Nghiên cứu được tiến hành nhằm phân tích thực trạng và kết quả triển khai các giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu trên địa bàn huyện Hải Hậu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn với đ
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất cây dược liệu
Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng Những loại cây này có khả năng tự sản sinh các chất hóa học đa dạng để tồn tại ngoài tự nhiên tránh khỏi mọi đe dọa của côn trùng, nấm hay các động vật ăn thực vật Chính những hợp chất hóa học trong cây lại đem lại các tác động có lợi lên cơ thể người Và có chứa nhiều dược tính tương đương với các phương thuốc Tây tiên tiến ngày nay
Việc dùng cây dược liệu trong nhân dân ta đã có từ lâu đời Từ thời nguyên thủy, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hóa, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được Kinh nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự vệ chống ngoại xâm Lịch sử nước ta cho biết ngay từ khi lập nước nhân dân ta đã biết chế tạo và sử dụng tên độc để chống lại kẻ thù
Có thể thấy, việc phát minh ra thuốc đã có từ thời thượng cổ, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được Nguồn gốc tìm ra thức ăn, thuốc và cây có chất độc chỉ là một Về sau dần dần con người mới biết tổng kết và đặt ra lý luận Hiện nay đi sâu và tìm hiểu những kinh nghiệm trong nhân dân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, con người đã sử dụng hàng vạn loài thực vật để làm thuốc Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm và hiểu biết của con người, đến ngày nay đã hình thành các khuynh hướng khác nhau, chúng ta có thể phân biệt hai loại người làm thuốc Một loại chỉ có kinh nghiệm chữa bệnh, không biết hoặc ít biết lý luận Kinh nghiệm đó cứ cha truyền con nối mà tồn tại, mà phát huy Những người có khuynh hướng này chiếm chủ yếu tại các vùng dân tộc ít người Khuynh hướng thứ hai là những người có kinh nghiệm và có thêm phần lí luận, những người này chiếm chủ yếu ở thành thị và những người có cơ sở lí luận cho rằng vị Thần Nông là người phát minh ra thuốc Truyền thuyết kể rằng: “Một ngày ông nếm 100 loài cây cỏ để tìm thuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc nên có khi một ngày ngộ độc đến
70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo” Trong bộ này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng
4000 năm nay) (Vũ Tuấn Minh, 2009)
Như vậy, trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm từ xưa cho đến ngày nay chúng ta đã tìm ra rất nhiều loại cây thuốc quý với các tác dụng vừa có thể bồi bổ tăng cường sức khỏe vừa chữa bệnh Thậm chí nhiều cây thuốc sở hữu dược tính có ích giúp điều trì các bệnh nan y, hiểm nghèo khó chữa Và trong thời đại này do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ với các công cụ hỗ trợ hiện đại, chúng ta đã có thể nghiên cứu và phân tích chính xác mọi thành phần có trong cây thuốc một cách chuẩn xác
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Theo Ngân hàng thế giới (WB): Phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người (World Bank, 1992)
Theo MITRE (2007), Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên
Theo Air Force Policy Directive (2012), phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội
Theo Amartya Sen (1988), Phát triển hay nói một cách đầy đủ hơn là phát triển kinh tế xã hội của con người là phát triển nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triển sản xuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hóa Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia
Tuy có rất nhiều những quan điểm khác nhau về sự phát triển, nhưng tóm chung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân
2.1.2.3 Sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng các đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm số sản xuất:
Trong đó: Q là số lượng một loại sản phẩm nhất định;
X1,X2,X3,….,Xn là lượng của một số yếu tố đầu vào
- Có hai phương thức sản xuất là:
Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường
Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
Phát triển kinh tế thị trường phải hướng theo phương thức thứ hai Nhưng cho dù sản xuất theo hướng nào thì người sản xuất cũng phải trả lời được ba câu hỏi cơ bản là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?
Theo Mac, Lenin: Sản xuất hàng hóa dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực tiễn phát triển sản xuất cây dược liệu ở một số quốc gia trên thế giới
2.2.1.1 Liên kết trong sản xuất cây dược liệu tại Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có nền Y học cổ truyền lâu đời nhất thế giới (hơn
4000 năm phát triển) và cũng là quốc gia xuất khẩu dược liệu lớn nhất thế giới
Nhà nước Trung Quốc đã chủ trương quy hoạch những vùng, miền mà điều kiện thiên nhiên phù hợp nhất với cây dược liệu đồng thời có những chính sách quản lý và thúc đẩy phát triển bền vững nguồn dược liệu như:
- Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về tầm quan trọng sử dụng bền vững nguồn dược liệu và giá trị kinh tế
- Thu hoạch nguồn tài nguyên dược liệu một cách bền vững trên cơ sở có kế hoạch quản lý, dự trữ, bảo quản lâu bền và quy định xuất khẩu hàng năm hợp lý
- Phát triển những chương trình nghiên cứu khoa học về trồng trọt, thu hái, sơ chế, bảo quản, sử dụng dược liệu
Từ những năm 1980, lượng gieo trồng cây dược liệu đã tăng lên nhanh chóng tại Trung Quốc Hiện nay có khoảng 340.000 nông dân tham gia vào canh tác cây dược liệu trên diện tích khoảng 137.594 ha với 250 loài cây dược liệu
Về xuất khẩu, Trung Quốc đứng đầu danh sách 12 nước xuất khẩu dược liệu nhiều nhất thế giới Tổng sản lượng xuất khẩu cây dược liệu trung bình một năm giai đoạn 1991-2003 của Trung Quốc đạt khoảng 150.600 tấn, chiếm 1/3 tổng giá trịxuất khẩu toàn cầu
2.2.1.2 Thực tiễn trong sản xuất cây dược liệu tại Thái Lan
Chính phủ Thái Lan đã phê duyệt kế hoạch Chiến lược phát triển công nghiệp sản phẩm dược liệu giai đoạn 2005 - 2009 thành kế hoạch quốc gia vào 29/6/2004 Kế hoạch đã chỉ định một số Văn phòng Chính phủ thuộc các Bộ Ngành và trường Đại học khác nhau chịu trách nhiệm thực hiện và hoàn thành những mục tiêu trong mỗi giai đoạn phát triển
Cơ quan phát triển Y học cổ truyền và Y học thay thế Thái Lan (DTAM) phối hợp với các tổ chức liên quan khác chịu trách nhiệm thực thi các chính sách của nhà nước thông qua các hoạt động: củng cố kiến thức y học cổ truyền, dược liệu thông qua nghiên cứu phát triển; chuyển giao kiến thức cho cộng đồng và nhân viên y tế thông qua đào tạo, triển lãm và nhiều kênh truyền thông khác; phát triển nhiều sản phẩm từ dược liệu và dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ y học cổ truyền; sản xuất dược liệu trong ngành công nghiệp dược phẩm và trong các bệnh viện
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhu cầu dược liệu và thuốc từ dược liệu tại Thái Lan tăng lên rõ rệt Tồng số lượng các nhà máy sản xuất thuốc từ dược liệu tăng lên 39,6% từ con số 616 năm 1997 lên 861 năm 2003
Thái Lan cũng chủ trương sản xuất cây dược liệu tại các bệnh viện, năm
2000 có 168 bệnh viện cộng đồng, 22 trung tâm y tếvà 7 bênh viện đa khoa cấp vùng tiến hành trồng cây dược liệu và sản xuất thuốc từ dược liệu để phục vụ nhu cầu sử dụng của cộng đồng trong vùng Bệnh viện có những hợp đồng sản xuất với những nông dân ở các vùng lân cận để trồng cây dược liệu Điều này không những cung cấp dược dược liệu cho bệnh viện mà đồng thời tạo ra công ăn việc làm cho người lao động
Tuy nhiên, so với thuốc Tân dược, thuốc từ dược liệu tại Thái Lan chỉ chiếm con số rất nhỏ (năm 2001 khoảng 2%) Một phần nguyên nhân là do hầu hết các nhà máy sản xuất thuốc từ dược liệu tại Thái Lan đều hoạt động trên quy mô nhỏ và vừa, rất ít phát triển thành công nghiệp quy mô lớn
2.2.2 Thực tiễn sản xuất cây dược liệu tại Việt Nam
Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãivới 5000 loài cây làm thuốc Trong khoảng 50 năm trở lại đây, Việt Nam đã tiến hành nhập nội khoảng 300 loài cây thuốc từ nhiều nước trên thế giới, trong đó có khoảng 60 loài trở thành hàng hóa như Actiso, Đương quy, Bạch chỉ
Theo số liệu báo cáo tại Hội nghị dược liệu Toàn quốc lần thứ II (2007), nhu cầu dược liệu tại Việt Nam hàng năm khoảng 120.000 tấn, trong đó phục vụ cho công nghiệp dược khoảng 50.00 tấn, cho Y học cổ truyền khoảng 50.000 tấn và xuất khẩu khoảng 20.000 tấn Tuy nhiên, lượng dược liệu nhập khẩu hàng năm tại nước ta khoảng 90% và chủ yếu từ Trung Quốc
Nguồn dược liệu ở nước ta được khai thác từ hai nguồn là thu hái tự nhiên và trồng trọt Trong đó, có khoảng 136 loài cây thuốc được trồng trọt với khả năng cung khoảng 15.500 tấn
Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích thúc đẩy phát triển cây dược liệu như quyết định 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chỉ thị25/1999/CT-TTg về đẩy mạnh công tác phát triển Y dược học cổ truyền; Quyết định 35/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010
Tuy nhiên, trên thực tế, diện tích trồng dược liệu trên cả nước còn rất nhỏ Mặc dù chưa có những thống kê, nhưng nguồn dược liệu trồng hầu như chưa phục vụ đủ nhu cầu sản xuất trong nước mà vẫn phải nhập khẩu như Cúc hoa, Đương quy, Ngưu tất Các mô hình trồng dược liệu còn nhỏ lẻ, mang tính tự phát hoặc do đặt hàng của doanh nghiệp với quy mô nhỏ
2.2.2.1 Trồng cây dây thìa canh tại huyện Nho Quan, Ninh Bình
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn
Hải Hậu là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Nam Định, có tọa độ địa lý từ 19 0 59' đến 20 0 15' vĩ độ Bắc, 106 0 11' đến 106 0 21' kinh độ Đông, có vị trí như sau:
Phía Bắc Giáp Với Huyện Trực Ninh Và Huyện Xuân Trường,
Phía Đông Giáp Huyện Giao Thủy Và Vịnh Bắc Bộ,
Phía Tây Giáp Huyện Nghĩa Hưng Và Huyện Trực Ninh,
Phía Nam Giáp Vịnh Bắc Bộ
Cực nam của huyện là cửa Lạch Giang của sông Ninh Cơ, nằm ở thị trấn Thịnh Long Bờ biển Hải Hậu dài dọc theo thị trấn Thịnh Long và các xã Hải Hòa, Hải Triều, Hải Chính, Hải Lý, Hải Đông và giáp với huyện Giao Thủy Huyện Hải Hậu có 2 mặt giáp sông và một mặt giáp biển tạo cho huyện có lợi thế về giao thông đường thủy và phát triển kinh tế biến
Hình 3.1 Bản đồ huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trên địa bàn huyện có 2 tuyến đường chính đi qua là Quốc lộ 21 từ thành phố Nam Định chạy dọc từ phía Bắc xuống phía Nam huyện và đường tỉnh lộ
56 chạy từ các huyện Vụ Bản, Ý Yên, qua huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, sang Giao Thủy Đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán cây dược liệu của huyện với các huyện khác trong tỉnh hoặc với các thương nhân ở tỉnh ngoài tới địa bàn để tham gia hoạt động chế biến, kinh doanh sản phẩm dược liệu trên địa bàn các xã, thị trấn trong huyện
3.1.1.2 Thời tiết, khí hậu, thủy văn
Hải Hậu là một vùng đặc trưng cho kiểu vùng sinh thái ven biển của đồng bằng Sông Hồng, do vậy đặc điểm khí hậu của huyện là khí hậu gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt:
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau: Thời tiết vào mùa này chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mưa phùn, thiếu ánh sáng và ẩm ướt
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 9: mùa này chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam, nhiệt độ nóng, mưa nhiều và có bão (UBND huyện Hải Hậu, 2012)
Nhìn chung, khí hậu của huyện Hải Hậu thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp, là một vùng ven biển với hệ thống ruộng chủ yếu là vàn cao và vàn thấp, chỉ có một số diện tích nhỏ bị nhiễm mặn vì vậy rất thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt là các loại cây trồng Với đặc điểm này Hải Hậu có điều kiện thâm canh sản xuất, tăng vụ với điều kiện được bố trí các loại cây trồng thích hợp cho từng hệ thống canh tác Tuy nhiên, do vị trí ven biển nên với điều kiện thời tiết hiện nay thì cũng gặp không ít khó khăn trong phát triển của sản xuất như thiên tai thường xuyên xảy ra do đó khó có thể điều chỉnh lịch thời vụ cho phù hợp, đặc biệt là khó khăn trong tưới tiêu nước khi vào mùa mưa và tình trạng nhiễm mặn xảy ra ngày càng thường xuyên Bên cạnh đó là tình trạng nước biển dâng, lấn vào bờ làm cho diện tích đất của huyện suy giảm 80ha từ năm 2014-2015 Điều kiện tự nhiên khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng đồng thời yêu cầu Hải Hậu cần phải có kế hoạch sản xuất thích hợp cũng như bố trí hệ thống cây trồng vật nuôi thích hợp để tận dụng lợi thế tự nhiên
Hải Hậu là vùng đất cửa sông và giáp biển, được bao bọc bởi hệ thống sông Ninh Cơ và sông Sò, ngoài ra với 32km đê biển, 31km đê sông lớn với hàng chục sông đào như sông Múc, sông Trệ, sông Cửa Khúc, sông Xẻ Giữa, sông Xẻ Tây, Xẻ Đông đã tạo nên cho huyện một hệ thống thuỷ lợi rất tốt thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp Huyện còn có hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh với hệ thống sông xương cá đã tạo nên hệ thống tưới tiêu hoàn toàn bằng trọng lực với 100% diện tích được tưới tiêu chủ động Ngoài ra huyện còn có hệ thống đầu mối cầu cống tưới tiêu đảm bảo tiêu thoát nhanh, tiếp nước tốt, hàng năm tiếp từ 17 -
18 lần thuỷ triều vào các chân ruộng giúp cải tạo đất Với hệ thống thuỷ lợi như vậy, sản xuất nông nghiệp của huyện có được điều kiện để đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất và phát triển đa dạng hoá (UBND huyện Hải Hậu, 2016)
Hải Hậu có tổng diện tích đất tự nhiên là 22.895,59 ha, về thổ nhưỡng đất đai Hải Hậu là vùng đất trẻ, nhóm đất có diện tích lớn nhất là nhóm đất phù sa trẻ (Fluvisols) chiếm 56,1% diện tích tự nhiên, tiếp đến là nhóm đất mặn chiếm 19,4%, các loại đất khác có đất cát, đất phèn, đất có sản phẩm Feralitic chiếm diện tích nhỏ Đánh giá chất lượng môi trường đất
Tiến hành lấy 14 mẫu đất của 8 xã trong toàn huyện đại diện cho 03 loại hình đất sản xuất có thể chuyển đổi sang trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao nói chung và cây dược liệu theo định hướng của UBND huyện:
- Đất chuyên lúa: Đất trồng 2 vụ lúa hoặc 1 lúa – 1 màu Đây là diện tích nằm trong vùng quy hoạch chuyển đổi sang các loại cây trồng khác của các xã
- Đất chuyên màu: Đất trồng màu được chia thành 2 nhóm: (i) Đất trồng màu trong vườn nhà Đây là diện tích đất vườn của các hộ, trên diện tích này có nhiều loại rau màu, cây ăn quả cùng được trồng xen canh với nhau; (ii) Đất chuyên màu ngoài đồng: là vùng đất vàn cao, không chủ động tưới tiêu, được người dân chuyên canh rau màu các loại
- Đất gò vườn (vượt ao): Tại các khu vực chuyển đổi từ trồng lúa hiệu quả thấp, - chủ yếu là vùng trũng Các xã đã quy hoạch thành vùng chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản Diện tích đất gò được hình thành sau khi hệ thống ao nuôi trồng thủy sản được hình thành Diện tích gò và diện tích ao sau khi chuyển đổi thường là 40 – 60% diện tích
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Huyện Hải Hậu có 03 thị trấn và 32 xã Hiện nay, hầu như các xã đều trồng cây dược liệu, tuy nhiên diện tích cây dược liệu ở các xã có sự chênh lệch rất lớn và đóng góp vào sự phát triển kinh tế hộ cũng như kinh tế địa phương có sự khác biệt rõ rệt
Lựa chọn điểm điều tra là các xã có điều kiện khác nhau, mang tính đại diện cho huyện Trong đó, các xã có diện tích trồng cây dược liệu nhiều nhất là xã Hải Lộc và Hải Quang Đây là các xã có các hộ thuộc khu vực sản xuất tập trung và các hộ chuyển đổi từ đất trồng lúa sang đất trồng cây dược liệu, còn lại đa phần đều trồng với diện tích rải rác hoặc tận dụng trên nền đất thổ cư của gia đình Đặc biệt, xã Hải Lộc là xã có sự liên kết giữa nông dân trồng dược liệu (thìa canh) với công ty TNHH Nam Dược khá chặt chẽ từ năm 2014 nên hoạt động sản xuất dược liệu diễn ra rất thuận lợi và phát triển ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế cao
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin, số liệu thứ cấp là các thông tin, số liệu liên quan tới cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển sản xuất cây dược liệu trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Các thông tin về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài được thu thập ở các sách báo, các bài luận văn, luận án, tra cứu trên mạng internet
Thông tin số liệu về đặc điểm địa bàn nghiên cứu có ảnh hưởng tới phát triển sản xuất cây dược liệu và các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất cây dược liệu được thu thập từ các đơn vị chức năng của huyện Các dữ liệu, báo cáo có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài được thu thập từ các phòng, ban, ngành: Phòng nông nghiệp, công thương, Tài chính - KH, Chi Cục thống kê, trung tâm khuyến nông huyện, trạm bảo vệ thực vật huyện…
3.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp sẽ được thu thập chủ yếu từ quan sát, phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm Thông tin sơ cấp của đề tài được tiến hành thu thập thông qua phỏng vấn các nhà quản lý ở các cấp chính quyền như phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Hải Hậu, cán bộ xã (03 người), cán bộ lãnh đạo huyện (02 người) và điều tra phỏng vấn 90 hộ nông dân tại 02 xã điều tra, 05 cơ sở/ doanh nghiệp thu mua dược liệu với 02 nhóm sản phẩm chính là đinh lăng và thìa canh Tiêu chí chọn các hộ nông dân để điều tra là điều tra 45 hộ trồng đinh lăng ở Hải Quang, 45 hộ trồng thìa canh ở Hải Lộc với thời gian trồng 2 loại cây này đều từ 3 năm trở lên Mặt khác, 45 hộ trồng thìa canh ở Hải Lộc đều nằm trong tổ hợp tác sản xuất dược liệu của xã, có tham gia ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với công ty Nam Dược còn các hộ ở xã Hải Quang trồng đinh lăng chưa có hoạt động liên kết rõ ràng trong sản xuất cây đinh lăng
Phân bổ mẫu điều tra được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.5 Bảng phân bổ số lượng mẫu điều tra
STT Nội dung Số lượng phiếu điều tra
1 Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, xã 08
1.2 Phòng nông nghiệp và PTNT huyện, trạm
1.3 Cán bộ xã, cán bộ khuyến nông cơ sở 4
2.1 Xã Hải Lộc (sản xuất thìa canh) 51
- Cơ sở/ DN thu mua 03
- Cơ sở cung cấp đầu vào 03
2.2 Xã Hải Quang (đinh lăng) 51
- Cơ sở/ DN thu mua 03
- Cơ sở cung cấp đầu vào 03
Tổng số phiếu điều tra (= 1+2) 110
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
3.2.3.1 Phương pháp xử lí số liệu
Sau khi thu thập các thông tin, dữ liệu sẽ được tổng hợp, chọn lọc và phân loại các thông tin có liên quan phục vụ đề tài nghiên cứu, tính toán các chỉ tiêu, so sánh, đối chiếu và đánh giá để có thể đưa ra kết luận cần thiết, phù hợp
Thông tin định tính sử dụng phương pháp tổng hợp, phân loại và so sánh đi kèm với sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý các thông tin định lượng
3.2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả
Dựa vào số liệu đã được phân tổ, được chia tách trong bảng biểu cụ thể để tìm ra nét nổi bật, những đặc trưng cơ bản từ đó xem thông số trong bảng biểu nói lên điều gì, phản ánh những vấn đề gì, từ đó cần có những thay đối cho phù hợp Trong đó có các phương pháp:
- Phương pháp số tuyệt đối: được sử dụng phán ánh quy mô khối lượng của hiện tượng trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể
- Phương pháp số tương đối: được sử dụng phán ánh sự tương quan số lượng giữa hai trị số, kết cấu hoạt động của các hiện tượng vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp bình quân: Số bình quân nói lên mức độ điển hình và tương quan giữa các chỉ số thống kê, được sử dụng để phán ánh mức độ đại diện cho tổng thể cần nghiên cứu
Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp này dùng để so sánh điều kiện sản xuất giữa các xã, các hình thức sản xuất, so sánh diện tích, năng suất, sản lượng của các đối tượng cây dược liệu trong cùng 1 vùng, so sánh kết quả và hiệu quả kinh tế giữa các xã trong địa bàn nghiên cứu, giữa các loại hình cây dược liệu trong địa bàn nghiên cứu Phân tích điều kiện sản xuất, kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất được tính toán, lượng hóa, tiến hành so sánh mức độ đạt được của từng chỉ tiêu thông qua thời gian, không gian nhất định để rút ra nhận xét, đánh giá và đưa ra kết luận
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
3.2.4.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh đặc điểm chung của hộ và chủ hộ
- Số tuổi bình quân, giới tính của chủ hộ
- Trình độ văn hóa, chuyên môn
- Số năm kinh nghiệm trồng dược liệu
- Số lao động nông nghiệp/hộ của nhóm hộ điều tra
- Bình quân nhân khẩu/hộ của nhóm hộ điều tra
3.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về lượng của sự phát triển cây dược liệu
- Tổng số hộ, tổng số lao động sản xuất cây dược liệu qua các năm;
- Năng suất bình quân, diện tích/ hộ, sản lượng/ hộ, lao động bình quân trên hộ, chi phí bình quân
- Tổng diện tích, năng suất, sản lượng cây dược liệu canh toàn xã;
- Năng suất, sản lượng cây dược liệu qua các năm
- Tổng diện tích cây dược liệu theo quy hoạch từng giai đoạn, theo địa phương
- Diện tích cây dược liệu thực hiện theo quy hoạch từng giai đoạn, từng địa phương
- Tỷ lệ diện tích cây dược liệu thực tế so với quy hoạch của huyện
3.2.4.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về chất của sự phát triển a Phản ánh kết quả
+ Tổng chi phí sản xuất (TC) là toàn bộ chi phí cố định và chi phí biến đổi đầu tư trong 1 thời kỳ, thường là một năm
+ Giá trị sản xuất (GO): đáng giá toàn bộ giá trị của cải vật chất hay giá trị sản phẩm và dịch vụ mà các hộ sản xuất cây dược liệu thu được trong 1 vụ sản xuất + Giá trị gia tăng (VA): là giá trị của lao động thuê và vật chất tăng thêm trong quá trình sản xuất: VA= GO – IC
+ Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất một đơn vị sản xuất cây dược liệu thìa canh trong một vụ hay một năm
+ Chi phí bằng tiền: là toàn bộ các khoản chi phí vật chất được quy đổi bằng tiền được sử dụng trong quá trình sản xuất như giống, phân bón, BVTV, công lao động thuê ngoài b Phản ánh về hiệu quả
+ Năng suất (tấn/ha): Phản ánh trung bình 1 năm 1 đơn vị diện tích đất sản xuất được bao nhiêu (tấn) sản phẩm
Năng suất bình quân (W) = Tổng sản lượng sản phẩm thu được trong 1 năm (vụ) (Q)/ Tổng diện tích đất gieo trồng (S)
+ Hiệu quả tính trên một đồng chi phí
GO/TC: Là giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí;
VA/TC: Là giá trị tăng trên 1 đồng chi phí;
MI/TC: Là thu nhập hỗn hợp trên 1 đồng chi phí
+ Hiệu quả tính trên một đồng chi phí trung gian
GO/IC: Là giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí trung gian;
VA/IC: Là giá trị tăng trên 1 đồng chi phí trung gian;
MI/IC: Là thu nhập hỗn hợp trên 1 đồng chi phí trung gian
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây dược liệu:
- Nhóm chỉ tiêu thể hiện chất lượng quy hoạch
+ Tỷ lệ hộ đánh giá quy hoạch minh bạch, công khai (%)
+ Tỷ lệ hộ đánh giá quy hoạch không rõ ràng, minh bạch (%)
- Nhóm chỉ tiêu thể hiện chất lượng đầu tư công, dịch vụ công (điện, đường giao thông, thủy lợi, khuyến nông, thông tin thị trường)
+ Tỷ lệ hộ đánh giá dịch vụ công ở mức tốt (%)
+ Tỷ lệ hộ đánh giá dịch vụ công ở mức trung bình (%)
+ Tỷ lệ hộ đánh giá dịch vụ công ở mức không tốt (%)
- Nhóm chỉ tiêu thể hiện sự tham gia của các tổ chức
+ Mối quan hệ giữa doanh thu và sự tham gia vào các tổ chức đoàn thể
- Nhóm chỉ tiêu thể hiện đặc điểm của chủ hộ
+ Tuổi chủ hộ BQ (tuổi) + Trình độ văn hóa ( Tiểu học trở xuống, THCS, THPH) (%) + Trình độ chuyên môn (Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng) (%) + Số năm kinh nghiệm (năm)