Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể đ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM VĂN HUÂN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO MÔ HÌNH TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Cao Việt Hà
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Văn Huân
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Ban quản lý Đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND-HĐND huyện Văn Giang, Phòng Tài nguyên
và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Văn Giang, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống kê, UBND các xã, thị trấn và các hộ nông dân trên địa bàn nơi tôi đến điều tra đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Văn Huân
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 4
2.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp 4
2.1.2 Nguyên tắc và các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 7
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 9
2.2 Tổng quan chung về trang trại 11
2.2.1 Khái quát về trang trại 11
2.2.2 Nguồn gốc và bản chất của trang trại 13
2.2.3 Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển trang trại 17
2.2.4 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại 18
2.2.5 Các văn bản pháp lý liên quan đến mô hình trang trại nông nghiệp 21
2.3 Trang trại nông nghiệp trên thế giới 23
2.3.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại trên thế giới 23
2.3.2 Loại hình sản xuất trang trại phổ biến trên thế giới 30
2.4 Trang trại nông nghiệp ở Việt Nam 32
2.4.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở Việt Nam 32
2.4.2 Loại hình sản xuất trang trại phổ biến ở Việt Nam 35
Trang 5Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 39
3.1 Địa điểm nghiên cứu 39
3.2 Thời gian nghiên cứu 39
3.3 Đối tượng nghiên cứu 39
3.4 Nội dung nghiên cứu 39
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 39
3.4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Văn Giang 39
3.4.3 Đánh giá tình hình phát triển sản xuất theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang giai đoạn 2011 - 2015 39
3.4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang 39
3.4.5 Định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển các trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang đến năm 2020 40
3.5 Phương pháp nghiên cứu: 40
3.5.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 40
3.5.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất 40
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 41
Phần 4 Kết quả và thảo luận 42
4.1 Đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Văn Giang 42
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 42
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Văn Giang 47
4.1.3 Thực trạng phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn 52
4.1.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 53
4.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Văn Giang 55
4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Văn Giang 58
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Giang 58
4.2.2 Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp của huyện Văn Giang giai đoạn 2011 - 2015 60
4.3 Đánh giá tình hình phát triển sản xuất theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang giai đoạn 2011 - 2015 61
4.3.1 Số lượng mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang giai đoạn 2011- 2015 61
Trang 64.3.2 Loại hình sản xuất trang trại của huyện giai đoạn 2011 - 2015 62
4.3.3 Quy mô và hiện trạng sử dụng đất của các trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang 69
4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện 70
4.4.1 Hiệu quả kinh tế 70
4.4.2 Đánh giá về hiệu quả xã hội 72
4.4.3 Đánh giá về hiệu quả môi trường 74
4.4.4 Đánh giá tổng hợp hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang 79
4.5 Định hướng và giải pháp phát triển các mô hình trang trại có hiệu quả trên địa bàn huyện Văn Giang đến năm 2020 80
4.5.1 Định hướng phát triển các mô hình trang trại của huyện Văn Giang 80
4.5.2 Đề xuất phát triển các loại hình sản xuất trang trại trên địa bàn huyện 83
4.5.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại 83
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 86
5.1 Kết luận 86
5.2 Kiến nghị 87
Tài liệu tham khảo 88
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất sản xuất nông
nghiệp của cả nước 5
Bảng 2.2 Sự phát triển trang trại ở Nhật qua một số thời kỳ 25
Bảng 2.3 Sự phát triển trang trại ở Thái Lan qua một số thời kỳ 27
Bảng 2.4 Sự phát triển trang trại ở Pháp qua một số thời kỳ 28
Bảng 3.1 Thông tin về các trang trại điều tra 40
Bảng 4.1 Kết quả đạt được các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 48
Bảng 4.2 Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 48
Bảng 4.3 Dân số huyện Văn Giang năm 2015 51
Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 của huyện Văn Giang 59
Bảng 4.5 Biến động sử dụng đất của huyện Văn Giang giai đoạn 2011 - 2015 60
Bảng 4.6 Số lượng các mô hình trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang giai đoạn 2011 - 2015 62
Bảng 4.7 Cơ cấu diện tích các trang trại huyện Văn Giang giai đoạn 2011 - 2015 69
Bảng 4.8 Số lượng một số vật nuôi/lứa của các trang trại năm 2015 70
Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của các trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang năm 2015 71
Bảng 4.10 Số lao động của các loại hình sản xuất trang trại phân chia theo các loại hình sản xuất 73
Bảng 4.11 Thu nhập bình quân của người lao động trong các trang trại 73
Bảng 4.13 Hình thức xử lý chất thải lỏng chăn nuôi 75
Bảng 4.14 Ý kiến của các hộ nông dân về ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi tới môi trường xung quanh trang trại 77
Bảng 4.15 Thang phân cấp chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 79
Bảng 4.16 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang 79
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí huyện Văn Giang 42 Hình 4.2 Biểu đồ diễn biến một số yếu tố khí hậu trung bình nhiều năm của huyện
Văn Giang 44 Hình 4.3 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất huyện Văn Giang năm 2015 58 Hình 4.4 Mô hình trang trại chăn nuôi lợn của gia đình ông Nguyễn Huy Lập xã
Liên Nghĩa, huyện Văn Giang 63 Hình 4.5 Mô hình trang trại chăn nuôi gà của ông Nguyễn Quang Mạnh xã
Mễ Sở, huyện Văn Giang 64 Hình 4.6 Mô hình trang trại trồng trọt kết hợp chăn nuôi gà của ông Đặng Văn
Thắng, xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang 65 Hình 4.7 Mô hình trang trại trồng trọt kết hợp chăn nuôi lợn của ông Đào Tất
Hiệp, xã Mễ Sở - huyện Văn Giang 65 Hình 4.8 Mô hình trang trại NTTS kết hợp chăn nuôi lợn của ông Nguyễn Văn
Huân, xã Phụng Công - huyện Văn Giang 66 Hình 4.9 Mô hình trang trại tổng hợp kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi lợn và
NTTS của ông Đặng Đức Binh, xã Xuân Quan - huyện Văn Giang 67 Hình 4.10 Mô hình trang trại tổng hợp kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi lợn và
NTTS của ông Tô Ngọc Kiên, xã Nghĩa Trụ - huyện Văn Giang 68 Hình 4.11 So sánh môi trường của trang trại chăn nuôi và chăn nuôi truyền thống
của hộ gia đình 78
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Văn Huân
Tên Luận văn: “Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp
theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”
Phương pháp nghiên cứu gồm:
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp, phương pháp điều tra thực địa,
phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất qua các mặt về hiệu quả kinh
tế, xã hội và môi trường Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả nghiên cứu:
1 Huyện Văn Giang nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Hưng Yên có vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội với các địa phương trong và ngoài tỉnh như thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Hải Dương Huyện Văn Giang có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Dân số toàn huyện 103.974 người, với mật độ dân số 1.456 người/km2 Huyện Văn Giang có tổng diện tích đất tự nhiên
là 7.183,89 ha, trong đó: đất nông nghiệp 4.407,26 ha chiếm 61,35 %; đất phi nông nghiệp 2.776,63 ha chiếm 38,65% tổng diện tích tự nhiên
2 Trong giai đoạn 2011 - 2015, các trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện tăng cả về số lượng và quy mô Năm 2011, huyện Văn Giang có 113 trang trại Đến năm 2015, số lượng trang trại trên địa bàn huyện đã là 224 trang trại, trong đó có 7 trang trại đã được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Theo các loại hình sản xuất được chia thành 4 loại: trang trại chăn nuôi tập trung, trang trại trồng trọt kết hợp với chăn nuôi, trang trại chăn nuôi kết hợp với nuôi trồng thủy sản và trang trại tổng hợp (trồng trọt kết hợp với chăn nuôi và NTTS)
Về quy mô diện tích: Năm 2015 số lượng trang trại có quy mô nhỏ hơn 1 ha đã tăng nhanh với số lượng 102 trang trại chiếm tỷ lệ 45,53% tổng số trang trại, số lượng trang trại có diện tích lớn từ 1- 2,1 ha là 83 (chiếm 37,05%), số lượng trang trại có diện tích lớn hơn 2,1 ha là 39 chiếm 17,42% Nhìn chung so với năm 2011 số lượng các
Trang 11trang trại tăng và phát triển về số lượng và quy mô
3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các trang trại
- Về hiệu quả kinh tế: Sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại chăn nuôi tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với thu nhập thuần là 6,54 tỷ đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận đạt 84,4% Các trang trại tổng hợp (chăn nuôi kết hợp trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản) đem hiệu quả kinh tế thấp nhất với thu nhập thuần là 1,43 tỷ đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận đạt 47,3% Các trang trại chăn nuôi kết hợp trồng trọt, chăn nuôi kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản đem hiệu quả kinh tế trung bình với thu nhập thuần từ 1,5-1,7 tỷ đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận đạt từ 59-62%
- Về hiệu quả xã hội: Sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại đã giải quyết cho nhiều lao động của địa phương có việc làm và tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân
- Về hiệu quả môi trường: Sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, hiệu quả xã hội mà vấn đề vệ sinh môi trường được đảm bảo trước khi xả thải ra môi trường Các trang trại tổng hợp (trồng trọt kết hợp với chăn nuôi và NTTS) mang lại hiệu quả cao nhất về môi trường
4 Trong những năm tiếp theo, huyện Văn Giang tiếp tục phát triển sản xuất, sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại theo hướng phát triển trang trại cụ thể như sau: Các xã có nhiều ao đầm: Xuân Quan, Phụng Công, Long Hưng, Mễ Sở, thị trấn Văn Giang … tập trung phát triển mô hình trang trại tổng hợp, mô hình trang trại chăn nuôi kết hợp với NTTS, mô hình trang trại chăn nuôi tập trung Các xã Cửu cao, Nghĩa Trụ, Vĩnh Khúc, Tân Tiến, Thắng Lợi, Liên Nghĩa, tập trung phát triển mô hình trang trại trồng trọt kết hợp với chăn nuôi; trang trại chăn nuôi tập trung Để đạt được những định hướng nêu trên, huyện Văn Giang cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về chính sách đất đai, giải pháp hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, nguồn nhân lực, công tác bảo quản chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm…
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Van Huan
Thesis title: “Assessment of the status and direction of agricultural land use in
the model farm in Van Giang district, Hung Yen province”
Major: Faculty Of land Management Code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:
Assessing the situation of the development of production and land use efficiency in the model farm in the district of Van Giang Oriented forms of sustainable land use in the model agricultural farm in the district of Van Giang Propose solutions to improve the efficiency of agricultural land use in the model farm
in the district of Van Giang
Materials and Methods:
Methods of collecting secondary data, primary, fieldwork methods, methods of evaluating the effectiveness of land use types across the face of economic efficiency, social and environmental Data processing methods
Main findings and conclusions:
1 Van Giang district located to the northwest of the province of Hung Yen has a favorable geographic location for economic exchange - cultural - with the local society
in and outside the province, such as the capital, Hanoi, Hai Phong, Hai Duong Van Giang district has favorable natural conditions for agricultural development District population 103.974 people, with a population density of 1.456 people / km2 Van Giang district has a total area of natural land is 7.183,89 hectares, of which 4.407.26 hectares
of agricultural land accounting for 61,35%; non-agricultural land 2.776,63 hectares, accounting for 38,65% of the total natural area
2 During the period 2011-2015, the agricultural farms in the district increased both in number and scale In 2011, Van Giang district has 113 farms By 2015, the number of farms in the district was 224 farms, of which 7 farms were certified farm economy According to the type of production is divided into four categories: centralized farms, arable farms associated with animal husbandry, farm combined with aquaculture and collective farms (combined cropping with livestock and aquaculture)
About the size of an area: in 2015 the number of small-scale farms over 1 ha has increased to 102 the number of farms accounting for 45,53% ratio of total number of
Trang 13farms, the number of farms with large areas from 1 - 2.1 ha 83 (accounting for 37,05%), the number of farms with an area of 2,1 ha is larger than 39 accounted 17,42% In general, compared to 2011 the number of farms and development increased in number and size
3 Evaluate the effectiveness of use of agricultural land of farms
- In terms of economic efficiency: Use of agricultural land under farm model focuses bring the highest economic efficiency with net income was 6,54 billion VND/ha/ year, the margin reached 84,4% The collective farms (combined livestock farming and aquaculture) offers the lowest economic performance with net income of 1,43 billion VND / ha / year, profit margin reached 47,3% The combined farm cultivation, animal husbandry combined with aquaculture bring economic benefits to the average net income of 1,5-1,7 billion / ha / year, margins reached from 59-62%
- On the social effects: Use of agricultural land under farm model solved for many local workers have jobs and increase incomes, raise the living standards of the people
- In terms of environmental efficiency: Use of agricultural land under farm model will not only bring high economic efficiency, social efficiency and environmental sanitation problems are guaranteed before discharge into the environment The collective farms (cultivation combined with animal husbandry and aquaculture) provides the highest efficiency on the environment
4 In the following years, Van Giang district continue to develop the production and use of agricultural land under farm model farms under development are as follows: The commune has many ponds: Xuan Quan, Phung Cong, Long Hung, Me So, Van Giang town focuses on developing synthetic model farms, model farms associated with aquaculture, livestock farming model focused The high: Cuu Cao, Nghia Tru, Vinh Khuc, Tan Tien, Thang Loi, Lien Nghia, focused development model arable farming combined with livestock; General collective farms To achieve the above direction, Van Giang district must implement synchronization solutions on land policy, the solution supports in capital, technology, human resources, preservation and processing market Product consumption…
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quí giá, là tài sản quan trọng nhất của mỗi Quốc gia Đất đai không chỉ là địa bàn phân bố khu dân cư, nơi sinh sống của loài người mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu của nền sản xuất vật chất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Trong quá trình sử dụng đất, con người đã tác động làm thay đổi đất đai theo cả hai hướng xấu và tốt Ở nhiều quốc gia trên thế giới và cả ở Việt Nam, đất đang dần bị thoái hoá dưới nhiều hình thức khác nhau như: xói mòn trơ xỏi đá, quá trình sa mạc hoá, mặn hoá, phèn hoá, chua hoá… Đây là kết quả của một thời gian dài con người
sử dụng, sản xuất và canh tác theo một chiều phiến diện, chỉ biết khai thác những
gì sẵn có của đất chứ không quan tâm tới sự bồi bổ đất hay nói cách khác là con người không coi đất như một cơ thể sống cần được chăm sóc khoẻ mạnh để ngày càng phục vụ con người tốt hơn
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy
mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức
tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
Kinh tế trang trại có vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, góp phần đưa công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn Kinh tế trang trại giúp huy động khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc làm cho lao động xã hội, làm giàu cho nông dân, làm giàu cho đất nước, và quan trọng nhất kinh tế trang trại sẽ giúp cho việc sử dụng và bảo vệ có hiệu quả tài nguyên đất đai Theo nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm
mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” Ngày nay, trang trại là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới
Trang 15Huyện Văn Giang - tỉnh Hưng Yên là một huyện thuộc vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng với rất nhiều loại hình sử dụng đất đa dạng, có vị trí địa lý thuận lợi, mang rõ nét tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa Huyện Văn Giang có đầy đủ điều kiện để phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nền kinh tế nói chung và nền nản xuất nông nghiệp nói riêng của huyện vẫn chưa thực sự phát triển tương xứng với những tiềm năng đã có Trong những năm gần đây, mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên đất nông nghiệp theo hướng trang trại của huyện Văn Giang đang phát triển mạnh mẽ Đây là phương thức sản xuất tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển hàng hóa tập trung đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất thông qua các loại hình sử dụng đất mang lại hiệu quả cao, nâng cao thu nhập góp phần ổn định đời sống người dân Kinh tế trang trại có vai trò rất cần thiết đối với việc phát triển kinh tế nông hộ và đóng góp quan trọng cho nền kinh tế nông nghiệp của huyện Xu thế phát triển của nền nông nghiệp hiện nay là sản xuất phải có
đủ sức cạnh tranh do đó chỉ có tổ chức sản xuất với trình độ cao của các chủ trang trại, các hợp tác xã và doanh nghiệp thì mới đáp ứng được yêu cầu hội nhập Để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển cần phải có cơ chế chính sách đủ mạnh, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn sản xuất hiện nay Từ những vấn đề thực tế và yêu cầu khách quan nói trên và để có cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang cũng như đưa ra được các giả thuyết - đề xuất nhằm sử dụng đất nông nghiệp phá triển theo hướng mô hình các trang trại hợp lý và hiệu quả Xuất
phát từ những vấn đề nêu trên, tôi xin được tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá tình hình phát triển sản xuất và hiệu quả sử dụng đất theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Giang
- Định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển các trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong giai đoạn 2011 - 2015
- Đề tài tập trung nghiên cứu các loại hình trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Trang 161.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm cơ sở lý luận trong đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển trang trại
Đóng góp mới: Đã xác định được 4 loại hình trang trại nông nghiệp phù hợp, hiệu quả trên địa bàn huyện Văn Gıang tỉnh Hưng Yên là: Trang trại chăn nuôi tập trung (chủ yếu chăn nuôi lợn), chăn nuôi kết hợp với trồng cây ăn quả, chăn nuôi kết hợp nuôi cá nước ngọt, trang trại tổng hợp (VAC)
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1.1 Trên thế giới
Hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng Trên thế giới, mặc dù sự phát triển của sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với xã hội thì quốc gia nào cũng thừa nhận Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp Vì vậy đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của
con người gây ra
Theo P.Buringh, toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỉ ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền); Phần diện tích còn lại (khoảng 78%, tương đương 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp Trong tổng số 3,3 tỷ
ha đất nông nghiệp, con người hiện đang sử dụng cho trồng trọt khoảng 1,5 tỉ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất đang có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 2000)
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Châu Á tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp trên diện tích tự nhiên thấp, trong khi đây là khu vực có tỷ lệ dân
số đông trên thế giới Có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích, tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ
282 triệu ha đang được trồng trọt
Trang 18Đông Nam Á là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất và Việt Nam là quốc gia đứng vào hàng thấp nhất trong số các
quốc gia ASEAN (Hoàng Văn Hoa, 1995)
2.1.1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là nước có diện tích đứng thứ 4 ở vùng Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người xếp vào hàng thứ 9 trong khu vực Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục thống kê, tính đến ngày 01/01/2015 diện tích đất nông nghiệp cả nước là 26.822,9 nghìn ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp có 10.231,7 nghìn
ha Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt 1.127,7 m2/người (Tổng cục Thống kê, 2015)
Bảng 2.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất sản xuất
nông nghiệp của cả nước
ha)
Dân số (1.000 người)
Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp/người (m 2 )
Phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới sẽ là:
- Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm, xuất phát từ cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng
- Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu,
tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá
Trang 19- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 50% Tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn
Khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục trong hơn 10 năm qua, từ năm 1997 Việt Nam trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Rau quả, cà phê, cao su, chè, điều, hồ tiêu đều tăng về sản lượng, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu Về chăn nuôi, trong thời gian trên, các đàn gia súc, sản lượng thịt, trứng, sữa đều tăng Thuỷ hải sản nuôi trồng, khai thác cũng đều tăng về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu nông sản trong 11 năm gần đây bình quân tăng mỗi năm 20% đã đạt và vượt 11 tỷ USD
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nền nông nghiệp Việt Nam cũng tồn tại và phát sinh một số vấn đề:
- Quỹ rừng, quỹ đất, quỹ nước, quỹ gien của nông nghiệp đang bị thu hẹp đến giới hạn thấp, ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp
Rừng đang suy giảm nhanh về số lượng và chất lượng Diện tích rừng chỉ còn chiếm 27,7% diện tích tự nhiên, thấp xa so với độ an toàn của môi trường sinh thái
Đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm, do dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp Diện tích đất đai bị xói mòn, thoái hóa do việc phá rừng gây ra cũng đang ngày càng tăng lên
- Môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm nghiêm trọng ở một số địa phương
do chất thải công nghiệp, do sử dụng bừa bãi phân hóa học, hóa chất trừ sâu, diệt
cỏ, gây ô nhiễm đất canh tác, nguồn nước mặt, nước ngầm và để dư lượng chất độc hại trong nông sản thực phẩm
- Đói nghèo đang tồn tại ở nhiều vùng miền núi cũng như vùng nông thôn đồng bằng
Trang 202.1.2 Nguyên tắc và các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
2.1.2.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng, đặc biệt đất nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm do bị trưng dụng sang các mục đích phi nông nghiệp Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả năng phòng hộ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm của rừng, phát triển công nghiệp chế biến vừa và nhỏ với thiết bị công nghệ tiên tiến; khai thác tiềm năng lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xoá đói, giảm nghèo, thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao vai trò và giá trị đóng góp của ngành nông - lâm nghiệp vào phát triển kinh tế quốc dân
Sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc "đầy đủ, hợp lý và hiệu quả"
- Đầy đủ: Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo diện tích đất canh tác luôn đáp ứng được nhu cầu về an toàn lương thực, diện tích đất nông nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái được bền vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người
- Hợp lý: Đây là nguyên tắc giúp cho việc khai thác, sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn và hiệu quả
- Hiệu quả: Trong khai thác và quản lý sử dụng đất tính hiệu quả cao nhất
cả về kinh tế, xã hội và môi trường Mặt khác có những quan điểm đúng đắn theo
xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất có hiệu quả kinh tế xã hội cao
Trong đó, nội dung về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được xác định là
có tầm ảnh hưởng nhất Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc
bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của người nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và cs., 2001)
Trang 21Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét tổng thể trên các mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề: một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”; Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống; Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh
tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người Có thế kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lương chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về chất của xã hội”
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra Theo Nguyễn Duy Tính, hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự suy thoái của đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài Tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên trong quá trình sản xuất dưới tác động của quá trình sản xuất, phương thức quản lý của con người sẽ tạo nên những ảnh hưởng khác nhau tới môi trường Hiệu quả môi trường được phân
ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hóa học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 2000) Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hóa học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hóa học trong nông nghiệp; hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua tác động qua lại giữa cây trồng với đất, cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hóa chất mà vẫn đạt mục tiêu đề ra; hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Trang 222.1.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Theo Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quan điểm sử dụng đất nông nghiệp:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ xuất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- Áp dụng phương thức sản xuất nông lâm kết hợp, lựa chọn các loại hình
sử dụng đất thích hợp, đa dạng hoá sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất bền vững
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng hoá của nền kinh tế quốc dân
- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn liền với việc xoá đói giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hoá truyền thống của các dân tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực của con người
- Phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế, xã hội của vùng và cả nước (Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, 2010)
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.1.3.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng…)
có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp,
vì các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối
Vì vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Trang 23Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang, người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất (Hội Khoa học đất, 2000)
2.1.3.2 Nhóm yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật để lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu
sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc, 2007)
2.1.3.3 Nhóm yếu tố kinh tế tổ chức
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực
và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 24- Hình thức tổ chức sản xuất
Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì thế, cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất, thực hiện
đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
2.1.3.4 Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Theo Nguyễn Duy Tính (1995), ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
- Hệ thống chính sách (đất đai, hỗ trợ, điều chỉnh cơ cấu đầu tư )
- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư
Theo Douglass C.North – nhà kinh tế người Mỹ nổi tiếng thế giới, đoạt giải Nobel năm 1993, sự thay đổi công nghệ và sự thay đổi hợp lý các thể chế là những yếu tố then chốt cho sự tiến triển của kinh tế - xã hội
2.2 TỔNG QUAN CHUNG VỀ TRANG TRẠI
2.2.1 Khái quát về trang trại
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về trang trại được đưa ra, tuỳ theo từng quốc gia, từng vùng, từng quan điểm của các nhà khoa học và quản lý trên lĩnh vực khác nhau mà người ta đưa ra các khái niệm về trang trại
Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ Farm (tiếng Anh), được dịch sang tiếng Việt là trang trại và được định nghĩa là cơ sở sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với hộ gia đình nông dân Thuật ngữ trên được hiểu chung là nông dân, chủ trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất và với đất đai nói chung
Theo quan điểm của C.Mác về trang trại: Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết sản phẩm làm ra, vì vậy thị trường phải hoàn lại tất cả các yếu tố sản xuất của anh ta cho đến cả hạt giống; còn người tiểu nông thì tiêu dùng trực tiếp đại bộ phận sản phẩm của mình, anh ta mua bán càng ít càng tốt, và
Trang 25trong chừng mực có thể, anh ta còn tự chế tạo lấy công cụ lao động, quần áo Đặc điểm cơ bản của trang trại là tính chất sản xuất hàng hoá, không phải là sản xuất tự túc Trang trại là sản phẩm của nền kinh tế thị trường cạnh tranh trong xã hội hiện đại
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều các khái niệm về trang trại được các nhà nghiên cứu đưa ra Trong Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa khái quát “Trang trại
là trang trại lớn sản xuất nông nghiệp” Theo Trần Hữu Quang, trong quá trình nghiên cứu đề tài về mô hình kinh tế trang trại đã đưa ra định nghĩa “ Trang trại
là hình thức sản xuất nông, lâm nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính cho gia đình và đáp ứng nhu cầu cho xã hội"
Từ những đúc rút kinh nghiệm qua Hội thảo về kinh tế trang trại trong cả nước tổ chức tại TP.HCM tháng 4/2000 và qua thực tế, đứng về mặt kinh tế Ban kinh tế trung ương đã đưa ra khái niệm: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông - lâm - ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau trong nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao”
Hiện nay vẫn chưa đưa ra được ý kiến thống nhất về khái niệm trang trại, nhưng trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm về hình thành, phát triển trang trại của các nước trên thế giới, từ những quan niệm, đặc trưng, nhận thức, bản chất
và thực tiễn hiện nay cũng như định hướng phát triển trang trại ở nước ta trong thời gian tới, một trang trại được coi là hiệu quả và bền vững phải đảm bảo ba yếu tố đó là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, vì vậy theo chúng tôi một khái niệm tương đối đầy đủ về mô hình trang trại hiện nay:
“Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông lâm nghiệp dựa trên quy mô lớn về đất đai và lao động, có sức đầu tư lớn, có tư cách pháp nhân, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao trên thị trường, mang lại hiệu quả cao về mặt kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái”
(Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1996)
Trang 262.2.2 Nguồn gốc và bản chất của trang trại
2.2.2.1 Nguồn gốc của trang trại
C Mác khi nghiên cứu Kinh tế - chính trị học nước Anh đã dự báo trong nông nghiệp, nông thôn nước Anh rồi sẽ phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá
tập trung như công nghiệp Mác đã nhận định rằng ở nước Anh đã hình thành lên
một giai cấp những Farm tư bản chủ nghĩa - hình thức lĩnh canh đã nhanh chóng biến mất, nhường chỗ cho những Farm chính thống Từ cuối thế kỷ XVII, Vương quốc Anh là nước đi vào công nghiệp hoá sớm nhất thế giới, có quan niệm cho rằng trong nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa, nông nghiệp cũng phải xây dựng các xí nghiệp tập trung sản xuất quy mô lớn như các xí nghiệp công nghiệp
Và trên cơ sở ruộng đất của các lãnh chúa phong kiến đã hình thành một số trang trại tư bản nông nghiệp với quy lớn và những trang trại quy mô vừa và nhỏ Khi nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga, Lênin đã phân tích đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của các tầng lớp dân cư Nga đương thời
và đã dự đoán xu hướng phát triển của nền nông nghiệp nước Nga: Tính thuần nhất của kinh tế tự nhiên luôn theo nếp cũ đã nhường chỗ cho tính muôn màu, muôn vẻ của những hình thức nông nghiệp thương phẩm
Đó chính là nguồn gốc, bản chất của hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp, nông thôn nước Anh, nước Nga đương thời
Ở Việt Nam, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm là lực cản cho biểu hiện của kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường Do vậy kinh tế trang trại ở Việt Nam cũng xuất hiện muộn hơn và hình thức này gắn liền với quá trình tích tụ tư bản, chủ yếu là ruộng đất và tiền vốn
Thời Lý, Trần đã xuất hiện các điền trang, thái ấp của các quan lại, hoàng gia Thời Lê đã có các đồn điền của các công thần; thời Nguyễn đã có các ấp trại theo hình thức “quan điền thổ”, “quan điền trang”, nhưng mức độ thâm canh và
đa dạng phát triển mạnh vào thời kỳ thuộc địa Pháp
Cuối thế kỷ XIX, khi Pháp thiết lập chế độ thuộc địa, kinh tế nông nghiệp
ở nước ta phục vụ cho Pháp quốc Trong nông thôn tầng lớp địa chủ, quan lại sở hữu dưới dạng các đồn điền, điền trang, thái ấp ở các vùng đất chuyên trồng lúa
và màu, các doanh nhân nông nghiệp Pháp đã xây dựng các đồn điền trồng cây công nghiệp dài ngày và các trại chăn nuôi đại gia súc với quy mô lớn trên những vùng đất mới, có ưu thế về sinh thái Hình thức này chuyển sang giai đoạn khác
Trang 27khi nhà nước quốc hữu hoá các đồn điền của nước ngoài, hình thành các nông lâm trường quốc doanh Việc thực hiện phong trào cải tạo nông nghiệp và hợp tác hoá
ở nông thôn đã hình thành cắc hợp tác xã tập thể trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với nhiều hình thái và quy mô khác nhau
Trước năm 1975 các hình thức nông, lâm trường quốc doanh ở miền Bắc
và đồn điền tư bản ở Miền Nam đã phát triển khá phong phú, đa dạng, tuy nhiên hình thức sở hữu và quan hệ sản xuất khác nhau
Trong giai đoạn trước những năm đổi mới nền kinh tế (1975 - 1986), nền sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp mang nặng tính kế hoạch, tập trung Hình thức sản xuất ở hầu khắp cả nước là hợp tác xã, nông, lâm trường hầu hết trên cả nước (từ 1960 trên Miền Bắc và từ 1975 trên cả nước) đã có tác dụng nhất định trong thời gian chiến tranh nhưng khi bước sang giai đoạn phát triển mới thì không phát huy được tiềm năng sản xuất nông - lâm nghiệp Hằng năm, nước ta phải nhập khẩu lương thực, nhận viện trợ về lương thực và thực phẩm Trong khi đó, sản xuất ngoài kế hoạch của các hộ gia đình chỉ chiếm 5% đất canh tác (đất năm phần trăm) chỉ cung cấp một phần về thực phẩm cho cả nước về rau, quả, trứng thịt, cá Tính hiệu quả của sản xuất hộ gia đình đã thể hiện rõ từ thời đó
Hiện nay, với việc xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, tác xã kiểu cũ trên thực tế không còn nữa, hoặc còn thì hoạt động rất yếu ớt, chỉ mang tính hình thức Từ khi có chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư TW Đảng (Khoá VI) về “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp Đến nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm hoàn thiện cơ chế khoán, với nội dung chủ yêu là “ khoán hộ”, kinh tế hộ đã đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển Đây là luồng gió mới thổi vào phong trào nông nghiệp nông thôn của nước ta, đưa nông nghiệp nước ta từ chỗ thiếu ăn đến chỗ đủ ăn và có lượng gạo xuất khẩu đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, đặt nền móng cho sự xuất hiện trở lại và phát triển mới của kinh tế trang trại
2.2.2.2 Bản chất của trang trại
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản
Trang 28xuất được tiến hành trên quy mô diện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn, với cách thức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động
tự chủ và luôn gắn với thị trường
Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới ra đời cùng với sự tích lũy vốn cho phép mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, làm thay đổi quan hệ sản xuất Trong quá trình đó, các hộ tiểu nông dần dần trở thành các tổ chức kinh
doanh nông nghiệp với mục tiêu "tối đa hóa lợi nhuận” Vì thế các trang trại sản
xuất hàng hóa ra đời với tư cách là kết quả của quá trình tích tụ tư bản, mà trước hết là tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp Mục tiêu tối đa hóa lợi ích và tối đa hóa lợi nhuận của sản xuất nông nghiệp là tiêu chí cơ bản để phân định hộ tiểu nông (trang trại gia đình tự cấp tự túc) với trang trại sản xuất hàng hóa - tổ chức kinh doanh trong nông nghiệp theo cơ chế kinh tế thị trường Vì thế, sản xuất
nông nghiệp của trang trại sản xuất hàng hóa "mang tính chất kinh doanh”, còn
hộ tiểu nông thì không
Ở nước ta, Chính phủ đã chỉ rõ: "Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức
sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình"
Về tiêu chí đánh giá trang trại, ngoài tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa dịch
vụ bình quân 1 năm của trang trại còn có tiêu chí về quy mô đất đối với các trang trại trồng trọt, nuôi trồng thủy sản Theo Thông tư Liên bộ số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK thì quy mô đất của trang trại cây hàng năm từ 2,0 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung, từ 3,0 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Trang trại cây lâu năm từ 3,0 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung, từ 5,0 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên; riêng trang trại hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên; trang trại lâm nghiệp 10,0 ha trở lên đối với tất cả các vùng trong cả nước; trang trại nuôi trồng thủy sản, diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2,0 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu nuôi công nghiệp từ 1,0 ha trở lên)
Những chủ trang trại không nhất thiết phải là chủ đất; họ có thể thuê đất (lĩnh canh) của người khác để lập trang trại và trả địa tô cho người chủ đất Tiền thuê đất (trả địa tô) là một bộ phận cấu thành của vốn đầu tư Để phát triển các trang trại có quy mô lớn, hợp lý, chính sách đất đai không chỉ tạo khung pháp lý cho thị trường đất đai hoạt động, quá trình tích tụ ruộng đất diễn ra thuận lợi, mà
còn không để "xé nhỏ" trang trại theo luật về quyền thừa kế Một trang trại, khi
Trang 29người chủ của nó qua đời, không thể bị chia thành 3 - 4 trang trại nhỏ cho những người có quyền thừa kế Nó phải được cho một người thừa kế có khả năng quản
lý và trở thành thành viên hợp danh và những người thừa kế khác chỉ là thành viên góp vốn, đồng sở hữu chủ trang trại, không có quyền quản lý, tạo ra trang trại hợp danh Quyền quyết định ai là người thừa kế có quyền quản lý có thể do người chủ quyền quyết định bằng di chúc, nếu không, do các đồng sở hữu quyết định và pháp luật thừa nhận
Về bản chất trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường Trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh
Đứng về mặt bản chất trang trại được nhận dạng như sau:
- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế trong nông - lâm - ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá Quy mô sản xuất hàng hoá thể hiện qua tỷ suất hàng hoá cao của một
hộ sản xuất hàng hoá, đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế trang trại
- Kinh tế trang trại có sự tập trung cao hơn so với mức bình quân chung của kinh tế hộ ở từng vùng về các điều kiện sản xuất (đất đai, vốn, lao động) đạt khối lượng và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá lớn hơn và đạt lợi nhuận cao hơn so với kinh tế hộ
- Kinh tế trang trại có nhiều hình thức tổ chức trong đó chủ yếu là trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả Một bộ phận trang trại ngoài lao động gia đình có thuê thêm lao động để sản xuất, kinh doanh, quy mô diện tích đất canh tác xoay quanh mức hạn điền ở từng vùng theo quy định của pháp luật, đồng thời cũng có trang trại thuê mướn nhân công và nhiều loại hình trang trại khác
- Chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có điều kiện làm giàu, có vốn,
có trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý, có hiểu biết nhất định về thị trường, bản thân và gia đình trực tiếp quản lý, sản xuất của trang trại khi cần thiết thuê lao động thời vụ hoặc thường xuyên để sản xuất kinh doanh
Trang 30- Kinh tế trang trại mang tính chất hàng hoá, gắn liền với thị trường, nên
có nhu cầu cao hơn hẳn kinh tế hộ về sự tác động khoa học công nghệ và sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp, về công nghệ chế biến và bảo quản về nông cụ cải tiến và cơ giới hoá nhằm tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội dưới tác động của quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường
2.2.3 Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển trang trại
Thực trạng kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta đến nay vẫn chưa vượt khỏi ngưỡng kém phát triển Kinh tế hộ tuy có nhiều ưu việt song khó có thể đáp ứng được những điều kiện cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, vì không thể thoả mãn nhu cầu cho nền kinh tế “cất cánh” Trong bối cảnh và yêu cầu phải nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển mạnh công nghiệp chế biến, dịch vụ, ngành nghề ở nông thôn, hiện đại hoá nông nghiệp, văn minh hoá nông thôn và trí thức hoá nông dân, kinh tế trang trại xuất hiện như một tất yếu khách quan Kinh tế trang trại nhanh chóng chứng tỏ là một trong những loại hình tổ chức sản xuất quan trọng, có vai trò và vị trí tiên phong trong tiến trình thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn Bởi vậy, sự hình thành kinh tế trang trại là một yếu
tố khách quan của quá trình phát triển
Phát triển kinh tế trang trại không mang tính tự phát, nó là kết quả, là sản phẩm của công cuộc đổi mới đất nước Kinh tế trang trại là kết quả của việc vận dụng sáng tạo những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của các cấp lãnh đạo địa phương, là sự hưởng ứng của một bộ phận kinh tế hộ nông dân kinh doanh giỏi, có ý trí làm giàu, rất mong muốn làm giàu và có điều kiện làm giàu Đây là một quá trình tất yếu, phù hợp với quy luật khách quan, do yêu cầu phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và do yêu cầu của công cuộc “Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn" Một đất nước muốn phát triển kinh tế thị trường, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể không phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh, các phương pháp tổ chức kinh doanh do nền kinh tế thị trường và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi
Trang 312.2.4 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại
2.2.4.1 Khái niệm trang trại
- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể pháp lý có tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội
- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp có
tổ chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán kinh tế)
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ
và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản
- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản
lý khác nhau:
+ Trang trại gia đình: Là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ở tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn…) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên
+ Trang trại tư bản tư nhân: Là loại hình trang trại nông nghiệp ít phổ biến
ở các nước, đến nay số lượng không nhiều thường là các trang trại tư bản tư nhân, công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê
kể cả lao động sản xuất và lao động quản lý
- Trang trại thường có các quy mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn) song song tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và quy mô trung bình… Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau
- Phân loại trang trại theo lĩnh vực sản xuất bao gồm:
+ Trang trại trồng trọt
+ Trang trại chăn nuôi
+ Trang trại lâm nghiệp
Trang 32+ Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
+ Trang trại tổng hợp
Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm,
ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
2.2.4.2 Khái niệm kinh tế trang trại
- Theo nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về kinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”
- Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc
- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc các ngành nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng kinh tế khác nhau
- Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kỳ công nghiệp hoá Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá kinh tế trang trại với tỷ trọng còn thấp, quy mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá Thời kỳ công nghiệp hoá đạt trình độ kinh tế trang trại với tỷ trọng lớn, quy mô lớn và năng lực sản xuất lớn trở thành lực lượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá cũng như hàng nông nghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hoá Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, là một tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá
Trang 33- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới có tính ưu việt hơn hẳn so với các loại hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tế nông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng, nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông
- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
ở các vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đã thích ứng với các trình độ công nghiệp hoá khác nhau
2.2.4.3 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại có vai trò tích cực và quan trọng cả về kinh tế, xã hội và môi trường:
- Về kinh tế: Kinh tế trang trại là bước phát triển mới của sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp
+ Kinh tế trang trại góp phần xóa bỏ nền kinh tế tự cung, tự cấp và thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển ở nông thôn
+ Kinh tế trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị cao, khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tập trung hóa cao
+ Kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, là mô hình gắn kết giữa nông nghiệp và công nghiệp, là xu thế phát triển công nghiệp nông thôn Đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn, kinh tế trang trại đảm nhận khâu cung cấp nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn
+ Kinh tế trang trại có khả năng tận dụng được mọi nguồn lao động chính, phụ trong từng hộ nông dân, đồng thời thu hút được lao động dư thừa ở nông thôn, góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống cho một bộ phân dân cư
+ Kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
- Về mặt xã hội
Kinh tế trang trại làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm
Trang 34và thu nhập cho người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, tạo tấm gương cho hộ nông dân về cách thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh
- Về môi trường
Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình
mà các chủ trang trại có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm đến việc bảo vệ môi trường Trước hết là bảo vệ trong phạm vi không gian sinh thái trang trại
và sau đó là phạm vi từng vùng Các trang trại ở trung du, miền núi góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc và sử dụng hiệu
quả tài nguyên đất (Nguyễn Đình Hương, 2000)
2.2.5 Các văn bản pháp lý liên quan đến mô hình trang trại nông nghiệp
Những biểu hiện của mô hình kinh tế trang trại ở nước ta được hình thành
từ rất sớm, đi liền với nó là những quy định cụ thể Những quy định liên quan đến mô hình kinh tế trang trại nông nghiệp ở những năm của thời kỳ phong kiến hay thời kỳ thực dân Pháp xâm lược chưa được cụ thể thành những quy định, điều, luật Sau khi thống nhất đất nước, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) đã được ban hành cùng với đó là Luật Đất đai, Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và các Nghị định hướng dẫn nhằm thể chế hóa chính sách đối với kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm khóa VII năm
1993 đã chủ trương khuyến khích phát triển các nông, lâm, ngư trại với quy mô thích hợp Luật Đất đai năm 1993 và Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 cũng đã thể chế hóa chính sách đất đai đối với các hộ gia đình và cá nhân trong việc kinh
doanh nông nghiệp (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1996)
Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế trang trại Điều đó đã tạo điều kiện hợp pháp cho loại hình kinh tế trang trại phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh thông qua các chính sách ưu đãi về nhiều mặt đối với kinh tế trang trại Mặt khác, hình thành các tiêu chí kinh tế về trang trại nhằm tạo điều kiện quản lý, hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước
Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23 tháng 6 năm
2000 của Bộ Nông nghiệp và tổng cục thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, thông tư nêu rõ:
Trang 35Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây:
1 Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
2 Quy mô sản xuất phải tương đối và vượt trội với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
a Đối với trang trại trồng trọt
(1) Trang trại trồng cây hàng năm
+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
(2) Trang trại trồng cây lâu năm
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
+ Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên
(3) Trang trại lâm nghiệp
Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b Đối với trang trại chăn nuôi
(1) Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò…
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
(2) Chăn nuôi gia súc: lợn, dê…
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hon 20 con trở lên, đối với
dê, cừu từ 100 con trở lên
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên
(3) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng… có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
Trang 36Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d Đối với các loại sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng cục thống kê, 2000)
Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Thông tư nêu rõ tại Điều 5 Tiêu chí xác định kinh tế trang trại:
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;
3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
Tiêu chí xác định kinh tế trang trại được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, ổn định trong thời gian tối thiểu là
5 năm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011)
2.3 TRANG TRẠI NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI
2.3.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở một số nước Châu Á
Ở Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài cho nên kinh tế trang trại sản xuất hàng hóa ra đời chậm hơn Tuy vậy, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sự xâm nhập của tư bản phương Tây vào các nước Châu Á, cùng với việc xâm nhập của phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa, đã làm nảy sinh hình thức
Trang 37kinh tế trang trại trong nông nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại
ở các nước trên thế giới đã có sự biến động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu trang trại
* Ở Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những nước đông dân trên thế giới, song đất nông nghiệp, đất canh tác rất ít (khoảng 5,2 triệu ha, bình quân 0,8 ha/hộ năm 1962) Quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản bắt đầu bằng một thời gian dài tăng trưởng nhanh sản xuất nông nghiệp Nhưng khác với các quốc gia Âu - Mỹ, Nhật Bản hiện đã trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại, nhưng đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ (bình quân quy mô đất nông nghiệp 1,14 ha/trang trại)
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã tiến hành cải cách ruộng đất lần thứ nhất Tiếp đến năm 1948, Nhật Bản tiến hành cải cách ruộng đất lần thứ hai để sửa đổi Luật Điều chỉnh Ruộng đất, xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, nhằm giảm nhẹ địa tô và quy định việc mua, bán đất của Nhà nước Kết quả sau hai cuộc cải cách ruộng đất, chế độ phát canh thu tô ở nông thôn giảm từ 50% xuống còn 10%; hầu hết người dân cày đã có ruộng, quyền sở hữu ruộng đất đã trở thành động lực kích thích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển,
mở rộng việc mua bán nông phẩm, tăng nhanh tích lũy
Để quản lý đất nông nghiệp, Luật Đất đai Nông nghiệp của Nhật Bản
được ban hành gồm: “Luật Điều chỉnh Đất đai Nông nghiệp” và “Luật về những
Biện pháp Đặc biệt, nhằm đảm bảo quyền sở hữu ruộng đất của người dân cày, đảm bảo thành quả của cải cách ruộng đất”
Với những chính sách về đất nông nghiệp và vai trò vị trí quan trọng của sản xuất nông nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, từ năm 1990, kinh tế hộ nông dân ở Nhật Bản được xác định một hộ canh tác đất đai từ 1.000
m2 trở lên và kinh tế hộ nông dân được xếp thành hai loại hộ: “hàng hóa” chủ
yếu sản xuất ra sản phẩm để bán có quy mô đất sản xuất từ 3.000 m2 trở lên và hộ
“không hàng hóa” chủ yếu sản xuất để tiêu dùng trong gia đình, quy mô đất sản
xuất nhỏ hơn quy định trên Hiện nay số hộ gia đình thuộc loại hộ hàng hóa của Nhật Bản chiếm khoảng 77% tổng số hộ ở nông thôn; sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở Nhật Bản gắn liền với tích tụ ruộng đất của các hộ gia đình thuộc loại hộ này Tuy nhiên, do ruộng đất ít, lao động nông nghiệp tuy đã chuyển sang làm
Trang 38công nghiệp nông thôn và các hoạt động khác; song bình quân đất canh tác của một hộ nông dân ở Nhật Bản tăng không đáng kể, năm 1975, bình quân 1,13 ha/hộ đến năm 1985 tăng lên 1,26 ha/hộ và năm 1990 đạt khoảng 1,31 ha/hộ
Bảng 2.2 Sự phát triển trang trại ở Nhật qua một số thời kỳ
1 Số lượng trang trại (1.000 trang trại) 5,70 6,18 5,34 4,66 3,74
2 Diện tích đất đai bình quân (ha/trang trại) 0,70 0,81 1,05 1,15 1,20
Nguồn: Ban vật giá Chính phủ (2000)
Một trong những nguyên nhân số lượng trang trại giảm là do nền công nghiệp của Nhật có bước đột phá, phát triển nhanh, những trang trại có diện tích đất đai nhỏ bị giảm thay vào đó là những trang trại có diện tích đất đai lớn với trình độ công nghiệp hoá nông nghiệp diễn ra sâu rộng và mạnh mẽ Diện tích bình quân của mỗi trang trại không lớn, từ 1- 2 ha Với 4 triệu lao động ở trang trại (3,7% dân số) đã đảm bảo lương thực, thực phẩm cho 125 triệu người (gạo 107%, thịt 81%, trứng 98%, sữa 89%, rau quả từ 76 - 95%, đường 84%)
Nhật Bản là nước có mô hình trang trại phát triển khá mạnh, hiện nay Nhật Bản có các loại hình trang trại sau:
- Các trang trại chuyên làm nông nghiệp: không làm việc khác và nguồn thu nhập duy nhất là sản xuất nông nghiệp Năm 1988, có 62.000 cơ sở quy mô diện tích từ 2 - 3 ha trở lên, bình quân 4 ha, sản xuất 45% sản lượng thóc gạo của
cả nước Ngoài ra, còn có các loại trang trại chăn nuôi: lợn, gà, bò sữa, bò thịt có quy mô lớn và chuyên môn hóa
- Các trang trại làm nông nghiệp chính: Thu nhập từ nông nghiệp là chủ yếu, ngoài ra còn làm các công việc ngoài nông nghiệp nhưng thu nhập không đáng kể Năm 1988, có 404.000 cơ sở có quy mô từ 1 - 2 ha Sử dụng lao động gia đình sản xuất nông nghiệp trong lúc thời vụ khẩn trương, lúc nông nhàn đi làm công nhân ở xí nghiệp hoặc làm ngành nghề thủ công ngay ở trang trại như lắp ráp linh kiện điện tử, nghề thủ công mỹ nghệ
* Ở Trung Quốc
Trong số các nước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, Trung Quốc là một thành công điển hình Trung Quốc bắt đầu công cuộc cải cách
Trang 39kinh tế từ khu vực nông nghiệp và nông thôn; trên cơ sở phát triển nông nghiệp tạo đà cho công cuộc cải cách kinh tế và công nghiệp hóa thực hiện phân công lại lao động nông thôn Nhân tố quyết định đảm bảo kinh tế nông nghiệp của Trung Quốc phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng từ 7,0 - 7,5%/năm như những năm qua, trước hết là chính sách chuyển sang hệ thống khoán hộ, lấy kinh tế hộ gia đình làm động lực để phát triển nông nghiệp và mở rộng quy mô kinh tế hộ gia đình
Việc tăng quy mô của kinh tế hộ gia đình khi cải tổ chế độ khoán ruộng đất được thực hiện dưới hình thức một số hộ gia đình chỉ cần đảm bảo lương thực
ở cái được gọi là “ruộng khẩu phần”; phần còn lại của mảnh đất canh tác được
phân phối giữa các hộ nông dân chuyên làm nghề trồng trọt và hình thức cho thuê là phổ biến hơn cả
Tại khóa họp thứ nhất, kỳ 7 Đại hội Đại biểu Nhân dân Trung Quốc thông qua việc bãi bỏ việc cấm đoán cho thuê ruộng đất và vấn đề này được bổ sung vào Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tháng 12 năm
1998, Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc đã đưa những
thay đổi nội dung tương tự vào “Luật của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
về quản lý ruộng đất”
Với chính sách và đất đai như trên, đã tạo điều kiện cho nhiều hộ trồng trọt mở rộng quy mô sản xuất lên khoảng 5 - 6 ha/hộ (bằng 3 - 4 lần mức bình quân đất đai của hộ bình quân cả nước)
Việc phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa, tự do hóa thị trường nông sản làm cho nông nghiệp ở Trung Quốc phát triển mạnh, tạo
đà cho phát triển công nghiệp nông thôn Từ năm 1978, cải cách kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn đã thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn phát triển với tốc độ bình quân 20%/năm, đã thu hút một lực lượng lớn lao động làm nông nghiệp sang làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, làm cho cơ cấu lao động nông thôn ở Trung Quốc có sự chuyển dịch, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng
tỷ trọng lao động công nghiệp ở khu vực nông thôn (do chính sách ly nông bất ly hương) Giai đoạn 1978 - 1996, lao động nông nghiệp chuyển sang làm việc trong các doanh nghiệp nông thôn đạt khoảng 130 triệu lao động; tính đến năm
1996, các doanh nghiệp nông thôn ở Trung Quốc đã thu hút 28,4% lao động ở khu vực nông thôn do từ nông nghiệp chuyển sang
Trang 40* Ở Thái Lan
Thái Lan là nước mới bắt đầu đi vào công nghiệp hoá, kinh tế trang trại đang trong thời kỳ tiếp tục tăng về số lượng và diện tích đất đai của trang trại Diễn biến quy mô trang trại ở Thái Lan được nêu tại bảng 4 Năm 1963 Thái Lan
có 3,21 nghìn trang trại với diện tích bình quân một trang trại là 3,50 ha và đến năm 1988 số trang trại tăng lên 5,25 nghìn trang trại với diện tích đất đai bình quân là 4,52 ha
Bảng 2.3 Sự phát triển trang trại ở Thái Lan qua một số thời kỳ
Nguồn: Ban vật giá Chính phủ (2000)
Kinh nghiệm thành công của Thái Lan trong chiến lược phát triển kinh tế trang trại là việc tập trung phát triển trang trại sản xuất các sản phẩm đặc sản như trái cây, gạo, đỗ, Thái Lan đã tập trung đẩy mạnh phát triển các loại cây đặc sản quý hiếm, chiếm lĩnh thị trường thế giới còn bỏ ngỏ đối với các sản phẩm này, qua đó giúp Thái Lan trở thành một trong những nước xuất khẩu trái cây đứng hàng đầu thế giới
2.3.1.2 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở một số nước Châu Âu
Châu Âu cái nôi của của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, đã xuất hiện hình thức tổ chức sản xuất kinh tế trang trại, thay thế cho hình thức kinh tế tiểu nông và hình thức điền trang của chế độ phong kiến Nước Anh đầu thế kỷ XVII
có sự tập trung ruộng đất đã hình thành nên những trang trại tập trung trên quy
mô rộng lớn, cùng với việc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở đây giống như mô hình hoạt động ở các công xưởng Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tập trung lớn về quy mô và sử dụng nhiều lao động làm thuê đã không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các trang trại vừa và nhỏ
Các nước Pháp, Hà Lan, Đan Mạch… kinh tế trang trại cũng được phát triển mạnh tạo ra nhiều nông sản hàng hóa Nước Anh năm 1950 có 543.000