TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Đỗ Hải Đăng Tên luận văn: Giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý thu BHYT tự nguyện tại Bảo hiểm xã hội huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Đề tài nghiên cứ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ HẢI ĐĂNG
GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHYT TỰ NGUYỆN TẠI BHXH HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng 9 năm 2017 Tác giả luận văn
Đỗ Hải Đăng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế & PTNT - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Bảo hiểm xã hội huyện Đông Hưng (cơ quan nơi thực hiện đề tài) đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng 9 năm 2017 Tác giả luận văn
Đỗ Hải Đăng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình viii
Danh mục chữ viết tắt ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract……….…………… … xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục t êu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đố tượng ngh ên cứu 3
1.4.2 Phạm v ngh ên cứu 4
1.5 Đóng góp mới của luận văn 4
Phân 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
2.1 Cơ sơ lý luận về quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện 6
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
2.1.2 Đặc điểm, vai trò quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện 14
2.1.3 Nội dung quản lý thu quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện 15
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện 20
2.2 Cơ sở thực tiễn 23
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu Bảo hiểm y tế tự nguyện một số quốc gia trên thế giới 23
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu Bảo hiểm y tế tự nguyện tại một số địa phương trong nước 24
Trang 5Phân 3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 34
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
3.2.1 Chọn địa đ ểm ngh ên cứu 40
3.2.2 Phương pháp thu thập thông t n 40
3.2.3 Phương pháp phân tích 41
3.2.4 Hệ thống chỉ t êu ngh ên cứu 41
Phân 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 43
4.1 Thực trạng công tác quản lý thu BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình 43
4.1.1 Khái quát về BHYT và BHXH huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình 43
4.1.2 Thực trạng công tác phân cấp quản lý thu BHYT tự nguyện 45
4.1.3 Thực trạng quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện 50
4.1.4 Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện 52
4.1.5 Quản lý tiền thu bảo hiểm y tế tự nguyện 55
4.1.6 Đánh giá công tác quản lý thu BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng 66
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng 73
4.2.1 Quy trình, thủ tục, chế độ chính sách về BHYT tự nguyện 73
4.2.2 Trình độ dân trí và nhận thức của người dân 74
4.2.3 Mạng lưới hệ thống thu và tuyên truyền về chính sách BHYT tự nguyện 76
4.2.4 Cơ chế, hình thức và mức thu BHYT tự nguyện 78
4.2.5 Mối quan hệ các bên liên quan và chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 78
4.2.6 Nguồn lực của cơ quan quản lý thu BHYT tự nguyện 81
4.2.7 Cạnh tranh của các hệ thống BHTM khác 85
Trang 64.3 Định hướng và giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý thu
BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình 86
4.3.1 Định hướng 86
4.3.2 Các giải pháp cụ thể 87
Phân 5 Kết luận và kiến nghị 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 100
Tài liệu tham khảo 102
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của huyện Đông Hưng 33
Bảng 3.2 Lao động có việc làm phân theo ngành kinh tế trên địa bàn huyện Đông Hưng 37
Bảng 4.1 Tình hình phân bổ quỹ BHYT tự nguyện tại huyện Đông Hưng giai đoạn 2014 – 2016 51
Bảng 4.2 Số người tham gia BHYT tại huyện Đông Hưng thời kỳ 2014 - 2016 52
Bảng 4.3 Tình hình tham gia BHYT tự nguyện theo nhóm đối tượng 54
Bảng 4.4 Mức phí BHYT tại huyện Đông Hưng thời kỳ 2014 – 2016 56
Bảng 4.5 Tình hình thu và cấp thẻ BHYT tại BHXH huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thời kỳ 2014 – 2016 57
Bảng 4.6 Tình hình thu BHYT , BHXH bắt buộc tại huyện Đông Hưng 58
Bảng 4.7 Tình hình thu quỹ BHYT tự nguyện theo nhóm đối tượng giai đoạn 2014 – 2016 60
Bảng 4.8 Thực trạng chi KCB BHYT tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thời kỳ 2014 – 2016 62
Bảng 4.9 Tình hình chi quỹ BHYT tự nguyện theo nhóm đối tượng 64
Bảng 4.10 Thông tin chung về các cán bộ quản lý và KCB BHYT tự nguyện được điều tra 66
Bảng 4.11 Thông tin chung các hộ điều tra 67
Bảng 4.12 Đánh giá về tổ chức quản lý thu BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng 68
Bảng 4.13 Đánh giá về quy định, quy trình quản lý BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng 73
Bảng 4.14 Ý thức người dân và việc thực hiện các chế độ chi trả KCB BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng 74
Bảng 4.15 Lý do tham gia BHYT tự nguyện 75
Bảng 4.16 Lý do không tham gia BHYT tự nguyện 76
Bảng 4.17 Nguồn thông tin về BHYT tự nguyện của các hộ 77
Bảng 4.18 Đánh giá về mức phí tham gia BHYT tự nguyện 78
Bảng 4.19 Ý kiến của hộ về việc gặp phiền hà khi tham gia KCB bằng thẻ BHYT 79
Trang 8Bảng 4.20 Những phiền hà gặp phải khi tham gia KCB BHYT 80 Bảng 4.21 Đánh giá chung về chất lượng dịch vụ BHYT tự nguyện 81 Bảng 4.22 Đánh giá về tình hình tổ chức thực hiện quản lý quỹ BHYT tự nguyện
tại BHXH huyện Đông Hưng 82 Bảng 4.23 Cơ cấu lao động tại BHXH huyện Đông Hưng năm 2016 83 Bảng 4.24 Trình độ cán bộ và cơ sở vật chất y tế của huyện Đông Hưng 85
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của BHXH huyện Đông Hưng 44 Hình 4.2 Sơ đồ mạng lưới phân cấp quản lý thu BHYT tự nguyện huyện Đông
Hưng 45 Hình 4.3 Quy trình quản lý thu BHYT tự nguyện tại BHXH huyện Đông Hưng 47 Hình 4.4 Hệ thống tổ chức thực hiện thu BHYT tự nguyện tại huyện Đông
Hưng 49
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đỗ Hải Đăng
Tên luận văn: Giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý thu BHYT tự nguyện tại Bảo hiểm xã hội huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Đề tài nghiên cứu tại 44 xã trên địa bàn huyện Đông Hưng, tuy nhiên đối với các thông tin phỏng vấn sâu người dân, tác giả chọn 3 xã đại diện cho những người dân đã tham gia BHYT tự nguyện và người dân chưa tham gia BHYT tự nguyện đó là các xã
An Châu, Đồng Phú, Trọng Quan Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin sẵn có như sách, báo, tạp chí, từ các trang mạng, các công trình nghiên cứu đã được công bố, Các số liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với các đối tượng là các Đại lý thu BHYT tự nguyện, cán bộ quản lý
và người dân Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh
Kết quả chính và kết luận
BHYT tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không vì mục đích lợi nhuận mà ở đó người dân được tự nguyện lựa chọn việc tham gia để được chăm sóc sức khỏe một cách tốt hơn so với việc sử dụng các dịch vụ được cung cấp đối với BHYT bắt buộc khi đau ốm, bệnh tật
Quản lý thu BHYTTN tại Bảo hiểm Xã hội huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình những năm gần đây đã được quan tâm chú trọng Số đối tượng tham gia BHYT TN trên địa bàn huyện ngày càng tăng cao, tới năm 2016 đạt hơn 77 ngàn đối tượng tham gia BHYT TN và đã thu về hơn 36 tỷ đồng phí BHYTTN Với mức chi KCB BHYT trên địa bàn huyện khoảng trên dưới 60 tỷ đồng/ năm Điều này cho thấy lợi ích mà người dân nhận được khi mua BHYT tự nguyện cao hơn giá trị người dân phải bỏ ra rất nhiều, hay các chính sách phúc lợi về BHYT tự nguyện tại địa bàn đang được thực hiện tương đối tốt
Trang 12Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện quản lý thu BHYT
tự nguyện trên địa bàn huyện còn gặp phải khá nhiều khó khăn và hạn chế, đặc biệt là việc khó khăn trong việc quản lý quỹ BHYT: với trên 26% cán bộ điều tra nhận định quy trình chứng từ thanh toán chi KCB BHYT khá phức tạp, mặt khác nhiều đối tượng điều tra nhận định sự phối hợp giữa cơ quan quản lý thu BHYT TN và các đơn vị khám chữa bệnh chưa tốt, việc thực hiện các giải pháp tuyên truyền quảng bá về phúc lợi BHYTTN đến người dân còn chưa được quan tâm chú trọng, dẫn tới nhiều người dân khó tiếp cận để tham gia BHYT tự nguyện do không biết thông tin Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện Đông Hưng bao gồm: Nhóm yếu tố về quy trình, thủ tục hồ sơ chế độ chính sách khi tham gia BHYT, và BHYT tự nguyện; Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ y tế,
và cơ sở khám chữa bệnh; Nhu cầu, tình hình kinh tế và trình độ dân trí người dân
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn trong quản lý thu BHYT tự nguyện tại huyện Đông Hưng giai đoạn 2013 -2015, tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện trong những năm tiếp theo, cụ thể như sau: Hoàn thiện môi trường pháp lý, chính sách về BHYT nói chung, giải quyết tốt mối quan hệ ba bên nhằm lấy lại lòng tin của người dân, chống thất thu BHYT TN bằng cách tăng cường công tác quản lý đối tượng tham gia, tăng cường tuyên truyền tới người dân,…
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Do Hai Dang
Thesis title: “Solutions to improve the collection management of voluntary health insurance in Dong Hung District Social Insurance, Thai Binh Province”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives
The main research objective was to study and evaluate the real situation of the collection management of voluntary health insurance in Dong Hung District Social Insurance; To propose solutions to improve voluntary health insurance collecting management in Dong Hung District Social Insurance, Thai Binh Province
in the near future
Research methodology
Three out of 44 communes of Dong Hung district, Thai Binh province which were An Chau, Dong Phu and Trong Quan were selected in order to conduct in-depth interviews The respondent was local people who were in both participating and non-participating voluntary health insurance Secondary data was collected from available resources such as books, newspapers, magazines, web sites, research publications and
so on Primary data was collected mainly through questionnaire survey method The research subjects were voluntary health insurance agents, managers and local people Data analysis methods were used in the study including descriptive statistics and comparative methods
Results and conclusion
Voluntary health insurance is a non-profit form of health insurance be implemented by the State People voluntarily participate in order to take care of health
in a better way compare to services that were provided by compulsory health insurance
in case of sickness and illness
In recent years, the collection management of voluntary health insurance in Dong Hung District Social Insurance, Thai Binh province were particularly concentrated The research results showed that number of people participating voluntary health insurance highly increased In 2016, there were 77 thousand participants and collected more than 36 billion Vietnam dong of voluntary health insurance premium
On the other hand, the payment of medical examination and treatment of health insurance was approximately 60 billion Vietnam Dong per year This indicated that the
Trang 14benefits of voluntary health insurance was much higher than its cost It can be concluded that the voluntary health insurance policies in the province were implemented relatively well
However, besides the achievements, the implementation of voluntary health insurance collecting management faced many restrictions and limitations, especially difficulties in managing health insurance fund There were 26% of respondent who commented that the process and procedures for payment of medical examination and treatment of health insurance was complex Otherwise, others supposed that the coordination between management agencies collecting health insurance and health care units was not strong The implementation of informing and disseminating solutions on the benefits of voluntary health insurance was less considered, leaded to many difficulties for people to access voluntary health insurance because of incomplete information The study also illustrated factors affecting the collection management of voluntary health insurance in Dong Hung district such as: Factors on processing and procedures; The policies and regimes when participating in health insurance and voluntary health insurance; The capacity of managers, health-care workers and medical facilities; Demand, economic situation and education level of local people;…
Base on study results, the author proposed some solutions to enhance the management of voluntary health collection in Dong Hung district in the coming years For example, To optimize the legal environment and policies of health insurance in general; To solve the tripartite relationship in order to regain the trust of the people; To reduce the loss of voluntary health insurance by strengthening the management of the participants, and increasing propaganda,…
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc bởi nhiều yếu tố, trong
đó quản lý nền kinh tế là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước Tài chính là nguồn lực để Nhà nước thực hiện các chức năng vốn có của mình, vừa là công cụ để Nhà nước chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác của xã hội, thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Công tác quản lý tài chính của Nhà nước là hoạt động của các chủ thể quản lý tài chính công thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công
cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của tài chính công nhằm đạt được các mục tiêu đã định Trong chỉ đạo điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ngành Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những hoạt động
đó Bảo hiểm y tế (BHYT) đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm khi đất nước mới được thành lập Vì BHYT là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHYT để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến tầng lớp đông đảo người lao động, nông dân và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ, đảm bảo an sinh xã hội Quá trình bổ sung, điều chỉnh theo mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, BHYT được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn của đất nước (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
Để thực hiện chính sách BHYT phù hợp với thực tế trong công cuộc đổi mới của đất nước, hoà nhập với xu thế phát triển của xã hội, của khu vực và của thế giới Nghị Quyết 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới xác định: “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư cho phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ… (Đảng cộng sản Việt Nam, 2005) Ngày 16/02/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/NĐ-CP thành lập BHXH Việt Nam theo hệ thống từ Trung ương đến cấp quận, huyện Thực hiện
Trang 16Nghị định số 100/NĐ-CP ngày 06/12/2002 của Chính phủ về việc sáp nhập BHYT Việt Nam về BHXH Việt Nam từ ngày 01/01/2003 Ngày 29/6/2006 Quốc hội Khoá XI thông qua Luật BHXHcó hiệu lực từ ngày 01/01/2007 Ngày 14/11/2008 Quốc hội khóa XII thông qua Luật BHYT có hiệu lực từ ngày 01/7/2009; đến ngày 13/6/2016 Quốc hội khóa XIII thông qua sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT Đây là cơ sở pháp lý vững chắc trong quá trình thực hiện chính sách BHYT Thu BHYT tự nguyện, nhằm từng bước đảm bảo an sinh
xã hội, đảm bảo cuộc sống người lao động và đạt tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thể hiện sự chia sẻ giữa người khỏe với người ốm, người giầu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, người già; công bằng trong đãi ngộ đối với cán bộ y tế (Đào Văn Dũng, 2009)
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Đổi mới
và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh và viện phí phù hợp; có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2011)
Thái Bình là tỉnh có tỷ lệ người tham gia BHYT tự nguyện thấp, theo báo cáo tổng kết của Bảo hiểm xã hội tỉnh đến cuối năm 2015 mới chỉ có 75,66% dân
số tham gia BHYT, chỉ tiêu phát triển số người tham gia BHYT đến năm 2020 đạt 90% dân số Thái Bình tham gia BHYT (Theo Quyết định số 1167/QĐ-BHXHngày 28/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai đoạn 2016-2020) huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình là huyện thuần nông, phát triển kinh tế công nghiệp nhỏ lẻ năm 2015 mới có 75% dân số tham gia BHYT, chỉ tiêu đến năm 2020 có 95% dân số tham gia BHYT là một thách thức lớn đối với việc phát triển đối tượng tham gia BHYT (Bảo hiểm
xã hội tỉnh Thái Bình, 2016)
Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý thu BHYT tự nguyện tại Bảo hiểm xã hội huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình " Đây là đề tài mang tính cấp thiết, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn Những yếu tố liên quan đến quản lý thu BHYT tự nguyện là: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, sự hoàn thiện và tính đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật, cách thức tổ chức thực hiện quản lý thu BHYT tự nguyện đảm bảo đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân của hệ thống khám chữa bệnh, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, người dân về quyền lợi, vai trò và trách nhiệm khi tham gia BHYT tự nguyện Để khắc phục những tồn tại,
Trang 17những hạn chế của các vấn đề trên đây đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ và cụ thể, cách thức triển khai phù hợp với từng thời điểm, điều kiện kinh tế - xã hội với sự tham gia của cả hệ thống chính trị mới đảm bảo thực hiện hoàn thành chỉ tiêu đề ra đến năm 2020 huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình có 95% dân số tham gia BHYT
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Từ ngh ên cứu, đánh g á thực trạng công tác quản lý thu BHYT tự nguyện
tạ BHXH huyện Đông Hưng, từ đó đề xuất g ả pháp nhằm cả th ện công tác quản lý thu BHYT tự nguyện tạ BHXH huyện Đông Hưng, tỉnh Thá Bình trong thời gian tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Các nội dung về công tác quản lý thu BHYT tự nguyện, các hoạt động
đã thực hiện và kết quả đạt được?
- Các thuận lợi, khó khăn và yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHYT tự nguyện tại huyện Đông Hưng trong thời gian qua?
- Định hướng và giả pháp nào cần thực hiện để tăng cường quản lý thu BHYT tự nguyện tại huyện Đông Hưng trong thời gian tới
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đố tượng ngh ên cứu
Đối tương nghiên cứu chính của đề tài là công tác quản lý thu BHYT tự nguyện tạ Bảo h ểm xã hộ huyện Đông Hưng tỉnh Thá Bình
Đối tượng khảo sát của đề tài là các cán bộ quản lý, người người dân đã tham gia và chưa tham gia BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện Đông Hưng tỉnh
Trang 18Thái Bình Ngoài ra còn khảo sát các cán bộ có liên quan khác như các tổ chức khám chữa bệnh, các đại lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện Đông Hưng 1.4.2 Phạm v ngh ên cứu
1.4.2.1 Phạm v về nộ dung
Nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng công tác quản
lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình từ đó đề
ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện Đông Hưng tới năm 2020, định hướng đến năm 2025
- Thông tin khảo sát năm 2016
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Trên cơ sở phân tích các lý luận và cơ sở thực tiễn về BHYT tự nguyện theo các quy định hiện hành, luận văn phân tích và luận giải những vấn đề liên quan trong từng thời kỳ, sự khác biệt giữa các nội dung về BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn về BHYT tự nguyện, thu BHYT tự nguyện ở nước ta hiện nay, cũng như các khái niệm có liên quan
Trên cơ sở nội dung được đề cập, luận văn đánh giá khái quát những thành tựu và hạn chế của công tác quản lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình trong những năm qua Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý thu BHYT tự nguyện tại huyện Đông Hưng được tổng hợp từ các nguồn
số liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm đưa ra các đánh giá, nhận định khái quát nhất về công tác quản lý thu BHYT tự nguyện trong thời gian qua và đưa ra các dự báo đối với công tác quản lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện trong thời gian tiếp theo Đồng thời luận văn cũng đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả quản
lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện để từ đó làm cơ sở đề ra các giải pháp
Trang 19nhằm tăng cường quản lý thu BHYT tự nguyện trên địa bàn huyện trong thời gian tiếp theo
Nghiên cứu đề tài giúp hiểu sâu sắc và có hệ thống hơn về quản lý thu BHYT tự nguyện theo các quy định hiện hành và những tác động của nó tới các vấn đề an sinh xã hội cho người dân hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là một tài liệu tham khảo thiết thực cho cơ quan quản lý nhà nước, các giảng viên và các học viên, sinh viên, nhà nghiên cứu quan tâm tới lĩnh vực BHYT nói chung và quản lý thu BHYT tự nguyện nói riêng Góp phần chung cho sự phát triển ổn định của các quỹ BHYT tự nguyện và các vấn đề an sinh xã hội trên địa bàn huyện Đông Hưng trong thời gian tới
Trang 20PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm quản lý
Theo từ điển tiếng Việt, quản lý có nghĩa là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hay tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định (Hoàng Phê, 2003) Như vậy, xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào
đó Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với
sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý
sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định Quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra Ngoài ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của tổ chức (Bộ Nội vụ, 2013)
Theo Nguyễn Quốc Chí và Đặng Thị Mỹ Lộc (2010) thì “ Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức”
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz et al (1992) cho rằng: “Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá
Trang 21nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức
có tổ chức về quản lý là một khoa học”
Để tồn tại và không ngừng phát triển, con người có thể hành động riêng lẻ,
mà cần tổ chức phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng vào những mục tiêu chung Quá trình tổ chức sản xuất ra của cải vật chất và tổ chức cuộc sống an toàn của cộng đồng xã hội ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn hơn với tính chất phức tạp hơn; Đòi hỏi có sự phân công, điều khiển để liên kết các con người trong tổ chức (Trần Ngọc Liêu, 2009)
Chính từ sự phân công chuyên môn hoá, hiệp tác hoá lao động và sự quy định lẫn nhau giữa sự vận động của lao động vật hoá với lao động sống đã làm xuất hiện một chức năng đặc biệt; chức năng quản lý C.Mác đã chỉ ra: "Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý" Ông đã đưa ra một hình tượng dễ hiểu về vai trò của quản lý: "Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng" (Nguyễn Đức Bình và cs., 2002)
Sự quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, từ mỗi đơn vị sản xuất - kinh doanh đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân; từ một đơn vị dân
cư đến một đất nước và những hoạt động trên phạm vi khu vực, phạm vi toàn cầu Mục tiêu cụ thể và phương thức quản lý trên đại thể được chia ra 2 cấp độ: quản lý vi mô (trong phạm vi một đơn vị) và quản lý vĩ mô (trên phạm vi một địa phương, một nước…)
Cho dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật (Trần Ngọc Liêu, 2009)
Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý, dự báo kết quả
Quản lý là nghệ thuật bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt, trong đó quan hệ quan trọng nhất là con người, đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết Nghệ thuật đó thể hiện ở thái độ cư xử có văn hoá, khôn ngoan và tế nhị,trong
Trang 22việc vận dụng các nguyên tắc chung vào từng con người cụ thể Nói cho cùng, nghệ thuật quản lý con người cũng là dựa trên các qui luật tâm lý học (Lê Văn Phùng và cs., 2015)
2.1.1.2 Khái niệm Bảo hiểm y tế
Trong quá trình đổi mới của nhà nước ta hiện nay BHYT là một bộ phận quan trọng gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế xã hội Việc phát triển BHYT
là một nhiệm vụ cần thiết để khắc phục rủi ro, tiết kiệm và huy động các nguồn lực cho đầu tư Từ khái niệm trên cho thấy: BHYT là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
Ở các nước phát triển, người ta định nghĩa Bảo hiểm y tế là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT (Phạm Đình Thành, 2004)
Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro,
ốm đau, bệnh tật (Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
Ở Việt Nam, khái niệm BHYT được đề cập trong Luật BHYT năm 2009 như sau: BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của luật này (Quốc hội, 2009)
Tuy nhiên, theo Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của luật Bảo hiểm y
tế năm 2014 thì khái niệm BHYT đã có một sự khác biệt lớn, theo đó: Bảo hiểm
y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện (Quốc hội, 2014)
BHYT trước hết là một nội dung của BHXH một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội, chế độ bao
Trang 23cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH Đó cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y tế Trong các nước công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng được phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang đề cập đến BHXH về y tế hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp.Thực
ra BHXH ở nước ta hiện có các chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau, Chế độ trợ cấp thai sản, Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu trí, Chế độ tử tuất thì cũng có thể hiểu BHYT là Chế độ khám chữa bệnh (Phạm Đình Thành, 2008)
Như vậy, có thể thấy, BHYT có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: kinh tế, xã hội, pháp lý, dân số… Tuy nhiên, dù ở góc độ nào, BHYT cũng
có một số đặc trưng cơ bản đó là được thiết lập trên cơ sở sự đóng góp của người tham gia; bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh và không mang mục đích kinh doanh Có thể đưa ra khái niệm về BHYT như sau: BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đói với các đối tượng theo quy định của pháp luật nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe không vì mục đích lợi nhuận và được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của người tham gia và do nhà nước tổ chức thực hiện
Nhóm đối tượng bắt buộc tham gia BHYT theo Luật BHYT (Quốc hội 2014)
1 Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm: a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức;
b) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật
2 Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm:
a) Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
Trang 24b) Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;
c) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm
xã hội hằng tháng;
d) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
3 Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:
a) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;
b) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng
từ ngân sách nhà nước;
c) Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
d) Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;
đ) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm; e) Trẻ em dưới 6 tuổi;
g) Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;
h) Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;
i) Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;
k) Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này;
l) Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
Trang 25m) Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;
n) Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam
4 Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm:
a) Người thuộc hộ gia đình cận nghèo;
b) Học sinh, sinh viên
5 Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm những người thuộc
hộ gia đình, trừ đối tượng tại các nhóm 1,2,3,4 (Quốc hội, 2014)
2.1.1.3 Khái niệm Bảo hiểm y tế tự nguyện
Về cơ bản chế độ BHYT tại các quốc gia trên thế giới đều tồn tại dưới hai hình thức BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện
- Bảo hiểm y tế bắt buộc: Đây là hình thức BHYT áp dụng bắt buộc với một số đối tượng người dân hoặc với toàn dân, tham gia BHYT được xác định là một nghĩa vụ (Bùi Thị Thu Hằng, 2014)
- Bảo hiểm y tế tự nguyện: Đây là hình thức BHYT mà người dân thường được tự do trong việc lựa chọn về việc tham gia hay không, mức hưởng bảo hiểm, mức đóng, hình thức đóng v.v (Bùi Thị Thu Hằng, 2014)
Việc tự do lựa chọn của người tham gia trong hình thức BHYT này tùy thuộc vào chính sách bảo hiểm của quốc gia đó Theo Nghị định số 63/2005/NĐ-
CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ ban hành Ban hành điều lệ BHYT thay thế Nghị định số 58/1998/NĐ-CP, BHYT tự nguyện được áp dụng đối với mọi đối tượng có nhu cầu tự nguyện tham gia BHYT, kể cả đối tượng đã tham gia BHYT bắt buộc nhưng muốn tham gia BHYT tự nguyện để hưởng mức dịch vụ BHYT cao hơn người tham gia BHYT bắt buộc, người nước ngoài đến học tập, du lịch tại Việt Nam
Dựa trên khái niệm BHYT có thể hiểu BHYT tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không vì mục đích lợi nhuận mà ở đó người dân được tự nguyện lựa chọn việc tham gia để được chăm sóc sức khỏe một cách tốt hơn so với việc sử dụng các dịch vụ được cung cấp đối với BHYT bắt buộc khi đau ốm, bệnh tật
BHYT tự nguyện là một trong hai loại hình BHYT đang được thực hiện ở nước ta So với BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện có số lượng tham gia đông
Trang 26đảo, đa dạng về thành phần và nhận thức xã hội, có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác nhau Về nguyên tắc, BHYT có khả năng bao quát đến mọi tầng lớp dân cư, nhưng kinh nghiệm ở nhiều nước và Việt Nam cho thấy loại hình này có nhiều nhược điểm: Người dân khi khỏe mạnh còn ít quan tâm và phí BHYT vẫn còn khá cao (người tham gia phải tự đóng toàn bộ), trong khi đó nhóm người có nguy cơ ốm đau, bệnh tật cao thì lại chú trọng đến việc tham gia BHYT nhiều hơn Thực trạng đó dẫn đến hậu quả khả năng an toàn về tài chính của quỹ BHYT khó đảm bảo và không thực hiện được nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa người khỏe và người yếu, người có thu nhập cao và người nghèo Đây là vấn đề phụ thuộc vào yếu tố tổ chức thực hiện và nhận thức của cộng đồng xã hội
về vấn đề này (BHXH Thừa Thiên Huế, 2007)
BHYT tự nguyện ra đời trên cơ sở chia sẻ rủi ro Do vậy, tính chất cộng đồng xã hội tương ái tương thân, đùm bọc lẫn nhau được đặt lên hàng đầu Ngoài ra để phát triển hệ thống y tế, chia bớt gánh nặng về bệnh tật của bản thân mỗi người và xã hội thì sự ra đời của chính sách BHYT tự nguyện là bức thiết Nhưng nhìn từ góc độ sản phẩm BHYT thì BHYT tự nguyện có những tính chất cơ bản sau:
- BHYT tự nguyện là một loại hàng hóa: dưới góc độ kinh tế học thì BHYT tự nguyện là một loại hàng hóa có giá trị sử dụng giúp con người bảo vệ sức khỏe, giảm gánh nặng tài chính Mặt khác BHYT cũng có tính cạnh tranh (Nguyễn Thị Tứ, 2007)
- Về mặt kinh tế, xã hội: các quốc gia trên thế giới phải công nhận rằng sự nghèo khổ của người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro,…gây ra không chỉ là trách nhiệm của bản thân cá nhân, gia đình của họ mà còn là trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội Vì vậy, BHYT tự nguyện là công cụ quan trọng để quản lý xã hội và là kênh phân phối thu nhập hiệu quả nếu xét trên phương diện kinh tế (Nguyễn Thị Tứ, 2007)
- Về đối tượng tham gia: Đối tượng tham gia của BHYT tự nguyện rất rộng,
có thể là tất cả các thành viên trong xã hội BHYT tự nguyện là hình thức tương trợ cộng đồng với mục đích bảo vệ sức khỏe cho nhân dân nên đối tượng tham gia BHYT tự nguyện không bị giới hạn bởi bất cứ tiêu chí nào (Nguyễn Thị Tứ, 2007)
- Về mục tiêu của BHYT tự nguyện: Mục tiêu của BHYT tự nguyện là hướng tới việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho mọi người dân BHYTTN có
Trang 27trách nhiệm chi trả các chi phí khám chữa bệnh cho những người dân bị ốm đau, bệnh tật, rủi ro v.v có nhu cầu khám và điều trị bệnh (Nguyễn Thị Tứ, 2007)
- Về mức hưởng BHYTTN: Đối với BHYT TN, mức hưởng bảo hiểm lại không phụ thuộc vào mức đóng góp, thời gian đóng góp mà phụ thuộc vào rủi ro bệnh tật và cơ sở cung ứng dịch vụ y tế Hệ thống BHYT TN từ khi hình thành
đã không định hướng theo mức độ rủi ro mà theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chi trả trực tiếp (Nguyễn Thị Tứ, 2007)
- Về thực hiện BHYT TN: Quan hệ BHYT TN là quan hệ diễn ra giữa ba bên: bên thực hiện BHYT TN, bên tham gia BHYTTN và cơ sở khám chữa bệnh (Nguyễn Thị Tứ, 2007)
2.1.1.4 Quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện
Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ, thu đúng đối tượng và rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia BHYT, BHYT tự nguyện Bên cạnh đó cần phải tổ chức theo dõi quỹ BHYT tự nguyện để làm cơ sở cho các cơ quan quản lý Nhà nước
đề ra những chính sách có liên quan tới BHYT tự nguyện cũng như quyền lợi của người tham gia BHYT tự nguyện được hưởng khi có nhu cầu khám chữa bệnh (Lan Vũ, 2016)
Thu Bảo hiểm y tế tự nguyện là việc các đối tượng tham đóng BHYT tự nguyện theo Luật định để mua thẻ BHYT tự nguyện Trên cơ sở đó hình thành, tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho việc chi trả các chi phí khám chữa bệnh của người tham gia BHYT tự nguyện để được chăm sóc sức khỏe một cách tốt hơn so với việc sử dụng các dịch vụ được cung cấp đối với BHYT bắt buộc khi đau ốm, bệnh tật (Bùi Thị Thu Hằng, 2014)
Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và
có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức BHYT Hội đồng quản lý BHXHViệt Nam chịu trách nhiệm quản lý quỹ BHYT và tư vấn chính sách BHYT Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý quỹ BHYT và quyết định nguồn tài chính để bảo đảm việc khám bệnh, chữa bệnh BHYT trong trường hợp mất cân đối thu, chi quỹ BHYT Hàng năm, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ BHYT (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
Từ đó tác giả đi đến khái niệm quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện là hoạt động bao gồm quản lý và phát triển đối tượng đóng bảo hiểm y tế tự nguyện, mở
Trang 28rộng và phát triển đối tượng tham gia đóng BHYT tự nguyện, quản lý mức thu nộp, quản lý phương thức thu và thời gian tham gia BHYT tự nguyện của các đối tượng có nhu cầu
2.1.2 Đặc điểm, vai trò quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện
2.1.2.1 Đặc điểm quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện
- Số đối tượng phải thu thường là lớn và gia tăng theo thời gian, nhiều nhóm đối tượng khác nhau,… nên công tác quản lý thu BHYT tự nguyện là rất khó khăn và phức tạp (Tường Thị Huyền Trang, 2014)
- Công tác thu mang tính chất không cố định, khối lượng công việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thu cũng phải tương ứng (Tường Thị Huyền Trang, 2014)
- Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn tiền thu BHYT tự nguyện (Tường Thị Huyền Trang, 2014)
Do vậy, công tác quản lý thu BHYT tự nguyện cũng là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của ngành BHXH Để công tác thu BHYT tự nguyện đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ hợp lý, khoa học nhất là trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay Vì vậy, công tác quản lý thu BHYT tự nguyện phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất trong
cả hệ thống từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả đặc biệt là quản lý tiền thu quỹ BHYT tự nguyện…
2.1.2.2 Vai trò quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện
Nắm chắc được nguồn thu BHYT tự nguyện: Nguồn thu của quỹ BHYT
tự nguyện bao gồm nguồn đóng BHYT tự nguyện, tiền sinh lời từ hoạt động đầu
tư của quỹ BHYT tự nguyện, tài trợ viện trợ của các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài… Để nắm chắc được các nguồn thu trên phải tăng cường công tác quản lý chặt chẽ các nguồn thu Đối với từng nguồn thu khác nhau phải
có phương pháp quản lý thích hợp (Phạm Đình Thành, 2004)
Tăng thu đảm bảo cân đối quỹ BHYT tự nguyện: Thu BHYT tự nguyện
có vai trò rất lớn trong việc cân đối quỹ BHYT tự nguyện Hơn thế nữa thu BHYT tự nguyện còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống BHYT tự nguyện Việt Nam Để tăng thu BHYT tự nguyện có một số biện pháp sau:
Trang 29Tăng số người tham gia đóng BHYT tự nguyện Đây là biện pháp có tính chất quyết định Trong điều kiện nền kinh tế nước ta chưa phát triển, chúng ta chưa thể tăng nhanh mức đóng BHYT tự nguyện, mà phải tăng từ từ Từ thực tế đó việc tăng số người tham gia đóng BHYT tự nguyện có ý nghĩa thực tế và có tính quyết định trong việc cân đối quỹ BHYT tự nguyện (Phạm Đình Thành, 2004)
Thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo đúng thời gian quy định Bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT tự nguyện: Đây là quyền lợi chính đáng và hợp pháp của NLĐ Nhưng nếu người tham gia không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp BHYT tự nguyện thì trước hết bản thân người tham gia không đủ điều kiện quy định của pháp luật để hưởng các quyền lợi theo quy định, mặt khác không có nguồn thu để đảm bảo chi trả các chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia khi các sự kiện bảo hiểm xảy ra, bởi lẽ chính sách BHXH, BHYT tự nguyện trong cơ chế thị trường được xây dựng trên nguyên tắc
“có đóng có hưởng” Nếu tăng cường công tác quản lý thu, phát hiện các trường hợp trốn đóng, đóng thiếu và có các biện pháp xử lý đúng đắn sẽ là cơ sở, tiền đề
để bảo đảm quyền lợi cho người tham gia (Phạm Đình Thành, 2004)
Tham gia vào thị trường tài chính, đầu tư phát triển: ở tầm vĩ mô, vai trò quản lý thu còn được thể hiện khi số thu lớn hơn số chi, quỹ BHYT tự nguyện được Chính phủ cho phép thực hiện các biện pháp đầu tư, tăng trưởng, cung ứng lượng tiền tạm thời nhàn rỗi trên thị trường tài chính, mang lại hiệu quả kinh tế -
xã hội (Phạm Đình Thành, 2004)
2.1.3 Nội dung quản lý thu quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện
2.1.3.1 Phân cấp quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện
Căn cứ theo Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015 của BHXH Việt Nam ban hành quy định về quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT thì phân cấp quản lý thu BHYT trong đó có thu BHYT tự nguyện được quy định cụ thể như sau:
Trang 30Thu thu BHYT đối với hộ gia đình, người tham gia BHYT cư trú trên địa bàn huyện
Thu tiền hỗ trợ mức đóng BHYT tự nguyện của ngân sách theo phân cấp quản lý ngân sách
Ghi thu tiền đóng BHYT của đối tượng do quỹ BHXH, quỹ BHTN đảm bảo theo phân cấp của BHXH tỉnh
Cấp mới, cấp lại, đổi thẻ BHYT cho người tham gia BHYT do BHXHhuyện thu, các trường hợp BHXHtỉnh ủy quyền cho BHXH huyện cấp thẻ BHYT; cấp lại, đổi thẻ BHYT các trường hợp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tại huyện (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
b) BHXH tỉnh
Thu BHYT của các đơn vị chưa phân cấp cho BHXH huyện
Giải quyết các trường hợp truy thu, hoàn trả BHYT; tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với đơn vị, người tham gia BHYT do BHXH tỉnh trực tiếp thu
Thu BHYT của đối tượng do ngân sách tỉnh đóng; ghi thu tiền đóng BHYT do quỹ BHXH, quỹ BHTN đảm bảo
Thu tiền hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện của ngân sách
Cấp mới, cấp lại, đổi thẻ BHYT cho người tham gia BHYT tại các đơn
vị do BHXHtỉnh trực tiếp thu và người hưởng trợ cấp thất nghiệp trong tỉnh (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
c) BHXH Việt Nam
Thu tiền của ngân sách Trung ương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT tự nguyện (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
2.1.3.2 Phân bổ quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện
Căn cứ theo Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT/BYT-BTC ngày 30/3/2007 của liên Bộ Y tế, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiển y tế tự nguyện thì việc phân bổ, quản lý quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện được quy định như sau:
Số thu BHYT tự nguyện quy định trong năm kế hoạch được phân bổ và sử dụng như sau
Trang 31- 87% lập Quỹ KCB BHYT tự nguyện;
- 2% lập Quỹ dự phòng KCB BHYT tự nguyện;
- 8% dành chi cho các hoạt động phối hợp, tổ chức thực hiện việc thu phí, phát hành thẻ BHYT tự nguyện và hỗ trợ cho các cơ sở KCB để tổ chức thu viện phí và thanh quyết toán chi phí KCB của người bệnh BHYT tự nguyện;
- 3% dành chi đào tạo đại lý, bổ sung cho công tác tuyên truyền, vận động, khen thưởng và nâng cao năng lực cán bộ
Số thu bao gồm tiền sinh lời do thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng Quỹ BHYT tự nguyện và các khoản thu hợp pháp khác (nếu có) được hạch toán vào quỹ dự phòng KCB BHYT tự nguyện (Bộ Tài chính, Bộ Y tế, 2006) 2.1.3.3 Quản lý đối tượng
Căn cứ theo Quyết định 959/QĐ-BHXH ngày 9/9/2015 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Quy định về BHXH, BHYT, BHTN BHXH tỉnh, huyện có trách nhiệm:
- Lập danh sách các đơn vị trên địa bàn; thông báo, hướng dẫn đơn vị kịp thời đăng ký tham gia, đóng đủ BHYT cho người lao động theo quy định của pháp luật
- Định kỳ 3 tháng hoặc đột xuất, báo cáo UBND cùng cấp, cơ quan quản
lý lao động địa phương tình hình chấp hành pháp luật về BHYT của các đơn
vị trên địa bàn Các trường hợp đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHYT: không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHYT không đủ sốlao động, không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, cơ quan BHXH lập biên bản, kiến nghị xử
lý theo quy định
Cơ quan BHXH tỉnh, huyện phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thống kê, lập danh sách; tổ chức thu, cấp thẻ BHYT cho đối tượng tham gia BHYT; định kỳ báo cáo với UBND cùng cấp về tình hình thực hiện BHYT cho các đối tượng theo quy định của Luật BHYT và đề xuất các biện pháp giải quyết vướng mắc
Người tham gia BHYT do tổ chức BHXH đóng di chuyển khỏi địa bàn tỉnh: cơ quan BHXH nơi người tham gia chuyển đến thu hồi thẻ BHYT cũ, cấp thẻ BHYT mới; đồng thời thông báo cho cơ quan BHXH nơi cấp thẻ BHYT
cũ để điều chỉnh giảm số phải thu (Mẫu D61-TS);
Trang 32Đối với trẻ em dưới 6 tuổi di chuyển khỏi địa bàn tỉnh: Cha (mẹ) hoặc người giám hộ nộp thẻ BHYT cho cơ quan BHXH Cơ quan BHXH thu hồi thẻ BHYT, cấp giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả (Mẫu số 01 ban hành kèm theo Quyết định số 999/QĐ-BHXH ngày 24/9/2015 của BHXH Việt Nam) Trường hợp người tham gia không nộp thẻ BHYT tại tỉnh nơi cấp thẻ thì cơ quan BHXH nơi cấp thẻ mới thu hồi thẻ BHYT cũ và cấp thẻ BHYT mới; đồng thời thông báo cho cơ quan BHXH nơi cấp thẻ BHYT cũ để điều chỉnh giảm số phải thu (Mẫu D61-TS)
Người tham gia BHYT tự nguyện cư trú tại địa bàn xã và huyện nào, thì đăng ký và nộp tiền tham gia BHYT tự nguyện theo xã và huyện đó
Cơ quan BHXH tổ chức thu phí BHYT tự nguyện của đối tượng nhân dân mỗi tháng 01 lần (một năm thu tối đa 12 lần), thời gian Đại lý thu tiền của đối tượng nhân dân từ ngày 25 cho đến ngày làm việc cuối cùng của tháng (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
2.1.3.4 Quản lý tiền thu
* Mức đóng BHYT tự nguyện
Luật bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014 khuyến khích, vận động người dân tham gia BHYT theo hộ gia đình với những chính sách ưu đãi hơn so với quy định cũ
Hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế bao gồm toàn bộ người có tên trong sổ
hộ khẩu hoặc sổ tạm trú Người tham gia BHYT theo hộ gia đình không bao gồm người thuộc đối tượng tham gia BHYT theo Khoản 1,2,3,4 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Quốc hội, 2014)
Khi mua BHYT theo hộ gia đình, mức đóng được giảm dần từ thành viên thứ hai trở đi Cụ thể mức đóng BHYT theo hộ gia đình được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định về mức đóng như sau:
Mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất
Hiện nay mức lương cơ sở là 1.210.000 đồng Vậy mức đóng cụ thể như sau:
Trang 33+ Người thứ nhất sẽ phải đóng với mức 4,5% mức lương cơ sở (mức lương cơ sở thời điểm hiện tại là 1.210.000 đồng), tương đương 653.400 đồng;
+ Người thứ 2 đóng với mức 70% của người thứ nhất tương đương 457.400 đồng;
+ Người thứ 3 đóng với mức 60% của người thứ nhất tương đương với 392.000 đồng;
+ Người thứ 4 đóng với mức 50% của người thứ nhất, tương đương với 326.700 đồng;
+ Người thứ 5,6,7… đóng với mức 40% của người thứ nhất tương đương với 261.400 đồng (Chính phủ, 2014)
đã thu của đơn vị, người tham gia vào tài khoản chuyên thu tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
* Hoàn trả
Các trường hợp hoàn trả:
a) Đơn vị giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật hoặc di chuyển nơi đăng ký tham gia đã đóng thừa tiền BHYT
b) Các trường hợp hoàn trả BHYT
c) Đơn vị chuyển tiền vào tài khoản chuyên thu không thuộc trách nhiệm quản lý thu của cơ quan BHXH tỉnh, huyện theo phân cấp
d) Số tiền đơn vị, cá nhân đã chuyển vào tài khoản chuyên thu không phải
là tiền đóng BHYT
đ) Kho bạc hoặc ngân hàng hạch toán nhầm vào tài khoản chuyên thu (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
Trang 34* Phân cấp thực hiện:
Cơ quan BHXH quản lý đơn vị, người tham gia thực hiện hoàn trả tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN từ tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2015)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu bảo hiểm y tế tự nguyện 2.1.4.1 Chính sách về bảo hiểm y tế tự nguyện
Trong điều kiện trình độ nhận thức của người dân tiến bộ thì việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống cũng trở nên đơn giản hơn rất nhiều Người dân nhanh chóng nắm bắt được ý nghĩa to lớn của chính sách, chế độ BHYT nói chung và về BHYT tự nguyện thông qua công tác thông tin, tuyên truyền Khi nhận thức của đại bộ phận người dân, đặc biệt là những người lao động và người sử dụng lao động được nâng lên rõ rệt sẽ tác động tích cực đến công tác quản lý thu BHYT, giảm bớt tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHYT đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý thu BHYT tự nguyện
Chính sách BHYT ở Việt Nam bắt đầu được triển khai từ năm 1992, Trong gần 25 năm qua, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về BHYT, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính sách BHYT, góp phần tích cực tạo nguồn tài chính cho việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 4, vào ngày 14-11-2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật BHYT và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-7-2009
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Luật Bảo hiểm y tế được Quốc hội XIII thông qua ngày 13/6/2014 Nội dung của Luật BHYT đã cơ bản khắc phục được những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế để từng bước tiến tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.(Quốc hội, 2014)
2.1.4.2 Trình độ dân trí và nhận thức của người dân
Có thể nói, một địa phương có trình độ dân trí cao, văn hóa xã hội phát triển, khả năng có thể tiếp cận với thông tin, khoa học – kĩ thuật của người dân dễ dàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chính sách xã hội phát triển, đi sâu vào đời sống người dân hơn so với một địa phương có trình độ dân trí kém phát triển
Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về các chính sách có liên quan tới BHYT tự nguyện cũng rất quan trọng trong việc quyết định tham gia BHYT tự
Trang 35nguyện của người dân Nếu người dân hiểu rõ các quyền lợi của mình khi tham gia BHYT tự nguyện thì họ sẽ sẵn sàng tham gia BHYT tự nguyện Ngược lại, khi người dân không thực sự hiểu các quyền lợi khi tham gia BHYT tự nguyện,
họ sẽ thờ ơ và không tham gia BHYT tự nguyện
2.1.4.3 Mạng lưới hệ thống thu bảo hểm y tế tự nguyện
Đa số người dân thuộc đối tượng tự nguyện, chỉ khi ốm đau hoặc có nguy
cơ ốm đau cao mới tham gia BHYT, số người tham gia BHYT để dự phòng rủi
ro chiếm tỷ lệ rất nhỏ Do vậy, việc phát triển mạng lưới hệ thống thu BHYT tự nguyện sẽ là một kênh quan trọng chuyền tải các chính sách về BHYT tới người dân trên địa bàn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để người dân có thể tham gia BHYT tự nguyện Khi mạng lưới hệ thống thu BHYT tự nguyện được phát triển sâu rộng, người dân sẽ dễ dàng được tư vấn tốt hơn về các chính sách, quyền lợi của bản than và người thân trong gia đình khi tham gia BHYT tự nguyện, số lượng người tham gia BHYT tự nguyện sẽ tăng cao
Có thể thấy những người tham gia BHYT tự nguyện hầu hết có thu nhập không ổn định Do đó, nếu không có cơ chế hỗ trợ thích hợp sẽ khó thu hút người dân tham gia Như vậy, các cơ chế, hình thức và mức thu BHYT tự nguyện phải phù hợp với điều kiện thu nhập đại đa số của người dân, đồng thời cần có những mức thu BHYT khác nhau đối với các đối tượng khác nhau, khu vực khác nhau để đồng thời vừa đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, vừa tạo nguồn kinh phí đảm bảo duy trì và phát huy tốt các dịch vụ KCB cho nhân dân
Trang 362.1.4.5 Mối quan hệ ba bên giữa cơ quan thu, đối tượng thu và cơ sở cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh
Hàng năm, cơ quan BHXH các tỉnh thực hiện việc ký kết hợp đồng KCB
và thanh toán chi phí KCB với các cơ sở KCB, thế nhưng những người KCB có thẻ BHYT vẫn chưa được tạo điều kiện tốt khi đi KCB Bên cạnh đó, việc người dân nhưng vẫn chưa hiểu rõ về các quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia BHYT tự nguyện Do đó, để nâng cao hiệu quả quản lý thu BHYT tự nguyện thì ngành y tế nói chung và các cơ sở KCB nói riêng phải tăng cường tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhân thức đối với đội ngũ y, bác sỹ, không những công tác chuyên môn mà còn nắm bắt tốt những chế độ chính sách của Nhà nước về y tế hiện nay Đồng thời ngành Bảo hiểm xã hội đã đổi mới cơ chế từ hành chính sang cơ chế phục vụ, đảm bảo tối đa quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT khi đi KCB; thanh toán trực tiếp khi KCB vượt tuyến, KCB theo dịch vụ Mặt khác tăng cường quản lý, giám sát, theo dõi, kiểm tra hoạt động KCB của các cơ sở y tế, đảm bảo thanh toán chi phí KCB đúng đối tượng, hạn chế tối đa tình trạng lạm dụng quỹ BHYT, đảm bảo công bằng cho người tham gia BHYT Thiết nghĩ, nếu công tác quản lý chặt chẽ, phục vụ tốt đối tượng tham gia BHYT, thì người dân sẽ tham gia BHYT ngày càng nhiều hơn, công tác quản lý thu BHYT sẽ đạt được những kết quả tốt hơn
2.1.4.6 Nguồn lực của cơ quan quản lý bảo hiểm
Bên cạnh những nhân tố khách quan trên thì công tác thu BHYT tự nguyện còn chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan từ chính các yếu tố thuộc cơ quan bảo hiểm xã hội bao gồm cơ sở hạ tầng, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý và năng lực của các cán bộ làm công tác quản lý
Để nắm bắt được những thay đổi tăng, giảm của đối tượng tham gia, diễn biến tiền lương làm căn cứ đóng BHYT tự nguyện… cán bộ chuyên quản lý thu phải đảm bảo đủ năng lực về trình độ chuyên môn, khả năng nhận định và phân tích tình hình, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc…, Đồng thời việc ứng dụng CNTT trong quản lý sẽ giúp giảm bớt các thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả công việc,… Như vậy công tác quản lý thu mới đạt hiệu quả cao, phát hiện kịp thời những tình huống sai phạm để có biện pháp xử lý triệt để
Ngoài ra, công tác quản lý thu BHYT tự nguyện còn chịu tác động của các yếu tố cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ công tác nghiệp vụ chuyên môn hiện đại
Trang 37hay đã lỗi thời, lạc hậu, sự quan tâm của các chủ thể liên quan đến chính sách…
Vì vậy để công tác thu BHYT tự nguyện đạt được hiệu quả tốt nhất, cán bộ trong ngành Bảo hiểm xã hội, đặc biệt là cán bộ quản lý thu BHYT tự nguyện cần phải quan tâm toàn diện đến các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý thu BHYT tự nguyện như đã phân tích ở trên
2.1.4.7 Sự cạnh tranh của các hệ thống bảo hiểm thương mại khác
Việc tham gia hay không tham gia BHYT tự nguyện của mỗi người dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như thu nhập của người dân, cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước về BHYT tự nguyện hay chất lượng dịch vụ KCB khi sử dụng thẻ BHYT tự nguyện,… trong đó có yếu tố về sự cạnh tranh của các
hệ thống bảo hiểm thương mại khác
Ngày nay, ở nước ta đã và đang phát triển nhiều loại hình BHYT của các
hệ thống bảo hiểm thương mại khác với các phương thức tham gia linh hoạt, thuận lợi cho người dân tham gia với các mức thu khác nhau, đồng thời có sự cam kết về dịch vụ KCB, các cơ chế bồi thường rủi ro hấp dẫn Do đó, để thu hút được người dân tham gia BHYT tự nguyện thì Cơ quan BHXH cần phải tăng cường quản lý thu BHYT tự nguyện theo hướng chuyên nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể tiếp cận các dich vụ, chế độ đãi ngộ trong KCB,… 2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu Bảo hiểm y tế tự nguyện một số quốc gia trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
BHYT Hàn Quốc được chia thành 4 loại:
- Bảo hiểm cho công nhân các xí nghiệp công thương chiếm 53,2%;
- Bảo hiểm cho cán bộ Nhà nước và giáo viên trường tư chiếm 15,4%;
- Bảo hiểm cho các nhóm lao động cá thể chiếm 1%;
- Bảo hiểm cho người lao động ở nông thôn chiếm 27,3% Nguồn thu quỹ BHYT ở Hàn Quốc được hình thành từ 3 loại sau:
- Thu từ các đơn vị tổ chức xã hội;
- Thu từ các tầng lớp dân cư;
phí BHYT vẫn là chủ yếu, chiếm 80% Mức đóng góp được quy định cụ thể như sau:
Trang 38- Viên chức đóng góp từ 2-8% tiền lương hàng tháng hoặc thu nhập của mình;
- Công nhân làm việc trong các doanh nghiệp đóng góp từ 5-7% thu nhập;
- Nếu căn cứ vào mối quan hệ trong quá trình lao động thì người sử dụng lao động phải đóng góp từ 34-50%, phần còn lại người lao động góp từ 50- 66% (Tường Thị Huyền Trang, 2014)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Pháp
Quỹ BHYT ở Pháp đươc hình thành từ sự đóng góp của các đối tượng tham gia, được phân thành 3 cấp:
- Quỹ BHYT trung ương: Đặt tại Paris (là cơ quan quản lý Nhà nước), gồm có Hội đồng quản lý và Ban quản lý;
- Quỹ BHYT địa phương: tự hạch toán hoạt động nhưng theo quy chế của Nhà nước gồm: (16 quỹ khu vực, 129 quỹ cơ sở, 4 quỹ hải ngoại);
- Quỹ BHYT cơ sở Bảo hiểm y tế ở Pháp được thực hiện dưới hai hình thức bắt buộc và tự nguyện Bắt buộc đối với người làm công ăn lương Cả hai loại đối tượng này khi đi khám chữa bệnh và điều trị đều có quyền bình đẳng ngang nhau Vấn đề thanh toán được thực hiện theo phương thức thực thanh, thực chi Nguồn thu BHYT của Pháp bao gồm:
- Người sử dụng lao động đóng góp 66% của quỹ BHYT;
- Người lao động đóng góp 29,5% của quỹ BHYT;
- Nhà nước hỗ trợ 1,9% của quỹ BHYT;
- Các nguồn khác chiếm 2,6% của quỹ BHYT (Tường Thị Huyền Trang, 2014)
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu Bảo hiểm y tế tự nguyện tại một số địa phương trong nước
2.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Lạng Sơn
Trước năm 2012, công tác quản lý thu BHYT được chia làm hai phần BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện Đối tượng tham gia BHYT bắt buộc đã và được quản lý thu trên chương trình phần mềm SMS 6.0 (Social Management System - Chương trình quản lý thu bao hiểm xã hội), còn đối tượng tham gia BHYT tự nguyện được quản lý theo phương thức mở sổ sách theo dõi riêng, nên rất khó khăn trong việc quản lý đến từng người tham gia BHYT tự nguyện, dẫn
Trang 39đến việc tổng hợp báo cáo phải tổng hợp bằng phương pháp thủ công mất rất nhiều thời gian
Năm 2012, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/11/2011, mục đích nhằm để quản lý tập trung tất cả các nhóm đối tượng trên một phần mềm duy nhất MiSBHXH (Phần mềm quản
lý thu BHXH) Ban đầu BHXH các huyện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn còn gặp khó khăn do chưa quen quản lý thu đối tượng tự nguyện trên phần mềm MISBHXH, nhưng sau khi được hướng dẫn và hiểu cách làm thì các huyện đã thấy được sự cần thiết của nó, vừa đảm bảo được việc quản lý chặt chẽ số tiền thu, vừa đảm bảo số liệu quyết toán được tập trung Như vậy đã đạt được kết quả nhất định, việc đưa từng người vào quản lý đã giúp cho việc tổng hợp báo cáo số người tham gia BHYT hàng tháng được đầy đủ hơn, quản lý mức đóng của từng người được chính xác hơn Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác báo cáo định kỳ hàng tháng, quý, năm Đặc biệt hơn nữa là báo cáo phân bổ quỹ khám chữa bệnh theo mẫu số B05-TS được đầy đủ và chính xác hơn
Theo quy định về thời gian nộp báo cáo công tác thu hàng tháng giữa BHXH Việt Nam và BHXH tỉnh rất khác nhau BHXH Việt Nam yêu cầu báo cáo hàng tháng nộp trước ngày mùng 5 của tháng sau; còn BHXH tỉnh yêu cầu nộp báo cáo chậm nhất là ngày mùng 2 của tháng kế tiếp Do đó để chốt được
số liệu báo cáo thống nhất cho văn phòng BHXH tỉnh và BHXH Việt Nam được chính xác kết quả thu trong tháng, yêu cầu các cán bộ được phân công quản lý phải tổng hợp số liệu một cách khoa học để đảm bảo về mặt thời gian nộp báo cáo đúng quy định mà không ảnh hưởng đến kết quả thu trong tháng
Thực hiện tốt việc tổng hợp số liệu khoa học, BHXH tỉnh Lạng Sơn đã quản lý được số thu BHYT hộ gia đình rất chặt chẽ Theo tổng hợp của Phòng thu, BHXH tỉnh cho thấy, năm 2011, toàn tỉnh có 15.423 người tham gia BHYT hộ gia đình với số thu 6.584 triệu đồng; năm 2012 có 17.277 người tham gia BHYT hộ gia đình với số thu 9.026 triệu đồng Không những vậy, phương pháp này còn giúp cho tỉnh nắm được số thẻ đến kỳ hết hạn và có thông tin cho BHXH các huyện, thành phố, các đại lý thu BHYT để mua và cấp thẻ mới kịp thời Để tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác này, BHXH tỉnh Lạng Sơn hàng tháng, quý đã tổ chức giao ban với BHXH các huyện, thành phố Nếu có những phát sinh liên quan đến những nghiệp vụ cần thiết phải hướng dẫn, thành phần chủ yếu là các cán bộ làm công tác thu ở huyện Giữa
Trang 40tỉnh và các huyện, thành phố sẽ có sự trao đổi trực tiếp tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, như vậy tiết kiệm được chi phí và mang lại hiệu quả (Thanh Huyền, 2013)
2.2.2.2 Kinh nghiệm tỉnh Bình Phước
Công tác thu BHYT và BHYT tự nguyện được thực hiện qua phương thức đối tượng tự đóng qua hệ thống bưu điện trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong thời gian qua bước đầu được đánh giá mang lại nhiều tiện ích cho đối tượng tham gia, góp phần đảm bảo chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đối với người dân Trong quá trình triển khai thực hiện, Bưu điện tỉnh bảo đảm điều kiện
cơ sở vật chất tại các điểm thu; nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, quy trình dịch vụ nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu của người dân trên địa bàn
Thực hiện Hợp đồng số 18/BHXH– BĐ ngày 01/11/2014 giữa Bảo hiểm
xã hội tỉnh và Bưu điện tỉnh Bình Phước về việc đại lý thu BHXH tự nguyện, BHYT đối tượng tự đóng và phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, BHYT qua hệ thống bưu điện trên địa bàn tỉnh Bình Phước; BHXH tỉnh tổ chức đào tạo đại lý theo quy trình hướng dẫn của BHXH Việt Nam, và cấp chứng chỉ đại lý cho các cá nhân đã hoàn thành các khóa đào tạo theo yêu cầu
Sau khi ký hợp đồng với cơ quan BHXH tỉnh, Bưu điện tỉnh chính thức triển khai dịch vụ thu BHXH, BHYT tự nguyện từ tháng 11/2014 Hiện nay các đại lý đã đảm nhiệm công tác thu đến tận xã, phường, thị trấn Để thực hiện đầy đủ các nội dung trong hợp đồng, Bưu điện tỉnh đã trang bị biển hiệu đầy đủ giúp người dân dễ nhận biết bưu điện là điểm thu BHXH, BHYT tự nguyện Các điểm thu có trụ sở giao dịch ổn định, có bàn ghế, các thiết bị cần thiết để quản lý tiền mặt, có nhân viên phục vụ, đồ đạc bài trí gọn gàng, an toàn; có đầy đủ ấn phẩm, biên lai thu tiền, niêm yết đầy đủ các văn bản quy định tại các bưu cục, bưu điện văn hóa xã Bên cạnh đó, Bưu điện tỉnh đã đẩy mạnh công tác truyền thông giới thiệu dịch vụ thu BHXH tự nguyện, BHYT tự đóng bằng các hình thức đa dạng, phong phú như: đăng tin giới thiệu, quảng bá dịch vụ trên các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh; phát hành tờ rơi tại các khu vực đông dân cư, khu chợ … Đồng thời, Bưu điện tỉnh thường xuyên đào tạo nghiệp vụ, kỹ năng tư vấn khách hàng, kỹ năng truyền thông, giúp nhân viên các đại lý thu hiểu rõ quy trình thu BHYT theo hộ gia đình; hình thức truyền thông trực tiếp về BHXH, BHYT Từ đó tư vấn, giải thích để khách hàng hiểu được quyền lợi khám chữa bệnh của người có thẻ BHYT; mục