1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Kỹ thuật: Nghiên cứu cơ sở khoa học nâng cao hiệu quả vận hành phát điện các hồ chứa bậc thang trong thị trường điện cạnh tranh, áp dụng cho lưu vực sông

28 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là: hiên cứu cơ sở khoa học, để xây dựng mô hình tính toán tối ưu doanh thu bán điện cho hệ thống hồ chứa bậc thang trong điều kiện phát điện cạnh tranh, nhằm đưa ra các chỉ dẫn vận hành kết hợp với BĐĐP đảm bảo phát đủ sản lượng hợp đồng hàng năm và hướng đến doanh thu lớn nhất. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

LÊ QUỐC HƯNG

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN HÀNH PHÁT ĐIỆN CÁC HỒ CHỨA BẬC THANG

TRONG THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH,

ÁP DỤNG CHO LƯU VỰC SÔNG CHU

Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy

Mã số: 9580202

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Thủy lợi

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS TS Phan Kỳ Nam

Người hướng dẫn khoa học 2: PGS TS Lê Văn Nghị

Phản biện 1: GS TS Hà Văn Khối – Hội Thủy lợi Việt Nam

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Danh Oanh – Viện Năng lượng

Phản biện 3: PGS.TS Đỗ Văn Chiêu – Trường Đại học Xây dựng

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án họp tại Trường Đại học Thủy lợi, vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 03 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận án tại các thư viện:

- Thư viện Quốc Gia

- Thư viện Trường Đại học Thủy lợi

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, thủy điện đã được phát triển mạnh mẽ ở nước ta và không ngừng được tăng lên trong các năm tiếp theo Ngoài vấn đề phát triển các nguồn điện từ gió, than, năng lượng mặt trời, khí , cần nghiên cứu khai thác hiệu quả các nhà máy thủy điện (NMTĐ) đã xây dựng để giảm bớt khó khăn cung cấp điện cho sản xuất là một vấn đề quan trọng được đặt ra Đi kèm

đó là việc xây dựng quy trình vận hành tích nước, xả lũ các hồ chứa nhằm vận hành tối ưu các NMTĐ, đảm bảo hài hòa các lợi ích sử dụng nước, vừa tận dụng tối đa nguồn thủy năng, giảm nhẹ lũ và hạn hán ở hạ lưu là bài toán đang được xã hội quan tâm và luôn mang tính thời sự Hiện nay, Chính phủ đã ban hành quy trình vận hành liên hồ cho tất cả các hệ thống hồ chứa (HTHC) trên lưu vực lớn của Việt Nam bao gồm cả lưu vực sông Mã Tuy nhiên, vận hành HTHC, mới chỉ quy định vận hành an toàn và lưu lượng tối thiểu cấp cho hạ lưu mà chưa đề cập đến nâng cao hiệu quả vận hành và việc tham gia thị trường

điện cạnh tranh Với các đòi hỏi như đã nêu thì đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa

học nâng cao hiệu quả vận hành phát điện các hồ chứa bậc thang trong thị

trường điện cạnh tranh, áp dụng cho lưu vực sông Chu” là hết sức cần thiết

nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn hiện nay ở Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng mô hình tính toán tối ưu doanh thu bán điện cho hệ thống hồ chứa bậc thang trong điều kiện phát điện cạnh tranh, nhằm đưa ra các chỉ dẫn vận hành kết hợp với biểu đồ điều phối (BĐĐP) đảm bảo phát đủ sản lượng hợp đồng hàng năm và hướng đến doanh thu lớn nhất Phân tích xây dựng mối quan hệ giữa độ giảm và mức độ phân phối của giá bán điện giờ, theo lũy tích thời gian trong từng tháng với sản lượng điện tháng và số giờ giao dịch tháng, để làm cơ sở tính toán điều tiết năm nhằm nâng cao hiệu quả phát điện, đem lại doanh thu lớn nhất cho các chủ đầu tư

Trang 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống hồ chứa bậc thang điều tiết năm kết hợp phát

điện trên lưu vực sông Chu, trong điều kiện phát điện cạnh tranh ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống hồ chứa điều tiết

năm Hủa Na và Cửa Đạt, kết hợp phát điện trong điều kiện phát điện cạnh tranh

ở Việt Nam Luận án chọn thời đoạn tính toán cho điều tiết năm và nhiều năm

là tháng

4 Phương pháp nghiên cứu

(1) Phương pháp kế thừa; (2) Phương pháp mô phỏng toán học; (3) Phương pháp phân tích tổng hợp

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

(1) Góp phần hoàn thiện các luận cứ khoa học vận hành liên hồ chứa đa mục tiêu với doanh thu phát điện lớn nhất Lập được chương trình tính toán và BĐĐP vận hành hồ chứa nâng cao hiệu quả phát điện trong thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam

(2) Kết quả tính toán phương án điều tiết và chỉ dẫn vận hành phát điện từng tháng của từng hồ và liên hồ được các chủ hồ tham khảo, áp dụng trong vận hành hệ thống hồ chứa với các ràng buộc là phạm vi mực nước phòng lũ, lưu lượng cấp nước và mục tiêu là tối đa lợi ích doanh thu

6 Những đóng góp mới của luận án

(1) Luận án đã xây dựng được bài toán và chương trình tính toán phối hợp liên

hồ nhằm đạt được doanh thu lớn nhất, nâng cao hiệu quả phát điện khi tham gia thị trường điện cạnh tranh

(2) Áp dụng chương trình tính toán cho bậc thang Hủa Na – Cửa Đạt trên lưu vực sông Chu Đề xuất biểu đồ điều phối phát điện với các ràng buộc của các quy trình vận hành đa mục tiêu đáp ứng các yêu cầu của điều độ hệ thống điện

Trang 5

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, các kết quả nghiên cứu của luận án được trình bày trong ba chương sau:

Chương 1 Tổng quan về nghiên cứu vận hành bậc thang hồ chứa và thị trường điện cạnh tranh

Chương 2 Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn nâng cao hiệu quả vận hành phát điện các hồ chứa bậc thang trong thị trường điện cạnh tranh

Chương 3 Áp dụng tính toán và phân tích kết quả, xác định xu hướng vận hành cho bậc thang hồ chứa trên lưu vực sông Chu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VẬN HÀNH BẬC THANG HỒ CHỨA VÀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH

1.1 Các nghiên cứu về vận hành hồ chứa trên thế giới

Afzali và nnk., (2008) đã nghiên cứu vận hành phối hợp hệ thống hồ thủy điện Khersan, Iran bằng việc kết hợp mô hình mô phỏng và thuật toán tối ưu với hàm mục tiêu là tổng sản lượng điện của hệ thống 4 hồ Các tác giả đã áp dụng quy hoạch tuyến tính cho riêng từng hồ và cho cả 4 hồ để so sánh Kết quả đạt được cho thấy nếu phối hợp vận hành hệ thống 4 hồ chứa theo hàm mục tiêu đề

ra sẽ cho sản lượng điện cao hơn khoảng 7,9% so với tổng sản lượng điện của 4

hồ khi vận hành riêng rẽ

Daniel De Ladurantaye và nnk., (2009) đã nghiên cứu về Tối ưu hóa lợi nhuận

từ vận hành thủy điện Nghiên cứu đã trình bày một mô hình toán học kết hợp

xác định và ngẫu nhiên để tối đa hóa lợi nhuận thu được bằng cách bán sản lượng điện thông qua các đập và hồ chứa bậc thang tại một thị trường giao ngay (trả tiền ngay) Mô hình đầu tiên dựa trên giá điện xác định trong khi mô hình

khác tích hợp ngẫu nhiên thông qua việc quản lý một cây các kịch bản giá

tiềm năng Những kết quả bằng số dựa trên dữ liệu lịch sử chứng minh tính ưu

việt của mô hình ngẫu nhiên trên mô hình xác định Nó cũng cho thấy rằng biến

động giá ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được từ mô hình ngẫu nhiên

Trang 6

1.2 Các nghiên cứu về vận hành hồ chứa tại Việt Nam

Hồ Ngọc Dung (2017) nghiên cứu tính toán chế độ vận hành theo lợi ích lớn nhất cho hai hồ Sơn La và Hòa Bình trong mùa cạn, xác định tập hợp đường vận hành tối ưu, và sử dụng kết hợp biểu đồ điều phối để tập trung vào nghiên cứu cơ sở khoa học, xây dựng thuật toán và mô hình bài toán tối ưu điều tiết các hồ chứa của bậc thang thủy điện Kết quả có thể phục vụ việc xây dựng quy trình vận hành hợp lý và bền vững của hệ thống liên hồ chứa đảm bảo tối ưu khai thác năng lượng, cấp nước hạ lưu ổn định và bền vững trong mùa cạn Tuy nhiên, hệ thống hồ chứa được chia lưới với mực nước thượng lưu của Sơn La là 0,5m và Hòa Bình là 0,2m sẽ khó phù hợp với các hồ chứa kết hợp phát điện có dung tích và công suất nhỏ hơn Nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu chế độ vận hành tối ưu cho hai hồ chứa Sơn La và Hòa Bình, còn hai hồ chứa điều tiết năm phía thượng lưu Sơn La là thủy điện Bản Chát và thủy điện Lai Châu chưa đưa vào tham gia tối ưu hệ thống mà sử dụng kết quả tính toán của chúng trong giai đoạn thiết kế như một điều kiện biên để xét ảnh hưởng

Lê Ngọc Sơn (2017) nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học kết hợp mô hình mô phỏng – tối ưu – trí tuệ nhân tạo, xây dựng được chương trình mô hình tối ưu quy hoạch động (QHĐ) để đề xuất phương án vận hành cận tối ưu cho hệ thống

hồ chứa có kể đến biến đổi thực tế của nguồn nước và nhu cầu sử dụng nước nhằm nâng cao hiệu quả phát điện, đáp ứng các yêu cầu cấp nước hạ lưu cho lưu vực sông Ba Kết quả tính toán mô phỏng được kiểm chứng với kết quả vận hành thực của trạm thủy điện Sông Hinh cho thấy mô hình mà tác giả đề xuất mang lại hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, thời đoạn tính toán trong mô hình không chia nhỏ hơn thời đoạn tháng khó phù hợp với chu kỳ dự báo thủy văn ngắn hạn trong 10 ngày Nghiên cứu cũng chưa xem xét được tính ngẫu nhiên của các nhu cầu dùng nước và hệ thống điện mà chỉ đưa vào các ràng buộc phải thỏa mãn Các ràng buộc vận hành về nhu cầu dùng nước và hệ thống điện trong thị trường điện cạnh tranh cần tiếp tục nghiên cứu để đưa mô hình có thể thích ứng tốt hơn nữa khi mà nhu cầu nước cho kinh tế - xã hội và các yếu tố thị trường thay đổi

Trang 7

1.3 Giới thiệu chung về thị trường điện cạnh tranh

Thị trường điện cạnh tranh đã được hình thành và đang hoạt động hiệu quả ở một số nước thuộc châu Âu, châu Mỹ và châu Úc Theo kế hoạch thị trường điện ở Việt Nam sẽ phát triển qua ba cấp độ và tiếp tục được hoàn thiện sau mỗi lần thử nghiệm Khi tham gia thị trường điện cạnh tranh, các NMTĐ có hồ điều tiết dài hạn sẽ có ưu thế khi đưa ra giá chào cũng như linh hoạt vận hành

để nhằm bán được điện vào các khung giờ giá cao Đây là lợi thế và cũng là bài toán phức tạp đòi hỏi các chủ công trình cần tính đến khi lập kế hoạch phát điện cũng như điều tiết hồ chứa phát điện, nhằm mang lại hiệu quả cao trong điều kiện chế độ thủy văn biến đổi

1.4 Định hướng nghiên cứu của luận án

Qua các nghiên cứu về vận hành hồ chứa ở Việt Nam và trên thế giới cho thấy, các tác giả đều tập trung vào giải quyết các bài toán tối ưu phát điện, cấp nước cũng như phòng lũ khi áp dụng các phương pháp tính tối ưu khác nhau Một số tác giả cũng đã xem xét vị trí làm việc của NMTĐ trong hệ thống điện quốc gia Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào xem xét đến việc tham gia thị trường điện cạnh tranh khi tìm phương án vận hành tối ưu cho các hồ chứa phát điện

Qua phần tổng quan các nghiên cứu về hệ thống lưu vực sông Chu, hiện chưa

có một nghiên cứu cụ thể nào về phối hợp hệ thống bậc thang Hủa Na - Cửa Đạt, trong quá trình vận hành phát điện Đây là một khoảng trống, cần nghiên cứu vì mỗi hệ thống có đặc thù riêng, không có mô hình tổng quát có thể áp dụng được

Về các phương pháp nghiên cứu, tổng quan cho thấy phương pháp QHĐ hoặc các cải tiến của QHĐ thường được sử dụng nhiều trong nghiên cứu về vận hành

hồ chứa và tỏ ra có hiệu quả trong việc tìm nghiệm tối ưu toàn cục Trong phạm

vi tính toán tối ưu doanh thu cho 2 hồ chứa bậc thang, luận án lựa chọn sử dụng phương pháp đệ quy (QHĐ top-down) để tạo biên tính toán, và áp dụng phương pháp QHĐ bottom-up trong xây dựng mô hình tính toán phù hợp với khả năng

Trang 8

xử lý của ngôn ngữ lập trình Từ những phân tích về thị trường điện cạnh tranh,

luận án lựa chọn mô hình là tối ưu doanh thu lớn nhất cho các hồ chứa bậc

thang khi tham gia thị trường điện

Hình 1.10 Sơ đồ thể hiện các bước nghiên cứu

1.5 Kết luận chương 1

Hiện nay, trên lưu vực sông Mã nói riêng và các lưu vực sông lớn ở Việt Nam nói chung, Chính phủ đã ban hành quy trình vận hành liên hồ đưa ra các quy tắc vận hành Tuy nhiên, các chủ hồ vẫn được quyền chủ động vận hành và phối hợp vận hành trong các phạm vi hoặc ràng buộc cho phép

Việc vận hành, theo quy trình mới hiện đang dừng lại ở việc đưa ra các ràng buộc mực nước hoặc lưu lượng, nhằm đảm bảo an toàn công trình và cấp nước tối thiểu, mà chưa đi đến tối ưu Hơn nữa, cách vận hành là ở trạng thái “tương đương với quá trình thiết kế và xây dựng quy trình” tức là các đường chỉ dẫn

Trang 9

vận hành trên biểu đồ điều phối vẫn tương đối cố định từ trước, có hồ còn chưa cập nhật số liệu vận hành theo thời gian để điều chỉnh Mặt khác, hàng năm các nhà máy tham gia thị trường điện cạnh tranh đều được giao sản lượng khác nhau, phân phối trong các tháng trong năm cũng thay đổi giữa các năm Do đó, cần phải có các phương thức vận hành thích hợp hơn cho hệ thống bậc thang hồ chứa, để nâng cao hiệu quả phát điện kết hợp phòng lũ, cấp nước và khắc phục những tồn tại khác trong vận hành hệ thống bậc thang thủy điện

Phân tích những mặt chưa được giải quyết của các nghiên cứu trước đây trong Chương 1 là cơ sở cho nội dung tính toán và hướng giải quyết bài toán vận hành bậc thang hồ chứa phát điện của luận án Do đó phương pháp giải quyết

và cách tiếp cận là bài toán phối hợp vận hành tối ưu phát điện trong thị trường điện canh tranh của các bậc thang hồ chứa sẽ được giải quyết ở hai chương tiếp theo là cần thiết

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN HÀNH PHÁT ĐIỆN CÁC HỒ CHỨA BẬC THANG TRONG THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH

2.1 Phương pháp giải bài toán tối ưu trong vận hành liên hồ chứa

Luận án tính toán vận hành liên hồ chứa bằng phương pháp QHĐ, tìm cách tối

ưu hóa mục tiêu trên cơ sở dòng chảy lịch sử và dữ liệu mua bán điện đã có Từ đấy xác định được các vị trí tối ưu trong vận hành và đưa đến kết quả các hướng vận hành thực tế tại các thời điểm thấp/cao hơn, bám theo mực nước các

hồ tại từng thời điểm vận hành cho các chủ hồ, các hồ có thể vận hành đơn lẻ hoặc kết hợp để cùng tăng doanh thu tổng cho hệ thống bậc thang

2.2 Phương pháp giải bài toán QHĐ

2.2.1 Lựa chọn cách tiếp cận

QHĐ thường dùng một trong hai cách tiếp cận:

Trang 10

 top-down (từ trên xuống): Bài toán được chia thành các bài toán con Các bài toán con được giải và lời giải có thể được ghi nhớ để phòng trường hợp cần dùng lại Đây là đệ quy và lưu trữ được kết hợp với nhau

 bottom-up (từ dưới lên): Tất cả các bài toán con có thể cần đến đều được giải trước, sau đó được dùng để xây dựng lời giải cho các bài toán lớn hơn Cách tiếp cận này tốt hơn về không gian bộ nhớ dùng cho ngăn xếp và số lệnh gọi hàm

Để tránh việc phải giải đi giải lại nhiều bài toán con lặp nhau (QHĐ top-down), luận án sử dụng phương pháp QHĐ bottom-up để tính toán và xác định hàm mục tiêu doanh thu lớn nhất; Để xây dựng biên mực nước đảm bảo các yếu tố

an ninh năng lượng, luận án sử dụng phương pháp đệ quy (QHĐ top-down) với

tổ hợp điểm xuất phát quay ngược từ tổ hợp MNC cuối mùa kiệt các hồ

2.2.2 Các đặc trưng của QHĐ

Hàm mục tiêu là mục tiêu tối đa hoặc tối thiểu cần đạt được Đây là thước đo hiệu quả, của việc ra quyết định ở mỗi thời đoạn Hàm này sẽ phụ thuộc vào biên trạng thái, trạng thái đầu và trạng thái cuối của hệ thống liên hồ Hàm mục tiêu, có thể là lợi ích lớn nhất cần đạt được như điện lượng mùa kiệt, hoặc điện lượng năm hay nhiều năm, hoặc cũng có thể là chi phí thiệt hại hoặc thiếu hụt nước là nhỏ nhất Trong luận án, với đối tượng hồ chứa thuộc các chủ hồ là tư nhân, hàm mục tiêu được lựa chọn là doanh thu liên hồ và từng hồ lớn nhất cho các năm vận hành

Quá trình chuyển thời đoạn (tính cho thời đoạn kế tiếp) cần phải ghi lại các giá trị đường đi tạo ra hàm mục tiêu tại tất cả các mắt lưới (thuộc thời đoạn đang tính) là tốt nhất Tại mỗi cặp mắt lưới được chia (trường hợp 2 hồ), cần phải xác định được đường đi phù hợp từ điểm xuất phát (cặp mắt lưới đầu tiên) đến cặp mắt lưới đang xét

Trang 11

2.3 Tính toán điều tiết tối ưu hồ chứa nước của trạm thủy điện bằng QHĐ

2.3.1 Mô hình tính toán đơn hồ

Hình 2.2 Mô tả các hướng đi tìm đường tối ưu trong điều tiết hồ chứa

Bước 1: Chia chu kỳ tính toán T ra n thời đoạn ΔT

Bước 2: Chia lưới mực nước thượng lưu thật mịn

Bước 3: Đánh số các mắt lưới tương ứng với Zi,k với i là thời đoạn trong chu kỳ tính toán T và k là vị trí mắt lưới

Bước 4: Để thuật toán so sánh được thực hiện và gán giá trị mới (lớn hơn giá trị cũ) tìm được vào các mắt lưới Trong trường hợp tìm giá trị lớn nhất, với các giá trị về độ gia tăng là dương, giá trị ban đầu tại các điểm lưới cần phải được

Trang 12

gán bằng một giá trị nhỏ hơn 0 Gán giá trị doanh thu tại tất cả các điểm trên mắt lưới là Bj,k = –1

Bước 5: Chọn điểm xuất phát và gán giá trị doanh thu tại điểm xuất phát Bo = 0 Bước 6: Nối điểm Zo đến tất cả các điểm Z1,1; Z1,2; đến Z1,m-3; Z1,m-2; Z1,m-1; Z1,m xác định được chênh lệch dung tích đầu và cuối thời đoạn cho mỗi điểm ΔV1,1; ΔV1,2; đến ΔV1,m-3; ΔV1,m-2; ΔV1,m-1; ΔV 1,m

∆𝑉1,𝑘 = 𝑉 𝑍1,𝑘 − 𝑉 𝑍𝑜 (triệu m3/s) (2-6) Với V(Z) là giá trị dung tích hồ ứng với mực nước thượng lưu Z, nội suy được theo đường quan hệ mực nước và dung tích lòng hồ Sử dụng chênh lệch dung tích này, chương trình tính ra được lưu lượng đi ra khỏi hồ Nếu lưu lượng đi ra khỏi hồ âm, các giá trị tìm kiếm tại điểm đó được gán giá trị -1 Nếu lưu lượng

đi ra khỏi hồ đảm bảo lưu lượng tối thiểu của thời đoạn tương ứng, các giá trị cột nước, công suất, điện lượng và doanh thu tại điểm đấy sẽ được lưu lại Bước 7: Xác định lưu lượng ra khỏi hồ tại các mắt lưới theo công thức tổng quát sau:

𝑄1,𝑘 = 𝑄1đế𝑛−∆𝑉1,𝑘

∆𝑇 − 𝑄𝑡ổ𝑛_𝑡ℎấ𝑡 (m3/s) (2-7) Với 𝑄1đế𝑛 là lưu lượng thực đến hồ thời đoạn 1; Qtổn_thất là lưu lượng tổn thất do bốc hơi và thấm trong thời đoạn tương ứng

Bước 8: Kiểm tra nếu điều kiện 𝑄1,𝑘 ≥ 𝑄1𝑦ê𝑢 𝑐ầ𝑢 𝑡ố𝑖 𝑡ℎ𝑖ể𝑢 thỏa mãn thì sẽ tính toán thủy năng cơ bản để xác định được điện lượng gia tăng do mực nước thay đổi từ Zo đến Z1,k trong thời đoạn 1

Bước 9: Xác định doanh thu tương ứng, bằng cách tính toán theo sản lượng điện hợp đồng cho thời đoạn 1; giá hợp đồng; mức độ phân bố giờ phát điện trong lịch sử mua bán điện; giá trần của thời đoạn 1 Sẽ gán được các giá trị B1,k tại các mắt lưới Z1,k nếu tồn tại đường đi hợp lý từ Zo đến Z1,k Trường hợp không tồn tại đường đi hợp lý tại mắt lưới Z1,k, giá trị của B1,k vẫn bằng –1

Trang 13

Kết quả thu được là tất cả các B1,k , là các giá trị dương nếu tồn tại đường đi từ

Zo đến Z1,k và là các giá trị -1, nếu không tồn tại đường đi từ Zo đến Z1,k Tại bước này, nếu các giá trị B1,k dương, đường đi tới Z1,k sẽ được lưu lại là xuất phát từ Zo

Bước 13: Lặp lại các bước từ 6 đến 12, cho thời điểm thứ ba Với cách xác định, xem đường đi nào mang lại doanh thu lớn nhất B2,k cho mắt lưới Z2,k Tại bước 13, nếu các giá trị B2,k > 0, đường đi tới Z2,k, sẽ được lưu lại là đường xuất phát từ một trong các mắt lưới Z1,j nào đó thông qua so sánh

Trang 14

2.3.2 Mô hình tính toán hai hồ bậc thang

Tại mỗi bước tính toán (thời đoạn tính toán nằm giữa hai thời điểm tính toán liên tiếp), ví dụ nếu có hai hồ bậc thang, chương trình coi cặp số mực nước thượng lưu hồ trên và hồ dưới (Ztl_trên, Ztl_dưới) là một điểm đến từ nhiều điểm (cặp mực nước thượng lưu) từ thời điểm trước, và cũng xét tất cả các hướng có thể đến điểm đang xét Sơ đồ được minh họa ở Hình 2.3

Hình 2.3 Mô hình bậc thang tập hợp hướng đi ví dụ hai hồ

Kiểm tra lựa chọn giá trị gán vào các điểm mảng ở thời điểm j+1 khi xét độ_gia_tăng riêng biệt do các hướng khác nhau đến nó từ thời điểm j Ví dụ các

chỉ số được gán cho 2 hồ trong chương trình tính:

i là chỉ số năm; j là chỉ số thời đoạn trong năm; k1 là chỉ số mực nước hồ trên đầu thời đoạn; k2 là chỉ số mực nước hồ trên cuối thời đoạn; l1 là chỉ số mực nước hồ dưới đầu thời đoạn; l2 là chỉ số mực nước hồ dưới cuối thời đoạn

2.4 Mô hình tối ƣu cho các hồ chứa bậc thang

Hàm mục tiêu được thể hiện như sau:

𝑗=1

𝑁

𝑖=1

(2-12)

Trong đó: i là chỉ số năm; i = 1 ÷ N với N là số năm tính toán;

j là chỉ số thời đoạn trong năm; j = 1 ÷ M với M là tổng số thời đoạn trong năm;

Ngày đăng: 12/06/2021, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm