Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm rõ đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận để của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt để thấy được sự độc đáo của loại văn bản đặc biệt này dưới góc độ ngôn ngữ. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2Luận án được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS NGUYỄN THỊ LƯƠNG
2 PGS TS PHẠM VĂN TÌNH
Phản biện 1: GS.TS Hoàng Trọng Phiến
Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG Hà Nội
Phản biện 2: GS.TS Đỗ Việt Hùng
Trường ĐHSP Hà Nội
Phản biện 3: PGS.TS Hà Quang Năng
Viện từ điển học & Bách khoa thư Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường tại:
Vào hồi … giờ… phút, ngày… tháng năm …
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 31.2 Nhiều câu đố đã được văn bản hóa, tồn tại với tư cách một văn bản Là văn bản nhưng văn bản câu đố lại có cấu trúc đặc biệt, so với các thể loại văn học dân gian khác Câu
đố là một loại đơn vị hết sức đặc biệt Được gọi là “câu” nhưng câu đố lại có cấu tạo ở dạng văn bản, trọn vẹn và khép kín Vì thế, nghiên cứu, tìm hiểu câu đố hứa hẹn có nhiều “đất”
để khai thác; mang lại những kết luận khoa học hấp dẫn, lí thú
1.3 Với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, thế giới động thực vật muôn màu không chỉ là một thực thể bên ngoài của tự nhiên mà còn thâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hóa tinh thần của con người Vì thế, chiếm đa số (gần 1/5) trong kho tàng câu đố Việt Nam là những câu đố về con vật; về cây cỏ, hoa lá, củ quả gần gũi, quen thuộc với người nông dân Đây cũng là mảng có nhiều câu đố đặc sắc cần khai thác Dù câu đố được sử dụng rộng rãi,
phổ biến trong đời sống sinh hoạt hàng ngày nhưng không phải ai cũng dễ dàng giải mã, tìm
ra ẩn số được kí mã trong bài toán ngôn ngữ ấy
1.4 Xem xét đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố góp phần khẳng định giá trị, vai trò cũng như sự độc đáo, riêng biệt của thể loại này trong đời sống văn học dân tộc Đồng thời đây là việc làm cần thiết để thấy được nét đặc sắc về ngôn ngữ của thể loại này, cũng như giải mã được lôgic của tư duy, triết lí dân gian qua ngôn ngữ đố
1.5 Cho đến nay, những công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ ngôn ngữ học còn khá khiêm tốn Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa
và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
Với những căn cứ trên, chọn đề tài Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu
đố về động thực vật trong tiếng Việt để nghiên cứu, người viết mong muốn góp thêm một
cách nhìn về câu đố dưới ánh sáng của một số lý thuyết ngôn ngữ học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn:
- Làm r đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận để của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt để thấy được sự độc đáo của loại văn bản đặc biệt này dưới góc độ ngôn ngữ
Trang 4- Chỉ ra nét độc đáo về cấu trúc - ngữ nghĩa, lập luận và đặc trưng tư duy văn hóa, triết lí dân gian của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
- Chỉ ra căn cứ - cơ chế giải mã để có thể giải đáp câu đố nhanh, đúng và chính xác
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Xác lập khung lý thuyết cho đề tài luận án (khái niệm câu đố, lý thuyết văn bản, lý thuyết lập luận, vấn đề nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu, lý thuyết định danh)
- Khảo sát, phân loại câu đố căn cứ vào cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của chúng
- Miêu tả, phân tích các loại câu đố, lần lượt ở các khía cạnh:
+ Chỉ ra đặc điểm cấu trúc của văn bản câu đố, mô hình hoá cấu trúc đồng dạng của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
+ Làm r đặc điểm ngữ nghĩa: xem xét các mảng chủ đề được phản ánh, các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố trong lời đố (qua lời đố miêu tả trực tiếp)
+ Làm r đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt: Đặc điểm các thành phần lập luận, cấu trúc lập luận và cơ sở lập luận
- Tổng kết kết quả nghiên cứu bằng bảng biểu hoặc bằng cách nêu nhận định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Do khuôn khổ của luận án và thời gian thực hiện, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát, tìm
hiểu 488 câu đố về động vật và 636 câu đố về thực vật trong tiếng Việt được sưu tầm, biên
soạn trong cuốn biên Tổng tập văn học dân gian Việt Nam (Tập 3 – Câu đố), 2005, NXB
Khoa học Xã hội [125] (dựa trên ngữ liệu đã được văn bản hóa vì câu đố vốn là trò chơi dân gian bằng ngôn ngữ nói)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ góc nhìn của ngôn ngữ học, có thể nghiên cứu câu đố trên nhiều phương diện, song luận án chỉ tập trung vào ba phương diện, đó là: Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích và nhiệm vụ đề ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau đây:
4.1 Phương pháp nghiên cứu
(1) Phương pháp phân tích diễn ngôn
Từ những ngữ liệu đã thu thập được, chúng tôi tiến hành phân tích, đối chiếu văn bản câu đố (một dạng diễn ngôn đặc biệt) để nhận biết đặc điểm cấu trúc của câu đố về động
Trang 5thực vật trong tiếng Việt Phương pháp này dùng để phân tích văn bản câu đố về động thực vật trong tiếng Việt cũng như cấu trúc lập luận của các câu đố loại này
(2) Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được dùng để mô tả đặc điểm cấu trúc, một số mô hình cấu trúc đồng dạng trong lời đố, các nét nghĩa đặc trưng được chọn làm miêu tả tố
(3) Phương pháp nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học – văn hóa học
Phương pháp này giúp chúng tôi giải mã được ý đồ nghệ thuật và phần nào hiểu được cách tri nhận của người Việt qua câu đố về động thực vật
4.2 Thủ pháp nghiên cứu
(1) Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê, phân loại câu đố theo tiêu chí đã định trước (mô hình cấu trúc đồng dạng, các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố, đặc điểm các thành phần lập luận, cấu trúc lập luận, cơ sở lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt) Kết quả thống kê sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức các bảng biểu, giúp hình dung r hơn đặc trưng cơ bản về cấu trúc, ngữ nghĩa, lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt; làm cơ sở cho kết luận của luận án
(2) Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thủ pháp so sánh: tìm ra điểm chung và nét riêng (về cấu trúc - ngữ nghĩa và lập luận) của câu đố về động vật và thực vật trong tiếng Việt
5 Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình khảo sát một cách hệ thống và chuyên sâu đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Tìm hiểu Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận của câu đố về động thực vật trong
tiếng Việt, tác giả luận án có những đóng góp sau:
6.1 Về lí luận
Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện thêm vào các kết quả nghiên cứu về câu đố; góp thêm một cái nhìn mới về câu đố dân gian người Việt từ góc nhìn của ngôn ngữ học (văn bản, lập luận, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), định danh)
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần củng cố hướng nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa, kết hợp với nghiên cứu lập luận đối với một loại hình diễn ngôn cụ thể là câu đố trong tiếng Việt
6.2 Về thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao công tác biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt cho học sinh phổ thông (đặc biệt trong bối cảnh Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng
Trang 6chương trình và biên soạn bộ sách Ngữ văn mới), giáo trình giảng dạy tiếng Việt, phục vụ cho đào tạo ngôn ngữ học ở bậc cử nhân và bậc sau đại học, biên soạn sách tham khảo phục
vụ phân tích giảng văn trong nhà trường
Ngoài ra, kết quả của luận án có giá trị hữu ích, phục vụ tốt trong nghiên cứu giảng dạy, khai thác câu đố nói riêng, văn học dân gian nói chung từ góc nhìn ngôn ngữ học Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu thêm về thể loại văn học dân gian độc đáo này
7 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, danh mục bảng, danh mục các công trình đã công bố; nội dung của luận án được triển khai trên ba chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
Chương 3: Đặc điểm lập luận của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương đầu của luận án, chúng tôi tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lí luận chung, liên quan trực tiếp đến đề tài: Lý thuyết về câu đố, lý thuyết văn bản, lập luận, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu và định danh – Đây chính là cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu sâu hơn (đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và lập luận), gắn với đối tượng cụ thể (câu
đố về động thực vật trong tiếng Việt) ở các chương sau
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ văn học
Nhìn chung, dưới góc độ văn học, câu đố đã được tìm hiểu khá toàn diện và hệ thống Giới nghiên cứu đã dành nhiều công sức tìm hiểu và nhận diện nó từ khái niệm, đặc trưng bản chất thể loại, nguồn gốc, chức năng cho đến môi trường sản sinh, môi trường diễn xướng… trong cái nhìn so sánh với các thể loại văn học dân gian khác Dễ nhận thấy, việc nghiên cứu
về câu đố nói chung khá phong phú nhưng các tác giả chủ yếu đi vào sưu tầm, biên soạn lại các câu đố Việt Nam và chú trọng bàn về nội dung hay đối tượng phản ánh, cách dạy và vai trò của thể loại văn học dân gian này trong việc góp phần phát triển tư duy (gắn với đối tượng học sinh tiểu học)
1.1.2 Công trình nghiên cứu câu đố dưới góc độ ngôn ngữ học
Nghiên cứu hệ thống thể loại này dưới góc độ ngôn ngữ học chưa được khai thác triệt
để Vì trước đó, chỉ có một số công trình Việt ngữ học nhưng lẻ tẻ (tìm hiểu hiện tượng đồng dạng khác nghĩa, chơi chữ… ) hay một số luận văn chỉ chọn một số câu đố tiêu biểu
Trang 7để tìm hiểu, phân tích về một phương diện nào đó (phương diện tiền giả định, biểu thức chiếu vật, cách thức tri nhận, một số biện pháp tu từ…) Chưa có tác giả nào bao quát hết được tổng thể các mặt biểu hiện của câu đố (cấu trúc - ngữ nghĩa, lập luận) với tư cách một văn bản hoàn chỉnh, một văn bản đặc biệt và cũng chưa có công trình nào chỉ ra được cơ chế giải mã câu đố (dựa vào hình thức và nội dung của nó)
1.2 Cơ sở lí luận
Do đối tượng nghiên cứu của luận án là câu đố về động thực vật trong tiếng Việt nên
cơ sở lí luận đầu tiên phải nói đến chính là câu đố và đặc điểm của nó
1.2.1 Câu đố và đặc điểm của câu đố
Tìm hiểu câu đố và đặc điểm của câu đố, chúng tôi xem xét các bình diện: khái niệm đặc trưng và chức năng
1.2.1.1 Khái niệm
Theo quan điểm của tác giả luận án, câu đố là một thể loại của văn học dân gian Mỗi câu đố đều có một nội dung hoàn chỉnh, được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng Câu đố là một văn bản đặc biệt, có cấu trúc - ngữ nghĩa và lập luận riêng, thể hiện tư duy sáng tạo của người ra đố Do vật đố luôn được giấu tên nên đòi hỏi người giải đố phải kết hợp thao tác tư duy, suy luận mới có thể giải mã được ẩn số được mã hóa bằng ngôn ngữ trong bài toán đố
1.2.1.2 Đặc trưng
i Câu đố - một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ
ii Câu đố - một bài toán đặc biệt)
1.2.1.3 Chức năng
i Chức năng nhận thức
ii Chức năng giáo dục
iii Chức năng giải trí
1.2.2 Một số lý thuyết ngôn ngữ được chọn làm cơ sở lí luận của luận án
1.2.2.1 Lý thuyết văn bản
Do câu đố là một dạng văn bản đặc biệt nên không thể không đề cập đến lý thuyết văn bản Lý thuyết về văn bản bao gồm nhiều vấn đề, trong luận án này, chúng tôi chỉ trình bày những nội dung được ứng dụng để tìm hiểu đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của văn bản câu đố: khái niệm, đặc trưng, cấu trúc và liên kết văn bản
Trang 8ii Đặc trưng của văn bản
Thứ nhất, văn bản phải trọn vẹn, hoàn chỉnh về nghĩa (nội dung): Mỗi văn bản phải
có sự thống nhất về chủ đề (có một đề tài, chủ đề nhất định)
Thứ hai, văn bản phải trọn vẹn, hoàn chỉnh về hình thức
Thứ ba, muốn trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, văn bản phải có tính liên kết (liên kết nội dung, liên kết hình thức)
iii Cấu trúc của văn bản (Cấu tạo chung của văn bản)
Trong các công trình nghiên cứu của mình, nhóm các tác giả Diệp Quang Ban, Trần Ngọc Thêm… đều đồng nhất về cách phân chia cấu trúc của một văn bản thông thường thường gồm ba phần: phần mở, phần thân và phần kết
Ở luận án này, chúng tôi vận dụng lý thuyết về cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban
để tìm hiểu đặc điểm cấu trúc của văn bản câu đố, đồng thời chỉ ra điểm đặc biệt riêng có trong cấu trúc của loại văn bản đặc biệt này
iv Liên kết văn bản
Liên kết văn bản gồm liên kết hình thức và liên kết nội dung Liên kết nội dung gồm: Liên kết chủ đề: Chủ đề ở đây được hiểu như đề tài: vật, việc – đối tượng được nói đến Liên kết này đòi hỏi tất cả các câu trong toàn văn bản phải xoay quanh một chủ đề (bằng cách duy trì chủ đề hoặc triển khai chủ đề)
Liên kết logic: “được chú ý trước hết là phần nêu đặc trưng của vật, việc được nói đến.” [5, tr 550] Đó chính là sợi dây nối kết hợp lí giữa vật, việc với đặc trưng của chúng trong một câu và giữa đặc trưng này với đặc trưng kia trong những câu liên kết với nhau” [5, tr 550]
Ở luận án này, chúng tôi không nghiên cứu liên kết hình thức mà chỉ xem xét liên kết nội dung văn bản câu đố kết hợp lý thuyết định danh khi tìm hiểu các mảng chủ đề được phản ánh (trong lời giải) và các đặc trưng được chọn làm miêu tả tố vật đố (qua lời đố)
1.2.2.2 Lý thuyết chiếu vật, nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu
i Chiếu vật, biểu thức chiếu vật và nghĩa chiếu vật (sở chỉ)
Theo Đỗ Hữu Châu: “Quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạo nên ngữ cảnh của nó được gọi là sự chiếu vật (referent, cũng được gọi là sự sở chỉ)” [17, tr 186]
Cũng theo tác giả này, “Nghĩa chiếu vật hay sự vật được quy chiếu (referent) của cụm từ (biểu thức chiếu vật (referring expression)” [17, tr 185]
Như vậy, nghĩa chiếu vật chính là sự vật được quy chiếu Nghĩa chiếu vật của câu đố chính là sự vật được đố (lời giải)
ii Quy chiếu và biểu thức quy chiếu
Quy chiếu và biểu thức quy chiếu là một phương tiện liên kết của văn bản
Trang 91.2.2.3 Lý thuyết định danh
i Khái niệm
Mai Ngọc Chừ đưa ra cách hiểu về từ định danh là “những từ có khả năng dùng làm tên gọi cho các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, quan hệ, … trong thế giới” [22, tr 195]
ii Cơ sở của định danh: không có lí do (v đoán) và có lí do (phi v đoán)
iii Các phương thức định danh: Định danh trực tiếp và định danh gián tiếp
iv Đặc trưng tư duy, văn hóa – ngôn ngữ trong định danh
Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau Định danh thể hiện khả năng tư duy nhận thức, tư duy văn hóa thế giới khách quan của con người
Lời đố về động thực vật cung cấp thêm một cách nói thú vị - một kiểu định nghĩa sự
vật theo cách tư duy dân gian (theo kiểu định danh bậc hai), đem lại một góc nhìn mới mẻ, bất ngờ về những sự vật, hiện tượng đã trở nên quen thuộc với mỗi người Qua đó, ta nhận
ra tài quan sát, sự thông minh và óc phán đoán, nhanh nhạy của nhân dân lao động
Lý thuyết định danh (cùng lý thuyết liên kết logic trong văn bản) được chúng tôi vận dụng để tìm hiểu các đặc điểm được chọn làm miêu tả tố - phần 2.2 chương 2
1.2.2.4 Lý thuyết lập luận
i Khái niệm lập luận
Trong Đại cương ngôn ngữ học, Đỗ Hữu Châu nhận định: “Lập luận là đưa ra những lí
lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người
nói muốn đạt tới” [15, tr 155]
Dù diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều đã chỉ ra bản chất của lập luận là đưa ra những luận cứ (dẫn chứng và lí lẽ) để hướng người đọc, người nghe tới một kết luận nào đó Dẫn chứng giúp chúng ta tin, lí lẽ để cho chúng ta hiểu, khi đã tin và hiểu thì sẽ bị thuyết phục, lúc ấy lập luận đã thành công
ii Cấu tạo của lập luận
Chúng tôi thống nhất theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu: Một lập luận đầy đủ có hai
phần: Luận cứ (tiền đề của lập luận, là những căn cứ để rút ra kết luận Luận cứ có thể là lí
lẽ hoặc bằng chứng) và kết luận (điều được rút ra từ các luận cứ, được chứng minh, làm r bằng các luận cứ)
iii Quan hệ lập luận:
Theo Đỗ Hữu Châu, đó là “quan hệ giữa các thành phần của một lập luận với nhau” Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận Có luận cứ đồng hướng và có luận cứ nghịch hướng
iv Cơ sở lập luận
Cơ sở lập luận là những yếu tố mà dựa vào đó, chúng ta xuất phát từ luận cứ để rút ra kết luận Nói đến cơ sở lập luận không thể không nói đến “lẽ thường”
Trang 101.3 Tiểu kết
Như vậy, câu đố với tư cách là một sản phẩm ngôn từ dân gian đã được nghiên cứu, tiếp cận theo hai hướng văn học và ngôn ngữ học Tiếp cận từ bình diện văn học, có những nghiên cứu câu đố nói chung (chủ yếu mang tính chất sưu tầm, biên soạn), có những nghiên cứu câu
đố cho những đối tượng cụ thể Trên bình diện ngôn ngữ học, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các biện pháp tu từ trong câu đố (nghệ thuật chơi chữ, ẩn dụ…), nghiên cứu ngữ nghĩa của câu đố, nghiên cứu ngữ dụng của câu đố (biểu thức chiếu vật miêu tả…) Tuy nhiên, từ hướng tiếp cận ngôn ngữ học, chưa có một nghiên cứu nào bao quát hết được tổng thể các mặt biểu hiện của câu đố từ cấu trúc, ngữ nghĩa đến lập luận với tư cách một văn bản hoàn chỉnh, cũng chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra được cơ chế giải mã câu đố từ bình diện hình thức cũng như nội dung của nó
Công trình nghiên cứu về câu đố chủ yếu mang tính chất sưu tầm, biên soạn Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu thì cũng chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh (biểu thức chiếu vật miêu
tả, nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật chơi chữ….) Đến nay, câu đố đã được nghiên cứu ở góc độ văn học, ngôn ngữ nhưng chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu câu đố về động thực vật – với
tư cách một văn bản đặc biệt trên cả ba phương diện: đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và lập luận
Lý thuyết về văn bản (cụ thể là lý thuyết về cấu tạo văn bản) của Diệp Quang Ban là tiền
đề để chúng tôi xem xét đặc điểm cấu trúc của văn bản câu đố về động thực vật trong tiếng Việt, từ đó chỉ ra được đặc điểm chung và những nét độc đáo về cấu trúc của loại văn bản đặc biệt này
Lý thuyết về nghĩa chiếu vật (sở chỉ) của Đỗ Hữu Châu, liên kết logic của Diệp Quang Ban, lý thuyết định danh là cơ sở nền tảng để chúng tôi nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt (các đề tài được phản ánh và cách thức triển khai, đặc điểm được chọn làm miêu tả tố và phương thức miêu tả)
Lý thuyết lập luận của Đỗ Hữu Châu (cụ thể là các thành phần của lập luận, cấu trúc lập luận, cơ sở lập luận) là cơ sở lí luận định hướng giúp chúng tôi tìm hiểu đặc điểm lập luận câu
đố về động thực vật trong tiếng Việt
Trang 11CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC – NGỮ NGHĨA CỦA CÂU ĐỐ
VỀ ĐỘNG THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
Mỗi câu đố là một văn bản đặc biệt Ở chương này, chúng tôi vận dụng lý thuyết về cấu trúc văn bản của Diệp Quang Ban để xem xét đặc điểm cấu trúc của văn bản câu đố; đồng thời tìm hiểu một số mô hình đồng dạng trong lời đố (không xét lời giải) về động thực vật trong tiếng Việt; để thấy được hình thức biểu hiện đặc trưng, riêng biệt ở đối tượng này
Xét đặc điểm ngữ nghĩa của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt, chúng tôi vận dụng lí thuyết lý thuyết văn bản (liên kết lôgic) của Diệp Quang Ban, lý thuyết nghĩa chiếu vật (sở chỉ), quy chiếu của Đỗ Hữu Châu và lý thuyết định danh (đặc trưng tư duy, văn hóa - ngôn ngữ trong định danh của Humboldt); để xem xét các mảng chủ đề được phản ánh trong lời giải và đặc điểm được chọn làm miêu tả tố - cơ sở định danh vật đố (trong lời đố trực tiếp), cách thức miêu tả vật đố Từ đó, tìm hiểu mối quan hệ nghĩa giữa lời giải (từ) và lời đố
2.1 Đặc điểm cấu trúc của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
Là một văn bản (chủ yếu là văn bản miêu tả), câu đố cũng có cấu trúc ba phần của một văn bản thông thường
Đồng thời, câu đố lại là một văn bản đặc biệt nó cũng có những điểm riêng biệt về cấu trúc Theo nghiên cứu của chúng tôi trừ phần thân, câu đố đặc biệt ở: phần mở và phần kết, có câu đố chỉ gồm một câu; và đặc biệt ở cấu trúc đồng dạng
Từ những đặc điểm trên, nghiên cứu đặc điểm cấu trúc văn bản câu đố, chúng tôi tìm hiểu cấu trúc (cấu trúc thông thường, cấu trúc đặc biệt) của văn bản câu đố) và mô hình cấu trúc đồng dạng (ở lời đố)
2.1.1 Cấu trúc của văn bản câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
Câu đố là một văn bản nên nó cũng sẽ có cấu trúc gồm ba phần trên Tuy nhiên, bên cạnh số ít câu đố có cấu trúc thông thường, đa số câu đố chỉ gồm phần thân và phần kết, làm nên cấu trúc đặc biệt của nó Cụ thể như trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Cấu trúc văn bản câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
2.1.1.1 Văn bản câu đố có cấu trúc thông thường
Văn bản câu đố có cấu trúc thông thường là câu đố gồm đủ cả ba phần: phần mở, phần thân và phần kết Do nhu cầu giấu tên vật đố nên câu đố có cấu trúc thông thường chiếm số lượng không nhiều: 122 câu (chiếm 10,9%) Với loại văn bản này, người giải đố nhờ những định hướng, gợi dẫn ở phần mở (phần để hỏi hoặc danh từ chỉ loại) và phần thân
để có thể nhanh chóng đi đến, tìm ra phần kết
Trang 122.1.1 1 Văn bản câu đố có cấu trúc đặc biệt
Câu đố có cấu trúc đặc biệt là câu đố chỉ có phần thân, phần kết mà không có phần
mở Bên cạnh số ít câu đố có cấu trúc thông thường, đa số còn lại có cấu trúc đặc biệt: 1002 câu (chiếm 89,2 %) Ở loại văn bản câu đố có cấu trúc này, lời đố chỉ có phần thân (miêu tả đặc điểm của vật đố) mà không có phần mở - từ khóa gợi dẫn chủ đề Do không có phần mở định hướng, ở những văn bản này, người chơi phải dựa vào những miêu tả tố trong phần thân để tìm ra phần kết
2.1.2 Mô hình cấu trúc đồng dạng của câu đố về động thực vật trong tiếng Việt
Qua khảo sát, thống kê 1124 câu đố về động thực vật, chúng tôi nhận thấy có 291 lời
đố (chiếm 25,9 %) có sử dụng mô hình cấu trúc đồng dạng
Bảng 2.2 Số lượng lời đố về động thực vật trong tiếng Việt có mô hình cấu trúc đồng dạng
STT Lời đố đồng dạng trong câu đố Số lƣợng lời đố Tỉ lệ (%)
2.1.2.1 Mô hình cấu trúc đồng dạng ở câu đố có cấu trúc thông thường
i Mô hình cấu trúc đồng dạng nghi vấn
Cấu trúc đồng dạng nghi vấn là cấu trúc câu hỏi có dạng thức, mô hình cấu tạo (ngữ pháp) giống nhau (hoặc gần giống nhau)
Với lời đố về động thực vật trong tiếng Việt, câu nghi vấn chỉ dùng đại từ nghi vấn và được
cấu tạo theo mô hình: X + đại từ nghi vấn (gì/chi/nào) + Y? ( Trong đó: X: Danh từ trung tâm (chỉ tổng loại): Con (chim/cá/cái) hoặc cây (hoa, quả, trái); Y là yếu tố miêu tả, nêu lên một hoặc một
số đặc điểm của vật đố, có thể là đặc điểm vị trí, vai trò, công dụng, tính chất, hình dáng, màu sắc, mùi vị, nguồn gốc… của loại con hay cây, hoa, quả đó Danh từ trung tâm (chỉ tổng loại) + đại từ nghi vấn thường đặt ở đầu hoặc cuối lời đố, khiến lời đố trở thành một câu hỏi.)
Trong tổng số 122 câu đố Việt về động thực vật (gồm đủ 3 phần) có cấu trúc đồng dạng, có
90 câu đố (chiếm 73,8 %) được cấu tạo theo mô hình trên Dựa vào danh từ trung tâm, có thể chia
mô hình cấu trúc đồng dạng nghi vấn thành 7 dạng nhỏ Kết quả cụ thể như trong bảng 2.3
Bảng 2.3 Mô hình đồng dạng nghi vấn ở cấu đố có cấu trúc thông thường
STT
Mô hình lời đố đồng dạng nghi vấn Số lời đố
có cấu tạo một câu
Số lời đố có cấu tạo gồm nhiều câu
Tổng
số lời đố
trung tâm
Đại từ nghi vấn
X (miêu tả tố)
Trang 13Với mỗi mô hình, chúng tôi đều miêu tả đặc điểm cấu tạo và minh họa bằng dẫn chứng
cụ thể
ii Mô hình cấu trúc đồng dạng dạng trần thuật
Ngoài mô hình cấu trúc đồng dạng nghi vấn, ở văn bản câu đố gồm đủ ba phần còn có 32/122 (chiếm 26,2 %) câu có mô hình cấu trúc đồng dạng trần thuật Kết quả cụ thể như trong bảng 2.4
Bảng 2.4 Mô hình đồng dạng trần thuật của câu đố có cấu trúc thông thường
STT Mô hình lời đố đồng dạng trần thuật Số lƣợng
ii Mô hình cấu trúc đồng dạng ở câu đố có cấu trúc đặc biệt
a Mô hình cấu trúc ngữ pháp đồng dạng chung được dùng ở cả lời đố về động vật và thực vật trong tiếng Việt
Bảng 2.5 M ô hình đồng dạng của câu đố có cấu trúc đặc biệt
Với mỗi mô hình, chúng tôi đều mô tả cấu tạo, ý nghĩa và kèm dẫn chứng minh họa
cụ thể