1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện yên phong tỉnh bắc ninh luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

103 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MỤC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

    • 1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    • 1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

  • PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    • 2.1. ĐẤT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

      • 2.1.1. Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp

      • 2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp

      • 2.1.3. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp

    • 2.2. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ SỬ DỤNG ĐẤT

    • 2.3. NGUYÊN TẮC ĐÁNH GIÁ ĐẤT THEO FAO

    • 2.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤTTRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

      • 2.4.1. Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trênthế giới

      • 2.4.2. Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ởViệt Nam

      • 2.4.3. Những nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh và huyệnYên Phong

  • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    • 3.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    • 3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

      • 3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội với việc sử dụng đất nông nghiệpcủa huyện Yên Phong

      • 3.3.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và xác định các loại hình sử dụngđất nông nghiệp của huyện Yên Phong

      • 3.3.3. Hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Yên Phong

      • 3.3.4. Đề xuất các giải pháp phát nâng cao hiệu quả các loại hình sử dụngđất nông nghiệp theo hướng bền vững tại huyện Yên Phong

    • 3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

      • 3.4.2. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp

      • 3.4.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp

      • 3.4.4. Phương pháp so sánh

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VỚI VIỆC SỬ DỤNGĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN YÊN PHONG

      • 4.1.1 Điều kiện tự nhiên

      • 4.1.2. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

      • 4.1.3. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

      • 4.1.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

    • 4.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN PHONG

      • 4.2.1. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Yên Phong

      • 4.2.2. Phân tích biến động về sử dụng đất nông nghiệp

    • 4.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆNYÊN PHONG

      • 4.3.1. Các loại hình sử dụng đất

      • 4.3.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

    • 4.4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤTSẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN YÊN PHONG

      • 4.4.1. Lựa chọn các LUT, kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quảcao tại huyện Yên Phong

      • 4.4.2. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020

      • 4.4.3 Một số tồn tài trong quản lý sử dụng đất nông nghiệp

      • 4.4.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

    • 5.2. KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tiếng Việt

    • Tiếng Anh:

  • PHỤ LỤC

Nội dung

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất LUT sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.. Cần được nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp đ

Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau:

"đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, boa gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước ( hồ, sông, suối, đầm lầy, ) Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )" Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên (Lê Trọng Cúc và Trần Đức Viên, 1995) Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm Hiện tại cũng như trong tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được Các Mác đã từng nói “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất” (Các Mác, 1949)

Luật Đất đai (2013) nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”

2.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp Đất nông nghiệp hiện nay được chia thành 4 loại: Đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm ( không bao gồm cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm trồng xen, trồng kết hợp), đất đồng cỏ dùng cho chăn nuôi, đất có mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp gồm các loại ao, hồ, sông cụt,… để nuôi trồng cá loại thủy sản (không tính hồ, kênh, mương, máng thủy lợi)

2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng nó vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt vừa là tư liệu lao động Đất nông nghiệp thuộc loại đất người ta chủ yếu sử dụng vào mục đích nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản Ngoài ra còn có loại đất thuộc đất nông nghiệp nhưng thực tế không thuộc đất sản xuất trong nông nghiệp mà nó phục vụ cho các ngành khác Vì vậy chỉ có loại đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp

Những diện tích đất đai phải qua cải tạo mới đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp được coi là đất có khả năng nông nghiệp Nhà nước xác định mục đích sử dụng chủ yếu của đất nông nghiệp là sử dụng vào mục đích nông nghiệp, song do đặc điểm tình hình từng loại đất nay có sự khác nhau dẫn đến sử dụng cụ thể khác nhau Vì vậy, người ta chia đất nông nghiệp thành 4 loại:

+ Đất nông nghiệp hàng năm:

Bao gồm phần diện tích đất nông nghiệp dành để trồng cây các loại cây ngắn ngày bao gồm: diện tích đất trồng lúa, diện tích đất trồng lúa cộng với trồng màu, diện tích đất gieo mạ, diện tích đất nương rẫy, diện tích đất trồng cây hàng năm khác

+ Đất trồng có dùng cho chăn nuôi:

Là loại đất dùng chủ yếu cho chăn nuôi đó là diện tích đất chuyên trồng có cho chăn nuôi, đất đồng cỏ tự nhiên đã được quy hoạch, cải tạo và chăm sóc nhằm mục đích nuôi gia súc

+ Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản:

Là toàn bộ diện tích mặt nước sử dụng vào mục đích nuôi tôm có, nuôi trồng thuỷ sản khác như: ao, hồ, đầm Ngoài ra các loại đất mặt nước có thể nuôi thuỷ sản nhưng không nhằm mục đích thuỷ sản như các hồ sông phục vụ chủ yếu cho thuỷ lợi trong nông nghiệp

+ Đất trồng cây lâu năm:

Là toàn bộ diện tích đất được dùng để trồng các cây dài ngày, trồng một lần có thể cho thu hoạch nhiều lần và có chi phí kiến thiết cơ bản đáng kể: như trồng dừa, mía, chuối Đất nông nghiệp ở nước ta phân bổ không đều giữa các vùng trong cả nước Vùng đồng Bằng sông Cửu Long có tỷ trọng lớn nhất của cả nước chiếm 67,1% diện tích toàn vùng và vùng đất trũng Độ phì và độ màu mỡ của các vùng khác nhau, trong đó vùng đồng vằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có độ màu mỡ cao chủ yếu là đất phù sa chiếm tỷ lệ lớn so với các vùng khác Còn vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên phần lớn là đất bazan Đất nông nghiệp Việt Nam chiếm tỷ lệ rất lớn tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước Với quỹ đất như vậy sẽ bảo đảm cho nguồn lương thực, thực phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Do đó đặc điểm tự nhiên kí hậu cận nhiệt đới lên thực vật Việt Nam rất đa dạng nên sản xuất nông nghiệp ở nước ta còng rất đa dạng và phong phú Ở miền Bắc nước ta có 4 mùa rõ rệt vì vậy sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ ở miền Nam có 2 mùa (mùa mưa và mùa khô) nên việc sản xuất nông nghiệp rất thuận lợi

Vậy để sử dụng đất nông nghiệp cần có các biện pháp nhằm nâng cao và sử dụng đất đai hiệu quả nhất

2.1.3 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp

- Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người

- Trong nông nghiệp ngoài vai trò là không gian đất, nó còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng:

+ Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất

+ Tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước, muối khoáng và không khi cùng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển.

Một số quan điểm về sử dụng đất

* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người Chính vì vậy việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable Land Use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay

Nông nghiệp bền vững: Hiện nay thuật ngữ “Nông nghiệp bền vững” ở nước ta được chuyển ngữ từ 2 thuật ngữ tiếng Anh khác nhau: Permaculture và Sustainable agriculture Nông nghiệp bền vững (permaculture) theo định nghĩa của Bill Mollison (sách Đại cương về nông nghiệp bền vững - Nhà xuất bản nông nghiệp, 1994) là: một hệ thống, nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú trong thiên nhiên mà không liên tục huỷ diệt sự sống trên trái đất”

Nông nghiệp bền vững (sustainable agriculture) theo định nghĩa của từ điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững (nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật

- Hà Nội - 2001) là: “Phương pháp trồng trọt và chăn nuôi dựa vào việc bón phân hữu cơ, bảo vệ đất màu, bảo vệ nước, hạn chế sâu bệnh bằng biện pháp sinh học và sử dụng ở mức ít nhất năng suất hóa thạch không tái tạo”

Nông nghiệp bền vững cần được hiểu một cách toàn diện trong chiều hướng phát triển kinh tế - xã hội bền vững hiện nay Các nguyên thủ quốc gia của các nước trên thế giới tại hội nghị Giôhanex buốc đã thống nhất về việc thực hiện chủ trương phát triển bền vững ở tất cả các nước Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới đã định nghĩa “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững trên đây, sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia cần được dựa trên sự phát triển đồng thời và hài hòa của 3 lĩnh vực hoạt động cơ bản: kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường Đối với chúng ta, trong tình hình đất nước và tình hình quốc tế hiện nay, phát triển bền vững có thể nêu một cách ngắn gọn như sau:

• Phát triển kinh tế mạnh mẽ với tốc độ nhanh để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu so với các nước và phấn đấu trở thành một nước công nghiệp hóa về cơ bản vào năm 2020 như Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ 9 đã đề ra

• Phát triển xã hội đi đôi với phát triển kinh tế Phấn đấu thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Trước mắt, tích cực xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân Đảm bảo ổn định xã hội, ổn định đời sống, giữ vững an ninh quốc phòng Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa

• Phát triển tài nguyên môi trường đi đôi với phát triển kinh tế, phát triển xã hội Bảo vệ tốt môi trường, ngăn ngừa và khắc phục các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Không ngừng làm giàu, tăng khối lượng, nâng cao chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế và xã hội

* Mục tiêu của nông nghiệp bền vững

Nông nghiệp bền vững có mục tiêu hẹp là sản xuất ra các sản phẩm đảm bảo sự an toàn cho người sử dụng và không gây ra ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, nông nghiệp là mặt trận sản xuất rộng lớn bao gồm nhiều hoạt động với các nội dung tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, xã hội rất khác nhau Nông nghiệp lại là nơi thu hút lực lượng lao động lớn, hoạt động sản xuất trải ra trong không gian, trên những địa bàn rộng lớn, cho nên tính chất bền vững của sản xuất nông nghiệp không thể chỉ thu hẹp ở đặc điểm của sản phẩm Nông nghiệp bền vững cần được xem xét dưới góc độ của phát triển bền vững với các nội dung như đã nêu trên đây

Trong ý nghĩa đó, nông nghiệp bền vững có các mục tiêu sau đây:

• Đảm bảo đạt được năng suất, chất lượng và sản lượng cao đã đáp ứng đầy đủ các nhu cầu nhiều mặt của toàn xã hội về sản phẩm nông nghiệp Nhu cầu này đang ngày càng tăng lên nhanh chóng, ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn Để đạt được mục tiêu này nông nghiệp bền vững cần được tổ chức hài hòa và đồng bộ với cơ giới hóa, hóa học hóa, điện khí hóa nông nghiệp Tránh mọi mâu thuẫn, đối kháng, hạn chế lẫn nhau giữa các hướng trên đây Trái lại cần tìm được những giải pháp không những đảm bảo sự hài hòa mà còn tạo nên sự hỗ trợ, bổ sung, cộng hưởng lẫn nhau để tạo ra những hiệu quả tổng hợp

• Tạo ra các sản phẩm nông nghiệp với chất lượng cao, sạch sẽ Sản phẩm của nông nghiệp bền vững cần rất sạch sẽ, có nghĩa là không mang theo dư lượng các chất độc hại như thuốc BVTV, phân hóa học, vi sinh vật gây bệnh cho người, kim loại nặng, NO3, các chất gây độc v.v vượt quá các ngưỡng cho phép

Sản phẩm của nông nghiệp bền vững cần có chất lượng cao: chất lượng thực phẩm, lương thực đảm bảo nhiều dinh dưỡng, giàu vitamin, hàm lượng prôtêin cao, ngon bổ Sản phẩm cây công nghiệp cần đạt các chỉ tiêu kỹ thuật đặc trưng của từng loại sản phẩm ở nước tiên tiến Để đạt được mục tiêu này, nông nghiệp bền vững có nội dung trùng khớp với nông nghiệp sạch, nông nghiệp chất lượng cao Điều quan trọng là loại bỏ các yếu tố, các hoạt động mâu thuẫn nhau; tìm ra những yếu tố tương đồng, hòa hợp, tạo ra các yếu tố liên kết, phát huy lẫn nhau giữa các hướng nông nghiệp

• Đảm bảo sự phát triển không ngừng các nguồn tài nguyên được sử dụng trong nông nghiệp Đất đai ngày càng tốt thêm, phì nhiêu hơn Hạn chế các tình trạng rửa trôi, xói mòn, bạc màu hóa, glây hóa, mặn hóa, phèn hóa, hoang hóa đất đai

Các nguồn nước ngày càng dồi dào, ngày càng trong sạch Đủ nước cho sản xuất nông nghiệp ngay cả trong mùa khô kiệt Hạn chế úng ngập, hạn hán Tài nguyên sinh vật ngày càng phong phú về loài, về khối lượng cá thể Các loài sinh vật luôn ở trong trang thái hoạt động tích cực, đảm bảo các quá trình chu chuyển vật chất diễn ra thông suốt và mạnh mẽ Nguồn gen được bảo vệ tốt và không ngừng được bổ sung, làm giàu thêm những nguồn gen quý

Các hệ sinh thái nông nghiệp tạo ra năng suất kinh tế ngày càng cao, tạo ra các sản phẩm có giá trị ngày càng được nâng lên Để đạt được mục tiêu này nông nghiệp bền vững cần được kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sinh học, nông nghiệp hữu cơ, tạo nên những tác động tổng hợp hài hòa thúc đẩy tài nguyên môi trường phát triển đảm bảo thực hiện các mục tiêu của nông nghiệp và các mục tiêu của phát triển bền vững

• Bảo vệ môi trường chống ô nhiễm, tạo lập môi trường sản xuất, môi trường sống trong lành, xây dựng môi trường sinh thái phát triển bền vững

Nông nghiệp bền vững bảo đảm cho môi trường đất, nước, không khí không bị ô nhiễm về thuốc BVTV, về phân bón hóa học, phân hữu cơ chưa hoại mục và về các loại phế phẩm, phế thải trong nông nghiệp, về tàn dư thực vật Áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp, các biện pháp kỹ thuật tiền tiến, đặc biệt là ứng dụng rộng rãi tổng hợp bảo vệ cây, hạn chế ô nhiễm môi trường nông nghiệp Để thực hiện mục tiêu này nông nghiệp bền vững kết hợp chặt chẽ nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học, nông nghiệp sinh thái

• Phấn đấu không ngừng nâng cao thu nhập của nông dân, đảm bảo no, ấm, đời sống sung túc cho người nông dân

Nguyên tắc đánh giá đất theo fao

Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đã họp tại Rio De Janerio - Braxin, đã định hướng cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược về môi trường và phát triển bền vững để bước vào thế kỷ 21 UNDP đã đưa ra cách thức sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:

- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất)

- Giảm mức rủi ro đối với sản xuất (an toàn)

- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại được sự thoái hoá đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ)

- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)

- Được sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận)

Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất bền vững và là những mục tiêu cần đạt được Thực tế nếu các nguyên tắc trên diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu đặt ra thì khả năng bền vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu đặt ra mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận

Như vậy, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội

Năm nguyên tắc trên nếu trong thực tế đạt được đầy đủ thì sự bền vững trong sử dụng đất sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được khả năng bền vững một số bộ phận hay chỉ bền vững có điều kiện Theo quan điểm và nguyên tắc FAO thì sử dụng đất bền vững áp dụng vào điều kiện ở Việt Nam cần phải thể hiện ở ba nguyên tắc sau:

+ Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận

+ Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

+ Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau Vì vậy khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên nhiều vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật Ở Việt Nam nền văn minh lúa nước đã hình thành từ hàng ngàn năm nay, có thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp trong điều kiện thiên nhiên ở nước ta Gần đây, những mô hình sử dụng đất như VAC (vườn, ao, chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển.

Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và ở việt nam

2.4.1 Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Tài nguyên thiên nhiên về nông nghiệp của Hà Lan thiếu hụt Đất ít lại trũng, thường xuyên bị uy hiếp của ngập lụt, nhưng Hà Lan đã tìm tòi, tự khẳng định những lợi thế so sánh của chính mình để phát triển nền nông nghiệp theo chiến lược của một nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu

Do đó, Hà Lan đã dùng vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất Phương thức sản xuất gà đẻ trứng, lợn thịt cũng được cải tiến để bảo vệ môi trường, đảm bảo yêu cầu sức khoẻ động vật và chất lượng quốc tế, có hiệu quả cao Nhà nước coi trọng nhiệm vụ cải tạo đất, hàng năm đầu tư 140 triệu Euro, bình quân 4.000 euro/ha năm

Nhà nước còn tài trợ chỉnh lý đất đai, biến các thửa ruộng nhỏ liên kết thành thửa lớn liền nhau, xây dựng hệ thống kênh rạch, đảm bảo yêu cầu cơ giới hoá Bằng cách nhập khẩu các sản phẩm thuộc dạng “dựa vào quỹ đất lớn” như hạt cốc, đậu, hạt có dầu, nhất là thức ăn chăn nuôi để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng năm, Hà Lan tạo ra được 11,35 vạn việc làm về công nghiệp thực phẩm, đồ uống chưa kể các ngành dịch vụ phù trợ có liên quan khác

Quỹ đất ít, “tấc đất, tấc vàng”, Hà Lan đã áp dụng công nghệ “dùng vốn thay đất” Để tạo ra hiệu suất cao của đất, ở Hà Lan, đã hình thành hệ thống nhà kính với công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới Nhà kính đã tiết kiệm đất (thậm chí có nơi không dùng đất), lại có thể khống chế hoàn toàn điều kiện tự nhiên

Ngoài ra, với quỹ đất ít, Hà Lan áp dụng công nghệ “tăng diện tích đất”, tập trung áp dụng các biện pháp thâm canh cao, nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích, tạo ra năng suất cao gấp nhiều lần năng suất bình quân thế giới

- Thái Lan dùng chính sách

30 năm trước, có thời gian diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan tăng

“đột biến” Người Thái cần cù lao động, bám chặt đồng ruộng để mong thay đổi cuộc sống Còn các nhà hoạch định chính sách Thái Lan coi nông nghiệp là nội lực sống còn để phát triển kinh tế quốc dân Với lợi thế về nhân lực nông nghiệp (có đến 80% dân số Thái sinh sống vùng nông thôn), diện tích đất canh tác sẵn có, Thái Lan đã nhanh chóng hiện thực hóa được ước mơ trở thành “nồi cơm” của thế giới Chỉ tính trong năm 2007, nước này xuất khẩu 9 triệu tấn gạo, đạt 3,5 tỷ USD, giữ vững thế độc tôn

Thế nhưng Thái Lan, sau đó, rơi vào nguy cơ “đất không đủ cày” vì tốc độ công nghiệp hóa, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải trí; “trương nở” của những đô thị lớn; kèm theo đó là hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới theo phương châm phát triển bền vững khiến đất canh tác bị rửa trôi màu mỡ, xói mòn hoặc nhiễm mặn Sớm “bắt bệnh” để tìm thuốc chữa, việc đầu tiên là phải đổi mới chính sách Các nhà hoạch định chính sách Thái Lan lấy nông nghiệp là bệ phóng cho nền kinh tế quốc dân, và không chỉ có thế, mục tiêu cốt lõi là tạo ưu đãi “tam nông” để ổn định chính trị xã hội

Bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nông dân nâng cao tính cạnh tranh của nông sản trên thị trường thế giới thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức người nông dân được coi trọng hướng đến Vì vậy, mặc dù bình quân diện tích đất canh tác nông nghiệp Thái Lan gấp 4 lần Việt Nam nhưng nhờ những hướng đi đúng đắn trong đào tạo nguồn nhân lực nên những vùng đất hoang, địa hình đồi núi dốc và cả những vùng khô cằn không chỉ dành cho cây ngô, lúa nương mà nhiều loại lúa cao sản đã được triển khai và cho năng suất cao

- Đài Loan duy trì sự cân bằng

Vấn đề quan trọng nhất đối với Đài Loan trong chính sách đất đai là làm thế nào để phối hợp với sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý và có hiệu quả, duy trì sự cân bằng, điều hoà giữa các lợi ích tổng thể và lợi ích cá nhân, bảo vệ lợi ích lâu dài cho các thế hệ tương lai Đài Loan chủ trương phải giữ một diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất lương thực, bảo tồn sinh thái tự nhiên và khoảng không cây xanh

Trong quan điểm phát triển hỗn hợp của Đài Loan, các kế hoạch tổng hợp cho sử dụng đất sẽ bao gồm thời gian biểu và lựa chọn các vùng đất vào các mục tiêu hợp lý, đồng thời cũng tính đến sự cân bằng khu vực, sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai và giữ cân bằng sinh thái Đài Loan chủ trương duy trì chính sách trợ cấp sản xuất lúa gạo, nhưng để có sự tương đồng trong phát triển kinh tế cũng như việc phân bổ các nguồn lực, việc gieo trồng các loại lúa gạo có chất lượng cao sẽ được khuyến khích

Một chế độ gối vụ áp dụng với đất trồng lúa và màu sẽ được lập nên để sản xuất nông nghiệp nhằm quay vốn nhanh và liên tục Sẽ phát triển các sản phẩm nông nghiệp mang tính dân tộc có khả năng sinh lợi cao, đồng thời dựa vào công nghiệp mở rộng các loại hình sản xuất nông nghiệp sử dụng vốn và kỹ thuật tập trung

2.4.2 Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Ngay từ xa xưa trong quá trình sử dụng đất vào mục đích sản xuất, người nông dân đã biết lựa chọn, phân loại đất và đánh giá đất bằng những kinh nghiệm thực tiễn đơn giản Vào thời kỳ Gia Long (1802), nhà Nguyễn đã phân chia ruộng đất thành “tứ hạng điền, lục hạng thổ” nhằm phục vụ chính sách quản điền và tô thuế) Tuy nhiên công tác nghiên cứu đánh giá đất đai thực sự mới được bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX

Từ năm 1992, đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO đã được nhiều cơ quan đề xuất như: Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Tổng cục quản lý ruộng đất, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội tiến hành nghiên cứu Kết quả đạt được là đã xây dựng được quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý độ màu mỡ đất và xếp hạng thuế nông nghiệp (Nguyễn Khang và cs., 1999) Dựa vào các chỉ tiêu chính là các điều kiện sinh thái và tính chất đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp mà đất đai được phân thành 5 đến 7 hạng theo phương pháp xếp điểm

Phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và áp dụng, đặc biệt là phương pháp đánh giá đất đai của FAO từ năm 1980 Các công trình nghiên cứu đã tiến hành và được ứng dụng đó là:

- Đánh giá phân hạng đất toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nhóm nghiên cứu) thực hiện năm 1984 ở tỷ lệ bản đồ 1/500 000 Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã dựa vào nguyên tắc phân loại đất của Mỹ mà chỉ tiêu áp dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình (Nguyễn Duy Chinh, 2003)

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 12/06/2021, 13:33

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm