Tuy nhiên, việc khai thác du lịch Hồ Hòa Bình còn nhiều hạn chế, như: Hạ tầng du lịch thiếu đồng bộ; cơ sở vật chất du lịch chất lượng thấp, sản phẩm du lịch kém hấp dẫn, thiếu khu vui c
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN QUỐC VŨ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HỒ HÒA BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Kim Chung
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng tất cả các số liệu, thông tin trong luận văn hoàn toàn đúng sự thật và được trích nguồn rõ ràng, các số liệu tôi sử dụng trong luận văn này
chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2018
T ác giả luận văn
Nguyễn Quốc Vũ
Trang 3Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Đỗ Kim Chung - Giảng viên bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc nhất xin dành cho gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ rất nhiều về vật chất và tinh thần để bản thân tôi hoàn thành được chương trình học tập cũng như đề tài nghiên cứu
Trân trọng!
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Vũ
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục bản đồ, hình, sơ đồ vii
Danh mục biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
P hần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Những đóng góp mới của luận văn 4
P hần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch 6
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch 6
2.1.1 Khái niệm, bản chất phát triển du lịch 6
2.1.2 Vai trò của phát triển du lịch hồ 10
2.1.3 Đặc điểm phát triển du lịch hồ 12
2.1.4 Nội dung nghiên cứu giải pháp phát triển du lịch Hồ 14
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch hồ 19
2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch hồ 22
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch sông hồ trên thế giới 22
2.2.2 Tình hình phát triển du lịch sông, hồ tại Việt Nam 24
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch Hồ Hòa Bình 26
Trang 5P hần 3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 31
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 31
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 32
3.2.5 Chỉ tiêu phân tích 36
P hần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37
4.1 Thực trạng phát triển du lịch hồ Hoà Bình 37
4.1.1 Tài nguyên du lịch và thực trạng khách du lịch 37
4.1.2 Thực trạng công tác quy hoạch cho phát triển du lịch 49
4.1.3 Thực trạng đầu tư phát triển hạ tầng 50
4.1.4 Thực trạng sản phẩm và tuyến du lịch 58
4.1.5 Tình hình nhân lực của ngành du lịch 63
4.1.6 Thực trạng cung cấp dịch vụ công cho du lịch 66
4.1.7 Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 67
4.1.8 Kết quả và hiệu quả phát triển du lịch Hồ Hòa Bình 68
4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch hồ Hòa Bình 72
4.2.1 Ảnh hưởng của thể chế chính sách 72
4.2.2 Năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch 73
4.2.3 Ảnh hưởng của năng lực doanh nghiệp du lịch 75
4.2.4 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch 76
4.2.5 Sự phối hợp của các cấp các ngành 79
4.3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch hồ Hòa Bình 80
4.3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch 80
4.3.2 Giải pháp phát triển du lịch hồ Hòa Bình 82
P hần 5 Kết luận và kiến nghị 101
5.1 Kết luận 101
5.2 Kiến nghị 102
Tài liệu tham khảo 103
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt
TTBQ
Nghĩa tiếng Việt
Tăng trưởng bình quân
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Khu du lịch Hồ Hòa Bình
năm 2016 30
Bảng 3.2 Đặc điểm các tuyến du lịch hồ Hòa Bình 31
Bảng 3.3 Đặc điểm các điểm nghiên cứu 32
Bảng 3.4 Số lượng mẫu điều tra 34
Bảng 4.1 Ý kiến đánh giá về quy hoạch du lịch Hồ Hòa Bình 50
Bảng 4.2 Hiện trạng chỉ tiêu cấp điện trên khu vực Hồ Hòa Bình 55
Bảng 4.3 Hiện trạng công trình cấp nước sạch 55
Bảng 4.4 Đánh giá về hạ tầng du lịch Hồ Hòa Bình 57
Bảng 4.5 Hiện trạng sản phẩm du lịch các điểm nghiên cứu và cả tỉnh 59
Bảng 4.6 Đánh giá về sản phẩm du lịch Hồ Hòa Bình 59
Bảng 4.7 Hiện trạng cơ sở lưu trú của Khu du lịch Hồ Hòa Bình giai đoạn 2011 - 2017 62
Bảng 4.8 Số lượng người lao động Khu du lịch Hồ Hòa Bình qua các năm 64
Bảng 4.9 Đánh giá về các dịch vụ công cho du lịch hồ 66
Bảng 4.10 Kết quả khách du lịch đến Khu du lịch Hồ Hòa Bình giai đoạn 2011 - 2017 69
Bảng 4.11 Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch đến Hồ Hòa Bình năm 2017 68
Bảng 4.12 Kết quả tổng thu từ khách du lịch của Khu du lịch Hồ Hòa Bình giai đoạn 2011- 2017 71
Bảng 4.13 Tác động của các chính sách nếu được ban hành nhằm khuyến khích thu hút đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch Hồ Hòa Bình 72
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của dịch vụ công đối với du lịch hồ 74
Bảng 4.15 Kết quả tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch tại các điểm nghiên cứu 77
Bảng 4.16 Dự kiến nhu cầu đầu tư cho các dự án quy hoạch chi tiết phát triển du lịch Hồ Hòa Bình 84
Bảng 4.17 Dự kiến vốn đầu tư phát triển Khu du lịch Hồ Hòa Bình 88
Bảng 4.18 Nhu cầu sử dụng đất phát triển du lịch vùng lõi Khu du lịch Hồ Hòa Bình 89
Trang 8DANH MỤC BẢN ĐỒ, HÌNH, SƠ ĐỒ
Bản đồ 4.1 Hiện trạng tài nguyên du lịch hồ Hòa Bình 42
Biểu đồ 4.1 Phân vùng du khách đến Hồ Hòa Bình 43
Biểu đồ 4.2 Thời điểm khách đến du lịch Hồ Hòa Bình 44
Biểu đồ 4.3 Mục đích khách du lịch Hồ Hòa Bình 45
Biểu đồ 4.4 Cách thức tổ chức đi du lịch 45
Biểu đồ 4.5 Đối tượng khách du lịch đến Hồ Hòa Bình 46
Biểu đồ 4.6 Số lần đến Hồ Hòa Bình của du khách 46
Biểu đồ 4.7 Thời gian lưu trú của khách 47
Biểu đồ 4.8 Loại hình lưu trú khách lựa chọn 47
Hình 2.1 Một số hình ảnh hồ Louise 106
Hình 2.2 Một số hình ảnh hồ Louise 106
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bản đồ 4.1 Hiện trạng tài nguyên du lịch hồ Hòa Bình 42
Biểu đồ 4.1 Phân vùng du khách đến Hồ Hòa Bình 43
Biểu đồ 4.2 Thời điểm khách đến du lịch Hồ Hòa Bình 44
Biểu đồ 4.3 Mục đích khách du lịch Hồ Hòa Bình 45
Biểu đồ 4.4 Cách thức tổ chức đi du lịch 45
Biểu đồ 4.5 Đối tượng khách du lịch đến Hồ Hòa Bình 46
Biểu đồ 4.6 Số lần đến Hồ Hòa Bình của du khách 46
Biểu đồ 4.7 Thời gian lưu trú của khách 47
Biểu đồ 4.8 Loại hình lưu trú khách lựa chọn 47
Biểu đồ 4.9 Nhu cầu sản phẩm du lịch Hồ Hòa Bình của du khách 48
Bản đồ 4.2 Hiện trạng giao thông đường bộ khu du lịch hồ Hòa Bình 53
Biểu đồ 4.10 Đánh giá về chất lượng nhân lực của hướng dẫn viên du lịch và nhân viên phục vụ du lịch 65
Biểu đồ 4.11 Năng lực của doanh nghiệp du lịch ảnh hưởng đến phát triển du lịch 76
Biểu đồ 4.12 Ảnh hưởng của cộng đồng làm du lịch đến tâm lý của du khách 77
Sơ đồ 4.1 Dự kiến quy hoạch phân khu chức năng Khu du lịch Hồ Hòa Bình 85
Hình 2.1 Một số hình ảnh hồ Louise 106
Hình 2.2 Một số hình ảnh hồ Louise 106
Hình 2.3 Một số hình ảnh hồ Sirikit Dam 106
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Nguyễn Quốc Vũ
Tên đề tài: Giải pháp phát triển du lịch Hồ Hòa Bình
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8340410
Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, du lịch Hồ Hòa Bình cũng đang có những bước khởi sắc Tuy nhiên, việc khai thác du lịch Hồ Hòa Bình còn nhiều hạn chế, như: Hạ tầng du lịch thiếu đồng bộ; cơ sở vật chất du lịch chất lượng thấp, sản phẩm du lịch kém hấp dẫn, thiếu khu vui chơi giải trí mặt nước; khách du lịch chủ yếu là đến các điểm du lịch tâm linh đi về trong ngày, thời gian lưu trú ít; môi trường du lịch và an toàn giao thông còn nhiều bất cập; công tác xúc tiến quảng bá du lịch chưa được quan tâm; vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch chưa được phát huy; đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương còn thấp Ý thức sâu sắc được những vấn đề nêu trên, chúng tôi thấy cần phải đầu tư nghiên cứu để góp phần vào sự phát triển du lịch hồ Hoà Bình tương xứng với tiềm năng của nó Do vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển du lịch Hồ Hòa Bình”
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn trên cơ sở đánh giá tiềm năng và hiện trạng khai thác du lịch Hồ Hòa Bình thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch Hồ Hòa Bình nhằm phát triển kinh tế xã hội của các địa phương khu vực hồ cũng như kinh tế toàn tỉnh trong những năm tới
Bằng việc phân tích đánh giá số liệu thứ cấp và khảo sát các cơ quan quản lý du lịch, các doanh nghiệp và cộng đồng làm du lịch, khách du lịch và các bên liên quan khác, nghiên cứu này đã đang được kết quả sau:
Luận văn góp phần hệ thống hóa vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du lịch nói chung, du lịch hồ nói riêng, bổ sung và đưa ra một số khái niệm về phát triển du lịch hồ, vai trò, đặc điểm của du lịch hồ Khái quát được một số kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam và các nước trên thế giới trong việc phát triển du lịch hồ, từ đó rút
ra bài học kinh nghiệm cho địa phương để công tác phát triển du lịch Hồ Hòa Bình đạt hiệu quả hơn
Thực trạng phát triển du lịch Hồ Hòa Bình cho thấy tiềm năng du lịch của Hồ rất lớn (thiên nhiên ưu đãi, phong cảnh đẹp, khí hậu trong lành…) Mặc dù hạ tầng du lịch thiếu đồng bộ; cơ sở vật chất du lịch chất lượng thấp, sản phẩm du lịch kém hấp dẫn, không có các chương trình, các hoạt động hấp dẫn cho khách du lịch tại các điểm thăm
Trang 11quan, nhưng lượng khách đến Hồ Hòa Bình vẫn rất đông và số lượng đến nhiều lần chiếm tỉ lệ khá cao Lượng khách du lịch Hồ Hòa Bình hằng năm vẫn tăng 23,4% Tổng thu từ khách du lịch của Khu du lịch Hồ Hòa Bình năm 2017 là 123,7 tỷ đồng, chiếm 10,17% tổng thu từ du lịch trong toàn tỉnh
Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch Hồ Hòa Bình bao gồm: Ảnh hưởng của thể chế chính sách, năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, ảnh hưởng của năng lực doanh nghiệp du lịch, sự tham gia của cộng đồng trong phát triển
du lịch, sự phối hợp của các cấp các ngành
Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Hồ Hòa Bình gồm: Đổi mới công tác quy hoạch theo định hướng thị trường; đầu tư hạ tầng cho phát triển du lịch; phát triển sản phẩm du lịch và tuyến du lịch; Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch; Phát triển các dịch vụ công cho du lịch; Đổi mới một số chính sách về phát triển du lịch; Nâng cao năng lực của doanh nghiệp du lịch; Phát huy sự tham gia của cộng đồng và tăng cường phối kết hợp
Trang 12THESIS ABSTRACT Full name: Nguyen Quoc Vu
Thesis title: Solutions to develop tourism in Hoa Binh Lake
Education organization: Vietnam National University of Agriculture
Along with the development and general direction of national tourism, tourism of Hoa Binh Lake is also taking off However, the tourism exploitation of Hoa Binh Lake is still limited, such as tourism infrastructure is not synchronized; low quality tourist facilities, less attractive tourist products, lack of amusement park; Tourists mainly come to the spiritual destinations only one day, the duration of stay
is less; Tourism environment and traffic safety are still inadequate; Tourism promotion has not been paid attention; the role of community in tourism development has not been promoted; The contribution of tourism to local socio-economic development remains low Therefore, I choose the topic: "Solutions to develop tourism in Hoa Binh Lake"
The research objective is based on the assessment of the potential and current status of tourism in Hoa Binh Lake, Hoa Binh province and propose solutions to effectively exploit the potential Hoa Binh Lake's tourism aims to develop the socio-economy of local areas of the lake as well as the whole province in the coming years
By analyzing secondary data and surveying tourism agencies, businesses and travel communities, and other stakeholders, this study has been finding some results:
The thesis contributes to the systematization of theoretical issues related to tourism development in general, lake tourism in particular, adding and introducing some concepts of lake tourism development, roles and characteristics of tourism’ lake On the other hand, it gives the experiences of some areas in Vietnam and other countries in the world to develop lake tourism, from which to give some lessons for Hoa Binh province
to develop tourism more effectively
The tourism potential of Hoa Binh lake is very large (favorable nature, beautiful scenery, fresh climate ) Although tourism infrastructure is incomplete; low quality tourism materials, less attractive tourist products, no attractive programs and activities for tourists at tourist sites, but the number of visitors to Hoa Binh Lake is still very high, especially the number of tourists come to this lake many times accounted for quite high proportion The number of tourists in Hoa Binh Lake annually increases by 23.4%
Trang 13Total revenue from tourists in the Hoa Binh Lake in 2017 is 123.7 billion, accounting for 10.17% of total revenue from tourism in the province
Factors influencing Hoa Binh's tourism development include: The impact of policy institutions, the capacity of state management agencies in tourism, the impact of tourism business capacity, the role of local communities in tourism development and the coordination of all government levels in this province
Some solutions to develop tourism in Hoa Binh Lake following that: Renovation
of tourism planning based on the market orientation; Infrastructure investment for tourism development; Develop tourism products and routes; Develop human resources for tourism; Development of public services for tourism; Renovation of a number of policies on tourism development; Improve the capacity of tourism enterprises; Promote community participation and strengthen coordination
Trang 14P HẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh
mẽ, du lịch đang phát triển không ngừng Hiện nay du lịch chiếm khoảng 10% hoạt động kinh tế thế giới và là một trong những nguồn tạo công ăn việc làm chính Tuy nhiên du lịch cũng có tác động lên môi trường tự nhiên và nhân tạo, sức khỏe và văn hóa của dân cư sở tại Đối với Việt Nam, du lịch không chỉ tạo ra nguồn thu rất lớn cho nền kinh tế quốc dân mà còn góp phần đưa bạn bè quốc tế đến với nước ta, tạo ra mối quan hệ toàn cầu về kinh tế, văn hoá và thúc đẩy việc quảng bá sâu rộng hình ảnh Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới
Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, du lịch
Hồ Hòa Bình cũng đang có những bước khởi sắc Trong Chiến lược và Quy hoạch phát triển du lịch từ Trung ương tới địa phương đều khẳng định vai trò quan trọng của Hồ Hòa Bình Đặc biệt, Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày
01/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đến năm 2030, xác định Hồ Hòa Bình nằm trong danh mục các địa điểm tiềm năng phát triển Khu du lịch quốc gia, là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Trong những năm qua, số khách du lịch và thu nhập từ du lịch tại Khu du lịch Hồ Hoà Bình tăng trưởng khá, cụ thể: Năm 2010, đón 197.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế là 14.160 lượt, khách nội địa 182.840 lượt; thu nhập du lịch đạt 30 tỷ đồng Năm
2015, đón 409.500 lượt khách, trong đó khách quốc tế 18.631 lượt, nội địa đạt 390.869; thu nhập du lịch đạt 63,3 tỷ đồng Đến năm 2017 đón khoảng 540.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế 25.000 lượt, khách nội địa đạt 515.000 lượt; thu nhập du lịch đạt 96 tỷ đồng
Tuy nhiên, việc khai thác du lịch Hồ Hòa Bình còn nhiều hạn chế, như:
Hạ tầng du lịch thiếu đồng bộ; cơ sở vật chất du lịch chất lượng thấp, sản phẩm
du lịch kém hấp dẫn, thiếu khu vui chơi giải trí mặt nước; khách du lịch chủ yếu
là đến các điểm du lịch tâm linh đi về trong ngày, thời gian lưu trú ít; môi trường
du lịch và an toàn giao thông còn nhiều bất cập; công tác xúc tiến quảng bá du lịch chưa được quan tâm; vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch chưa
Trang 15được phát huy; đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương còn thấp, chỉ tính riêng của năm 2016, toàn tỉnh thu nhập từ du lịch là 1.038,3 tỷ đồng, nhưng hồ Hòa Bình là khu du lịch trọng điểm của tỉnh thì thu nhập chỉ đạt 80 tỷ đồng, chiếm 7,7% thu nhập từ du lịch trong toàn tỉnh; thu nhập bình quân đầu người trong khu vực Hồ Hòa Bình năm 2016 đạt khoảng 22,3 triệu đồng/năm, còn thấp hơn so với mức bình quân chung của tỉnh (29,94 triệu đồng/người/năm)
Công tác quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch chưa thống nhất, thiếu tính đồng bộ, có mặt còn chồng chéo, hiệu quả thấp Mặc dù, Quy hoạch phát triển du lịch Hồ Hòa Bình giai đoạn 2006 - 2020 được Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình phê duyệt từ năm 2006, song các định hướng phát triển chưa được hình thành rõ nét, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chưa phù hợp với xu thế và tình hình mới
Từ thực trạng và những yêu cầu phát triển thực tế hiện nay, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp phát triển du lịch Hồ Hòa Bình là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết để xây dựng các quy hoạch chi tiết, phân khu chức năng, đầu tư hạ tầng cơ sở và có chính sách thu hút đầu tư phát triển Hồ Hòa Bình đáp ứng đủ tiêu trí được công nhận là Khu du lịch quốc gia, phù hợp với quy định của Luật Du lịch, tạo cơ sở cho việc quản lý, thu hút đầu tư, khai thác có hiệu quả những tiềm năng du lịch, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững cho du lịch Hồ Hòa Bình nói riêng và du lịch tỉnh Hòa Bình nói chung
Ý thức sâu sắc được những vấn đề nêu trên, chúng tôi thấy cần phải đầu tư nghiên cứu để góp phần vào sự phát triển du lịch hồ Hoà Bình tương xứng với
tiềm năng của nó Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp
Trang 161.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch nói chung, phát triển du lịch hồ nói riêng
b Về không gian
Không gian nghiên cứu của Đề tài được giới hạn trong phạm vi vùng lõi của Hồ Hòa Bình, có liên quan đến một số diện tích tự nhiên của thành phố Hòa Bình và 4 huyện: Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu
Ranh giới khu du lịch Hồ Hòa Bình được xác định là các xã vùng lòng
hồ, bao gồm: Xã Thái Thịnh, phường Thái Bình thuộc thành phố Hòa Bình; xã Bình Thanh, Thung Nai thuộc huyện Cao Phong; xã Ngòi Hoa thuộc huyện Tân Lạc; xã Tân Dân, Tân Mai, Phúc Sạn, Đồng Bảng và Ba Khan thuộc huyện Mai Châu; xã Vầy Nưa, Hiền Lương và Toàn Sơn thuộc huyện Đà Bắc;
Diện tích du lịch Hồ Hòa Bình khoảng 52.200 ha, trong đó vùng lõi khoảng 1.200 ha (không bao gồm diện tích mặt nước)
Trang 17c Về thời gian
Số liệu thứ cấp nghiên cứu trong 3 năm, từ năm 2015 đến năm 2017
Số liệu sơ cấp được điều tra năm 2018
Thời gian thực hiện luận văn từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2018
1.4 CÂU H ỎI NGHIÊN CỨU
Tài nguyên du lịch gồm những gì, đã đánh giá chưa? Biết được sức
chứa chưa?
Công tác quy hoạch phát triển du lịch Hồ đã có chưa? Đã tốt chưa? Mạnh yếu?
Đầu tư hạ tầng cho phát triển du lịch đã tốt chưa? Đủ chưa? Ai làm? Xã
hội hóa? Khu vực công làm gì? (Đường, cầu…) Khu vực tư làm gì (khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng)…
Phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch gồm những gì (nghỉ dưỡng, chèo thuyền, câu cá, thủ công mỹ nghệ, lưu niệm…)? Đã đáp ứng nhu cầu, nếu phát triển?
Phát triển nguồn nhân lực cho du lịch: Nhân lực cho du lịch hiện nay bao nhiêu người, đã tốt chưa, đáp ứng yêu cầu chưa? Nếu phát triển, ai làm? Khu vực công làm gì? (đào tạo, tập huấn, cấp chứng nhận ) Khu vực tư làm gì (đào tạo,
sử dụng, quản trị nhân lưc)
Phát triển các dịch vụ công cho du lịch Hồ Hòa Bình
Kết quả phát triển du lịch Hồ: Số du khách đến hồ qua các năm, số ngày lưu trú / khách, số chi tiêu bình quân của khách, tổng doanh thu về du lịch
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch hồ: Thể chế chính sách, năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, năng lực của doanh nghiệp du lịch, sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch, sự phối hợp của các cấp các ngành
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn góp phần hệ thống hóa vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du
lịch nói chung, du lịch hồ nói riêng, bổ sung và đưa ra một số khái niệm về phát triển du lịch hồ, vai trò, đặc điểm của du lịch hồ Khái quát được một số kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam và các nước trên thế giới trong việc phát triển du lịch hồ, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho địa phương để công tác phát triển du lịch Hồ Hòa Bình đạt hiệu quả hơn
Trang 18Đề tài được thực hiện trong khu vực Hồ Hòa Bình, là Khu du lịch trọng điểm của tỉnh Hòa Bình trong những năm tới Luận văn cung cấp thực trạng phát triển du lịch Hồ Hòa Bình, đồng thời đánh giá mặt đã đạt được, chưa đạt được, tìm ra nguyên nhân cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển du
lịch Hồ Hòa Bình, từ đó đưa ra các giải pháp cũng như tìm ra hướng giải quyết góp phần thúc đẩy hơn nữa sự phát triển du lịch Hồ Hòa Bình
Trang 19P HẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2.1 C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1.1 Khái niệm, bản chất phát triển du lịch
2.1.1.1 Khái niệm du lịch
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức
thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người
du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề
và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm,
ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Ở Việt Nam, theo Luật Du lịch năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” (Quốc hội, 2005)
2.1.1.2 C ác bộ phận hợp thành và đặc điểm sản phẩm du lịch
a Khái niệm sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi những bộ phận hợp thành Đó là dịch
vụ lưu trú, dịch vụ đi lại, dịch vụ ăn uống, dịch vu giải trí, dịch vụ mua sắm v.v… Những du khách khác nhau bao giờ trong chuyến đi du lịch cũng có những nhu cầu khác nhau Điều chung nhất là sản phẩm du lịch mang lại cho họ là sự hài lòng Sự hài lòng này không phải là sự hài lòng như khi người ta mua một loại sản phẩm vật chất cụ thể mà là sự hài lòng về khoảng thời gian và cảm giác của mình đã đạt được:
“Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và những phương tiện vật chất nhằm cung cấp cho du khách một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” (Đỗ Hải Yến, 2009)
b Các bộ phận hợp thành của sản phẩm du lịch
Trang 20- Dịch vụ vận chuyển: Đưa du khách từ vùng cư trú đến nơi du lịch, bao gồm nhiều loại phương tiện vận chuyển du khách như: Ôtô, tàu lửa, máy bay…
- Dịch vụ lưu trú: Đảm bảo cho du khách nơi ăn, ở trong quá trình thực hiện chuyến du lịch của mình và du khách có thể chọn một trong những khả năng sau: Khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ cơ quan, nhà cha mẹ, bạn bè, cắm trại…
- Dịch vụ mua sắm: Đi du lịch mua sắm cũng là một cách giải trí Nhưng đồng thời, việc nhiều du khách mang về một ít vật kỉ niệm của chuyến đi là không thể thiếu được Nó bao gồm các hình thức mua sắm tại quầy hàng lưu niệm, hàng tạp hoá, hàng mỹ nghệ
Nhìn chung, du lịch là ngành kinh tế mang tính tổng hợp cao Toàn bộ kỹ nghệ du lịch dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, những công trình kiến trúc, những tài nguyên văn hoá để thu hút khách như: Các điều kiện thuận lợi về khí hậu, về tự nhiên, các di tích lịch sử, di sản văn hoá, các dịch
vụ như ăn uống, vui chơi giải trí v.v…
Ngày nay, hiện tượng đi du lịch đã trở thành phổ biến Sự kết nối tất cả các bộ phận hợp thành của sản phẩm du lịch và thương mại hoá như: Công tác marketing, đại lý phân phối… có ý nghĩa rất quan trọng Đặc biệt là sự đứng ra tổ chức kết nối và thương mại hoá của T.O (Tour Operators) đã tạo kiện thúc đẩy sự phát triển của du lịch Các dịch vụ này được gọi là dịch vu trung gian
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ (có ngày, có mùa, có tháng du khách đến rất đông và ngược lại) Tính thời vụ này chủ yếu bị ảnh hưởng bởi thời gian nghỉ của các cán bộ, công nhân viên, sinh viên, học sinh… Cũng như tính chất của vùng du lịch, đặc điểm khí hậu của từng vùng
Sản phẩm du lịch chủ yếu là sản phẩm phi vật chất, do đó sản phẩm du lịch không có nhãn hiệu Vì vậy không có độc quyền về sản phẩm du lịch
Trang 21Như vậy, với tính chất đặc thù riêng vốn có, sản phẩm du lịch khác xa các sản phẩm vật chất cụ thể của ngành sản xuất vật chất khác Những đặc điểm này
đã làm nên tính đặc thù của hoạt động du lịch
2.1.1.3 T iềm năng du lịch
Theo từ điển tiếng Việt thì “tiềm năng” có nghĩa là: Khả năng, năng lực tiềm tàng Còn “tiềm tàng” lại có nghĩa là trạng thái bên trong chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực (nguồn sức mạnh tiềm tàng, khai thác những khả năng tiềm tàng…) Tiềm năng là một thuật ngữ mang tính khá trừu tượng, chúng ta
có thể hiểu “tiềm năng” là khả năng, năng lực ẩn giấu có thể khai thác được theo một mục đích nào đó
Trong hoạt động du lịch, khái niệm về tiềm năng du lịch được nhiều giáo trình định nghĩa Trên khía cạnh có tính học thuật khái quát thì tiềm năng du lịch là: “Những tài nguyên du lịch chưa khai thác hoặc chưa được khai thác hết, cần phải có thời gian và tiền bạc để đầu tư tôn tạo và đưa vào
sử dụng” Còn trên khía cạnh có tính nghiệp vụ cụ thể, giáo trình thống kê du lịch đã định nghĩa: “Tiềm năng du lịch của một nước (hoặc vùng lãnh thổ) là những điều kiện tự nhiên và những di sản lịch sử thuận lợi cho việc xây dựng những cơ sở du lịch Ngoài ra, tiềm năng du lịch còn có trong các công trình xây dựng lớn và đẹp, những quần thể kiến trúc hiện đại Tiềm năng có thể được khai thác một phần hoặc chưa được khai thác do những hạn chế nhất định” (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006)
Người ta thường phân chia tiềm năng du lịch theo các loại hình sau: Tiềm năng ở dạng tài nguyên tự nhiên; tiềm năng ở dạng lịch sử; tiềm năng ở những công trình đương đại xuất hiện do quá trình xây dựng kinh tế và văn hoá đã và đang diễn ra Tiềm năng còn có ở phần nguồn khách du lịch như các thị trường tiềm năng chưa khai thác…
2.1.1.4 T ài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch Là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Luật du lịch
Việt Nam, 2005)
Trang 22Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế và đời sống con người Theo nghĩa rộng “tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu (materials) năng lượng (energy), thông tin (information) có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và
sự phát triển của mình” Những tài nguyên nào có thể sử dụng cho phát triển du lịch đều coi là tài nguyên du lịch “Tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ
du lịch của du khách được ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế
và lợi ích xã hội thì đều gọi là tài nguyên du lịch” (Nguyễn Bá Lâm, 2007)
Tài nguyên thường được phân chia thành tài nguyên tự nhiên (natural resources) gắn liền với các yếu tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn (human resources) gắn liền với các yếu tố con người và xã hội Trong du lịch, cũng có rất nhiều khái niệm về tài nguyên du lịch nhưng nhìn chung có thể hiểu một cách khái quát nhất: “Tài nguyên du lịch bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành nên sự hấp dẫn và lôi cuốn của du lịch nhằm thoả mãn những nhu cầu đặc trưng của khách du lịch, chúng là nguyên liệu cho một chuyến du lịch, là yếu tố quan trọng đầu tiên cho việc phát triển du lịch của một địa phương, một quốc gia” (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006)
Tài nguyên du lịch là một trong những điều kiện quan trọng bậc nhất để hình thành nên nguồn cung trong du lịch Nó ảnh hưởng lớn đến sức hấp dẫn, khả năng thu hút khách của điểm du lịch Một địa phương hay quốc gia có tài nguyên
du lịch phong phú và đa dạng sẽ có điều kiện lớn để phát triển hoạt động du lịch Tuy nhiên, đây mới chỉ là “khả năng” còn để biến nó thành “hiện thực” thì phải cần có sự đầu tư hợp lý và đồng bộ cho du lịch phát triển
2.1.1.5 Phát triển du lịch hồ
Phát triển du lịch hồ là phát triển du lịch sinh thái bền vững dựa vào môi trường nước, bờ và các đảo, có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường thiên nhiên, các giá trị văn hóa của cộng đồng cư dân đang sinh sống ở vùng hồ Du lịch hồ chú trọng đề cao sự tham gia tích cực của người dân địa phương vào việc hoạch định quản lý và khai thác một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát triển bền vững, tạo điều kiện mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho toàn cộng đồng
Phát triển du lịch hồ có thể chia làm 3 khu vực không gian hoạt động cơ bản: Khu vực bờ và mép nước; khu vực mặt nước và các đảo; khu vực dưới mặt nước và đáy hồ
Trang 23Khu vực bờ và mép nước: Phân bố không gian từ mép nước trở vào là nơi
thiết lập các cơ sở hạ tầng dịch vụ cho toàn hoạt động du lịch hồ (xây dựng các khu nghỉ dưỡng sinh thái, resort, khách sạn, các băng rừng cây xanh tạo sinh cảnh, đường xá, bến cảng, nhà hàng,…) Các loại hình khai thác tổng hợp bao gồm: du lịch khám phá đồi, núi, rừng, nghỉ dưỡng, tham gia các hoạt động thể thao, giải trí trên sông, hồ và trên bờ, kết hợp tham gia các loại hình du lịch văn hóa với cộng đồng cư dân (lễ hội, homestay ở các bản làng ven hồ…)
- Khu vực mặt nước và các đảo: Đây là vùng có không gian địa lý rộng
lớn, toàn bộ mặt nước và các đảo trên hồ Đối với khu vực mặt nước có thể tổ chức khai thác các loại hình: Thưởng ngoạn, câu cá bằng thuyền; tham gia đánh bắt thủy sản trên sông, hồ, đua thuyền, các môn thể thao mạo hiểm trên hồ,… Đối với các đảo, đặc biệt với những đảo lớn có cư dân hình thành lâu đời với các làng vạn chài thì khai thác các loại hình du lịch sinh thái tự nhiên
và văn hóa như ở đất liền Đối với các đảo hoang, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và đẹp có thể tổ chức tham quan cảnh đẹp, khám phá, cắm trại, câu
cá, lặn, du lịch mạo hiểm,…
- Khu vực dưới mặt nước và đáy hồ: Để có thể tiếp cận, đòi hỏi phải có
thiết bị chuyên dụng, hiện nay chỉ mới khai thác có mức độ, các loại hình khai thác phổ biến gồm: Lặn khảo sát khám phá, nghiên cứu khoa học…
2.1.2 Vai trò của phát triển du lịch hồ
2.1.2.1 Vai trò của phát triển du lịch nói chung
Về kinh tế: Du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua việc
tiêu dùng của khách du lịch, góp phần làm sống động nền kinh tế ở nơi du lịch, từ
đó kích thích tăng cường huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào chu chuyển
Hoạt động du lịch có tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế như: Nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thủ công mỹ nghệ… Ngoài ra
du lịch phát triển còn tác động đến sự phát triển của y tế, văn hoá giao thông vận tải, thương mại… góp phần khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, tăng thu nhập quốc dân
Ngoài ra, hoạt động du lịch quốc tế còn xuất khẩu được một số mặt hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm lương thực thực phẩm của nghành nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản, đóng góp nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước
Trang 24Như vậy, du lịch có ý nghĩa rất lớn trong nền kinh tế Phát triển du lịch đã mang lại hiệu quả cho nền kinh tế quốc gia Đối với các địa phương, phát triển du lịch còn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khôi phục và phát triển nhiều nghành nghề truyền thống
Về xã hội: Du lịch phát triển tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội,
tăng thu nhập cho người lao động và nhân dân địa phương Thông thường tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn thường tập trung nhiều ở nông thôn, vùng núi
xa xôi, vùng ven biển hay những vùng nguyên sơ khác Khi có kế hoạch để khai thác tiềm năng tài nguyên để phát triển du lịch, cần thiết phải có đầu tư về hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông điện nước, bưu chính viễn thông, nhờ phát triển du lịch sẽ góp phần thay đổi bộ mặt vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và làm giãn dân cư từ các khu dân cư tập trung từ các đô thị ra các vùng du lịch
Phát triển du lịch quốc tế còn là phương tiện quảng bá hữu hiêụ cho đất nước làm du lịch và mở rộng củng cố mối quan hệ đầu tư quốc tế Du lịch nội địa phát triển tạo điều kiện để tái sản xuất sức lao động cho nhân dân, góp phần tăng năng suất lao động
Phát triển du lịch còn tăng cường mở rộng giao lưu văn hoá thông qua các cuộc giao tiếp giữa khách du lịch với người bản xứ hiểu biết lẫn nhau về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, đạo đức lối sống, chế độ xã hội
Du lịch là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, từ đó người dân nâng cao truyền thống dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Về môi trường sinh thái: Phát triển du lịch đã tạo điều kiên bảo vệ, tôn tạo
các công trình kiến trúc nghệ thuật, các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh,
mở rộng hạ tầng cơ sở, tạo môi trường cảnh quan ngày càng xanh - sạch - đẹp, góp phần bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường
Du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết của khách du lịch về môi trường tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào việc bảo tồn, góp phần bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc
2.1.2.2 Vai trò của phát triển du lịch hồ
Phát triển du lịch hồ góp phần khai thác được thế mạnh, nguồn lực của địa phương: Các địa phương luôn có các thế mạnh về tài nguyên du lịch, văn hóa
vật thể (cảnh quan, hồ, núi sinh thái ) và phi vật thể (văn hóa, truyền thống, lễ
Trang 25hội ) Nếu phát triển được du lịch hồ sẽ tận dụng được thế mạnh của địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
Phát triển du lịch hồ góp phần thúc đẩy được không những ngành du lịch mà các ngành dịch vụ khác phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cư dân sống trong vùng hồ và khu vực phụ cận: Ngành du lịch phát triển,
không những tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch có cơ hội vươn lên mà còn tạo điều kiện cho cộng đồng cư dân, nơi có tài nguyên du lịch được hưởng lợi Du lịch hồ phát triển kéo theo các ngành phụ trợ khác như nghỉ dưỡng, khách sạn, ăn uống, vui chơi, giải trí gắn với hệ sinh thái lòng hồ phát triển Chính tác động này sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương phù hợp
2.1.3 Đặc điểm phát triển du lịch hồ
Phát triển du lịch là phát triển ngành công nghiệp không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách chưa biết Phát triển du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Hiện nay ngành du lịch đang phát triển mạnh ở các nước thuộc thế giới thứ ba Nhu cầu về du lịch càng tăng thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được coi trọng Có một dạng du lịch nữa, đó là du lịch xúc tiến thương mại, vừa đi du lịch vừa kết hợp làm ăn cũng rất phổ biến tại Việt Nam (Bách khoa toàn thư mở, 2017)
Theo Nguyễn Duy Mậu (2012), du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp và
có một số đặc điểm sau:
Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch, bất cứ một du khách nào, với động cơ và hình thức du lịch ra sao thì yêu cầu có tính phổ biến nhất phải đạt được đối với họ là được tham quan, vui chơi, giải trí, tìm hiểu, thưởng thức các giá trị về thiên nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội… của một xứ sở Đó là
Trang 26các bãi biển đầy ánh nắng, các thác nước, các núi non, hang động kỳ thú, các giống loài động thực vật quý hiếm, các thành quách lâu đâì, các đền chùa với nhiều kiến trúc cổ và những ngày lễ hội, các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn, các rừng quốc gia, các khu di chỉ… tài nguyên du lịch có loại do thiên nhiên tạo ra, nhưng có loại do quá trình phát triển lịch sử qua nhiều thế hệ của con người tạo
ra Đây chính là cơ sở khách quan để hình thành nên các tuyến, điểm du lịch
Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách du lịch Những người đi du lịch dù thuộc đối tượng nào và với nguồn tiền của cá nhân hay tập thể thì trong thời gian đi du lịch, mức tiêu dùng của họ thường cao hơn so với mức tiêu dùng bình quân của đại bộ phận dân cư Chưa kể một bộ phận lớn khách du lịch quốc tế thuộc tầng lớp thượng lưu, những thương gia, những nhà kinh doanh, trí thức, chính khách… giàu có Vì vậy phát triển du lịch là phát triển ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ cho các nhu cầu nghỉ ngơi,
đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, mua sắm và các dịch vụ khác của khách sao cho vừa thuận tiện, an toàn, vừa sang trọng, lịch sự và có khả năng đáp ứng các nhu cầu dịch vụ ở mức độ cao cấp
Du lịch là ngành ngoài kinh doanh, dịch vụ ra còn phải bảo đảm nhu cầu
an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội cho du khách, cho địa phương và các nước đón nhận du khách
Ngành du lịch là một ngành kinh tế - xã hội- dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các dạng nhu cầu khác Như vậy, du lịch là một ngành đặc biệt, có nhiều đặc điểm và tính chất pha chộn nhau tạo thành một tổng thể phức tạp Hoạt động của ngành du lịch vừa mang đặc điểm của một ngành kinh tế, vừa mang đặc điểm của một ngành văn hóa xã hội
Riêng du lịch hồ có đặc điểm là: Tài nguyên du lịch gồm cảnh quan sinh thái của hồ, xung quanh hồ, và cộng đồng cư dân sống ở quanh hồ Các yếu tố này quy định các sản phẩm du lịch, hình thức du lịch khác với du lịch ở các điểm khác như: Du lịch hồ với tính chất đặc thù là du lịch sinh thái gắn với văn hóa dân tộc, trong đó nổi bật là các giá trị cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, tín ngưỡng, ẩm thực của đồng bào Du khách có thể chu du trên những con thuyền, lướt cùng những chiếc ca nô, hay thong dong dạo bộ ven sông, ven hồ để thưởng thức những phong cảnh đẹp trên sông, gặp gỡ chuyện trò tìm hiểu văn hóa của cư dân, tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với sông nước
Trang 272.1.4 Nội dung nghiên cứu giải pháp phát triển du lịch Hồ
2.1.4.1 Tài nguyên du l ịch và thực trạng khách du lịch
a Tài nguyên du l ịch
Tài nguyên tự nhiên: Đề tài tập trung nghiên cứu các tài nguyên tự nhiên trong khu vực Hồ Hòa Bình để phát triển du lịch như: Vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn, các đảo… trong khu vực hồ
Tài nguyên nhân văn: Nghiên cứu các tài nguyên nhân văn như: Văn hóa bản địa, các địa điểm du lịch tâm tâm linh, các sản phẩm truyền thống,
ẩm thực…
Đối với du lịch, địa hình còn tạo nên phong cảnh…Địa hình miền núi, vùng sông hồ còn có không khí trong lành, có nhiều đối tượng hoạt động du lịch như suối, thác, hang động, sinh vật và các dân tộc ít người
b Thực trạng khách du lịch
Đánh giá về thực trạng khách du lịch là đánh giá về động cơ du lịch, sở thích, thị hiếu và nhu cầu của du khách, nguyên nhân tâm lý khuyến khích con người thực hiện du lịch, đi du lịch tới nơi nào, thường được biểu hiện ra bằng các hình thức nguyện vọng, hứng thú, yêu thích, săn lùng điều mới lạ, từ đó thúc đẩy nảy sinh hành động du lịch Nhu cầu du lịch của con người là hết sức đa dạng, phong phú, chính vì vậy cần phải tiến hành phân loại các loại hình du lịch, chuyên môn hóa các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn cho sự lựa chọn và đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của du khách
2.1.4.2 Thực trạng công tác quy hoạch du lịch Hồ
Trong khuân khổ đề tài này, chỉ giới hạn định hướng chung nhu cầu Quy hoạch phát triển các phân khu quan trọng nằm trong vùng lõi Hồ có tài nguyên
du lịch hấp dẫn, đảm bảo về quy mô diện tích để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và các dịch vụ cần thiết phục vụ các nhu cầu đa dạng của du khách
2.1.4.3 Th ực trạng đầu tư phát triển hạ tầng du lịch
Cơ sở hạ tầng du lịch là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong các chuyến hành trình của họ Theo cách hiểu này, cơ sở hạ tầng du lịch bao
Trang 28gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc bản thân ngành du lịch và cơ sở vật chất
kỹ thuật của các ngành khác của cả nền kinh tế quốc dân tham gia vào việc khai thác tiềm năng du lịch như: hệ thống đường xá, cầu cống, bưu chính viễn thông, điện nước, Những yếu tố này được gọi chung là các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
xã hội Trong đó những yếu tố cơ sở hạ tầng xã hội còn được xem là yếu tố đảm bảo điều kiện chung cho phát triển du lịch
Để có thể tiến hành khai thác các tài nguyên du lịch phải tạo được cơ sở
hạ tầng kỹ thuật tương ứng Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch được tạo ra
là yếu tố quan trọng tác động đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của du khách bởi năng lực và tính tiện ích của nó Có ba yếu tố cầu thành để tạo nên sản phẩm và dịch vụ du lịch thỏa mãn nhu cầu của du khách, đó là: tài nguyên du lịch, cơ sở
hạ tầng kỹ thuật du lịch và lao động trong du lịch Như vậy, cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch là yếu tố quan trọng, không thể thiếu Con người bằng sức lao động của mình, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật để khai thác các giá trị của tài nguyên
du lịch tạo ra dịch vụ, hàng hóa du lịch cung ứng cho du khách Ngoài yếu tố tài nguyên thì tính đa dạng, phong phú, hiện đại, hấp dẫn của cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng tạo nên tính đa dạng, phong phú, hấp dẫn của dịch vụ du lịch Một quốc gia, một địa phương muốn phát triển du lịch tốt thì phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch tốt Cho nên, có thể nói rằng trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch là điều kiện, đồng thời cũng là sự thể hiện trình độ phát triển
du lịch của một đất nước, một địa phương
Trách nhiệm của nhà nước trong đầu tư hạ tầng xã hội: Đầu tư cơ sở
hạ tầng xã hội góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, cải thiện điều kiện dân sinh cho cộng đồng dân cư, đồng thời đảm bảo thúc đẩy phát triển du lịch, đặc biệt là tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư và khách
du lịch bao gồm: Hệ thống đường giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy, ), hệ thống cung cấp điện, hệ thống bưu chính viễn thông, hệ thống cấp thoát nước…
Trách nhiệm đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch: Toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật tạo ra để khai thác các tiềm năng
du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Chúng bao gồm hệ thống khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển,…và đặc biệt, nó bao gồm cả các công trình kiến trúc bổ trợ
Trang 292.1.4.4 Th ực trạng sản phẩm và tuyến du lịch
Phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch nhằm mục đích: Thỏa mãn đầy đủ
nhất các nhu cầu của khách tại điểm đến, nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nhiều việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương và phát triển một cách bền vững Có rất nhiều yếu tố quan trọng liên quan đến phát triển sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch, đó là: Sản phẩm du lịch
và dịch vụ du lịch không phải chỉ là một hoạt động được thực hiện riêng rẽ mà là
một quá trình gắn kết với nhau của nhiều sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ do các
chủ thể tại điểm đến cung cấp cho khách Một sản phẩm và dịch vụ du lịch trong
một điểm đến là tập hợp của nhiều trải nghiệm mà khách có thể nhận được không
chỉ là các cơ sở lưu trú để ở, các nhà hàng để ăn, uống, các điểm tham quan, các
bảo tàng, công viên, nhà hàng, rạp chiếu phim, cửa hàng mua sắm… mà bao gồm
cả các phương tiện vận chuyển, sự giao tiếp với cộng đồng dân cư, cách ứng xử
của các cấp chính quyền Vì thế, phạm vi và quy mô của sản phẩm du lịch và
dịch vụ du lịch là những gì thu hút khách du lịch đến và phục vụ khách với chất lượng cao
Mặt khác, phát triển sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch của một điểm đến không chỉ phục vụ cho khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa mà cả đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư xung quanh
Phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch là một quá trình mà trong đó các giá
trị của một địa điểm cụ thể được sử dụng tối đa để đáp ứng nhu cầu của khách du
lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và người dân
Nói tóm lại, theo TS Trịnh Xuân Dũng, 2015: Sản phẩm du lịch bao gồm
các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách (nghỉ dưỡng, chèo thuyền, câu cá, thủ công mỹ nghệ, quà lưu niệm…), nó được tạo nên
bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại
một vùng hay một địa phương nào đó Còn dịch vụ du lịch là việc cung cấp các
dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
2.1.4.5 Tình hình nhân l ực của ngành du lịch
Nguồn lực con người là yếu tố quyết định mọi hoạt động - Điều mang tính
“chân lý” này thường được nhắc đến và được khẳng định ở mọi bình diện từ một
tổ chức nhỏ đến quốc gia lớn, từ một khu vực đến toàn cầu Nhưng không phải ở
Trang 30đâu, bất cứ ai và khi nào cũng nhận thức đầy đủ về tính quyết định của nguồn nhân lực và giành nguồn lực cho việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, do nguồn lực không có nhiều lại bị các nhiệm vụ cấp bách khác chi phối Hiện tượng phổ biến khi phân bổ nguồn lực cho chiến lược, chính sách phát triển thường bao giờ cũng ưu tiên cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
và chi thường xuyên, còn nguồn lực cho đào tạo nguồn nhân lực thường xếp vào hàng thứ yếu Đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch của nước ta hiện nay cũng không nằm ngoài tình trạng như vậy
Theo TS Trịnh Xuân Dũng (2015): Xây dựng một khách sạn 5 sao đã khó, nhưng đào tạo được con người đủ trình độ để vận hành khách sạn 5 sao còn khó hơn gấp bội, nếu trình độ của con người chỉ đạt 2 sao thì sau 2 năm khách
sạn sẽ xuống cấp chỉ còn 2 sao Điều này nói lên rằng, việc xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ du lịch (phần cứng) quan trọng, nhưng quan trọng hơn là nguồn nhân lực phục vụ du lịch (phần mềm) Xuất phát từ điều kiện hiện nay của nước ta, phát triển nguồn nhân lực du lịch đòi hỏi không chỉ đơn thuần là huy động nguồn lực tài chính, mà quan trọng hơn là nguồn kiến thức, kinh nghiệm,
nhất là đội ngũ chuyên gia, giảng viên, giáo viên Mặc dù có sự quan tâm của Nhà nước, sự hỗ trợ của quốc tế, song sự tiếp thu, truyền tải những kinh nghiệm,
kiến thức vào các cơ sở đào tạo và cuối cùng đến người làm du lịch là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực du lịch là
một hoạt động phải được ưu tiên, khuyến khích Ưu tiên ngay trong việc hoạch định chính sách phát triển du lịch và do đó cũng phải ưu tiên trong việc phát triển nguồn nhân lực du lịch
Để có được nhân lực du lịch cả về chất và lượng đáp ứng được các yêu
cầu trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay thì việc liên kết, hợp tác và hội
nhập quốc tế tạo sự liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa "Nhà nước - Nhà trường - Nhà
s ử dụng lao động" trong quá trình phát triển nhân lực du lịch Nhà nước tạo môi
trường pháp lý, tạo chuẩn quốc gia về nhân lực làm cơ sở cho đào tạo và sử dụng lao động, thúc đẩy và kiểm tra, giám sát đào tạo phát triển nguồn nhân lực du
lịch Các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch liên kết với nhau và với doanh nghiệp
du lịch; các doanh nghiệp du lịch liên kết với nhau và với cơ sở đào tạo, dạy nghề
du lịch để tạo nguồn lực cho nhau, để kiểm định đầu ra của cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch, nâng cao và chuẩn hóa đầu vào cho cơ sở sử dụng lao động du lịch, điều chỉnh các hoạt động của từng đơn vị Liên kết này sẽ bền vững nhờ việc
Trang 31quan tâm huy động nội lực để thực hiện; đồng thời chú trọng hợp tác và hội nhập
quốc tế để có thêm nguồn tài chính, kiến thức, công nghệ, kinh nghiệm để phát triển nguồn nhân lực, trước tiên là phát triển đội ngũ chuyên gia, giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý nhà nước và kinh doanh
2.1.4.6 Thực trạng cung cấp các dịch vụ công cho du lịch
Tính ưu việt của một xã hội được phản ánh một cách rõ ràng qua chất lượng cung ứng dịch vụ công Mọi xã hội đều có những vấn đề chung, liên quan đến cuộc sống của tất cả mọi người Đó là các vấn đề như trật tự trị an, phân hóa giàu nghèo, giáo dục, y tế, dân số, môi trường, tài nguyên, cạnh tranh trong phát triển kinh tế… Để giải quyết thành công các vấn đề này, cần có sự góp sức của
cả Nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội thông qua việc cung ứng các dịch
vụ công Nếu các dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ,
chất lượng thấp thì sẽ dẫn đến những rối loạn trong xã hội, trong kinh doanh, trong phát triển kinh tế và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của mỗi người dân, đồng thời tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi quốc gia
Dịch vụ công đáp ứng những nhu cầu và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch, cụ thể trong các lĩnh vực sau đây:
- Cấp phép đầu tư kinh doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn
Nhà nước chịu trách nhiệm cao nhất và cũng là trách nhiệm cuối cùng đối
với việc cung ứng đầy đủ về số lượng, chất lượng, có hiệu quả dịch vụ công cho
dù là Nhà nước tiến hành thực hiện trực tiếp hay thông qua các tổ chức và cá nhân khác là một lá chắn bảo vệ an toàn cho cuộc sống của mỗi người dân Với
việc Nhà nước bảo đảm sự công bằng, bình đẳng cho công dân, nhất là nhóm dân
cư dễ bị tổn thương, trong việc tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ công thiết yếu liên quan trực tiếp tới đời sống như y tế, giáo dục, an sinh xã hội…, người dân được hưởng các quyền sống cơ bản của mình, trên cơ sở đó học tập, làm việc nâng cao mức sống của bản thân và đóng góp nhiều hơn cho xã hội Như vậy,
Trang 32dịch vụ công có tác dụng cực kỳ to lớn đối với sự phát triển của đất nước và từng người dân, và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế
2.1.4.7 Công tác xúc ti ến quảng bá du lịch
Xúc tiến quảng bá du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch của cơ quan quản lý nhà nước
về du lịch và doanh nghiệp Ngày nay, kinh doanh du lịch có sự cạnh tranh diễn
ra không chỉ nằm trong phạm vi quốc gia (giữa các doanh nghiệp, các địa phương) mà cả trong phạm vi khu vực (giữa các nước) và cả các Châu lục Để giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, nhà nước và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch, các hiệp hội nghề nghiệp trong du lịch , đã tìm mọi biện pháp để thu hút được nguồn khách du lịch lớn, một trong những biện pháp đó là
công tác xúc tiến quảng bá du lịch
Đối với các nước phát triển du lịch, công tác xúc tiến quảng bá du lịch được thực hiện từ rất lâu trước với nguồn kinh phí lớn và với tính chuyên nghiệp cao Ở Việt Nam kể từ khi Nhà nước chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, vấn đề tác xúc tiến quảng bá du lịch để thu hút vốn đầu
tư, tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ bắt đầu được quan tâm Thực tế, các vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế cả trên phương diện kinh nghiệm thực tiễn và tổng kết về mặt lý luận Trong lĩnh vực du lịch, để thu hút một lượng khách du lịch nước ngoài vào nước ta đồng thời quảng bá hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam ra thế giới, Nhà nước, ngành Du lịch, các doanh nghiệp du lịch đã đầu tư cho công tác tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc hội nghị, hội thảo,
các lễ hội du lịch tại các địa phương đã được tổ chức hàng năm Ngành Du lịch
và các doanh nghiệp du lịch đã tham gia vào nhiều hội chợ du lịch của khu vực
và quốc tế nhằm quảng bá các sản phẩm du lịch để thu hút khách Nhờ những hoạt động này, số lượng khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng,
số lượng khách du lịch nội địa tăng trưởng lớn, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch ngày càng phát triển, chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao
2.1.5 C ác yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch hồ
2.1.5.1 Thể chế chính sách
Chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, của địa phương, trong đó có các chính sách về phát triển du lịch cùng với cơ chế điều hành của
Trang 33chính quyền các cấp có liên quan trực tiếp đến sự phát triển du lịch Các chính sách đó có thể tác động điều chỉnh hành vi kinh doanh, tiêu dùng, quan hệ trao đổi thương mại, đầu tư, có thể “kéo” hoặc “đẩy” khách du lịch Tính đúng đắn, kịp thời, đồng bộ của các chính sách phát triển các thành phần kinh tế, chính sách phát triển khoa học công nghệ, các chính sách tài chính tiền tệ, các chính sách và chương trình du lịch quốc gia, các chính sách giao đất giao rừng Chính sách ưu đãi đầu tư khai thác tài nguyên thiên nhiên vào mục đích du lịch… tạo nền tảng pháp lý đảm bảo cho sự phát triển bền vững về tài nguyên môi trường, đồng thời
đã tạo ra cả tiềm năng và nhu cầu của việc sử dụng và khai thác các điều kiện sinh thái tự nhiên, khuyến khích sử dụng và khai thác hợp lý những tài nguyên
mang đặc trưng sinh thái tự nhiên vào mục đích du lịch và ngược lại sự thiếu đồng bộ, kịp thời của chính sách hạn chế sự phát triển của du lịch
Hệ thống pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cũng như lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, nó gián tiếp hoặc trực tiếp ảnh hưởng đến mỗi du khách, vì vậy nó chi phối rất lớn đến sự phát triển du lịch hồ Hệ thống pháp luật ổn định, việc thực thi pháp luật nghiêm minh sẽ tạo môi trường thuận lợi cho du lịch phát triển Hệ thống chính sách và pháp luật cùng với cơ chế điều hành của chính phủ trong quyết định tính hiệu lực của luật pháp và chính sách kinh tế là nền tảng pháp lý đảm bảo sự phát triển bền vững về tài nguyên môi trường và tạo điều kiện cho du lịch nói chung và
du lịch hồ nói riêng phát triển
2.1.5.2 Năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
Với sự ra đời của Tổng cục du lịch, hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về
du lịch từ Trung ương đến địa phương ở nước ta đã được hình thành và phát huy vai trò tích cực vào việc phát triển du lịch
Công tác quản lý nhà nước về du lịch ở nước ta trong những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt: tạo lập cơ quan pháp lý, tăng cường công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường quảng bá du lịch, quan hệ hợp tác quốc tế Du lịch Việt nam phát triển cả về số lượng và chất lượng, hình ảnh của Việt Nam nói chung và của du lịch Việt Nam nói riêng đã được khẳng định trên thế giới và khu vực Bên cạnh những thành tựu cơ bản và hết sức quan trọng, du lịch Việt nam và công tác quản lý Nhà nước về du lịch ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục: về tổ chức xác định thẩm
Trang 34quyền, chức năng chưa rõ ràng, sự phối hợp ngành du lịch với các ngành có liên quan như: Hải quan, giao thông vận tải, công an, quân đội, nội vụ, tài nguyên và
môi trường… còn chưa đồng bộ và thống nhất dẫn đến hiệu quả quản lý thấp; đội ngũ quản lý còn hạn chế về năng lực, trình độ, công tác quản lý, đào tạo còn nhiều bất cập, chưa xứng với tiềm năng và sự phát triển của ngành du lịch
2.1.5.3 Năng lực của doanh nghiệp du lịch
Năng lực của các doanh nghiệp du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng
và là một lực lượng nòng cốt quyết định thực hiện thành công các mục tiêu phát triển du lịch trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch, sự sẵn sàng của các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo
ra và thực hiện sản phẩm du lịch như: Các cơ sở lưu trú, ăn uống, khu vui chơi giải trí với đầy đủ thiết bị hiện đại và an toàn; mạng lưới các cửa hàng thương mại, các cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thể thao, thông tin văn hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích khách tham gia vào hoạt động du lịch, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của họ, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của khách
2.1.5.4 Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch
Sự trải nghiệm của du khách tại điểm đến nhìn chung thường chịu ảnh hưởng của thái độ của người dân địa phương đối với hoạt động du lịch và khách
du lịch Sự tiếp xúc ngắn ngủi giữa du khách và người dân bản địa có thể góp phần làm cho trải nghiệm du lịch trở nên hoàn hảo hoặc ngược lại Sự tham gia của cộng đồng là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình phát triển du lịch Điều này được xem là thách thức và cũng là cơ hội lớn cho cả cộng đồng địa phương và các bên tham gia Do đó, cần xây dựng những định hướng phát triển phù hợp cùng với những hành động kịp thời nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự tham gia của họ vào phát triển du lịch
2.1.5.5 Sự phối hợp của các cấp các ngành
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm chính trị của chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, sự phối kết hợp chặt chẽ của các ngành liên quan, sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế,
sự năng động tích cực của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, sự đồng cảm và
Trang 35tham gia của cộng đồng dân cư, du khách và sự quan tâm khích lệ của các cơ quan thông tin truyền thông, một kênh quan trọng tuyên truyền, quảng bá hình ảnh cho du lịch cũng như phát hiện những bất cập cần khắc phục để du lịch trở thành một thương hiệu được mỗi người chúng ta cũng như bạn bè quốc tế ngày càng quý mến
Nói tóm lại: Ngành du lịch muốn phát triển đồng bộ, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch thì các ngành, các cấp, các địa phương, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư phải có sự thống nhất và hợp lực theo đường lối chỉ đạo thì mới phát huy tối ưu lợi thế của du lịch để phát triển kinh tế
2.2 C Ơ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HỒ
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch sông hồ trên thế giới
Du lịch sông, hồ là một trong những loại hình du lịch sinh thái thú vị Du khách có thể chu du trên những con thuyền, lướt cùng những chiếc ca nô, hay thong dong dạo bộ ven sông, ven hồ để hưởng thức những phong cảnh đẹp trên sông, gặp gỡ chuyện trò tìm hiểu văn hóa của cư dân, tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với sông nước Ngày nay, loại hình du lịch sông nước đang lên ngôi và đã trở thành xu thế phát triển chung, tạo lập giá trị vững chắc trong ngành công nghiệp không khói của hầu hết các điểm đến du lịch nổi tiếng thế giới
Đến bang Texas (Hoa Kỳ), du khách sẽ bị thu hút bởi chuyến du ngoạn thành phố San Antonio trên hệ thống sông uốn khúc, lượn quanh của River Walk Đây là một khu phố đi dạo dọc theo hai bờ của một con sông hẹp Con sông này chảy trong lòng thành phố, là dòng thoát nước thải của thành phố, nhưng nước thải ở đây đã qua xử lý, không gây ô nhiễm Hai bên bờ sông được viền bởi cây cối, những bông hoa nhiệt đới, những thác nước nhân tạo và những lối đi quanh
co khúc khuỷu với rất nhiều cây cầu được xây dựng một cách mỹ thuật băng qua đoạn sông này, và những chiếc thuyền du lịch không mui thường xuyên khuấy động mặt nước yên tĩnh Buổi tối nơi đây lấp lánh ánh đèn và những tiếng đàn, tiếng nhạc du dương, các nhà hàng phục vụ món ăn ngon từ mọi miền thế giới Ban ngày, thay cho ánh đèn màu huyền ảo và không gian đầy tiếng nhạc thơ mộng là ánh nắng rực rỡ và bầu không khí tươi mát trong lành của những công viên xanh với đường lót đá quanh co bên dòng nước trong xanh Một con sông nhỏ, cảnh quan và điều kiện tự nhiên không có gì đặc biệt, thế nhưng cư dân các
Trang 36thế hệ của thành phố đã biết cách làm cho nó trở nên hài hòa, xinh đẹp, quyến rũ
và nổi tiếng có một không hai trên thế giới
Trung Quốc cũng là quốc gia có nền du lịch sông, hồ phát triển, tuy nhiên việc phát triển công nghiệp của Trung Quốc gần đây đã tạo nên những vấn nạn ô nhiễm lớn cho trái đất, không khí và nguồn nước Sông Trường Giang bị cấm bơi và cá sấu bản địa - một trong hai loài chính ở sông đã bị giảm sút nghiêm trọng, được liệt vào danh sách những loài có nguy cơ tuyệt chủng Đây cũng là bài học quý giá về việc phát triển du lịch sông, hồ phải gắn với bảo vệ môi trường sinh thái Thật ra, Trung Quốc có khá nhiều mô hình du lịch sông, hồ thành công, đáng để học hỏi Có thể kể đến các hoạt động du lịch trên Hồ Ngũ Hoa Hải: Thuộc Vườn quốc gia Cửu Trại Câu, tỉnh Tứ Xuyên, miền Hoa Nam, Trung Quốc Trong vườn quốc gia gồm 114 hồ nước, trải dài hơn 5 km; mỗi hồ nước Cửu Trại Câu lại có một cái tên riêng, gắn liền với câu chuyện cổ tích thần tiên trong đó, đặc biệt, Hồ Ngũ Hoa Hải nước trong tới độ
có thể nhìn thấy từng cành cây khô dưới đáy hồ và màu mặt hồ đa sắc (lam, lục, tím…) thay đổi theo từng góc nhìn
Các s ản phẩm chính:
Du lịch sinh thái: Thăm quan hồ, thác nước, hệ động thực vật trong vườn
quốc gia Cửu Trại Câu
Du lịch tham quan, ngắm cảnh: Ở đây xây dựng các tuyến đường đi bộ bao quanh hồ, du khách có thể đi dạo, ngắm cảnh quan
Du lịch văn hóa (gắn với bản sắc văn hóa người dân bản địa): Tham quan các bản làng người dân bản địa Tây Tạng, xem chương trình ca nhạc Tây Tạng
* H ồ Louise - Canada
Hồ Louise là một hồ nước ở Alberta, Canada Hồ Louise được đặt tên theo nàng công chúa Louise Caroline Alberta (1848-1939), con gái thứ tư của Nữ hoàng Victoria Hồ Louise có nét đẹp thiên nhiên độc đáo, nước xanh màu ngọc bích, bên trên là sông băng Victoria, xung quanh hồ là những ngọn núi rừng hùng
vĩ của dãy núi Rocky, một trong 7 kỳ quan của đất nước Canada
Các điểm tham quan chính:
Làng hồ Louise (The Village)
Hồ Louise
Trang 37Khách sạn Hồ Louise: Khách sạn nghỉ mát sang trọng, một trong những khách sạn đường sắt lớn của Canada
hoặc chèo thuyền hay câu cá
Điểm đặc biệt của hồ Louise là trở thành điểm du lịch nổi tiếng nhưng vẫn
giữ được giá trị cảnh quan, vẻ đẹp tự nhiên, không phát triển tràn lan các cơ sở
dịch vụ, lưu trú, môi trường trong lành
* H ồ Sirikit Dam - Thái Lan
Hồ Sirikit Dam được hình thành khi xây dựng đập thủy điện Sirikit trên sông Nan, thuộc tỉnh Uttaradit, Thái Lan Sirikit Dam có cảnh quan rất đẹp, đặc
biệt là vào mùa đông với sự thanh bình của khí quyển và sự đa dạng của các loài
thực vật
Các s ản phẩm du lịch chính:
Du lịch tham quan, ngắm cảnh: Đi thuyền tham quan, ngắm cảnh trên hồ
Hoạt động vui chơi giải trí: Chèo kayak, câu cá, bơi lội…
2.2.2 Tình hình phát triển du lịch sông, hồ tại Việt Nam
a Hồ Núi Cốc
Được tạo bởi dòng sông Công bắt nguồn từ huyện Định Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành vùng Hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25km2, chứa được 175 triệu m3 nước Hồ ban đầu được tạo thành để phục vụ cho hoạt động tưới tiêu nông nghiệp cho các vùng ven sông Nhưng sau đó do Hồ nằm giữa vùng địa hình núi, đồi phong phú, phong cảnh yên tĩnh và không khí trong lành lại thêm nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của du khách trong tỉnh ngày càng cao nên tỉnh Thái Nguyên đã đầu tư 4 tỉ đồng
để xây dựng khu Hồ Núi Cốc thành khu du lịch Hồ Núi Cốc, ngày nay là khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc, một trong những khu du lịch Quốc gia Khu du lịch Danh thắng Hồ Núi Cốc là sự kết hợp hài hòa giữ yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu) và yếu tố nhân văn (các công trình nhân văn) tạo thành một khu du lịch sinh
Trang 38thái hấp dẫn Tài nguyên du lịch Vùng Hồ Núi Cốc đa dạng và phong phú bao gồm: diện tích mặt nước với 2.500ha; tổng diện tích rừng là 8.856.80 ha Hệ thực vật bao gồm các rừng keo lá tràm, rừng keo tai tượng, rừng bạch đàn trắng, vườn cây ăn quả, cây công nghiệp chè và các thảm thực vật khác Tuy vậy, thảm thực vật tự nhiên kể trên chỉ còn tồn tại trên các đỉnh thuộc dãy Tam đảo và đang trong quá trình phục hồi Hệ động vật nhìn chung về thành phần loài cũng như
cá thể thấp hơn so với hệ sinh thái thực vật, gồm: Cầy, Mèo rừng, Sóc, Cò, Chim Tuy nhiên, khi đến tham quan tại đây, du khách chỉ có thể có điều kiện quan sát đàn Cò và Chim Bên cạnh đó là các công trình văn hóa như: Động Huyền Thoại Cung, Động 3 cây Thông; động Âm phủ - thế giới cổ tích, Vườn động vật hoang
dã, sân khấu nhạc Nước và quần thể Thuyết Nhân quả được xây dựng mô phỏng tượng Phật Thích Ca Mâu Ni
+ Du lịch sinh thái: Tham quan những khu vực đảo núi, các vùng biển có
dải san hô ngầm quý hiếm trên Vịnh
+ Du lịch thể thao: Lặn biển, leo núi, chèo kayak…
+ Nghỉ đêm trên Vịnh: Ngắm cảnh hoàng hôn và nghỉ đêm trên Vịnh
Hiện nay, trên Vịnh có trên 100 tàu du lịch đã được các quan có thẩm quyền cấp
Trang 39phép hoạt động dịch vụ lưu trú nghỉ đêm trên Vịnh Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh
đã ban hành một số quy định đặc thù để nâng cao chất lượng và quản lý hoạt động của tàu du lịch trên vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long
c H ồ Thác Bà (Yên Bái)
Cách Hà Nội 200 km về phía Bắc Diện tích lớn 19.050 ha Nằm trong danh sách phát triển thành Khu du lịch quốc gia Giao thông không thuận lợi bằng Khu du
lịch Hồ Hòa Bình, tiềm năng không kém Khu du lịch Hồ Hòa Bình lại có thương
hiệu Mù Căng Chải làm động lực Tương tự Hòa Bình có Mai Châu Các loại hình
du lịch: Tham quan cảnh quan; Nghỉ cuối tuần, nghỉ dưỡng; văn hóa dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch Hồ Hòa Bình
Khí hậu là một trong những hạn chế lớn của các hồ nước ở miền Bắc, trong đó có Khu du lịch Hồ Hòa Bình và việc khai thác các sản phẩm du lịch dựa trên tiềm năng mặt nước hồ cần chú ý nhiều đến vấn đề này
Các hồ nước thường xuyên gặp những vấn đề mâu thuẫn giữa chức năng
của hồ nước với mục tiêu phát triển du lịch Đối với du lịch Hồ Hòa Bình các vấn
đề này nằm ở chức năng thủy điện, thủy lợi và nông nghiệp, nguồn nước sạch cung cấp cho Hòa Bình và Hà Nội
Nếu muốn thành công trong phát triển du lịch Hồ Hòa Bình thì phải thu hút được các dự án đầu tư cho hệ thống cơ sở vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng cao
cấp , nếu không, dù cho có những lợi thế về tài nguyên và mối quan hệ với thị trường mục tiêu cũng rất khó để thành công
Đầu tư hạ tầng giao thông, nâng cấp và xây mới bến cảng đạt tiêu chuẩn
Xây dựng các công trình khai thác giá trị nổi bật của tài nguyên (Khu nghỉ dưỡng nổi, nhà hàng nổi, vui chơi giải trí, thể thao trên mặt nước)
Đa dạng hóa các loại hình lưu trú (Phát triển các tàu du lịch có dịch vụ lưu trú nghỉ đêm trên hồ, các dịch vụ lưu trú homestay tại các bản làng dân tộc;…)
Hoạt động về đêm cần đa dạng (Tổ chức dịch vụ, sản phẩm du lịch nhằm kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch, góp phần tăng thu nhập (hiện là điểm
yếu), Khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí, có thể tổ chức một số hoạt động về đêm như: Phố chợ đêm hai bên hồ; thưởng thức ẩm thực, xem biểu diễn nghệ thuật trong du thuyền trên hồ về đêm; câu cá đêm,…)
Trang 40 Coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường (Tàu thuyền du lịch chạy bằng gas
hoặc năng lượng mặt trời; các khu nhà nổi trên hồ, tàu thuyền chở khách du lịch
phải thực hiện thu gom, xử lý nước thải, chất thải ngay tại nguồn; trồng cây thủy sinh để tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường)
Phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù; các điểm dừng chân kết hợp mua
sắm các sản vật, đặc sản địa phương (Phát triển các sản phẩm lưu niệm gắn với thương hiệu nhà máy thủy điện; các điểm dừng chân nghỉ ngơi, mua sắm các sản
vật đặc sản địa phương như: cá lòng hồ, măng tươi, cam Cao Phong, mía, Các
sản phẩm lưu niệm, đặc sản địa phương cần được bày biện đẹp mắt, sạch sẽ để kích thích nhu cầu mua sắm của khách du lịch)
Khai thác các giá trị gắn với văn hóa bản địa của địa phương, nhằm đa
dạng sản phẩm (Các khu nghỉ dưỡng, khu nhà nổi được thiết kế với kiến trúc mang đậm bản sắc, phong tục của địa phương như: kiến trúc nhà sàn người Mường)
Nên khai thác tiềm năng sẵn có của Hồ Hòa Bình như: Mặt nước, đảo, nguồn lợi thủy sản để khai thác du lịch, tạo sản phẩm đặc thù
Tăng cường liên kết, phát triển các tua, tuyến du lịch
Đầu tư phát triển các dịch vụ công cho du lịch