Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Sinh kế, sinh kế bền vững
Sinh kế là một từ hán việt theo từ điển Nguyễn Quốc Hùng có nghĩa là
Từ "sinh kế" đã xuất hiện nhiều trong thơ văn Việt Nam và Trung Hoa, thể hiện nỗi trăn trở về cuộc sống Trong bài "Thôn dạ" thuộc Thanh Hiên thi tập, Nguyễn Du viết: "Lão khứ vị tri sinh kế chuyết", diễn tả tâm trạng người già vẫn chưa hiểu rõ về con đường mưu sinh Ngoài ra, trong bài "Tạp thi kỳ 1", ông cũng nhắc đến: "Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên, Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên", phản ánh sự mờ mịt trong lòng người tráng sĩ khi đối diện với sinh kế Tương tự, Bạch Cư Dị thời Đường cũng có những tác phẩm đề cập đến chủ đề này.
Dữ Mộng Đắc cố tửu nhàn ẩm, thả ước hậu kỳ, phản ánh tâm trạng của những người trẻ tuổi không màng đến sinh kế, mà chỉ muốn tận hưởng cuộc sống Câu thơ "Thiếu thì do bất ưu sinh kế" cho thấy sự tự do trong tuổi trẻ, trong khi "Khảo hậu thuỳ năng tích tửu tiền" nhấn mạnh sự không tiếc nuối về tiền bạc cho rượu khi về già Từ "sinh kế" trong ngữ cảnh này có thể hiểu là công việc, thể hiện sự đối lập giữa trách nhiệm và niềm vui sống.
Trong tiếng Anh từ sinh kế (livelihood) có một số định nghĩa có điểm giống và khác nhau:
Dictionary.com định nghĩa sinh kế là “phương tiện hỗ trợ sự tồn tại của một con người đặc biệt về mặt tài chính và việc làm”
Sinh kế được định nghĩa trên Wikipedia là các phương tiện cần thiết để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, bao gồm thực phẩm, nước uống, chỗ ở và quần áo.
Vocabulary.com lại định nghĩa cụ thể hơn “sinh kế là công việc bạn làm để kiếm thu mà hỗ trợ cuộc sống của bạn”
Từ điển Cambridge định nghĩa sinh kế là “(cách người ta kiếm) tiền để chi trả cho thức ăn, nơi ở, quần áo…”
Như vậy, theo tiếng Anh từ livelihood có thể hiểu theo 2 nghĩa một là việc làm hai là phương tiện kiếm sống (như chiếc tàu, mảnh vườn…)
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng khái niệm sinh kế của Chambers và Conway (1991), được công nhận rộng rãi trong giới học giả và các tổ chức phát triển Khái niệm này phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, định nghĩa sinh kế là tổng hợp của năng lực, tài sản (bao gồm kho bãi, tài nguyên, quyền và khả năng tiếp cận) cùng với các hoạt động cần thiết để đảm bảo cuộc sống.
Khái niệm phát triển bền vững, theo định nghĩa của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), nhấn mạnh rằng sự phát triển phải đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Trong lĩnh vực sinh kế, Chambers và Conroy (1991) định nghĩa bền vững là khả năng duy trì và cải thiện sinh kế, đồng thời bảo vệ và phát triển tài sản cũng như năng lực của cả cộng đồng địa phương lẫn toàn cầu mà sinh kế đó phụ thuộc vào.
Theo Chambers và Conroy (1991), sinh kế bền vững là khả năng đối mặt và phục hồi từ áp lực, đồng thời duy trì và nâng cao năng lực và tài sản cho hiện tại và tương lai, mà không gây hại cho tài nguyên thiên nhiên.
Nghiên cứu này tập trung vào ngư dân sống tại vùng ven biển, nơi được xác định là khu vực giao thoa giữa biển và đất liền Vùng ven biển, theo tài liệu quản lý tổng hợp, bao gồm vùng đất ven biển và vùng biển ven bờ, với sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố sinh thái Phạm vi của vùng bờ phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng quản lý, như được nêu trong Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.
Vùng ven biển trong bài viết này được định nghĩa là khu vực thuộc địa giới hành chính của tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường, thị trấn) tiếp giáp trực tiếp với biển hoặc cửa sông, cửa biển.
2.1.1.3 Sinh kế trong khai thác thủy sản đối với ngư dân
Ngư dân, theo từ điển Tiếng Việt, là những người làm nghề đánh cá và trong quan niệm Việt Nam, tất cả cư dân sống bằng việc khai thác nguồn lợi thủy sản đều được gọi là ngư dân Nghiên cứu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản cho thấy ngư dân là những người khai thác thủy sản bằng các công cụ chuyên dụng, với sản phẩm thủy sản là nguồn thu nhập chính nuôi sống họ và gia đình.
Sinh kế của ngư dân trong khai thác hải sản là một khía cạnh hẹp của khái niệm sinh kế, tập trung vào hoạt động kiếm sống thông qua việc sử dụng các nguồn lực trong môi trường dễ bị tổn thương Để được coi là bền vững, sinh kế này cần đảm bảo ngư dân sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực, đồng thời thích ứng với hoặc giảm thiểu các tác động tiêu cực từ môi trường, nhằm duy trì và phát triển nguồn lực cho hiện tại và tương lai.
2.1.1.4 Sinh kế hộ ngư dân
Để hiểu rõ về sinh kế của ngư dân, trước hết chúng ta cần xác định ngư dân là ai Theo Bách khoa toàn thư (2009), ngư dân, hay còn gọi là dân chài hoặc dân đánh cá, là những người sử dụng lưới, cần câu, bẫy và các dụng cụ khác để bắt và thu gom cá cùng các sinh vật thủy sinh từ sông, hồ hoặc đại dương, nhằm phục vụ cho nhu cầu thực phẩm hoặc các mục đích khác Khái niệm này cũng bao gồm những người làm việc tại các trại nuôi cá.
Sinh kế hộ ngư dân là một khái niệm liên quan đến sinh kế của cộng đồng ven biển, tập trung vào việc sử dụng các nguồn lực sinh kế để tham gia vào hoạt động đánh bắt và khai thác thủy hải sản Mục tiêu chính của sinh kế này là cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao thu nhập cho các hộ ngư dân, đồng thời thích ứng với môi trường sống.
Sinh kế của ngư dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ảnh hưởng đến đời sống của từng cá nhân và hộ gia đình Các hoạt động sinh kế được quyết định bởi năng lực và khả năng của ngư dân, đồng thời chịu tác động từ điều kiện tự nhiên, các chính sách và mối quan hệ xã hội trong cộng đồng Khung phân tích sinh kế bền vững giúp hiểu rõ hơn về những yếu tố này.
Theo DFID, trong môi trường dễ bị tổn thương, các tổ chức và hộ gia đình dựa vào năm nguồn lực sinh kế: con người, tự nhiên, vật chất, xã hội và tài chính Những nguồn lực này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường dễ bị tổn thương Chiến lược sinh kế của hộ gia đình được hình thành từ sự tương tác giữa các nguồn lực này.
Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: Carney et al (1999) 2.1.3 Đặc điểm sinh kế của các hộ ngư dân ven biển
- Ngư dân khai thác thủy sản thường cư trú ở vùng tách biệt và khó khăn
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm cải thiện sinh kế bền vững cho các hộ ngư dân ven biển ở một số địa phương
- Kinh nghiệm của Quảng Trị
Để hỗ trợ ngư dân chuyển đổi sinh kế sau sự cố ô nhiễm môi trường biển, tỉnh Quảng Trị đã triển khai mô hình trồng sả trên cát nhằm xuất khẩu Mô hình này đã mang lại nguồn thu nhập cho người dân ở các xã ven biển và mở ra hướng sản xuất mới thích ứng với biến đổi khí hậu Sau sự cố môi trường năm 2016, việc chuyển đổi sinh kế cho người dân được đặc biệt chú trọng Công ty Cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị đã khởi động dự án trồng sả xuất khẩu thí điểm tại một số xã ven biển thuộc ba huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Triệu Phong, hứa hẹn tạo ra thu nhập ổn định cho cộng đồng.
Sóc Trăng đã triển khai thí điểm mô hình phát triển sinh kế thông qua nuôi vọp (Geloina coaxans) kết hợp với ốc len (Cerithidea obtusa) dưới tán rừng ngập mặn tại Nhóm Đồng quản lý 1 Mô hình này không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho cộng đồng mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái tại khu vực.
Để chuyển đổi sinh kế bền vững cho ngư dân trong Nhóm Đồng quản lý nghề cá ven bờ tại huyện Cù Lao Dung, chúng tôi tập trung vào việc sử dụng diện tích dưới tán rừng Điều này không chỉ giúp giảm áp lực khai thác tài nguyên mà còn đảm bảo sinh kế lâu dài cho cộng đồng.
- Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong đó có vọp ở bãi bồi trên địa bàn huyện Cù Lao Dung
- Nâng cao hiệu quả kinh tế dưới tán rừng phòng hộ ven biển thông qua việc khoanh vùng thả nuôi vọp
Kinh nghiệm Nam Định cho thấy Vườn quốc gia Xuân Thủy, nằm trong vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, là nơi có diện tích nuôi ngao lớn nhất miền Bắc Việt Nam, cung cấp hơn 43% sản phẩm ngao toàn miền Bắc Tuy nhiên, Giao Thủy đang đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi khí hậu, bao gồm nhiệt độ tăng, thay đổi lượng mưa, nước biển dâng và xâm nhập mặn Để hỗ trợ cộng đồng địa phương ứng phó với những tác động này, Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) cùng Công ty Ecolife và Ban quản lý VQG Xuân Thủy đã triển khai nhiều mô hình cộng đồng hiệu quả tại Giao Thủy, đặc biệt tại hai xã Giao Xuân và Giao Thiện Các mô hình này bao gồm quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, phát triển thủy sản bền vững, du lịch sinh thái cộng đồng và đa dạng hóa sinh kế thân thiện với môi trường, cùng với Trung tâm học tập cộng đồng về BĐKH - Ecolife Café.
Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, nằm trong vịnh Nha Trang, là KBTB đầu tiên tại Việt Nam, với mục tiêu bảo vệ đa dạng sinh học và hỗ trợ cộng đồng dân cư cải thiện sinh kế Từ năm 2001, Ban quản lý KBTB đã triển khai nhiều hoạt động bảo vệ vịnh, thử nghiệm hơn 20 mô hình sinh kế bền vững như nuôi trồng thủy sản, làm hàng thủ công mỹ nghệ và du lịch sinh thái Đặc biệt, chương trình tín dụng hợp tác với UBND phường Vĩnh Nguyên và Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh giúp người dân có vốn để phát triển sinh kế thay thế, đồng thời tổ chức các hoạt động phát triển sinh kế bền vững trong và xung quanh KBTB.
2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thị xã Hoàng Mai trong cải thiện sinh kế
Đa dạng sinh kế đối với ngư dân ven biển là yếu tố quan trọng giúp hạn chế rủi ro trong nghề đánh bắt thủy sản và giảm áp lực lên tài nguyên ven bờ Nghiên cứu cần làm rõ thực trạng sinh kế của người dân địa phương, xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh kế và đề xuất giải pháp khả thi để cải thiện sinh kế của ngư dân ven biển tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
2.2.3 Một số chủ trương chính sách về sinh kế cho ngư dân Ở nước ta, tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển là nơi nương tựa sinh kế của hơn 20 triệu người sống dựa vào nguồn lợi ven bờ Sự phụ thuộc này ngày càng trở nên quan trọng, sống còn khi công tác quản lý biển còn nhiều bất cập và các biểu hiện suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên ngày càng rõ nét Khai thác không hợp lý, ô nhiễm biển, thiên tai ở vùng biển, quản lý đơn ngành, thiếu sự phối hợp giữa trung ương và địa phương, đặc biệt là sự chia sẻ trách nhiệm, lợi ích giữa cộng đồng và Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng tài nguyên môi trường biển vẫn là những vấn đề bức xúc Điều 13, Luật Thủy sản ghi rõ: “Nhà nước có chính sách tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong hoạt động khai thác thủy sản ở vùng biển ven bờ…” Điều 6 trong Luật Thủy sản sửa đổi năm 2017 cũng ghi rõ “Nhà nước có chính sách phát huy sức mạnh của ngư dân trong khai thác nguồn lợi thủy sản và tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và phát triển kinh tế biển”, nhưng từ trước đến nay vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách nhằm nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản và sinh kế cho ngư dân Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg khuyến khích ngư dân vươn khơi và tăng cường chủ quyền biển đảo bằng cách hỗ trợ chi phí nhiên liệu cho các tàu hoạt động trên các vùng biển xa như Hoàng Sa, Trường Sa, và DK1 Ngoài ra, Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg cũng nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản và hải sản, khi mà tỷ lệ thất thoát trong đánh bắt thủy sản hiện nay lên đến 20-25% Nguyên nhân chủ yếu là do tàu khai thác có công suất nhỏ, thiếu thiết bị bảo quản, và điều kiện lưu trữ không đảm bảo, dẫn đến giảm chất lượng hải sản và ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm.
Việc đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng cảng cá và dịch vụ hậu cần nghề cá tại nhiều địa phương vẫn còn hạn chế, dẫn đến tình trạng một số cảng cá và bến cá bị xuống cấp Nhiều cảng không có khu tiếp nhận và phân loại hải sản, trong khi khoảng cách giữa cầu cảng và khu tiếp nhận khá xa, khiến sản phẩm hải sản tiếp xúc lâu với ánh nắng mặt trời, làm giảm chất lượng Theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 07 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ, các chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản đã được chỉ rõ nhằm cải thiện tình hình này.
Ngân sách trung ương sẽ đầu tư 100% kinh phí xây dựng cảng cá loại I và khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng Đối với cảng cá loại II và khu neo đậu cấp tỉnh, ngân sách trung ương hỗ trợ tối đa 90% cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, bao gồm tỉnh Quảng Ngãi, và tối đa 50% cho các địa phương có điều tiết thu ngân sách Ngoài ra, 100% tổng mức đầu tư cho các tuyến đảo, bao gồm cả giải phóng mặt bằng và hạ tầng thiết yếu, cũng sẽ được ngân sách trung ương đảm bảo.
Ngân sách trung ương đầu tư 100% kinh phí xây dựng cho các dự án do Bộ, ngành trung ương quản lý, đặc biệt là hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản trên biển như hệ thống phao tiêu, đèn báo ranh giới và neo lồng bè Từ năm 2015 đến 2020, ngân sách nhà nước ưu tiên bố trí vốn hàng năm tăng tối thiểu gấp 2 lần so với giai đoạn 2011 - 2014, nhằm hoàn thành các công trình theo quy định Các dự án ưu tiên bao gồm xây dựng và nâng cấp công trình tại các đảo Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Cồn Cỏ và một số tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, đồng thời đầu tư xây dựng các trung tâm nghề cá lớn tại Hải Phòng, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang theo quy hoạch đã được phê duyệt.
- Chính sách tín dụng: về các lĩnh vực như:
Chính sách tín dụng cho việc đóng mới và nâng cấp tàu bao gồm các điều kiện vay vốn, hạn mức vay, lãi suất, mức bù chênh lệch lãi suất, thời hạn cho vay và tài sản thế chấp Chủ tàu sẽ phải trả lãi suất ổn định hàng năm theo quy định của Nghị định Ngoài ra, Chính phủ cũng đã đưa ra các chính sách nhằm xử lý rủi ro liên quan đến tín dụng.
Các khoản cho vay để đóng mới và nâng cấp tàu sẽ chịu rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng Việc xử lý thiệt hại sẽ được thực hiện theo các nguyên tắc quy định trong Nghị định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại xảy ra.
Ngân sách nhà nước cung cấp hỗ trợ tài chính cho việc mua bảo hiểm cho các tàu khai thác hải sản xa bờ và tàu dịch vụ hậu cần, nhằm phục vụ cho các tổ đội và hợp tác xã khai thác hải sản Điều kiện để nhận hỗ trợ là tàu phải có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên.
- Chính sách ưu đãi thuế
Miễn thuế tài nguyên đối với hải sản tự nhiên khai thác
Không thu lệ phí trước bạ đối với tàu, thuyền khai thác thủy, hải sản
Miễn thuế môn bài đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá
Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước sử dụng cho hoạt động nuôi trồng thủy, hải sản của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
Một số trường hợp không chịu thuế giá trị gia tăng
- Một số chính sách khác
Chúng tôi hỗ trợ 100% chi phí đào tạo cho thuyền viên vận hành tàu vỏ thép và tàu vỏ vật liệu mới Đào tạo bao gồm hướng dẫn kỹ thuật khai thác và bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới, áp dụng cho các tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên.