1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin

27 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 725,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm sáng tỏ tính trữ tình trong truyện ngắn Ivan Bunin, từ khái niệm tính trữ tình cho đến những yếu tố biểu hiện tính trữ tình trong truyện ngắn (cả những yếu tố thuộc về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật). Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐỖ THỊ HƯỜNG

TÍNH TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN IVAN BUNIN

Chuyên ngành : Văn học nước ngoài

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Hải Phong

Phản biện 1: TSKH Phan Hồng Giang

Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Mai Chanh

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Phản biện 3: TS Nguyễn Thị Thu Thủy

Trường Đại học KHXHNV – Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường

họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm…

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc Gia, Hà Nội

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Đỗ Thị Hường (2016), “Từ Quý ông từ San Francisco đến, Những quả

táo Antonov và Say nắng nhìn về mô hình trần thuật trong truyện ngắn

của Ivan Bunin”, Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, số 2

(42), tr.84-92

2 Đỗ Thị Hường (2016), “Ivan Bunin trong văn học Nga Thế kỷ Bạc”, Tạp

chí Nghiên cứu Văn học, số 11 (537), tr.104-113

3 Đỗ Thị Hường (2017), “Truyện ngắn Ivan Bunin từ góc nhìn văn hóa”,

Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 7 (873), tr.106-110

4 Đỗ Thị Hường (2018), “Nhận diện truyện ngắn Ivan Bunin trong truyện

ngắn Nga cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Lý luận, phê bình

văn học, nghệ thuật, số 2, tr.111-118

5 Đỗ Thị Hường (2018), “Tiểu nữ thần hay nhân vật nữ nổi loạn trong

truyện ngắn của Ivan Bunin”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 6 (408),

tr.84-87

6 Đỗ Thị Hường (2019), “Cảm quan trữ tình trong truyện ngắn của Ivan

Bunin”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1 (563), tr.77-91

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

I.A Bunin là nhà văn, nhà thơ Nga đầu tiên nhận giải Nobel Văn học (1933) Được biết đến trước hết là một nhà thơ, nhưng giải Nobel trao cho ông vì những sáng tác văn xuôi “kế tục truyền thống vĩ đại của kỷ nguyên rực rỡ thế kỷ XIX ở những điểm khả thủ cho sự phát triển”, vì “tài năng xuất chúng và siêu việt của riêng ông, nó làm nên dấu ấn của kiệt tác

cho văn nghiệp của ông” [Hallström P.(1933), “Award ceremony speech”]

Bunin trưởng thành trong giai đoạn “Phục Hưng” của văn chương Nga – Thế kỷ Bạc với nhiều trường phái mới Riêng ông vẫn trung thành với chủ nghĩa hiện thực Nhà văn “âm thầm” đổi mới nó bằng những kỹ thuật và thủ pháp tự sự của “chủ nghĩa hiện đại”, gia thêm cho nó ấn tượng

và cảm xúc của một nhà thơ Bởi vậy, các tác phẩm văn xuôi của ông, đặc biệt là truyện ngắn giống như những bài thơ văn xuôi bề mặt thì nhẹ nhàng thanh khiết nhưng lại chứa đựng “mạch ngầm trữ tình” bên trong Chính

“mạch ngầm trữ tình” này khiến cho việc “tiếp cận” truyện ngắn của ông không dễ dàng như thưởng thức chúng Câu hỏi đặt ra ở đây là: Làm thế nào để nổi bật cái hay, cái tài của nhà văn, làm thế nào để chỉ ra được chất

Bunin? Chúng tôi lựa chọn đề tài Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan

Bunin vừa để bày tỏ tình yêu với văn học Nga và nhà văn Bunin, vừa để

gắng sức trả lời những câu hỏi khó khăn trên

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là làm sáng

tỏ tính trữ tình trong truyện ngắn Ivan Bunin, từ khái niệm tính trữ tình cho đến những yếu tố biểu hiện tính trữ tình trong truyện ngắn (cả những yếu tố thuộc về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật); qua đó xác định mối liên hệ của tính trữ tình với chiều sâu tư tưởng cũng như phong cách nghệ

Trang 5

thuật của nhà văn, xác định những đóng góp của Bunin cho sự phát triển của văn học thế giới, cũng như tiếng vọng sáng tác của ông vào đời sống văn học đương đại

Để thực hiện được mục đích trên, chúng tôi đề ra những nhiệm vụ

cụ thể sau:

- Xác định những yếu tố tạo ấn tượng trữ tình trên bình diện tổ chức ngôn từ, hình tượng sự vật như sự gia tăng xúc cảm, tăng cường nhạc tính, thi vị hóa lời văn trong truyện ngắn Bunnin

- Tìm hiểu đặc trưng biểu hiện của các dạng thức chủ thể trữ tình (người kể chuyện, nhân vật) và những đối tượng chủ yếu khơi dậy xúc cảm trữ tình trong truyện ngắn của Bunin; qua đó phần nào xác định cảm hứng chủ đạo kết nối tác giả - nhân vật – người đọc trong tác phẩm

- Làm sáng tỏ các mô thức thức cảm xúc – sự kiện, cũng như các kiểu cốt truyện trữ tình trong tổ chức trần thuật của truyện ngắn Bunin; xác định cảm thức bi hoài toát lên từ các truyện ngắn Bunin như nguồn mạch trữ tình chủ yếu bắt nguồn từ cảm quan nghệ thuật của nhà văn; từ đó xác định phong cách truyện ngắn trữ tình của nhà văn cũng như những đóng góp của Bunin trong cách tân thể loại truyện ngắn

3 Đối tƣợng, phạm vi tƣ liệu nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là truyện ngắn của nhà văn Nga Ivan Bunin Cụ thể hơn chúng tôi nghiên cứu tính trữ tình như một nét đặc trưng cho phong cách truyện ngắn của nhà văn này

3.2 Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu

Suốt cuộc đời cầm bút, Bunin để lại 21 tập truyện ngắn và truyện vừa Trong đó chỉ có 34 truyện ngắn được dịch sang tiếng Việt Trong luận

Trang 6

án, chúng tôi ưu tiên nghiên cứu những truyện ngắn tiêu biểu nhất cho phong cách Bunin Chúng tôi sử dụng các văn bản:

-Văn bản tiếng Nga: Бунин И.А (2006) Полное собрание

сочинений в ХIII томах, “Воскресенье”, Москва [99] Truyện ngắn của

Bunin tập trung ở các tập 1, 2, 3, 4, 5, 6 gồm 188 tác phẩm

- Văn bản tiếng Việt:

+ I.A.Bunin, Tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động, H., 2002 (Phan

Hồng Giang giới thiệu, Hà Ngọc, Phan Hồng Giang, Thái Bá Tân, Hữu Việt, Đoàn Tuấn dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

+ Ivan Bunin, Những lối đi dưới hàng cây tăm tối, Nxb Văn học - Nhã Nam, H., 2006 In lại từ Ivan Bunin, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn

học; H., 1987 (Hà Ngọc dịch và giới thiệu)

+ Ivan Bunin, Hơi thở nhẹ, Nxb Hội Nhà văn, H., 2006 In lại từ Ivan Bunin, Nàng Lika, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, H.,

1988 (Phan Hồng Giang dịch và giới thiệu)

+ Truyện ngắn Bunin trên Tạp chí Văn học nước ngoài số 6/2003 + Truyện ngắn Bunin trên Tạp chí Văn học nước ngoài số 10/2011 + Truyện ngắn của Ivan Bunin trên internet (Nguyễn Thị Kim Hiền dịch)

- Văn bản tiếng Anh:

+ Bunin I (2007), Collected Stories, Ivan R.Dee Chicago

Publisher, Chicago, USA, (Graham Heltlinger translated)

+ Bunin I (2008), Dark Avenues, Oneworld Classic publisher,

London, United Kingdom, (Hugh Aplin translated)

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai hướng tiếp cận chủ đạo là tiếp cận hệ thống kết hợp với tiếp cận lịch sử - văn hóa Cơ sở lí thuyết cho nghiên cứu của

Trang 7

chúng tôi là vấn đề vừa mang tính chất khoa học vừa mang tính chất mĩ học: tính trữ tình Chúng tôi sử dụng cuốn sách của Остапцева В.Н (2010)

- Лиризм русской прозы 30-х годов века (Ostaptxeva, Tính trữ tình của

văn xuôi Nga những năm 30 của thế kỷ XIX) làm cơ sở cho những lí giải về

thuật ngữ tính trữ tình Truyện ngắn của Bunin dù đậm tính trữ tình, vẫn thuộc thể loại tự sự Bởi thế đối tượng đặc biệt này cần được soi chiếu từ

góc độ lí thuyết tự sự Chúng tôi kết hợp vận dụng hướng nghiên cứu thi pháp học với lí thuyết trần thuật học hiện đại làm nền tảng cho những

nghiên cứu của mình Theo chúng tôi, việc sử dụng các lí thuyết này trong việc nghiên cứu truyện ngắn của Ivan Bunin là hợp lí và khả thi, bởi những truyện ngắn của Bunin, mặc dù được coi là tiếp nối truyền thống hiện thực

cổ điển của văn học Nga thế kỷ XIX, song vẫn rất mới mẻ và hiện đại

5 Giới thuyết thuật ngữ

5.1 Thuật ngữ tính trữ tình

Để xác định nội hàm khái niệm tính trữ tình, người viết dựa vào nội

dung khái niệm tương đương trong các từ điển tiếng Nga (лиризм) và tiếng Anh (lyricism) kết hợp với những dẫn giải của cuốn sách Tính trữ tình của

văn xuôi Nga những năm 30 của thế kỷ XIX Từ đó chúng tôi nhận định tính

trữ tình là một phạm trù thẩm mĩ, một dạng đặc trưng đặc biệt của tư duy nghệ thuật, trong đó nổi trội là nỗi xúc cảm thầm kín và riêng tư của con người được thể hiện trực tiếp và cảm nhận một cách tương đối thống nhất trong mối quan hệ đồng điệu tác giả - nhân vật - người đọc Cụ thể hơn,

những tiêu chí của tính trữ tình trong tác phẩm gồm có: tình cảm, cảm xúc

là yếu tố quan trọng hàng đầu, nhân vật trữ tình nói về mình nhưng biểu lộ được tất cả những gì thầm kín nhất, sâu sắc nhất, phổ quát nhất cho toàn nhân loại, âm nhạc và nhịp điệu là thành tố không thể thiếu, thiên nhiên và thế giới bên ngoài hòa hợp với thế giới bên trong tâm hồn con người và

Trang 8

quan trọng nhất là tác giả, trong tính chủ quan của mình “buộc phải hiểu mình và làm mê đắm những người khác, làm mê đắm tất cả mọi người”, cuốn người đọc vào dòng xúc cảm của mình và của nhân vật trong tác phẩm Sự thống nhất xúc cảm của ba chủ thể thẩm mỹ này làm nên sự quyến rũ đậm tính trữ tình cho tác phẩm

5.2 Đặc trƣng tính trữ tình trong truyện ngắn

Tính trữ tình trong truyện ngắn, là sự hòa hợp của yếu tố thơ trong

văn xuôi, của phương thức trữ tình trong phương thức tự sự, của cảm xúc trong cốt truyện, tình huống, của âm điệu, nhịp điệu trong lời văn, của cái chủ quan trong cái khách quan của hiện thực Vì thế, cần làm rõ cả những yếu tố trữ tình được biểu hiện trong tác phẩm (tình cảm chủ đạo, nhân vật, ngôn ngữ ) và nguyên tắc liên kết, hòa hợp những yếu tố đó của tác giả

Nhà nghiên cứu Ostavtxeva trong Tính trữ tình của văn xuôi Nga những

năm 30 của thế kỷ XIX cũng tổng kết những yếu tố làm nên tính trữ tình

cho tác phẩm văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng Đó là: tính chủ quan hay tính cá nhân; thiên nhiên và sự hợp nhất con người – thiên nhiên;

sự hài hòa giữa cái hữu hạn – cái vô hạn, giữa thời gian – vĩnh hằng, khoảnh khắc – vĩnh cửu; cảm xúc và các mô thức cảm xúc; nhịp điệu (ngữ

âm, cú pháp, kết cấu khung); các thủ pháp âm nhạc; các ngụ ý, biểu tượng,

“âm bản” – “ý nghĩa ngầm” của văn bản

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Luận án sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu chuyên sâu một tác gia lớn của văn học thế giới - Ivan Bunin, góp phần mở rộng và khơi sâu những nghiên cứu về văn học Nga ở Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu tính trữ tình trong truyện ngắn của Bunin, luận án cho thấy ý nghĩa của hiện tượng giao thoa, tổng hoà giữa các thể loại tự sự và trữ tình như biểu hiện quan trọng trong khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật

Trang 9

của chủ nghĩa hiện đại đầu thế kỷ XX, góp phần xác lập phương pháp nghiên cứu tính trữ tình trong văn xuôi nước ngoài Phương pháp, những kết quả và kinh nghiệm nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào nghiên cứu văn xuôi trữ tình trong văn học Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án sẽ là công trình tham khảo hữu ích đối với sinh viên, học viên các ngành ngữ văn cả trong quá trình nghiên cứu khoa học, học tập và giảng dạy, góp phần vào công cuộc đổi mới nghiên cứu và dạy học ngữ văn trong nhà trường Đây cũng là tài liệu tham khảo cho các giáo viên văn học trong việc mở rộng vốn tri thức về các nhà văn Nga hiện đại, về văn học Nga thế kỷ XX Từ đó, mở rộng vốn hiểu biết về một nền văn học vĩ đại của thế giới cho đối tượng học sinh, bồi đắp tình yêu thiên nhiên, văn hóa và cái đẹp, nuôi dưỡng sự phong phú của tâm hồn

7 Đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình đầu tiên đóng góp vào việc nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu về truyện ngắn và đặc trưng phong cách truyện ngắn của Ivan Bunin ở Việt Nam trên cơ sở kết hợp một cách mới

mẻ và hứa hẹn nhiều thành tựu của thi pháp học văn bản, trần thuật học hiện đại và lí thuyết về tính trữ tình

8 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 4 chương:- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

- Chương 2: Ấn tượng lời văn trữ tình

- Chương 3: Chủ thể và đối tượng trữ tình

- Chương 4: Cốt truyện trữ tình và cảm thức bi hoài

Phần Tài liệu tham khảo là danh mục 197 tài liệu

9 Lưu ý

Những văn bản ghi nguồn trích từ bộ Toàn tập Bunin bằng tiếng

Nga đều do chúng tôi tự dịch Tương tự với những tài liệu tham khảo bằng tiếng Nga và tiếng Anh được trích dẫn trong luận án

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin

ở Nga

Điểm nhấn trong những công trình về Bunin (về cơ bản gồm có nghiên cứu tiểu sử, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu cảm quan nghệ thuật, nghiên cứu văn xuôi Bunin) chính là những tư liệu cung cấp những gợi ý về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin nói chung và truyện ngắn nói riêng Tuy không nhiều nhưng đây là những tư liệu tham khảo rất quý với chúng tôi:

Văn học Nga giao thời thế kỷ (những năm 1890 đến đầu những năm 1920)

tập 1 (2000); Văn xuôi trữ tình của Bunin và sự phát triển của nó; Phạm

trù tính trữ tình trong văn xuôi của I.A.Bunin (khía cạnh ngôn ngữ) của

Luo Sichen (Ло Сычэнь), Tính trữ tình của văn xuôi Bunin trong con mắt

các nhà phê bình của R.Z.Khusainov, Tính trữ tình và sự tồn tại của sự thật của văn xuôi Bunin thời kỳ đầu của Natalia A.Dudinova , luận án của

Elena Vladimirovna Những hình thức và chức năng của tính trữ tình trong

văn xuôi I.A.Bunin những năm 1920 (2014), luận án của Kristian Shlegel Hiện tượng học nghệ thuật của Ivan Bunin (2001) Nhìn chung, qua các tài

liệu nghiên cứu tiếng Nga, có thể thấy đã có một vài bài viết, công trình đề cập đến các motif trữ tình, đến chất thơ trong văn xuôi, đến âm nhạc trong văn xuôi của Bunin Tuy nhiên, hầu hết các công trình đó, hoặc chỉ đề cập tới tính trữ tình trong văn xuôi Bunin một cách khái quát, hoặc chỉ đi sâu vào một khía cạnh đơn lẻ (chẳng hạn như ngôn ngữ), hoặc chỉ nghiên cứu biểu hiện của tính trữ tình ở một giai đoạn nhỏ trong sáng tác văn xuôi của Bunin Vấn đề tính trữ tình trong truyện ngắn Bunin nhìn một cách toàn diện trong toàn bộ hệ thống sáng tác Bunin qua các lớp ngôn từ, trần thuật, nhân vật, căn nguyên tính trữ tình… vẫn đòi hỏi phải được đào sâu nghiên cứu và diễn giải

Trang 11

1.2 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin ở phương Tây

Các nhà nghiên cứu phương Tây đã đứng trên một bình diện riêng để nhìn Bunin Đặc biệt, họ rất nhạy cảm khi nói về mối liên hệ của ông với những nhà văn trước và cùng thời; họ cũng rất chú trọng đến những đề tài chính trong sáng tác của ông Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập tới Tuy nhiên, yếu tố âm nhạc, chất trữ tình chưa được chỉ

ra và nghiên cứu trực tiếp

1.3 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin

ở Việt Nam

Ở Việt Nam chưa có một cuốn chuyên luận nào viết về Ivan Bunin Những tài liệu chúng tôi thu thập được phần nhiều là những bài giới thiệu ngắn gọn về tác giả và các tác phẩm được tuyển ở đầu các tập truyện ngắn dịch, trong các từ điển văn học, một vài bài viết của các nhà nghiên cứu trên các tạp chí văn chương và một số bản dịch các bài viết về Ivan Bunin của một số nhà nghiên cứu nước ngoài Trong khuôn khổ của một bài giới thiệu các nhà nghiên cứu chỉ dừng ở mức đưa ra nhận định và đánh giá, chưa đi sâu nghiên cứu tìm hiểu, phân tích về tính trữ tình, về chất nhạc, nhịp điệu trong truyện ngắn của ông Trong một số cuốn Giáo trình văn học

Nga, Bunin cũng chỉ được giới thiệu với dung lượng hạn chế Gần đây, các cuốn Giáo trình văn học Nga thế kỷ XX của Vũ Công Hảo và Văn học Nga

hải ngoại: Quá trình – Đặc điểm – Tiếp nhận của Phạm Gia Lâm có dành

dung lượng một chương để nói riêng về Bunin với những gợi ý rất quý về truyện ngắn trữ tình (Vũ Công Hảo) và triết luận – trữ tình (Phạm Gia Lâm) của nhà văn Các khóa luận và luận văn Thạc sỹ chủ yếu nghiên cứu nghệ thuật miêu tả (thiên nhiên, đồ vật, nhân vật) Đây đó có một vài trang các tác giả luận văn nhắc đến âm nhạc nhưng chỉ dừng ở việc thống kê các loại

Trang 12

hình âm thanh thiên nhiên, sinh hoạt chứ chưa chỉ ra cụ thể đặc tính và nhịp điệu của truyện ngắn Vấn đề tính trữ tình cũng chưa được nghiên cứu

Ở trên chúng tôi đã trình bày những nét cơ bản trong nghiên cứu Bunin và truyện ngắn của ông qua các tài liệu tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Việt chúng tôi thu thập và xử lý được Kế thừa thành quả của những người

đi trước, kết hợp với những kiến giải của riêng mình, chúng tôi hi vọng sẽ đem đến cho người đọc cái nhìn đầy đủ nhất về yếu tố làm nên bản sắc truyện ngắn Bunin

CHƯƠNG 2 ẤN TƯỢNG LỜI VĂN TRỮ TÌNH

Với bất kỳ một tác phẩm văn học nào, đặc biệt là tác phẩm trữ tình, ngôn từ luôn giữ vai trò cực kỳ quan trọng Ngôn từ là lớp ấn tượng bề mặt tác động đến người đọc trước tiên Với chúng tôi, “nét duyên” trong ngôn ngữ giản dị mà chính xác và giàu giá trị biểu đạt, biểu cảm của Bunin chính

là ấn tượng trữ tình đầu tiên không thể không nhắc tới khi tiếp xúc với kho tàng truyện ngắn của nhà văn Ấn tượng đó được tạo nên từ các thủ pháp gia tăng sức biểu cảm cho lời văn, tăng cường nhạc tính và thi vị hoá hệ thống từ vựng trong truyện ngắn

2.1 Gia tăng biểu cảm lời văn

2.1.1 Cảm xúc hóa đối thoại

Trong truyện ngắn của Bunin, chúng tôi nhận thấy số lượng các đối thoại tương tác xã hội đơn thuần xuất hiện rất ít, và nếu có xuất hiện thì cũng là những đối thoại rất ngắn Nhân vật gặp gỡ ngắn ngủi, trao đổi với nhau những thông tin hết sức vắn tắt và cơ bản, nhưng ấn tượng, cảm xúc lại hết sức lớn lao và mãnh liệt Khi ấy, đối thoại tương tác xã hội đã

Trang 13

nhường chỗ cho đối thoại giãi bày cảm xúc Sự chuyển đổi các dạng đối thoại trong cùng một tác phẩm đã tăng thêm tính chất trữ tình và “mềm mại” cho tác phẩm Đó chính là biểu hiện cảm xúc hóa đối thoại, gia tăng chất trữ tình cho lời văn

2.1.2 Độc thoại hóa đối thoại và phối cảm lời kể với lời độc thoại

Trong nhiều truyện ngắn của nhà văn Nga, ông để cho nhân vật có những phút giây sống hoàn toàn với con người mình Đó là khi họ tự đối diện với bản thân, tự bộc lộ tâm sự chất chứa trong lòng Nhưng dường như nhân vật của Bunin rất ngại tự mình giãi bày, đối thoại với chính mình Họ chỉ “dám” làm việc ấy một cách gián tiếp: viết thư, viết nhật ký hay kín đáo gửi gắm tâm sự qua lời của người kể chuyện Thực chất sự phổ biến của cả

hai dạng thức lời văn này thể hiện khuynh hướng độc thoại hóa đối thoại,

phối cảm lời kể với lời độc thoại gia tăng sức biểu cảm cho lời văn trong

có những tác phẩm có âm điệu du dương như lời hát, nhịp nhàng như lời

thơ Đó là bởi nhà văn đã sử dụng phép điệp ngữ âm – cú pháp (điệp âm,

từ ngữ, tổ chức câu) tạo ra những câu văn xuôi mượt mà và ngân nga:

“Кукушка выскакивает из часов и насмешливо-грустно кукует над тобою в пустом доме И понемногу в сердце начинает закрадываться

сладкая и странная тоска ” [99 – tập 1; tr 417) Không chỉ điệp ngữ

âm – cú pháp, nhiều truyện ngắn của Bunin được xây dựng theo lối điệp kết cấu ngữ đoạn Các dạng thức điệp kết cấu ngữ đoạn cũng khá đa dạng:

Ngày đăng: 12/06/2021, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w