Kết quả nghiên cứu có thể giúp địa phương lựa chọn các loại sử dụng đất/kiểu sử dụng đất có hiệu quả cao, góp phần tăng thu nhập cho người dân trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sự phá
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN THIỆN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Thành
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thiện
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Ban quản lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Thạch Hà, tập thể Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê, cấp ủy, chính quyền và bà con nhân dân các xã, thị trấn trong huyện Thạch Hà đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
đề tài trên địa bàn
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thiện
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn ix
Thesis Abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Hiệu quả sử dụng đất và phân loại hiệu quả sử dụng đất 3
2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất 3
2.1.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất 4
2.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 8
2.2.1 Đất nông nghiệp và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 8
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 10
2.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
2.3 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 15
2.3.1 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới 15
2.3.2 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nước 20
2.3.3 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh 24
Phần 3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 25
3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp của huyện Thạch Hà 25
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất, tình hình biến động đất nông nghiệp của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh 25
Trang 53.3.3 Xác định các loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn huyện 25
3.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo các tiêu chí về kinh tế, xã hội, môi trường 25
3.3.5 Lựa chọn các LUT có hiệu quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp 26
3.4.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 26
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp 27
3.4.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, tài liệu 27
3.4.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 27
Phần 4 Kết quả và thảo luận 31
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của huyện 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39
4.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, tình hình biến động đất nông nghiệp của huyện Thạch Hà từ 2010 – 2015 43
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất và biến động các loại đất 43
4.3 Xác định các loại sử dụng đất trên địa bàn huyện 46
4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 50
4.4.1 Hiệu quả kinh tế 50
4.4.2 Hiệu quả xã hội 57
4.4.3 Hiệu quả môi trường 61
4.4.4 Đánh giá tổng hợp hiệu quả của các loại sử dụng đất 75
4.5 Lựa chọn các lut có hiệu quả và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện 79
4.5.1 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của các tiểu vùng 79
4.5.2 Lựa chọn các LUT có hiệu quả 81
4.5.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất 85
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 88
5.1 Kết luận 88
5.2 Kiến nghị 89
Tài liệu tham khảo 90
Phụ lục 93
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
GTSX : Giá trị sản xuất CPTG : Chi phí trung gian TNHH : Thu nhập hỗn hợp HQĐV : Hiệu quả đồng vốn GTNC : Giá trị ngày công BVTV : Bảo vệ thực vật HQSDĐ : Hiệu quả sử dụng đất
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế huyện Thạch Hà
(tính cho 1 ha) 28
Bảng 3.2 Đánh giá chung hiệu quả kinh tế 28
Bảng 3.3 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội huyện Thạch Hà 29
Bảng 3.4 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường các LUT huyện Thạch Hà 30
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng đất của LUT 30
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thạch Hà năm 2015 44
Bảng 4.2 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 45
Bảng 4.3 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2015 46
Bảng 4.4 Loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 47
Bảng 4.5 Loại sử dụng đất tiểu vùng 2 48
Bảng 4.6 Loại sử dụng đất tiểu vùng 3 49
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 1 51
Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 2 53
Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 3 55
Bảng 4.10 Hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất tại tiểu vùng 1 58
Bảng 4.11 Hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất tại tiểu vùng 2 59
Bảng 4.12 Hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất tại tiểu vùng 3 60
Bảng 4.13 So sánh mức đầu tư phân bón thực tế tại tiểu vùng 1 với hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 63
Bảng 4.14 So sánh mức đầu tư phân bón thực tế tại tiểu vùng 2 với hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 65
Bảng 4.15 So sánh mức đầu tư phân bón thực tế tại tiểu vùng 3 với hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 66
Bảng 4.16 Mức độ sử dụng một số loại thuốc bảo vệ thực vật tại huyện Thạch Hà 69
Bảng 4.17 Mức độ che phủ của các LUT tiểu vùng 1 73
Bảng 4.18 Mức độ che phủ của các LUT tiểu vùng 2 74
Bảng 4.19 Mức độ che phủ của các LUT tiểu vùng 3 75
Bảng 4.20 Tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng 1 76
Bảng 4.21 Tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng 2 77
Bảng 4.22 Tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng 3 78
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Vị trí địa lý của huyện Thạch Hà 31
Hình 4.2 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm từ năm 2010-2015 34
Hình 4.3 Nhiệt độ trung bình năm từ năm 2010 đến 2015 34
Hình 4.4 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm từ năm 2010 - 2015 34
Hình 4.5 Lượng mưa trung bình năm từ năm 2010 đến 2015 34
Hình 4.6 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thạch Hà năm 2015 43
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên: Nguyễn Văn Thiện
Tên đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh“
Chuyên ngành: Quản lý đất đai Mã ngành: 60.85.01.03 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
- Xác định được các loại sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả trên địa bàn huyện Thạch Hà
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho huyện Thạch Hà
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn điểm điều tra: Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho sản xuất nông nghiệp của huyện Trên cơ sở địa hình, đặc điểm của đất đai,điều kiện khí hậu, thực trạng phân bố cây trồng và tập quán canh tác, huyện Thạch Hà chia thành 3 tiểu vùng
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu:
+ Số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước, các tài liệu, báo cáo liên quan đến chính sách đất đai, tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở địa phương
+ Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp điều tra nông hộ theo phiếu có sẵn Điều tra 120 phiếu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích và xử lý số liệu: Các số liệu, tài liệu thu thập được sau khi được phân tích, được tiến hành tổng hợp, phân tổ thành nhiều loại khác nhau sau đó mới tiến hành phân tích, so sánh, đánh giá
- Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
+ Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả xã hội
+ Đánh giá hiệu quả môi trường
Kết quả chính và kết luận
Đất sản xuất nông nghiệp huyện Thạch Hà Hà bao gồm 8 loại sử dụng đất: LUT 2 lúa, LUT 1 lúa, LUT 2 lúa – 1 màu, LUT chuyên rau màu, LUT cây ăn quả, LUT đất lâm nghiệp, LUT nuôi trồng thủy sản và LUT làm muối
Trang 10Kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các LUT như sau:
- Về hiệu quả kinh tế: Tại cả 3 tiểu vùng kinh tế LUT cây ăn quả đều cho hiệu quả kinh tế cao nhất với mức thu nhập hỗn hợp trên 200 triệu đồng/ha, tiếp đến là LUT
2 lúa – 1 màu với kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa – Dưa chuột cho hiệu quả kinh
tế cao LUT cho hiệu quả kinh tế thấp nhất của cả 3 tiểu vùng là LUT đất lâm nghiệp với mức thu nhập hỗn hợp chỉ đạt dưới 20 triệu đồng/ha
- Về hiệu quả xã hội: Tại cả 3 tiểu vùng, LUT chuyên rau màu thu hút được nhiều lao động tham gia vào sản xuất nhất (trung bình khoảng 869 công/ha), LUT đất lâm nghiệp thu hút ít công lao động nhất (150 công) do LUT này trồng chủ yếu phục vụ làm hệ thống rừng chắn gió, cát, rừng phòng hộ… LUT chuyên rau - màu, LUT 2 lúa -
1 màu có ảnh hưởng không tốt đến môi trường, nên cần có quy trình sản xuất hợp lý để hạn chế tối đa sự ảnh hưởng tới môi trường đất Các LUT 2 lúa – 1 màu và LUT chuyên lúa cho hiệu quả kinh tế thấp hơn nhưng ít ảnh hưởng đến môi trường
- Về môi trường: Việc sử dụng phân bón nhất là phân bón hóa học chưa hợp lý, mất cân đối so với tiêu chuẩn cho phép, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chưa khoa học
và chưa có sự kiểm soát chặt chẽ đã dẫn đến gây hệ quả xấu cho môi trường như gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người Do vậy sản xuất nông nghiệp cần gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng
Định hướng trong thời gian tới, trên địa bàn huyện Thạch Hà sẽ lựa chọn và phát triển các LUT 2 lúa, LUT 2 lúa – 1 màu, LUT chuyên rau màu, LUT cây ăn quả, LUT nuôi trồng thủy sản, LUT đất lâm nghiệp và LUT làm muối LUT 1 lúa sẽ chuyển dần sang các LUT khác để sử dụng đất có hiệu quả hơn Để thực hiện tốt định hướng đã nêu trên cần phải thực hiện một số giải pháp chủ yếu về: Vốn đầu tư, chính sách và giải pháp phát triển sản xuất
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Van Thien
Thesis title: “Evaluate the effectiveness of land use for agricultural production
in the district of Thach Ha, Ha Tinh Province”
Major: Land Management Code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Research purposes
− Determine the type of agricultural land use effective Thach Ha district
− Proposed solutions to improve the efficiency of land use for Thach Ha district Research methods
- Choose the census method: Choose the location represents the district's agricultural production Based on the terrain, soil characteristics, climate conditions, the current status and distribution of crop cultivation practices, Thach Ha district divided into 3 sub-region
- Methods of gathering documents and data:
+ Secondary data: Collect material, data available from the state agencies, the documents and reports relating to land policy, the use of agricultural land in the locality + Primary data: Collect by means of household surveys using the stock available Investigated 120 votes
- Methods of synthesis and analysis and processing of data: The data and documents, which gathered, were analyzes, then were syntheszed and were diviced into several different categories and then analyzed, compared, evaluated
- Evaluation methods of land use eficiency:
+ Economic efficiency
+ Social efficiency
+ Environmental efficiency
Main results and conclusions
Agricultural land in Thach Ha district, Ha includes 8 categories of land use: LUT
2 rice, LUT 1 rice, LUT 2 rice - one subsidiary crops, LUT specialized vegetable, fruit LUT, LUT forest land, farming LUT LUT fisheries and salt
Trang 12Results evaluated efficiency of the LUT agricultural land as follows:
- In terms of economic efficiency: At the sub-regional economic LUT 3 fruit trees are for the highest economic efficiency with mixed incomes above 200 million / ha, followed by rice LUT 2 - 1 subsidiary crops with style spring land use rice - rice season
- cucumbers for high economic efficiency LUT for the lowest economic efficiency of the 3 sub-areas of forestry land LUT with mixed income was less than 20 million / ha
- Regarding social performance: At the 3 subregions, specialized vegetable LUT attract more labor involved in producing the most (an average of 869 working days / ha), forest land LUT less labor to attract most (150) is grown mainly by LUT serve as windbreak forest system, sand, protection LUT specialized vegetables - subsidiary crops LUT 2 rice - 1 subsidiary crops have a negative impact on the environment, there should be provisions reasonable manufacturing process to minimize the environmental impact on the land The LUT 2 rice - 1 subsidiary crops, specialist LUT for subsidiary crops and lower economic efficiency, but little impact on the environment
- Environment: The use of fertilizers especially chemical fertilizers irrational, unbalanced than standards allow, the use of plant protection products is not science and does not have the strict control has resulting in causing bad consequences to the environment such as polluting the environment and affecting human health Thus agricultural production should be linked to ecological environment protection and public health
Orientation in the near future, Thach Ha district will choose and develop LUT 2 rice, LUT 2 rice - one subsidiary crops, LUT specialized vegetable, LUT fruit, LUT aquaculture, forestry land LUT and salt industry LUT LUT 1 Rice will shift to the other LUT to use land more efficiently To implement the aforementioned orientation need to make some major solutions for: Capital investment, policy development and manufacturing solutions
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trong khi, xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp; các nhu cầu văn hoá, xã hội, nhu cầu về đất cho xây dựng v.v Tất cả những vấn đề trên đã gây ra áp lực ngày càng lớn lên đất đai, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang, mở rộng lại rất hạn chế
Xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa xã hội Và con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Chính vì thế đã tạo nên áp lực ngày càng lớn cho đất đai Đặc biệt là quỹ đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại luôn
có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Do vậy đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, làm cơ sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Thực tế, trong những năm qua, đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả như tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài ổn định cho người sử dụng đất, hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các giống cây tốt năng suất cao vào sản xuất, nhờ đó mà năng suất cây trồng, hiệu quả sử dụng đất được nâng lên Trong đó, việc thay đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống mới với năng suất và chất lượng cao, áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, có biểu hiện ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả sử dụng đất
Huyện Thạch Hà nằm về phía Đông của dãy Trường Sơn có địa hình hẹp
và dốc, thấp dần từ Tây sang Đông Đất đai của huyện Thạch Hà có địa hình phức tạp, gồm có đồng bằng, trung du, miền núi và dải đất cát pha ven biển; địa
Trang 14bàn huyện Thạch Hà vừa có rừng, có biển và các dải đất đồng bằng tương đối phù hợp cho sản xuất nông nghiệp Hệ thống cơ sở hạ tầng về giao thông, điều kiện tưới tiêu, gặp nhiều trở ngại do địa hình bị chia cắt, điều kiện khí hậu khắc nghiệt của miền Trung không ưu ái trong sản xuất nông nghiệp Hiện nay, do áp lực về lương thực đã giảm xuống nên xu hướng thay đổi độc canh cây lúa để chuyển dịch sang một số loại cây trồng khác có thu nhập cao hơn trên một đơn vị diện tích đang được áp dụng Những địa phương điển hình thực hiện thành công quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng đó là các xã Thạch Liên, Thạch Tân, Thạch Thắng, Tượng Sơn và Thạch Hương
Tuy nhiên, các mô hình sử dụng đất nông nghiệp như đã nêu ở trên mới mang tính tự phát, còn gặp nhiều khó khăn do chưa xác định đúng tiềm năng để khai thác có hiệu quả đối với đất đai Đặc biệt các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện chưa được đánh giá trên cơ sở khoa học để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Từ những vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất đang diễn ra ở huyện Thạch Hà như đã trình bày ở trên, để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển nông nghiệp của huyện, nhằm nâng cao đời sống cho người nông dân
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thạch Hà - tỉnh Hà Tĩnh”
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên đia bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất nông nghiệp trên phương diện hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
Kết quả nghiên cứu của luận văn làm cơ sở cho các nhà quản lý, chỉ đạo, điều hành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Kết quả nghiên cứu có thể giúp địa phương lựa chọn các loại sử dụng đất/kiểu sử dụng đất có hiệu quả cao, góp phần tăng thu nhập cho người dân trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội huyện
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT 2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được chú ý hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Đào Châu Thu, 1999)
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người – đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn
cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trên cơ
sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đảm bảo sự thống nhất giữa các ngành, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững, đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Các nội dung sử dụng đất có hiệu quả được thể hiện ở các mặt sau:
- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian
Trang 16thống nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội, hiệu quả môi trường (Nguyễn Thị Vòng, 2001)
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích của cả cộng đồng
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành
2.1.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên 3 khía cạnh: Hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
2.1.2.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một tiêu chí trong đánh giá tính bền vững quản lý sử dụng đất Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh về mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi các nguồn lực sản xuất có hạn, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của xã hội ngày càng gia tăng và đa dạng thì nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan và bức xúc của sản xuất xã hội Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Bản chất của hiệu quả kinh tế có thể được hiểu như sau:
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan nhưng nó không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất
- Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng các yếu tố sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, tiến bộ quản lý…)
để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn
- Hiệu quả kinh tế phải được gắn liền với kết quả của những hoạt động sản xuất cụ thể trong các doanh nghiệp, nông hộ và nền sản xuất xã hội ở những điều kiện xác định về thời gian và hoàn cảnh kinh tế xã hội
Trang 17- Hiệu quả kinh tế phải lượng hóa được cụ thể việc sử dụng các yếu tố đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (kết quả) trong quá trình sản xuất ở từng đơn
vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất định các doanh nghiệp với mục đích là tiết kiệm lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng sản phẩm hàng hóa nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất Do đó hiệu quả kinh
tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hóa và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác đó là quy luật “tiết kiệm”, là “tăng năng suất lao động xã hội”, hay đó là “tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “ Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội (Doãn Khánh, 2000) Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
Một là: Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm
thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại
Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một
hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động Theo nguyên lý đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống sẽ phát sinh nhiều tính chất mới mà từng phần tử đều không có, tạo ra hiệu quả lớn hơn tổng hiệu quả các phần tử riêng lẻ Do vậy việc tận dụng khai thác các điều kiện sẵn có, hay giải quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận của một hệ thống với yếu tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống Đó chính là mục tiêu đặt ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội
Trang 18Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng,
vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội
Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định với chi phí tài nguyên ít nhất
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng
đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu
tư (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung,1998)
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
2.1.2.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp mà chỉ tiêu quan trọng nhất là giá trị của sản phẩm nông nghiệp đạt cao nhất trên một đơn vị diện tích (Nguyễn Duy Tính, 1995) Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
Trang 19Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay chủ yếu được xác định bằng khả năng thu hút lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương
2.1.2.3 Hiệu quả môi trường
Hiện nay, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai,
nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái (Đỗ Nguyên Hải, 1999)
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Bên cạnh cách phân loại hiệu quả nói trên, người ta còn có thể căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế, căn cứ vào các yếu tố cơ bản về sản xuất, phương hướng tác động vào sản xuất cả về mặt không gian và thời gian Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở bất cứ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu quả cũng phải xem xét về mặt không gian và thời gian, trong mối liên hệ chung của toàn bộ nền kinh tế Ở đó, hiệu quả bao gồm hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường với một mối quan hệ mật thiết thống nhất và không thể tách rời nhau Có như vậy mới đảm bảo cho việc đánh giá hiệu quả được đầy đủ, chính xác và toàn diện
Trang 202.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.2.1 Đất nông nghiệp và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
về vấn đề này, Các Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinh sống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” (trích theo Vũ Năng Dũng, 1997) Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng
sử dụng đất (FAO, 1976)
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng
“Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới
bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (trích theo Vũ Năng Dũng, 1997)
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử
Trang 21dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính)
Đất nông nghiệp: Là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng
Theo Điều 10, Luật Đất đai năm 2013, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
2.2.1.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: Năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ
số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế
- xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu (Nguyễn Hoàng Đan và Đỗ Đình Đài, 2003)
Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia
Trang 22Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth A J Julian Dumaski, 1993 (Smyth A J Julian Dumaski, 1993) đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước
- Khả thi về mặt kinh tế
- Được xã hội chấp nhận
Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt
tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài
bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu (1999), (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1995), việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận
- Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa
dạng trên nhiều vùng đất khác vì vậy khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất
Trang 23để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
- Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên: Bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Vũ Ngọc Hùng, 2007)
+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: Trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển
+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: Điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt
độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp, sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
- Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác:
+ Biện pháp kĩ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1998) Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh
Trang 24Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
- Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức:
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng Việc phát triển sản xuất nông nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi trường (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
+ Hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Hội Khoa học Đất, 2000) Vì thế, cần phát huy thế mạnh của các loại hình sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hóa các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một
hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
+ Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
- Nhóm các yếu tố điều kiện kinh tế, xã hội: Bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách,…) các yếu tố này
có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: Trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó, thuỷ lợi
Trang 25và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá Theo Nguyễn Duy Tính (Nguyễn Duy Tính, 1995), ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất
và thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời
họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống cơ sở
hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1998)
+ Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất
+ Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới đặc biệt, cho đối tượng là đồng bào dân tộc tại địa phương
Phát triển nông nghiệp nước ta thực sự khởi sắc sau sự kiện đổi mới của pháp luật và một loạt chính sách về đất đai bắt đầu là Nghị quyết 10 của Bộ chính trị vào tháng 4 năm 1988, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài, được thừa nhận như một đơn vị kinh tế và được tự chủ
Trang 26trong sản xuất nông nghiệp Sự ra đời của Luật Đất đai 1993; sau đó là luật sửa đổi bổ sung luật đất đai năm 1998 và năm 2001; Luật Đất đai năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 về giao đất nông nghiệp và Nghị định 02/CP năm 1994 về giao đất rừng; một loạt các văn bản liên quan khác và mới đây nhất là Luật đất đai năm 2013 đã đem lại luồng gió mới cho sản xuất nông nghiệp Nước ta từ chỗ phải nhập khẩu lương thực nay đã có thể tự túc lương thực và trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới
+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách của Nhà nước: ổn định chính trị là yếu tố then chốt để tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước khác trong khu vực Đầu tư vào một nước có nền chính trị ổn định tạo tâm lý yên tâm về khả năng tìm kiếm lợi nhuận và thu hồi vốn, giúp các nhà đầu tư có thể tính toán chiến lược đầu tư lớn và dài hạn
2.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.3.1 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Do dân số tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu con người về những sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng, trong khi diện tích đất có hạn, vì thế nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở các khía cạnh sau:
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí…) Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể là 1 ha, tính trên 1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,
do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất
- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá hủy gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triến nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai
Trang 27Do đó, cần đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đến môi trường xung quanh, phải đánh giá khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không, việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không
- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn
2.2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hôi bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đào Châu Thu, 1999)
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là trên một đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ
ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất (Đào Châu Thu, 1999)
- Quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp trên cùng một lãnh thổ là quan hệ nhân quả: Nguyên liệu cho công nghiệp và vấn đề xử lý chất thải
2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.3.1 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đồng đều giữa các châu lục và các nước (Châu
Trang 28Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%) Diện tích đất nông nghiệp giảm liên tục về số lượng
và chất lượng Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động của con người gây ra Dân số thế giới tăng nhanh nhưng tiềm năng đất nông nghiệp thế giới lại có hạn Vì vậy để có đủ lương thực và thực phẩm cho nhu cầu của con người phải bảo vệ và có định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá là đất đai cho sản xuất nông nghiệp
Châu Á, mặc dù chiếm 1/2 dân số thế giới nhưng chỉ có khoảng 20% đất nông nghiệp toàn cầu Từ năm 1995 đến năm 2010 dân số Đông Nam Á dự kiến
sẽ tăng thêm 133 triệu người và khu vực này có thể dành thêm 12 đến 15 triệu ha của 93 triệu ha tiềm năng đất nhờ nước trời còn lại để sản xuất (Hội Khoa học Đất, 2000) Diện tích đất canh tác giảm dần do áp lực từ nhiều phía của quá trình
đô thị hoá, khai thác khoáng sản
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm 1995 (Đỗ Nguyên Hải, 2001) cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á cho thấy:
- Các nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập trung phát triển ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tổ để đương đầu với những thách thức mới của thế kỷ 21
+ Thái Lan: Phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến
+ Malaixia: Tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương
+ Inđônêxia: Hướng mạnh vào sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như: hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ
Trang 29+ Philippin: Phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Bởi vì, tính phong phú
đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những xử
lý đầy trí tuệ và rất biện chứng Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi mặt hoạt động của
hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng
2.3.1.2 Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Diện tích đất đai có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn
đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới
Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Ở các nước Đông Nam Á các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó không những có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp, nhằm khai thác tốt lợi thế so sánh của từng vùng mà còn có thể thâm canh tăng
vụ, tăng hệ số sử dụng đất, khắc phục được vấn đề môi trường dần hoàn thiện để phát triển nền nông nghiệp bền vững
Hàng năm, các viện nghiên cứu Nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới cho năng suất và chất lượng cao, có khả năng chống chịu được sâu bệnh, chịu được khí hậu khắc nghiệt và đưa ra những công thức luân canh mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) đã
có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệu công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật
Trang 30Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng (Trích theo Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh, 2001) Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội Các nhà khoa học Nhật Bản đã
hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm (Vũ Khắc Hòa, 1996)
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai
là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra những chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế
độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn phát triển toàn diện
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Vũ Khắc Hòa, 1996)
Ở Thái Lan, Ủy ban chính sách quốc gia đã có nhiều quy chế mới, ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn (Khonkaen University, 1992)
Ở Ấn Độ, việc đánh giá đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất được
áp dụng các phương pháp tham biến biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố dưới dạng phương trình toán học kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng
Trang 31Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Các nước châu Á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thủy lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Mặt khác, phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường, tiến hành xây dựng nền sinh thái bền vững
Ở Hoa Kỳ, ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, phân hạng đất đai nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và sử dụng đất hợp lý đã được chú ý Hiện nay, ở Hoa Kỳ đang áp dụng rộng rãi hai phương pháp:
- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu chuẩn Trong đánh giá đất đai người ta đi sâu vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để
so sánh lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% làm mốc so sánh với đất khác
Ở các nước châu Âu đánh giá đất phổ biến theo hai chiều hướng:
- Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng của đất (phân hạng định tính)
- Nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội nhằm xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (phân hạng định lượng)
Các phương pháp thường áp dụng bằng phương pháp so sánh tính điểm hoặc tính phần trăm
Vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở các nước trên thế giới đã được nghiên cứu từ rất lâu trên cơ sở đánh giá đất Tuy có sự khác nhau về phương pháp, sắp xếp hệ thống đánh giá và quan điểm đánh giá, song chúng cũng có những quan điểm đồng nhất Đó là, luôn gắn liền với các mục đích sử dụng hợp
lý tài nguyên đất đai, nâng cao chất lượng sản phẩm và đề ra các phương pháp bảo vệ đất đai, cũng như bảo vệ môi trường nhằm sử dụng đất đai bền vững Một số chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000), ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD, chiếm 28,3% trong thu nhập của nông nghiệp, Canada tương ứng là 5,7 tỉ và 39,1%, Ôxtrâylia 1,7 tỉ và 14,5%, Nhật Bản 42,3 tỉ
và 69,8%, cộng đồng châu Âu 67,2 tỉ và 40,1%, Áo là 1,6 tỉ và 69,8%
Trang 32Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Các nước châu Á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác Một mặt, phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn
sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi trường
2.3.2 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nước
2.3.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp… Việt Nam là nước có diện tích đứng thứ 4 ở vùng Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người xếp vào hàng thứ 9 trong khu vực Theo số liệu thống kê 2014, cả nước có tổng diện tích tự nhiên 33.096.700 ha, bao gồm đất nông nghiệp 26.822.900 ha, chiếm 81%, đất phi nông nghiệp 3.796.900 ha, chiếm 11,5% và đất chưa sử dụng 2.476.900 ha, chiếm 7,5% diện tích tự nhiên, trong đó có 25.502.700 ha, chiếm 77,10% là đã có chủ sử dụng
Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có những biến động lớn
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng Đây
là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất
có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp theo hướng sinh thái
Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và là thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta hiện nay, việc sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt
là đất trồng lúa thiếu thận trọng vào bất cứ việc gì cũng đều gây lãng phí và con cháu chúng ta sẽ gánh chịu những hậu quả khó lường
Trang 33Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho
xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm
2.3.2.2 Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên/người là 0,43 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm Theo dự kiến, nếu tốc độ tăng dân số là 1- 1,2%/ năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới (Nguyễn Thị Vòng, 2001)
Ngay từ những năm 1960, Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, do đó đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen
để sử dụng tốt hơn tiềm năng về đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập đến Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao (Đào Thế Tuấn, 1998)
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề về
kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới ngắn ngày có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền (Trần
An Phong, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1995)
Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra
Trang 34một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất đem lại hiệu quả kinh tế cao (Cao Liêm và cs., 1990)
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì
đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp
cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng
Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN – 01 (1991 – 1995) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ… nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Năm 1999, Hà Học Ngô đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Châu Giang, Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng này có thể phát triển các loại hình sử dụng đất cho đạt hiệu quả như lúa - màu, lúa - cá, chuyên rau màu, hoa cây cảnh và cây ăn quả Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá chưa được khai thác triệt để
là do chưa xác định được hướng sử dụng lợi thế đất nông nghiệp, đồng thời chưa xây dựng được các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (Hà Học Ngô,1999)
Việc quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả
và các nhà khoa học như: Vũ Năng Dũng, (1997), Trần An Phong, (1995) Các tác giả đã chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điểm khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau cần phải quy hoạch cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả các biện pháp kinh tế kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt
Từ năm 1995 đến năm 2000, Nguyễn Ích Tân đã tiến hành nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế cao đối với vùng úng trũng xã Phụng Công-
Trang 35huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trên đất vùng úng trũng Phụng Công - huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên có thể áp dụng mô hình lúa xuân - cá hè đông cho lãi từ 9258 - 12527,2 ngàn đồng/ha
Mô hình lúa xuân - cá hè đông và cây ăn quả, cho lãi từ 14315,7 - 18949,25 nghìn đồng/ha (Nguyễn Ích Tân, 2000)
Năm 2009, PS.TS Đào Châu Thu đã phối hợp cùng với Đào Trọng Đức tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Năm 2010, Nguyễn Ích Tân cùng Nguyễn Tài Kiên đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất và định hướng sử dụng đất trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Đề tài đánh giá hiệu quả và đề xuất các loại hình sử dụng đất vùng gò đồi huyện Nam Đàn- tỉnh Nghệ An nhằm năng cao hiệu quả sử đất nông lâm nghiệp của PGS.TS Trần Văn Chính năm 2008
Năm 2010, Đỗ Thị Tám cùng Nguyễn Thị Hải đã tiến hành đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghệp trên địa bàn xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, từ đó đưa ra các loại sử dụng đất hiệu quả trên địa bàn
Năm 2011, GS.TS Phạm Vân Đình cùng Vũ Đình Bắc đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả các mô hình sử dụng đất cát ven biển vào sản xuất nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Năm 2013, TS Bùi Thị Ngọc Dung cùng Phan Thị Thanh Nhàn đã nghiên cứu đề tài đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội cho sử dụng
và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh Đề tài đã nghiên cứu một cách đầy đủ tác động của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đến khai thác sử dụng dải ven biển cho phát triển nông nghiệp
Nhìn chung nền nông nghiệp Việt Nam đang có hướng đi lên, phần nào đáp ứng được vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, hướng tới một nền nông nghiệp bền vững
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc nghiên cứu về đất và sử dụng đất mới được thực hiện trên phạm vi vùng không gian rộng, cho nên tính thực tiễn của nó chưa cao Do vậy, trong thời gian tới cần phải có những nghiên cứu về đất và sử dụng đất mang tính cụ thể hơn, thực tiễn hơn cho từng địa phương (cấp xã, cụm xã, cấp huyện), có như vậy thì mới mang lại hiệu quả cao trong sử dụng đất
Trang 362.3.3 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất của huyện Thạch
Hà, tỉnh Hà Tĩnh
Huyện Thạch Hà có tổng diện tích tự nhiên vào loại khá lớn của tỉnh, sau nhiều lần chia tách, hiện nay huyện còn 31 đơn vị hành chính cấp xã (30 xã và 1 thị trấn) với tổng diện tích tự nhiên 35390,65 ha, nền kinh tế đang dựa vào nông nghiệp là chính, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn với 24.123,12 ha, chiếm 68,03% tổng diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 15.368,77 ha chiếm 43,34% tổng diện tích tự nhiên Nhằm phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của toàn xã hội, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Ngày nay, sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên trong sản xuất để đảm bảo phát triển bền vững cũng là xu thế tất yếu đối với các quốc gia, các vùng miền Trên thực
tế, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển nền knh tế nông nghiệp nông thôn, nông dân trong xu hướng phát triển
đa dạng hóa các thành phần, lĩnh vực của xã hội Tại Hà Tĩnh, những nghiên cứu
về đành giá hiệu quả sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm bền vững hay theo hướng sản xuất hàng hóa còn chưa nhiều Thạch Hà là một vùng sinh thái đa dạng, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều lợi thế cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế sản xuất, tài nguyên đất đai và nhân lực còn chưa được khai thác đầy đủ
Nông nghiệp huyện Thạch Hà có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội của huyện theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nông dân Nền nông nghiệp trong những năm qua nhất là thời
ký đổi mới đã được những thành tựu quan trọng Ngành nông nghiệp huyện đã giải quyết được căn bản lương thực cho nhu cầu tiêu dùng của huyện và cung cấp một phần cho thị trường Tỷ trọng cây lương thực, cây ăn quả, rau màu, các loại cây hàng hóa đã có sự chuyển biến tích cực Chăn nuôi phát triển đều và có tốc
độ cao Tuy nhiên, từ trước đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào có quy mô lớn và có ý nghĩa thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện là hết sức cần thiết nhằm phát triển nhanh hơn và bền vững hơn nền kinh tế nông nghiệp của huyện Trên địa bàn huyện hiện đang đưa vào nghiên cứu và sản xuất các giống cây trồng nông nghiệp công nghệ cao trên đất cát tại một số xã đất cát ven biển như xã Thạch Văn bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân
Trang 37PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Các loại sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Thạch Hà,
tỉnh Hà Tĩnh
- Giới hạn về thời gian: các số liệu thống kê được lấy từ năm 2010 - 2015
về đất đai, kinh tế, xã hội của huyện
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp của huyện Thạch Hà
- Điều kiện tự nhiên gồm: vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, thuỷ văn, tài nguyên đất và nước ảnh hưởng đến sử dụng đất của huyện
- Điều kiện kinh tế – xã hội: tình hình kinh tế nông nghiệp, kiến trúc hạ tầng
cơ sở kỹ thuật, tình hình phát triển các ngành nghề, văn hoá, phúc lợi xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp
- Nhận xét điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội thuận lợi và khó khăn
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất, tình hình biến động đất nông nghiệp của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh
- Điều tra hiện trạng và tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.3.3 Xác định các loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn huyện
- Xác định hiện trạng các loại sử dụng đất, diện tích và sự phân bố các loại
sử dụng đất theo các tiểu vùng của huyện
3.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo các tiêu chí về kinh
tế, xã hội, môi trường
- Đánh giá hiệu quả về kinh tế
Trang 38- Đánh giá hiệu quả về xã hội
- Đánh giá hiệu quả về môi trường
3.3.5 Lựa chọn các LUT có hiệu quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất trên địa bàn huyện
- Lựa chọn các loại sử dụng đất có hiệu quả
- Quan điểm khai thác, sử dụng đất nông nghiệp
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện
- Đề xuất một số loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả trên địa bàn huyện
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp
Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng thống
kê, phòng Kế hoạch - Tài chính huyện
3.4.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Huyện Thạch Hà nằm về phía Đông của dãy Trường Sơn có địa hình hẹp
và dốc, thấp dần từ Tây sang Đông Do địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi, sông như sông Rào Cái, sông Nghèn (Đò Điệm), sông Cày… nên được chia thành 3 tiểu vùng dựa vào đặc điểm địa hình của huyện
- Tiểu vùng 1 (vùng Trà Sơn): Nằm ở phía Tây của huyện (gồm các xã như: Thạch Điền, Nam Hương, Bắc Sơn, Thạch Xuân, Thạch Ngọc, Ngọc Sơn ) Vùng này là sườn Đông của dãy Trà Sơn, có các ngọn núi cao từ 100 - 300m Đất ở địa hình này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản Đại diện cho tiểu vùng 1 là xã Nam Hương
- Tiểu vùng 2 (vùng Bắc Hà): Nằm ở trung tâm của huyện, gồm phần lớn các xã trong huyện (trên 15 xã), địa hình thấp dần theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, độ cao trung bình 1 - 5m so với mặt biển Địa hình tương đối bằng phẳng, rải rác có những quả đồi thấp nhô lên giữa vùng đồng bằng Xã Thạch Việt, xã Thạch Long và xã Thạch Kênh Đây là vùng có địa hình bằng phẳng,
là vùng chuyên trồng lúa giống, trồng rau, hoa quả… Đại diện vùng này là xã Thạch Thanh
Trang 39- Tiểu vùng 3 (vùng Bãi Ngang): Nằm ở phía Đông của huyện, bao gồm các xã giáp biển (Thạch Văn, Thạch Trị, Thạch Hải, Thạch Bàn, Thạch Hội, Thạch Lạc ) Địa hình bằng phẳng, nhiều cồn cát, bãi cát và đầm phá, cửa sông đất ở đây có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng thấp Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp chính của huyện, hàng năm cung cấp một lượng lớn lương thực, thực phẩm Đại diện vùng này là xã Tượng Sơn
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp
Thu thập bằng phương pháp điều tra nông hộ theo phiếu điều tra Điều tra
120 phiếu điều tra, mỗi tiểu vùng 40 phiếu điều tra Các hộ nông dân được lựa chọn điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên có định hướng (phân bổ theo tiểu vùng nghiên cứu và các kiểu sử dụng đất trên địa bàn huyện) Các hộ dân được điều tra đều đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.4.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, tài liệu
- Các số liệu thống kê xử lý bằng phần mềm EXCEL
- Kết quả được trình bày bằng hệ thống các bảng số liệu, biểu đồ
3.4.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Đánh giá hiệu quả kinh tế:
- Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp chúng tôi sử dụng một số chỉ tiêu chính sau:
+ Tổng thu nhập hay giá trị sản xuất (GTSX) = giá nông sản × sản lượng + Chi phí trung gian (CPTG) là tổng các chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, khấu hao dụng cụ và các chi phí khác ngoài công lao động gia đình)
+ Thu nhập hỗn hợp (TNHH) = GTSX – Chi phí trung gian (CPTG) + Hiệu quả đồng vốn (HQĐV) = TNHH / CPTG
Để đánh giá hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế được phân thành 3 mức khác nhau (bảng 3.1) Mức phân cấp dựa trên tổng hợp số liệu điều tra nông hộ tại các tiểu vùng, thực tế mức chi phí sản xuất, sinh hoạt của người dân với các giá trị cao nhất và thấp nhất từ đó xây dựng phân cấp các yếu tố bằng phương pháp tính ngưỡng dưới của % năng suất tối hảo cho các cấp thích nghi của S1, S2, S3 theo công thức:
Trang 40S1=S80%=( ∑(S80%LUT1+ S80%LUT2+ … + S80%LUTn))/n
S2=S40%=( ∑(S40%LUT1+ S40%LUT2+ … + S40%LUTn))/n
S3=S20%=( ∑(S20%LUT1+ S20%LUT2+ … + S20%LUTn))/n
Từ đó đưa ra giá trị phân cấp các yếu tố cho các kiểu sử dụng đất, ứng với các mức đánh giá cao, trung bình, thấp sẽ cho mức điểm đánh giá tương ứng là 3,
2, 1 điểm cho các cấp
Bảng 3.1 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
huyện Thạch Hà (tính cho 1 ha)
Cấp đánh giá GTSX
(Triệu đồng)
TNHH (Triệu đồng)
- Tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế cho một LUT:
Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của một LUT với số điểm tối đa là 9 điểm (tương ứng 100%)
+ Nếu số điểm của 1 LUT đạt >75% tổng điểm cao nhất (tương ứng 7 - 9 điểm): Thì LUT đạt hiệu quả kinh tế cao (với giá trị HQĐV phải đạt >= 2 điểm) + Nếu số điểm của 1 LUT đạt 50% - 75% tổng điểm cao nhất (tương ứng đạt 5 - < 7 điểm): Thì LUT đạt hiệu quả kinh tế trung bình
+ Nếu số điểm của 1 LUT đạt <50% tổng điểm cao nhất (tương ứng đạt <
5 điểm): Thì LUT đạt hiệu quả kinh tế thấp
Bảng 3.2 Đánh giá chung hiệu quả kinh tế
* Đánh giá hiệu quả về xã hội:
- Thông qua các chỉ tiêu sau:
+ Khả năng thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm và đảm bảo thu nhập thường xuyên, ổn định cho nhân dân: được đánh giá bằng số công lao động (CLĐ) cần để thiết của LUT trong 1 ha trong 1 năm