Hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày một phát triển trong khi điều kiện và trình độ sản xuất của một bộ phận không nhỏ nhân dân còn yếu, các kênh thông tin đến được với người dân còn ít, và
TỔNG QUAN
Về cơ sở lý luận
2.1.1 M ộ t s ố khái ni ệ m liên quan đế n n ộ i dung th ự c t ậ p
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi , khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.[10]
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính:
- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu [10]
Khuyến nụng “Agricultural extention” là 1 thuụõt ngữ khú xỏc ủịnh thống nhất bởi vỡ ủể ủạt ủược mục tiờu cơ bản sao cho nụng nghiệp phỏt triển,
7 nông thôn phát triển các nước khác nhau, các nhà khuyến nông khác nhau, nông dân khác nhau hiểu khuyến nông có khác nhau, do bởi khuyến nông:
- Tổ chức bằng nhiều cách Mỗi quốc gia khác nhau có những cách tổ chức khuyến nông khác nhau Mục tiêu cụ thể khuyến nông đối với nước công nghiệp phát triển khác với nước nông nghiệp và nông nghiệp lạc hâu có khác nhau
- Phục vụ cho nhiều mục đích: Phát triển trồng trọt, chăn nuôi, chế biến bảo quản nông sản, thú y, bảo vệ thực vật, tổ chức quản lý sản xuất có khác nhau
- Mỗi tầng lớp nông dân khác nhau hiểu nghĩa khuyến nông khác nhau Người trồng trọt, chăn nuôi …; người giàu, nghèo khác nhau hiểu khuyến nông khác nhau Người giàu, trình độ dân trí cao cần thông tin và kinh nghiệm tổ chức sản xuất; người nghèo mong muốn ở khuyến nông sự huấn luyện và tài trợ.[6]
Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn, là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới.[1]
2.1.1.3 Cán bộ nông nghiệp cấp xã
-Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã: là công dân Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân do được bầu để giữ chức vụ, hoặc được tuyển dụng giao giữ chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã
- Cán bộ phụ trách nông nghiệp là những người làm công tác nhiệm vụ chuyên môn trong một cơ quan hay một tổ chức quan hệ trực tiếp đến sản xuất và các ngành kỹ thuật trong nông nghiệp
- Cán bộ nông nghiệp cấp xã là người trực tiếp chỉ đạo hay trực tiếp làm công tác trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn cấp xã Đây là người trực tiếp tiếp cận với nông dân và tổ chức chỉ đạo hoặc triển khai các hoạt động nông nghiệp của nông dân
Cán bộ phụ trách nông nghiệp xã chia là 2 loại: cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ chuyên môn nông nghiệp xã (địa chính xã, cán bộ khuyến nông xã, cán bộ thú y xã).[11]
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai
Nông dân có chức năng quan trọng là sản xuất và cung ứng nông sản cho xã hội Phát triển nông thôn là một vấn đề phức tạp vì nó sẽ liên quan đến nhiều ngành nghề, nhiều chính sách và hoạt động trực tiếp và gián tiếp đến khu vực nông thôn và đời sống của người dân nông thôn.[1]
Khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định theo Thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã".[1]
2.1.2 Các v ă n b ả n pháp lý liên quan đế n n ộ i dung th ự c t ậ p
* Nghị định số 56/NĐ- CP ra đời ngày 26/4/2005 của Chính phủ về khuyến nông – khuyến ngư
* Nghị định số 83/2018/NĐ-CP ban hành ngày 24/5/2018 của chính phủ về khuyến nông
* Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ban hành ngày 17/4/2018 của chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
* Nghị định số 02/2010NĐ-CP ban hành ngày 8/1/2010 của chính phủ về khuyến nông
* Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Nội Vụ
* Theo thông tư số 04/2009/TT-BNN ra đời ngày 21 tháng 01 năm
2009, hướng dẫn nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật nghành nông, kiểm lâm địa bàn cấp xã
* Theo thông tư số 04/2009 TT-BNN nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật nghành nông nghiệp và phát triển nông thôn công tác trên địa bàn cấp xã có nội dung như sau:
- Trực tiếp triển khai nhiệm vụ chương trình khuyến nông theo sự chỉ đạo của Phòng Nông nghiệp & PTNT thành phố Lạng Sơn
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Th ự c tr ạ ng độ i ng ũ cán b ộ nông nghi ệ p, khuy ế n nông ở Vi ệ t Nam
Theo kết quả điều tra, trong 3 năm qua có 77,78% CBNN xã được tham gia đào tạo, bồi dưỡng với nội dung chủ yếu về chuyên môn kỹ thuật nhằm mục đích cán bộ đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao Cũng theo kết quả điều tra cho thấy 94,4% cán bộ cấp xã có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng thực hành chuyên môn, tiến bộ khoa học kỹ thuật thuộc lĩnh vực công tác; 35,3% cán bộ có nhu cầu tập huấn kỹ năng giao tiếp với bà con nông dân và 5,9% cán bộ có nhu cầu học đại học
Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ-CP về Khuyến nông, Khuyến ngư Ở trung ương, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia được thành lập (tách từ Cục Khuyến nông và Khuyến lâm) trực thuộc Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Trung tâm Khuyến ngư thuộc Bộ Thủy sản Đến năm 2008, khi hợp nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia được hợp nhất thành Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia
Ngày 08/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về Khuyến nông thay Nghị định số 56/2005/NĐ-CP, cơ quan Khuyến nông trung ương chính thức là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT Ở địa phương, các tổ chức khuyến nông, khuyến ngư cũng từng bước được phát triển và hoàn thiện từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã và thôn, bản Hiện nay, ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có Trung tâm Khuyến nông (hoặc Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư) thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Có 596 huyện, thị xã có sản xuất nông nghiệp (chiếm 95,5% số huyện, thị xã trong toàn quốc) đã có Trạm khuyến nông (hoặc Trạm khuyến nông - khuyến ngư) Ở cấp xã: hiện có 51 tỉnh, thành phố có mạng lưới khuyến nông viên cơ sở, trong đó: Khuyến nông viên cơ sở chuyên trách từ 1-2 người/ xã, mỗi thôn, bản có 01 cộng tác viên khuyến nông ( bán chuyên trách); hiện có gần
700 Câu lạc bộ khuyến nông cấp xã với gần 20.000 người tham gia
Cùng với phát triển về tổ chức thì lực lượng cán bộ khuyến nông cũng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Hiện nay, hệ thống khuyến nông chuyên trách có gần 17.200 người, trong đó: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia có 90 người; Cấp tỉnh: khoảng 1.900 người; Cấp huyện: xấp xỉ 4.000 người; Cấp xã, lực lượng khuyến nông viên cơ sở: xấp xỉ 11.200 người; Cộng tác viên khuyến nông cấp thôn, bản: xấp xỉ 18.000 người Phần lớn lực lượng cán bộ khuyến nông các cấp đã được đào tạo về chuyên môn, bồi
13 dưỡng về kỹ năng hoạt động khuyến nông, có kinh nghiệm thực tiễn và rất tâm huyết với nghề nghề, thường xuyên gắn bó với sản xuất, với nông dân Để góp phần nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản, nâng cao giá trị, thu nhập cho người sản xuất và đảm bảo phát triển nền nông nghiệp bền vững, hoạt động khuyến nông cũng chú trọng xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất nông lâm thuỷ sản theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), áp dụng kỹ thuật canh tác "3 giảm 3 tăng", "1 phải 5 giảm", “cơ giới hóa đồng bộ", ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ theo mô hình “cánh đồng mẫu”,
“trang trại mẫu”… Trong những năm gần đây, hệ thống khuyến nông cả nước đang tích cực tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn như: Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm, Chương trình phòng tránh và thích ứng với biến đổi khí hậu…
2.2.2 Kinh nghi ệ m c ủ a m ộ t s ố đị a ph ươ ng khác
Kinh nghiệm trong chỉ đạo sản xuất nông nghiệp tại xã Đông Bắc huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Trong sản xuất công tác chỉ đạo là cốt yếu để có một vụ mùa bội thu, chính vì vậy mà xã Đông Bắc luôn coi trọng việc chỉ đạo trong sản xuất Lãnh đạo xã đã có rất nhiều cách thức để chỉ đạo có hiệu quả, từ khâu chuẩn bị bộ giống, chọn giống phù hợp với từng loại đồng đất địa phương, cho đến các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới đều giao cho cán bộ KN - KL xã cung ứng, dịch vụ có trách nhiệm chính lo đủ lượng giống cho bà con không để tình trạng thiếu bộ giống khi đến lịch ngâm gieo, do đó địa phương luôn làm đúng lịch thời vụ, đồng loạt, không rải rác, trên đồng ruộng không có hiện tượng lúa “áo vá”
14 Đồng thời các mùa vụ cứ một tuần tổ chức các buổi họp giao ban tại các xóm, để nắm bắt tiến độ sản xuất đồng thời ra những hướng chỉ đạo cụ thể cho các thôn xóm, đây là một điều mà làm cho bà con thấy phấn khởi vì có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo xóm, tạo niềm tin cho nông dân yên tâm sản xuất Ngoài ra, công tác bảo vệ thực vật cũng rất đặc biệt được chú trọng quan tâm, cứ mỗi mùa vụ chủ tịch xã giao nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ KN - KL xã phải luôn theo dõi sâu, bệnh hại lúa để kịp thời ra cách thức phòng trừ không để thành dịch, chủ động tư vấn tuyên truyền bằng nhiều cách để đến với bà con, đồng thời cung ứng thuốc BVTV ngay để bà con chủ động phun phòng không để cho dân phải đi mua để tránh mua sai thuốc làm cho hiệu quả phun phòng trừ sâu, bệnh hại không đạt hiệu quả cao, làm tốn kém về kinh tế, ảnh hưởng đến hệ môi trường sinh thái đồng ruộng Do vậy, trong những năm gần đây tại xã Đông Bắc không còn dịch sâu, bệnh hại lúa làm mất trắng như những năm trước đây, mà năng suất năm sau luôn cao hơn năm trước, năng suất từ 45 tạ/ha tăng lên 70 tạ/ha Đó là một số kinh nghiệm trong chỉ đạo sản xuất mà xã đã thực hiện và đem lại hiệu quả rất tốt, người dân giờ đây đã tin tưởng vào cán bộ chuyên môn và lãnh đạo địa phương Việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho bà con nông dân trong mùa vụ có hiệu quả nên ý thức của người dân đã được nâng lên rõ rệt, hiện nay công tác chỉ đạo sản xuất của xã Đông Bắc không còn là nỗi lo như trước nữa mà đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Từ đây người dân đã biết được sự quan trọng của người cán bộ KN-KL trong sản xuất nông nghiệp, đó cũng là một sự nỗ lực của các cấp lãnh đạo, các ban ngành đoàn thể của địa phương, tạo cho người dân ngày một tiến bộ hơn về mọi mặt, có cuộc sống ấm no, đây là một trong những thành công trong công tác sản xuất nông nghiệp của xã nhà.[7]
Xã Tân Dương huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Tân Dương là một xã miền núi nằm ở phía Đông Bắc huyện Định Hóa, cách trung tâm huyện 4km, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 54km về phía Tây Bắc Là xã miền núi với vị trí địa lý, địa hình địa mạo đặc thù, cơ cấu kinh tế của xã là Nông - Lâm nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Dịch vụ Có tài nguyên, đất, rừng đủ đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất trong tương lai
Tuy nhiên để phát triển cần phát huy nội lực và tranh thủ sự hỗ trợ, đầu tư của Trung ương, tỉnh, huyện, Doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã và đẩy mạnh sự chuyển dịch theo hướng phát triển Nông - Lâm nghiệp sản xuất hàng hóa và phát triển kinh tế đồi rừng, mở rộng diện tích cây chè, cây ăn quả, đảm bảo an ninh lương thực, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại và chế biến nông lâm sản Đội ngũ cán bộ lãnh đạo từ xã đến xóm đã dần dần được chuẩn hóa về bằng cấp, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo ngày càng được nâng cao Nhân dân được tiếp cận dần dần với các tiến bộ KHKT Số người được đào tạo và qua đào tạo về các ngành nghề ngày một nhiều thêm Với đội ngũ cán bộ trẻ, năng động, nhiệt tình, sáng tạo đã đưa xã Tân Dương phát triển lớn mạnh trong địa bàn huyện, bước đầu hoàn thành chương trình xây dựng NTM vào năm
2015 và góp phần giúp cho cuộc sống của người dân được ổn định hơn
Trước đây xã Tân Dương vẫn còn là một xã nghèo, lạc hậu, trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ còn thấp, trình độ chuyên môn còn hạn hẹp, chưa có sự hiểu biết sâu rộng, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng và Nhà nước, xã Tân Dương giờ đây đã có một bộ mặt mới, có thể tự hào đứng giữa các xã láng giềng mà không phải e ngại về trình độ văn hóa, sự phát triển kinh tế Có được như vậy cũng là nhờ những chính sách được đưa ra đúng thời điểm và mang lại hiệu quả cao:
Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng với nhu cầu sản xuất, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Thực hiện chính sách thu hút nhân tài, ưu tiên những người học Đại học, cao đẳng về làm việc tại cơ sở xã
Công tác luân chuyển, chuyển đổi vị trí đội ngũ cán bộ đã được thực hiện, luân chuyển những đồng chí cán bộ ở huyện về làm cán bộ chủ chốt ở xã Đến nay trình độ, chất lượng, năng lực quản lí đội ngũ cán bộ ở xã đã tăng lên Công tác tư tưởng, nâng cao trách nhiệm cũng như khả năng đi đầu của các Bí thư, Chủ tịch UBND cũng đã làm gương cho CBCC khác ở phong cách làm việc nghiêm túc, khoa học Trong cuộc sống đời thường luôn chia sẻ khó khăn với đồng nghiệp, đồng chí, quần chúng nhân dân, luôn “nói đi đôi với hành”, hết lòng vì nhiệm vụ chung
Thực tiễn cho thấy, đội ngũ CBCC cơ sở đã tích cực phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng nhân dân tạo nên những thành tựu về đổi mới và phát triển KT-XH, văn hóa, cải thiện dân sinh, tăng cường Quốc phòng an ninh, làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Đội ngũ CBCC cơ sở nêu cao tinh thần trách nhiệm, sâu sát nhân dân, bám sát địa bàn dân cư, nhạy bén với thực tiễn, kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong đời sống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.[8]
Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
Nằm trong tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ phía đông - bắc của Thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh có lợi thế về lưu thông sản phẩm với các thị trường lớn để phát triển nông nghiệp Xác định được thế mạnh này, tỉnh đã huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa chất lượng cao Nhờ vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp của tỉnh phát triển khá
KẾT QUẢ THỰC TẬP
Khái quát về cơ sở thực tập
Xã Hồng Phong nằm ở phía Đông Bắc huyện Bình Gia Cách trung tâm huyện 20 km Tổng diện tích tự nhiên: 6.984,38 ha, xã có 13 thôn, khu phố: Kim Đồng, Nà Nát, Nà Ven, Nà Sla, Khuổi Khuy, Vằng Phya, Nà Kít, Nà Háng, Phố Văn Mịch, Nà Buổn, Nặm Slin, Văn Can, Nà Cạp Phía Bắc giáp với xã Hoa Thám (huyện Bình Gia) và xã Hùng Sơn (huyện Tràng Định);
Phía Nam giáp với xã Minh Khai (huyện Bình Gia);
Phía Đông giáp xã Hội Hoan (huyện Văn Lãng);
Phía Tây giáp xã Quang Trung (huyện Bình Gia)
Hệ thống giao thông thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, văn hóa xã hội với các vùng lân cận để học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm sản xuất, các hình thức phát triển sản xuất đa ngành nghề cũng như việc tiêu thụ sản phẩm và phát triển ngành thương mại, dịch vụ, du lịch
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo Địa bàn xã nằm trong khu vực đồi núi thấp, địa hình đất nằm dọc theo sông, suối và các thung lũng Vùng này có diện tích khoảng 661,76 ha chiếm 9,41% Trên địa hình này phát triển cây lương thực, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Do có địa hình thấp về phía Đông Nam, nơi hạ lưu sông Bắc Giang và hội lưu của nhiều nhánh suối từ các xã Hưng Đạo, Hoa Thám, Minh Khai, Quý Hòa, Quang Trung đổ ra sông nên địa bàn hình thành nhiều khu đồng
21 canh tác lúa phì nhiêu Khí hậu ở xã Hồng Phong mang đậm tính nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt Trong đó, mùa đông giá lạnh, mùa hè nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm là 21ºC Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm khá cao; Mùa hè oi bức nhiệt độ có thể lên đến 35ºC, nhưng về ban đêm nhiệt độ giảm xuống chỉ còn 25 - 28ºC Do có nhiều thung lũng nên buổi sáng có nhiều sương mù
Lượng mưa trung bình năm từ 1200 - 1600 mm Mưa lớn tập trung vào các tháng 5 đến 8 Mưa nhỏ không đáng kể tập trung vào tháng 11, 12 Độ ẩm trung bình năm từ 80 - 85%
Lượng mây trung bình năm khoảng 7,5/10 bầu trời
Hệ thống thủy văn của vùng khá phong phú, có con sông Bắc Giang chảy qua là nguồn nước tưới quan trọng trọng việc canh tác và là nơi tiêu thoát nước, ngoài ra hệ thống ao, hồ nhỏ diện tích khoảng 3,79 ha và các khe, suối nhỏ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã
3.1.1.5 Hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch
Xã Hồng Phong có tổng diện tích đất tự nhiên là 6,984,38 ha được chia làm 3 nhóm đất chính; Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Hồng Phong năm 2017: STT
Tỷ lệ % trên tổng diện tích tự nhiên toàn xã Tổng diện tích đất của đơn vị hành chính 6.984,38 100,00
1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm khác 126,61 1,81
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 315,29 4,51
1.3 Đấ t nuôi tr ồ ng th ủ y s ả n 3,75 0,05
2.2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan 0,41 0,01
2.2.4 Đất xây dựng công trình sự nghiệp 2,93 0,04 2.2.5 Đất để sx, kinh doanh phi nông nghiệp 0,18 0,00
2.2.6 Đất có mục đích công cộng 267,01 3,82
2.4 Đấ t c ơ s ở tín ng ưỡ ng 0,18 0,00
2.5 Đấ t làm ngh ĩ a trang, ngh ĩ a đị a, nhà tang l ễ 0,33 0,00
2.6 Đấ t sông, ngòi, kênh, r ạ ch, su ố i 53,25 0,76 2.7 Đấ t có m ặ t n ướ c chuyên dùng 0,00 -
2.8 Đấ t phi nông nghi ệ p khác 0,00 -
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 15,09 0,22
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 285,97 4,09
3.3 Núi đá không có rừng cây 0,00 -
(Nguồn: UBND xã Hồng Phong)
- Đất nông nghiệp có diện tích 6316,94 ha , chiếm 90,44% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 637,21 ha, chiếm 9,12% tổng diện tích tự nhiên diện tích đất trồng cây hàng năm 321,92 ha, chiếm 4,61% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất trồng lúa chiếm tỷ lệ nhỏ với 195,31 ha, chỉ chiếm 2,80% tổng diện tích tự nhiên, điều đó cũng gây ít nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp lấy ngắn nuôi dài của người dân, chính vì vậy mà việc bảo vệ và mở rộng quỹ đất nông nghiệp của địa phương càng phải được chú trọng hơn nữa
- Đất lâm nghiệp với diện tích 5.675,98 ha, chiếm 81,27% tổng diện tích tự nhiên Tuy nhiên diện tích đất lâm nghiệp phục vụ sản xuất cho người dân hiện nay chủ yếu là loại rừng tự nhiên có trữ lượng gỗ thấp, chất lượng gỗ kém, rừng non mới trồng chưa đến thời kỳ khai thác nên giá trị kinh tế thấp, mà người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp;
Nhóm đất phi nông nghiệp: Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ với 366,38 ha, chiếm 5,25% tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở, các công trình công cộng, trụ sở cơ quan và các công trình sự nghiệp phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân
Nhóm đất chưa sử dụng: Đất chưa sử dụng với diện tích 301,06 ha, chiếm 4,31% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất chưa có rừng, chưa giao, cho thuê thuộc phần diện tích do Ủy ban nhân dân xã quản lý được thống kê theo hiện trạng đất đồi núi chưa sử dụng Tuy nhiên phần lớn số diện tích này đã được quy hoạch sử dụng vào mục đích trồng rừng, phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp Diện tích đất bằng chưa sử dụng đã được cải tạo, sử dụng có hiệu quả vào mục đích khác.
3.1.2.1 Dân số và lao động
Toàn xã có 3.734 nhân khẩu Lao động chủ yếu là trong các ngành sản xuất Nông lâm nghiệp chiếm khoảng 73%
Lao động là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cùng như của từng vùng Theo phòng Văn hóa- Xã hội của xã năm
2017 dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động là 2.429 người Trong đó lao động có việc làm là 2.246 người, chiếm 92,47% Lao động không có việc làm là 183 người bao gồm cả học sinh, sinh viên và người không có khả năng lao động, chiếm 7,53%
Lao động qua đào tạo là 657 người, chiếm 27,05%, rát thấp so với tỷ lệ lao động của xã
Lao động chưa qua đào tạo là 1772 người, chiếm 72,95% Phần lớn người dân vẫn chưa có điều kiện học tập và được đào tạo qua trường lớp
TÌnh hình lao động xã được biểu hiện qua bảng sau:
Bảng 3.2: Tình hình lao động và trình độ lao động xã Hồng Phong năm 2017
STT Thôn Tổng số dân độ tuổi lao động
Tình trạng việc làm của người lao động
Trình độ của người lao động
Chưa qua đào tạo Đã qua đào tạo
(Nguồn: UBND xã Hồng Phong)
Nhìn chung, số lao động tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn xã chưa hợp lý Đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp do tính chất thời vụ nên tình trạng thiếu việc làm, năng suất lao động còn thấp còn
26 khá phổ biến, đây là bài toán, là vấn đề thách thức đối với các cấp, các ngành của xã
Kết quả thực tập
3.2.1 Ch ứ c n ă ng, nhi ệ m v ụ c ủ a cán b ộ khuy ế n nông xã H ồ ng Phong
Cán bộ khuyến nông xã Hồng Phong do Vi Văn Anh phụ trách thực hiện các công việc sau:
Cán bộ Vi Văn Anh sinh ngày 16/11/1985, từng học tại trường Trung cấp Thủy Lợi cao đẳng cộng đồng Hải Phòng chuyên nghành thủy lợi tổng hợp, đã có 10 năm công tác tại xã Hồng Phong với chức danh cán bộ nông lâm - thủy lợi Trong những năm qua, mặc dù khó khăn và hạn chế với chỉ
33 một cán bộ nông nghiệp nhưng đã phối hợp với các ban nghành , chính quyền địa phương để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Cán bộ khuyến nông có vai trò hết sức quan trọng trong công tác tham mưu UBND cấp xã chỉ đạo phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn, là cầu nối để chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất đến người dân, hướng dẫn người dân chuyển đổi cơ cấu giống, cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, hướng dẫn người dân áp dụng và tuân thủ các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng xuất sản lượng, nâng cao hệ số sử dụng đất, đặc biệt là nâng cao giá trị thu nhập cho người dân từ các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã được phân công phụ trách mà cụ thể ở đây là xã Hồng Phong, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
- Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã hướng dẫn, chỉ đạo về lĩnh vực phát triển sản xuất nông lâm, ngư nghiệp trên địa bàn, tổ chức thực hiện , tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn, thực hiện các chức năng khác theo nhiệm vụ được phân công
- Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện quy hoạch, chương trình, kế hoạch, đề án khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Tổng hợp, hướng dẫn kế hoạch sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, phát triển rừng hàng năm; hướng dẫn nông dân thực hiện các biện pháp kỹ thuật chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt
- Xây dựng kế hoạch, huy động lực lượng và tổ chức thực hiện phòng trừ dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản; tổ chức thực hiện việc tu bổ, bảo vệ đê điều, đê bao, bờ vùng, công trình và cơ sở hậu cần chuyên ngành, bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng, chống chặt phá rừng và khắc phục hậu quả thiên tai hạn hán, bão, lũ, úng, lụt, sạt, lở, cháy rừng; biện pháp ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng, công trình và cơ sở hậu cần chuyên ngành tại địa phương
- Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã giám sát việc xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ, công trình nước sạch nông thôn và mạng lưới thủy nông; việc sử dụng nước trong công trình thủy lợi và nước sạch nông thôn trên địa bàn theo quy định của pháp luật
- Phối hợp hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc thống kê diễn biến đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất diêm nghiệp, thống kê rừng, kiểm kê rừng, diễn biến tài nguyên rừng, diễn biến số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn cấp xã theo quy định Tổng hợp tình hình thực hiện tiến độ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp
+ Tham mưu giúp UBND xã tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện quy hoạch, chương trình, kế hoạch, đề án khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và phát triển nông thôn Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác khuyến nông Hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt; tham mưu xây dựng các mô hình sản xuất thuộc chương trình MTQG về Nông thôn mới, đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Hướng dẫn việc triển khai và phát triển các ngành, nghề, làng nghề truyền thống nông thôn; Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất và phát triển các ngành, nghề mới
35 nhằm giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, cải thiện đời sống của nhân dân địa phương Tổ chức thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ công về nông nghiệp và phát triển nông thôn Báo cáo định kỳ và đột xuất về công tác nông nghiệp và PTNT trên địa bàn xã theo quy định Cụ thể như sau:
+ Thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập sổ sách các tài liệu và xây dựng các báo cáo về nông nghiệp trên địa bàn theo quy định của pháp luật
+ Tổ chức vận động nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp xã
+ Phối hợp với phòng NN & PTNT, trạm khuyến nông huyện Bình Gia tổ chức lớp tập huấn chuyển giao KHKT về kỹ thuật trồng trọt, bảo vệ thực vật trong sản xuất
+ Trao đổi, truyền bá thông tin: bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông tin cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp họ cùng nhau chia sẻ và học tập
+ Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương
+ Giúp người dân gián tiếp phản ánh những mong muốn, nguyện vọng của người dân đến cơ quan có thẩm quyền
+ Phối hợp với nông dân tổ chức các đợt thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới, hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng
+ Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm
+ Thường xuyên quan tâm đi thực tế tại cơ sở xóm, nắm bắt kịp thời tình hình diễn biến sản xuất của nhân dân
+ Thông tin, báo cáo kịp thời tình hình thực hiện kế hoạch khuyến nông, tình hình sản xuất và nguyện vọng của nông dân lên cấp có thẩm quyền để giải quyết
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao