng diện tích tiêu úng theo kế hoạch (khả năng tiêu úng chủ động của công trình)
-Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch diện tích tiêu (%):
Diện tích tiêu úng được nghiệm thu của hệ thống/ Diện tích tiêu theo kế hoạch (phản ánh trạng thái công trình).
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thực trạng phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi bắc đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
4.1.1 Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Công trình thủy lợi Bắc Đuống, được hình thành từ các sông ngòi tự nhiên, đã được xây dựng và nâng cấp chủ yếu trong giai đoạn 1962-1970 để khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Cầu, sông Cà Lồ và sông Đuống, đồng thời đảm bảo tiêu thoát nước trong hệ thống Các sông chính này đóng vai trò quan trọng trong việc tưới cho vụ Đông Xuân và tiêu nước cho vụ mùa Với đặc thù địa hình và nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, khu vực hiện nay có nhiều loại hình công trình thủy lợi đa dạng.
Bảng 4.1 Các loại công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
STT Loại công trình Đơn vị Số lượng
2 Cống cấp I, II, III, IV Cái 234
4 Kênh mương cấp I, II, III, IV Km 3288
Nguồn: Chi cục thủy lợi Bắc Ninh
Nhiệm vụ của hệ thống công trình thủy lợi Bắc Đuống phục vụ yêu cầu sản xuất và dân sinh như sau:
-Diện tích tự nhiên: 51711.14 ha
-Diện tích canh tác: 32821.22 ha
-Diện tích trồng lúa: 30332.07 ha
-Diện tích cây màu và cây công nghiệp: 693,14 ha
-Diện tích ao hồ: 2639,14ha trong đó
+ Đã sử dụng vào nông nghiệp: 1636,52 ha
+Chưa sử dụng vào nông nghiệp: 1003,20 ha
- Diện tích sông suối: 1498,33 ha
Hình 4.1 Hệ thống công trình thủy lợi Bắc Đuống Nguồn: Công ty Bắc Đuống 4.1.2 Mô hình phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống
Công trình thủy lợi Bắc Đuống được quản lý và khai thác bởi Công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Đuống cùng với 332 Hợp tác xã Công ty có 6 xí nghiệp và 48 cụm thủy nông, đóng vai trò là cầu nối giữa các Hợp tác xã và công ty trong việc quản lý và khai thác công trình thủy lợi.
Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi của Công ty KTCT thủy lợi Bắc Đuống
Công ty có các phòng ban chuyên môn chịu trách nhiệm tổng hợp và chỉ đạo toàn bộ hệ thống, đồng thời quản lý, bảo vệ và vận hành trực tiếp các công trình thủy lợi tại các xí nghiệp thành viên ở các huyện.
-Tổ chức quản lý khai thác công trình tại các xí nghiệp thủy nông:
Văn phòng xí nghiệp có: giám đốc quản lý chung và 1 phó giám đốc quản lý cơ
T am s ơn đồng nguyên tân hồng phù chẩn t rung nghĩa Đông tiến
Yên p hụ phù khê đồng quang đình b ảng hư ơng mạc
TT c hê c h©u phong kim ch©n đông p hong l ong c h©u yê n giả p hư ơng liễu Đại xuân đại đồng minh đạo tr i p hương c ảnh hư ng hiê n v©n
Vâ c êng t ương giang néi duệ hoàn sơn phË t tÝch việt đoàn l iê n b ∙o p hó l©m
Vân t ương p hong khê nam s ơn t ©n c hi lạc vệ hạp lĩnh hán quảng Đại phúc khắc niệm k in h bắ c vân dương c ách bi quÕ t ©n việt hùng c hi l¨ng m ộ đạo
B ồng l ai b ằng an Nhân hoà p hư ợng mao ngọc xá Đào viên phù l ương
Phủ l∙ng vạn an thuþ
Yê n t rung hoà tam ®a Dũng liệ t hoà l ong
Vũ ninh Đáp c ầu t hị c ầu
Việ t t hống đức long khóc xuyên ch©u khê cèng l ong tửu k ên h lo n g t ửu
K nam T.Xá điện , 1 phó giám đốc quản lý nước & công trình Dưới ban giám đốc là các bộ phận chuyên môn sau:
Bộ phận cơ điện có trách nhiệm quản lý, khai thác, bảo dưỡng và sửa chữa các công trình cơ điện của công ty trong khu vực xí nghiệp quản lý.
Bộ phận quản lý nước và công trình chịu trách nhiệm điều hành hoạt động bơm tưới và tiêu nước cho các cụm thủy nông, đồng thời quản lý khai thác các công trình thủy công trong khu vực xí nghiệp.
Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm chi trả kinh phí cho việc tu bổ và sửa chữa của xí nghiệp, cũng như cấp bù thủy lợi phí cho các hợp tác xã quản lý trạm bơm cuc bộ.
Cụm thủy nông có : Cụm trưởng, công nhân vận hành và công nhân thủy nông
Cụm trưởng chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ công việc của cụm, đại diện ký hợp đồng nghiệm thu diện tích tưới tiêu với địa phương và giám sát hoạt động của các trạm bơm do cụm quản lý.
Công nhân vận hành có nhiệm vụ điều khiển trạm bơm theo chỉ đạo của cụm trưởng và bảo vệ tài sản của trạm Họ cũng có trách nhiệm hướng dẫn các công nhân vận hành tại trạm bơm địa phương.
Công nhân thủy nông có nhiệm vụ phối hợp với chính quyền địa phương để đảm bảo nguồn nước trong quá trình bơm tưới tiêu Họ quản lý các kênh và cống thuộc cụm thủy nông, đồng thời giám sát và đôn đốc các công nhân thủy nông địa phương trong việc quản lý hệ thống kênh mương hiệu quả.
Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi của HTX
- Hợp tác xã bao gồm chủ nhiệm HTX, công nhân bảo vệ vận hành trạm bơm, công nhân thủy nông địa phương
Chủ nhiệm HTX có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo công tác bơm tưới và tiêu nước Họ là những người đứng đầu trong quản lý kinh tế - kỹ thuật thủy lợi tại địa phương, đồng thời chịu trách nhiệm thanh toán các khoản tiền cấp bù thủy lợi phí.
Kế toán HTX :chi trả kinh phí cấp bù thủy lợi phí được xí nghiệp KTCT thủy lợi cấp cho các trạm bơm cục bộ
Công nhân bảo vệ vận hành trạm bơm: chịu trách nhiệm vận hành trạm bơm theo chỉ đạo của chủ nhiệm HTX và bảo vệ trạm bơm
Công nhân thủy nông đảm nhiệm vai trò quan trọng trong việc dẫn nước cho hệ thống bơm tưới tiêu và kiểm tra các kênh mương thuộc địa phương Họ cũng thực hiện đánh giá công tác quản lý và khai thác các công trình thủy lợi tại Bắc Đuống, góp phần vào sự phát triển bền vững của nông nghiệp.
Quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, nhưng cũng bộc lộ nhiều vấn đề cần khắc phục Công trình đang xuống cấp do thiếu kinh phí tu bổ, trong khi bộ máy công ty chưa hiệu quả và linh hoạt, thiết bị công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp Các hợp tác xã (HTX) hoạt động lỏng lẻo, thiếu sự bình đẳng và hợp tác chuyên môn với công ty, chủ yếu chỉ tập trung vào nhiệm vụ tưới nước Các nhiệm vụ quan trọng khác như tiêu nước, sửa chữa, nâng cấp và bảo vệ công trình chưa được chú trọng đúng mức Sự chồng chéo trong việc cung cấp dịch vụ tưới, tiêu giữa công ty và các HTX trên cùng một địa bàn đã dẫn đến tình trạng ỷ lại của các HTX.
Sự không rõ ràng trong phân công trách nhiệm quản lý giữa công ty và các HTX đã dẫn đến tình trạng nhiều công trình thủy lợi như cống đập nhỏ, sông dẫn thủy nông không có chủ quản lý thực sự, gây hiệu quả hoạt động thấp và gia tăng vi phạm trong khai thác và bảo vệ Hệ thống sông trục, bao gồm các sông dẫn nước tưới tiêu liên huyện và liên xã, cũng đang gặp vấn đề chồng chéo trong quản lý, với phân định trách nhiệm giữa các cấp và đơn vị quản lý thủy nông không rõ ràng Hậu quả là phạm vi khai thác và bảo vệ công trình bị vi phạm nghiêm trọng, dẫn đến quá trình xuống cấp công trình ngày càng nhanh chóng.
Những tồn tại của công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống:
- Đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu về năng lực và kỹ thuật, công tác chỉ đạo điều hành chưa sâu sát
Hệ thống công trình quy mô lớn, nhưng bị chia cắt bởi các địa giới hành chính, dẫn đến việc giảm khả năng hoạt động hiệu quả của từng công trình Mỗi công trình chỉ có thể phát huy hiệu quả trong một phạm vi nhất định.
Công tác bảo vệ công trình thủy lợi đang gặp nhiều khó khăn, với tình trạng xâm phạm diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương Chính quyền chưa thực sự quan tâm và chưa có các giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề vi phạm Sự thiếu quyết liệt trong công tác này không chỉ ảnh hưởng đến quản lý mà còn có nguy cơ làm gián đoạn quy trình vận hành và quy hoạch hệ thống thủy lợi.
- Hệ thống công trình chưa đồng bộ và chưa hoàn thiện nhất là các công trình nội đồng do đó không phát huy hết năng lực của hệ thống
4.1.3 Tình hình phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Đánh giá chung về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi bắc đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Tất cả các công trình thủy lợi, từ đầu mối đến mặt ruộng, cần có sự quản lý thực sự để đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ Việc này giúp tiết kiệm điện nước, nâng cao hiệu quả khai thác công trình và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
Nâng cao trách nhiệm của người hưởng lợi từ dịch vụ nước, đặc biệt là nông dân, là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ và khai thác hiệu quả các công trình thủy lợi Sự tham gia tích cực của nông dân không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ nước mà còn đảm bảo sự bền vững của hệ thống thủy lợi.
- Có thêm nguồn lực để quản lý tu bổ nâng cấp công trình
*Hiệu quả tưới tiêu tăng cao, năng suất cây trồng tăng lên:
- Đảm bảo toàn bộ diện tích được đáp ứng đủ yêu cầu tưới, tiêu chủ động, kịp thời, giúp tăng năng suất cây trồng
* Phân phối nước hợp lý, công bằng:
Các địa phương đã chủ động trong việc điều hành phân phối nước tưới, phù hợp với tiến độ gieo cấy của từng vụ và khu đồng, nhằm hỗ trợ tốt nhất cho từng nhóm cây trồng Bên cạnh đó, việc tiêu nước chống úng được thực hiện linh hoạt ngay khi có mưa lớn, giúp giảm thiểu tối đa thiệt hại.
* Tiết kiệm điện năng, tiết kiệm nước:
Hiệu quả tiết kiệm điện năng từ các trạm bơm tưới không chỉ giúp giảm chi phí mà còn góp phần tiết kiệm nước Bảng 4.5 so sánh hiệu quả tiết kiệm điện năng trước và sau khi thực hiện phân cấp quản lý, cho thấy rõ sự cải thiện trong việc sử dụng nguồn tài nguyên này.
Bảng 4.5 Hiệu quả tiết kiệm điện năng tiêu thụ của các trạm bơm tưới, tiêu
TT Chỉ tiêu Trước phân cấp Sau phân cấp
1 Bình quân vụ xuân (kw) 12,890,890 11,796,196 9,073,656
2 Bình quân vụ mùa (kw) 5,824,188 5,636,067 5,292,601
3 Bình quân vụ đông (kw) 1,295,327 1,769,111 1,866,911
4 Bình quân cả năm (kw) 20,010,405 19,201,374 16,233,168
Nguồn: Công ty Bắc Đuống
*Công trình được tu bổ nâng cấp
Các hợp tác xã (HTX) được cấp bù nguồn kinh phí từ việc miễn thuỷ lợi phí, trong đó khoảng 60% sẽ được sử dụng cho đầu tư tu bổ công trình Đây là nguồn kinh phí lớn nhất từ trước tới nay dành cho các HTX, giúp nâng cao chất lượng và tăng hiệu quả phục vụ của các công trình.
*Khuyến khích người dân tham gia quản lý công trình thủy lợi
Khuyến khích sự tham gia và giám sát của người dân trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ và khai thác Khi phân cấp hệ thống công trình thuỷ lợi nhỏ, việc xác định rõ chủ quản lý sẽ chấm dứt tình trạng công trình không có chủ, từ đó giảm thiểu vi phạm và nâng cao công tác bảo vệ Điều này góp phần vào việc quản lý, khai thác và bảo vệ công trình một cách hiệu quả và có nề nếp hơn.
4.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân
Cơ chế tài chính cho các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) nhận bàn giao công trình từ doanh nghiệp khai thác thủy lợi hiện chưa đủ nguồn kinh phí để duy tu và bảo dưỡng các công trình mà họ đang quản lý Điều này gây khó khăn trong việc duy trì chất lượng và hiệu quả hoạt động của các công trình thủy lợi.
Các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) khi tiếp nhận trạm bơm cần thời gian để tuyển chọn và đào tạo công nhân vận hành, vì hiện tại chưa có lực lượng phù hợp cho việc này.
Công ty KTCTTL bày tỏ lo ngại về việc phân cấp quản lý công trình cho cơ sở, khi mà số công nhân vận hành trạm bơm và lao động gián tiếp chủ yếu còn trẻ, chưa đủ tiêu chuẩn để được hưởng chế độ nghỉ Điều này có thể dẫn đến tình trạng dôi dư lao động khi giải quyết việc làm cho họ.
Hệ thống công trình thủy lợi trải rộng khắp, bao gồm các công trình liên huyện, liên xã và liên thôn Tuy nhiên, các đơn vị quản lý thủy nông chủ yếu chỉ tập trung vào việc khai thác hệ thống này, trong khi công tác quản lý và bảo vệ công trình thủy lợi chưa được thực hiện hiệu quả do hạn chế về tổ chức bộ máy Hệ quả là tình trạng vi phạm trong khai thác và bảo vệ công trình ngày càng gia tăng, gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho toàn bộ hệ thống.
Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý vi phạm khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, nhưng nhiều nơi vẫn chưa kiên quyết và buông lỏng công tác này Nguyên nhân chính là do sự phân định quản lý trên các tuyến công trình không rõ ràng, dẫn đến việc giảm trách nhiệm của cộng đồng và các cấp chính quyền, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều khía cạnh trong quản lý khai thác.
+ Khả năng huy động các nguồn vốn trong quá trình duy tu, nâng cấp + Giải phóng mặt bằng trong đầu tư xây dựng
+ Giải quyết tranh chấp, vi phạm
Việc cấp phép cho các hoạt động khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi hiện nay chỉ được thực hiện đối với một số công trình chính, trong khi hầu hết các công trình còn lại vẫn chưa được quản lý hiệu quả.
Nguồn vốn cho việc tu bổ, nâng cấp và nạo vét các công trình thủy lợi đang gặp nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng xuống cấp nhanh chóng và giảm hiệu quả trong công tác tưới tiêu.
Việc cấp phép xả nước thải vào hệ thống công trình thủy lợi chưa được các tổ chức và cá nhân thực sự coi trọng, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng.
* Nguyên nhân của những tồn tại
Nhiều công trình trạm bơm khi bàn giao phân cấp đã xuống cấp nhưng chưa được cải tạo do thiếu kinh phí Hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp hoạt động với nguồn thu không đủ để chi trả cho chi phí quản lý và vận hành, dẫn đến tâm lý e ngại khi phân cấp Gánh nặng tài chính thiếu hụt càng làm cho hoạt động của các HTXNN trở nên khó khăn hơn.
Các giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý khai thác cttl bắc đuống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
4.3.1 Hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh
Để cải thiện hiệu quả phân cấp quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi, việc xây dựng và thực thi các quy định về cơ chế, chính sách tại các tỉnh là vô cùng quan trọng, quyết định đến sự thành công của quá trình này Dưới đây là một số đề xuất về cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Tỉnh cần hoàn thiện các văn bản pháp quy liên quan đến cơ chế chính sách phân cấp, đặc biệt là quy định cụ thể về mức thu chi và định mức kinh tế kỹ thuật cho các tổ chức thủy nông cơ sở tại từng địa phương.
Cần thay đổi quan điểm và chính sách đầu tư đối với công trình thủy lợi, xem đầu tư thủy lợi là trách nhiệm của toàn bộ nền kinh tế, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực nông nghiệp.
-Xây dựng các cơ chế chính sách liên quan tới việc phân cấp như:
+Chính sách hỗ trợ vốn tu bổ sửa chữa nâng cấp công trình trước khi bàn giao;
+Bảo đảm các TCHTDN bình đẳng với các doanh nghiệp nhà nước trên mọi lĩnh vực có thể
Hoàn thiện các định mức kinh tế và kỹ thuật trong lĩnh vực thuỷ nông là cần thiết, bao gồm định mức lao động, tiền lương, chi phí điện tưới tiêu và sửa chữa thường xuyên Dựa trên những định mức này, cần tiến hành phân cấp quản lý các công trình thuỷ lợi giữa các doanh nghiệp thuỷ nông công ích và các tổ chức hợp tác sử dụng nước.
Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý và bảo vệ công trình thủy lợi cần đảm bảo đủ số lượng nhân lực có trình độ từ cấp trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp xã Cần ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể về tổ chức và chế độ tài chính cho hoạt động của các tổ chức thủy nông cơ sở Đồng thời, cần phát triển và hoàn thiện mô hình tổ chức thủy nông phù hợp với từng địa phương.
Đầu tư vào hiện đại hóa trang thiết bị và chuyển giao công nghệ tiên tiến cho hệ thống quản lý thủy nông là cần thiết để tự động hóa quy trình điều hành khai thác Điều này sẽ giúp đáp ứng các yêu cầu đa dạng từ các ngành kinh tế và nhu cầu dân sinh, từ Chi cục thủy lợi đến các doanh nghiệp và tổ chức thủy nông cơ sở.
Xây dựng và triển khai chương trình ứng dụng khoa học công nghệ nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả phân cấp quản lý khai thác CTTL Kinh phí đầu tư cho các đơn vị thực hiện chương trình này sẽ được cấp từ Bộ, cụ thể là Tổng cục Thủy lợi, và từ tỉnh là Chi cục Thủy lợi.
4.3.2 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý và công nhân vận hành, người dân trong vùng công trình thủy lợi Bắc Đuông
Hiện nay, năng lực quản lý khai thác của cán bộ và công nhân tại công ty KTCTTL Bắc Đuống cũng như các đơn vị quản lý thủy nông địa phương còn hạn chế Điều này đã dẫn đến việc không thực hiện công việc theo yêu cầu sau khi phân cấp Do đó, cần thiết phải tổ chức các chương trình nâng cao, đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ thực hiện.
Công ty KTCTTL Bắc Đuống cần rà soát và đánh giá lại đội ngũ cán bộ quản lý cùng công nhân vận hành, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao nghiệp vụ và nhận thức cho các đối tượng thực hiện nhiệm vụ quản lý KTCTTL Điều này nhằm đảm bảo họ có đủ năng lực để thực hiện quản lý khai thác theo quy định.
Đào tạo theo khung chương trình và tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ là cần thiết cho cán bộ, công nhân quản lý và vận hành công trình thủy lợi, cũng như người dân tại các tỉnh trong vùng hệ thống.
Chủ trương và chính sách trong quản lý kinh tế tổng hợp tài nguyên nước (KTCTTL) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững, đặc biệt là trong công tác quản lý hệ thống thủy lợi tại các địa phương Việc giới thiệu và phổ biến các chính sách này giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, đồng thời đảm bảo hiệu quả trong việc quản lý và vận hành các công trình thủy lợi.
+ Đào tạo kỹ năng, phương pháp tham gia quản lý KTCTTL trong hệ thống
Để nâng cao giá trị kinh tế và phát triển bền vững, cần phổ biến và đào tạo kỹ năng cho người dân, đồng thời lựa chọn cơ cấu sản xuất phù hợp với thực trạng năng lực hệ thống thủy lợi, thị trường, mùa vụ và nguồn nước Việc này sẽ giúp hài hòa lợi ích giữa các địa phương và phát huy các thế mạnh của từng khu vực.
+ Phổ biến, đào tạo áp dụng khoa học công nghệ trong quản lý khai thác công trình thủy lợi
Chủ quản lý các CTTL cần chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nâng cao kiến thức về quản lý KTCTTL trong hệ thống, đồng thời xây dựng quy trình và biện pháp ứng phó hiệu quả trong các tình huống khẩn cấp.
Dự kiến đào tạo và đào tạo lại khoảng 530 ÷ 550 người trong thời gian 5 năm để đảm bảo đủ nhân lực cần thiết thực hiện công việc theo yêu cầu
Hàng năm, cần bố trí kinh phí để thực hiện đào tạo và tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý kinh tế - kỹ thuật thủy lợi Điều này sẽ giúp đáp ứng yêu cầu quản lý và hỗ trợ đội ngũ thanh tra chuyên ngành thủy lợi trong việc giám sát quá trình thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi.
4.3.3 Giải quyết lạo đông dôi dư của công ty khi thực hiện phân cấp
Lao động dôi dư trong quá trình phân cấp quản lý KTCTTL là một vấn đề nhạy cảm và cấp bách, gây cản trở cho nhiều địa phương trong việc thực hiện đổi mới tổ chức quản lý Để giải quyết tình trạng này, cần có những giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu tác động của lao động dôi dư, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân cấp quản lý hiệu quả hơn.
-Đối với những người còn nhiều khả năng lao động thì công ty cần thành lập các đơn vị sản xuất kinh doanh ngoài công ích;
-Đối với những lao động đủ điều kiện sẽ đảm nhận các công tác như công nhân đường kênh, công nhân cụm trạm trong các Công ty KTCTTL;