1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU THUYẾT “HOA hậu xứ MƯỜNG”VÀ “VƯƠNG QUỐC ảo ẢNH” của PHƯỢNG vũ NHÌN từ góc độ văn hóa

92 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù với hàng ngàn trang viết sâu sắc về người Mường, xứ Mường được giới dân tộc học đánh giá cao và coi như tư liệu tham khảo, nhưng tiểu thuyết của Phượng Vũ lại chưa hề có một nghiê

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MẠNH TIẾN

Hà Nội - năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự

hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Mạnh Tiến hướng dẫn

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính khoa học cũng như nội dung trích dẫn các tài liệu Luận văn

Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Ngọc Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Học viện khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Học viện

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy, cô giáo trong khoa Văn học, cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy TS

Nguyễn Mạnh Tiến, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn

động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của thầy đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè,

cơ quan nơi tôi công tác đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Ngọc Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC – VĂN HÓA VÀ TÁC GIẢ PHƯỢNG VŨ 6

1.1 Hướng tiếp cận văn hóa 6

1.2 Khái lược sáng tác của Phượng Vũ 21

Chương 2 VĂN HÓA TỘC NGƯỜI TRONG HAI TIỂU THUYẾT CỦA PHƯỢNG VŨ 29

2.1 Quan điểm, triết lí văn hóa của nhà văn Phượng Vũ 29

2.2 Xứ Mường Hòa Bình 31

2.3 Không gian văn hóa Mường Hòa Bình 34

2.4 Con người văn hóa 43

Chương 3 CÁC BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA PHƯỢNG VŨ 55

3.1 Các biểu tượng văn hóa 55

3.2 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Phượng Vũ 67

3.3 Giọng điệu trong tiểu thuyết của Phượng Vũ 76

KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Hướng tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa không phải là một hướng

tiếp cận mới, nói như Đỗ Lai Thúy “cũ như trái đất” Nhưng, so với các hướng tiếp cận

khác thì đây vẫn là một hướng tiếp cận tác phẩm văn học ra đời muộn hơn ở nước ta Tuy nhiên, văn học từ góc nhìn văn hóa giúp chúng ta có khả năng khai thác sâu giá trị nội tại của các tác phẩm, có cái nhìn vừa bao quát, sâu sắc toàn diện về đời sống văn hóa của cả cộng đồng dân tộc Vì thế, các nhà nghiên cứu thấy được tính khả dụng của

nó đã chọn cách tiếp cận này để hiểu sâu về văn hóa của các vùng, miền qua văn học

Muốn tìm hiểu về người Mường, nhất là vùng Mường Hòa Bình tôi đã chọn cách tiếp cận văn hóa qua tác phẩm văn học chính là một cách mở chìa khóa vào nền văn hóa Việt – Mường có ảnh hưởng rất lớn với quốc gia Việt Nam đa tộc người Văn chương viết về xứ Mường, ở những tác phẩm đỉnh cao, đồ sộ có những đóng góp không thể bỏ qua mà Phượng Vũ chính là một tiểu thuyết gia tiêu biểu nhất

đã thành công khi viết về người Mường và xứ Mường Với hai tác phẩm lớn là Hoa

hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh, Phượng Vũ đã kể về những sự kiện và nhân

vật ở xứ Mường trước và sau những ngày Cách mạng tháng 8/1945, kéo dài đến

1954, thời khắc quan trọng khi giới lang đạo cai trị vùng Mường đã sụp đổ hoàn toàn

Xứ Mường sau đó bước vào chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa Tác giả đã xây dựng được một bức tranh văn hóa Mường rộng lớn, với một số nhân vật sinh động có nội tâm và tính cách riêng, nhất là về bản chất của giới quan lang, xã hội với những luật lệ hà khắc đè nặng lên cuộc sống và tâm hồn người nông dân miền núi

Trang 6

2

Tác phẩm thông qua phản ánh sự biến chuyển cách mạng trong các tầng lớp quần chúng nông dân Mường trong và sau cách mạng tháng 8 Quá trình của những cán bộ Việt Minh, cán bộ Đảng thâm nhập vào quần chúng nhân dân, những người nông dân Mường đã trưởng thành, trở thành cốt cán của phong trào, có khả năng đương đầu với bọn quan lang âm mưu khôi phục lại "uy quyền”của quan lang ở nơi đây Thông qua câu chuyện lịch sử đầy biến cố về xứ Mường,tiểu thuyết của Phượng Vũ đã tái hiện lại sinh động địa lý phong tục vùng Mường Hòa Bình, một bức tranh sinh hoạt thường ngày, tâm tình con người Mường… mà thông qua đó, người đọc có được hiểu biết về xứ Mường Tiểu thuyết của Phượng Vũ đã làm rất tốt công việc của văn chương dân tộc chí

Mặc dù với hàng ngàn trang viết sâu sắc về người Mường, xứ Mường được giới dân tộc học đánh giá cao và coi như tư liệu tham khảo, nhưng tiểu thuyết của Phượng

Vũ lại chưa hề có một nghiên cứu chuyên sâu và công phu nào về ông và tác phẩm của ông Vì vậy, đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu, nhằm ít nhiều đóng góp vào sự hiểu biết về văn hóa Mường qua tác phẩm của Phượng Vũ, đóng góp vào nghiên cứu nền văn chương dân tộc chí còn ít được để ý ở Việt Nam hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về văn học ở góc nhìn văn hóa đã được hình thành và phát triển trên thế giới đã lâu, hướng nghiên cứu này nảy sinh từ những năm 50 ở Anh,Đức,Pháp sau đó lan sang Úc, Mĩ, Canada,…Nghiên cứu trọng tâm hơn của

E.B Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy xuất bản tại London năm 1871 đến

những nghiên cứu của Kroeber và C.Kluckhohn năm 1952, đưa ra những quan điểm

về văn hóa trong cuốn sách: Văn hóa – tổng luận phê phán các quan điểm và định

nghĩa Đến nghiên cứu của M.Bakhtin về văn hóa văn học trong những công trình

tiêu biểu của ông như Sáng tác của François Rabelais và văn hóa dân gian thời

Trung cổ và Phục hưng (1965) đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa và

văn học Phương pháp nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ngày càng nhận được

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, văn học trên thế giới

2.2 Ở Việt Nam các tác giả như: GS Đặng Thai Mai, GS Đào Duy Anh,

GS Nguyễn Văn Huyên, nhà phê bình văn học Hoài Thanh, GS Phan Ngọc, GS

Trang 7

3

Trần Đình Hượu, GS Phạm Vĩnh Cư, GS Trần Đình Sử, … đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa khi xem tác phẩm như một cấu trúc văn hóa, kí hiệu văn hóa, văn bản của văn hóa và đặt trong mối tương quan

so sánh với văn hóa Hiện nay nhà nghiên cứu phê bình văn học Đỗ Lai Thúy cũng đi theo hướng phê bình dưới góc độ văn hóa có phần sáng tạo và sinh động hơn làm tiền

đề cho những nghiên cứu trẻ sau này

Nhờ có những công trình mở đường của các bậc tiền bối về văn học từ góc nhìn văn hóa mà sau này có nhiều người nghiên cứu mạnh dạn áp dụng phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa cho các công trình nghiên cứu của mình

như: Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, PGS TS Lê Nguyên Cẩn, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2011; Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa, Luận án Tiến sĩ, Lương Minh Chung, Học viện Khoa học Xã hội, 2012; Văn chương Vũ

Bằng dưới góc nhìn văn hóa, Luận án Tiến sĩ, Đỗ Thị Ngọc Chi, Học viện Khoa

học Xã hội, 2013; Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa qua trường hợp tiểu

thuyết Nguyễn Xuân Khánh, luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Phùng Phương Nga, Học viện

định mình của một cô gái miền Nam tập kết, đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp

của mình thì bộ tiểu thuyết Đất Mường với hai quyển Hoa hậu xứ Mường và Vương

quốc ảo ảnh, Phượng Vũ cho người đọc những số phận người dân miền núi vượt lên

trên hoàn cảnh với những luật lệ hà khắc của chế độ lang đạo, thực dân để giải phóng chính mình Qua đó, ta thấy sự chuyển biến cách mạng trong tầng lớp quần chúng trong và sau Cách mạng Tháng 8 Nhờ sự soi sáng của Đảng và cách mạng có những người dân đã giác ngộ sớm và trở thành cốt cán của phong trào cách mạng của vùng Mường Hòa Bình

Trang 8

4

Phượng Vũ đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học nước nhà, là người thúc đẩy nêu gương cho phong trào sáng tác, là người in dấu đậm nét cho nền văn học viết về cuộc sống mới, con người mới đặc biệt vùng dân tộc Mường Hòa Bình Những trang viết của ông đã phản ánh được mặt xấu của xã hội từ truyện ngắn đến tiểu thuyết đồng thời cũng có những ca ngợi những nhân vật có ý chí, nghị lực vượt lên trên những khó khăn trước mắt, hòa mình trong nhưng không khí cách mạng chung của dân tộc để giải phóng bản làng, đất nước

Tuy có những đóng góp như thế nhưng những nghiên cứu, bài viết về sáng tác Phượng Vũ còn hạn chế - mới chỉ một số bài bài báo nhỏ lẻ, chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, xứng tầm về sáng tác của ông Với đề tài này tôi mong muốn đóng góp chút công sức để hiểu sâu hơn về sáng tác của Phượng Vũ nhìn từ

góc độ văn hóa qua hai tiểu thuyết quan trọng Hoa hậu xứ Mườngvà Vương quốc ảo

ảnh

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài: Tiểu thuyết “Hoa hậu xứ Mường”và“Vương quốc ảo ảnh”của

Phượng Vũ nhìn từ góc độ văn hóa” được triển khai nhằm những mục đích chính sau:

- Giới thiệu khái quát về tiểu sử và con đường văn chương của tác giả Phượng Vũ

- Khẳng định mối quan hệ giữa văn hóa - văn học

- Hiểu về văn hóa xứ Mường thông qua hai sáng tác của nhà văn

- Khẳng định nét độc đáo các biểu tượng văn hóa và ngôn ngữ trong sáng tác tiểu thuyết của Phượng Vũ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Hai tiểu thuyết“Hoa hậu xứ Mường”và “Vương quốc ảo ảnh”của Phượng

- Con người và văn hóa Mường Hòa Bình

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng kết hợp các phương pháp chính sau:

- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Nhìn từ văn hóa để tìm thấy những mối quan hệ phức hợp giữa văn hóa và văn học, sử dụng tri thức văn hóa để minh giải các nội dung phản ánh văn học, ở đây là hai tiểu thuyết của Phượng Vũ

Trang 9

6 Đóng góp của luận văn

- Ý nghĩa lí luận: Tiếp tục phát triển và khẳng định tính khả dụng của hướng nghiên cứu văn học nhìn từ góc độ văn hóa, nghiên cứu văn học như một sự kiện xã hội tổng thể

- Về thực tiễn:

+ Tìm hiểu về vùng đất, con người, văn hóa Mường và hai tiểu thuyết của

Phượng Vũ “Hoa hậu xứ Mường”và “Vương quốc ảo ảnh”

+ Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu, nhà giáo hoặc sinh viên, học sinh cũng như các bậc phụ huynh quan tâm tới sáng tác của Phượng Vũ và văn chương viết về tộc người thiểu số

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết thúc và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn triển khai thành 3 chương như sau:

Chương 1: Mối quan hệ giữa văn học – văn hóa và tác giả Phượng Vũ

Chương 2: Văn hóa tộc người trong hai tiểu thuyết của Phượng Vũ

Chương 3: Các biểu tượng văn hóa và ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Phượng Vũ

Trang 10

6

Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC – VĂN HÓA VÀ TÁC GIẢ PHƯỢNG VŨ 1.1 Hướng tiếp cận văn hóa

1.1.1 Tiếp cận văn học từ văn hóa

Đã từ rất lâu, văn học đã từng tồn tại dưới dạng nguyên hợp, bất phân giữa văn và tôn giáo, tín ngưỡng, triết học, sử hoc, trên nhữngbình diện tư tưởng và tình cảm Vì thế, văn học luôn tồn tại những yếu tố văn hóa Như PGS.TS Đoàn Đức

Phương khẳng định trong chuyên luận Phương pháp nghiên cứu văn học, phương

pháp tiếp cận văn hóa học là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhân diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm Còn Trần Nho Thìn viết trong cuốn

Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học như sau:

“Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải

mã các nghĩa của biểu tượng mà chủ yếu phải phân tích đời sống của biểu tượng trong xã hội, trong văn học, phân tích sự vận động của biểu tượng trong tiến trình lịch sử Đến lượt mình, biểu tượng không tồn tại độc lập mà thể hiện quan niệm về nghĩa, về giá trị của mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi tầng lớp”[37, tr.29] Như vậy,

nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa không chỉ tìm đến các biểu tượng để nhận diện giải mã mà biểu tượng luôn tồn tại các quan niệm về nghĩa, về về giá trị của thời đại dân tộc, tầng lớp nữa, từ đó chúng ta đặt ra nhiệm vụ đối chiếu so sánh truy nguyên các quan niệm văn hóa ở các thời đại, ở những thời điểm lịch sử nơi mà sản sinh ra tác phẩm và để tìm nguồn gốc của dạng thức quan niệm về con người, về không gian, thời gian được thể hiện trong tác phẩm văn học Vậy, khi nghiên cứu, chúng ta xem xét, đánh giá một hiện tượng văn học, thì phương pháp tiếp cận văn hóa học có những tiêu chí tương ứng về quan niệm, xã hội, các kiểu hình tượng xã hội được thể hiện trong văn học Bên cạnh quan niệm xã hội, và các kiểu hình tượng

xã hội thì không gian tồn tại của con người dưới góc độ văn hóa, quan hệ của con người với thiên nhiên và các hình tượng thiên nhiên, quan niệm về con người gắn với hoàn cảnh cụ thể cũng được nghiên cứu xem xét Thế nên, văn học tồn tại những yếu tố văn hóa là có từ rất lâu và việc nghiên cứu văn học dưới góc độ văn hóa là rất cần, nó cũng xuất hiện từ lâu như Đỗ Lai Thúy viết trong cuốn phê bình

văn học Con vật lưỡng thê ấy trong mục Phê bình văn học từ hệ thống văn hóa ông

có viết: “Phê bình văn học từ văn hóa, tự thân nó, là một câu chuyện cũ”[5, tr.241]

Trang 11

7

Nhà nghiên cứu nói “cũ như trái đất” quả là rất đúng, bởi nghiên cứu và phê bình

văn học từ hệ thống văn hóa không phải là mới mà đây chính là làm mới một đề tài

cũ, và đây không phải là thay đổi bản thân vấn đề mà thay đổi cái nhìn về nó, về văn học từ hệ thống văn hóa

Văn hóa là sức sống nội tại của mỗi dân tộc Một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là biểu hiện cao nhất của tinh thần độc lập tự chủ, là tiềm năng sáng tạo vô hạn của dân tộc đó Văn hóa Mường được thể hiện trong tác phẩm văn học Việt Nam cũng vậy Bởi qua những tác phẩm văn học, văn hóa Mường đã hiện lên làm phong phú cho nền văn học dân tộc ở nhiều mảng khác nhau cả về tinh thần và vật chất

Văn hóa (Trong tiếng Anh và tiếng Pháp là Culture) là khái niệm mang nội hàm rộng có rất nhiều cách hiểu và cách lý giải khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của con người Người ta có thể hiểu văn hóa như một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như là lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hóa như một trình độ học vấn

Theo định nghĩa văn hóa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể những nét

riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một

xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng”[35, tr.10]

Khái niệm văn hóa được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, văn hóa đều

là đặc trưng của văn hóa tộc người Theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng thể các thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần do các cộng đồng dân tộc sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội, nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người

Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu, theo chiều rộng, hoặc theo không gian, hoặc theo thời gian…giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa như: ăn ở, tục lệ…Còn văn hóa nghệ thuật như: múa hát, hội họa, …) còn giới hạn theo chiều rộng, văn hóa dùng để chỉ trong từng lĩnh vực( văn hóa kinh doanh, văn hóa ứng xử, văn hóa đọc…) Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng chỉ các đặc thùở các vùng, miền khác nhau (miền Bắc, miền Trung, miền Nam hay vùng đồng bằng, vùng miền núi…) Giới hạn theo thời gian như văn hóa Âu Lạc, Đông Sơn…

Trang 12

8

Ở nước ta, năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục

đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là là sự tổng hợp của các phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[28, tr.17]

Còn theo nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một thể

thống nhất các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn thông qua các mối quan hệ tự nhiên và xã hội”[33, tr.27]

Như vậy, ta thấy văn hóa chính là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo

ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác giữa xã hội và con người Văn hóa đánh dấu trình độ phát triển của con người và của xã hội, được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

Còn văn học, là loại hình nghệ thuật ngôn từ, phản ánh thực tại và những vấn

đề của cuộc sống xã hội và con người Văn học phản ánh tất cả các vấn đề văn hóa như: xã hội, vận mệnh, tiền đồ…của dân tộc, tinh thần của dân tộc Phương thức truyền tải văn hóa trong văn học chính là bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ văn học rồi hư cấu, xây dựng hình tượng, nội dung các đề tài được biểu hiện trong tác phẩm, nội dung tác phẩm văn học chịu sư quy định của các quan niệm văn hóa Trong văn bản văn học có ba phương diện (đối tượng) của văn hóa

Thứ nhất: Văn bản văn học phản ánh toàn bộ đời sống cộng đồng dân tộc, trong đó văn hóa như phần hợp thành quan trọng, ta dễ thấy nhất là các hoạt động văn hóa thể hiện trong văn học như: tập tục, lễ hội, lối sống của một cộng đồng, một thời đại nào đó

Thứ hai: Ngôn ngữ với tư cách là chất liệu tạo nên văn bản văn học, ví dụ như lời ăn tiếng nói dân gian hay bác học của nhân vật, cả các hình thức thể loại, các kiểu cốt truyện

Trang 13

9

Thứ ba: Văn bản văn học khi được công chúng tiếp nhận đã ảnh hưởng, tác động xã hội, đến tâm lí, sở thích cá nhân và cộng đồng, đôi khi tạo nên cả những phong trào xã hội Hoạt động của nó cũng là một hiện tượng văn hóa

Trong thể loại văn học phản ánh gián tiếp quan điểm cá nhân, tất cả các yếu

tố của tác phẩm đều liên quan với nó như tính chất các xung đột, sự phát triển cốt truyện, cả hệ thống hình tượng Như M Bakhtin cho rằng, thể loại là nhân vật chính của văn học, sự ra đời và tồn tại của nó có cơ sở ở văn hóa thời đại Mà văn hóa thời

cổ đại của những công xã thị tộc bộ lạc cho ra đời những thể loại thần thoại, với

những cuộc chiến tranh giữa chúng làm xuất hiện trong những anh hùng ca như

Illiat của Homer

Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ, nó bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường của nhà văn đối với đời sống

xã hội Nhưng văn học cũng phản ánh hiện thực nhưng là hiện thực trong ý nghĩa khách quan, phổ quát của chủng loại mà nó quan tâm được kết tinh trong sự vật và

từ những sự vật đó làm người đọc hiểu theo một nghĩa khác Ví dụ, nói đến mặt

trời, văn học nhiều khi không phản ánh nó giống như một hiện tượng của tự nhiên

để chiếu sáng cho con người mà nói đến nó là một hình tượng con người, đầy sự

yêu thương kính trọng Có một mặt trời trong lăng rất đỏ/ Ngày ngày dòng người

đi trong thương nhớ (Viếng lăng Bác, Viễn Phương) Văn học nói đến trăng không

phải với tư cách là một vệ tinh tự nhiên của hệ mặt trời, mà trăng là hiện thân của cái đẹp, là khuôn mặt đẹp, phúc hậu của con người: Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang (Truyện Kiều, Nguyễn Du) Trần Nho Thìn viết trong Phương pháp tiếp cận văn hóa

trong nghiên cứu giảng dạy văn học như sau: cùng một nghĩa, có thể có nhiều biểu tượng khác nhau Biểu tượng nhân cách nhà nho tài tử ngoài tùng còn cúc, trúc, mai Khảo sát ca dao, thơ Việt Nam, chúng tôi phân tích các biểu tượng diễn tả sự bị động của người con trai trong tình yêu nam nữ và nhận thấy có những biểu tượng sau: bướm (ong) – hoa, bến – thuyền (đò), sóng – bờ, trâu- cọc… Mặt khác, cùng một sự vật, người ta có thể khai thác các nghĩa biểu tượng khác nhau [37, tr.22]

Như vậy, văn học là một hiện tượng văn hóa, những tác phẩm văn học lớn tiêu biểu cho những giá trị văn hóa dân tộc, cốt tính dân tộc Chúng ta đều thấy hiện tượng những vị tổng thống Hoa Kì, khi đến Việt Nam trong các phát biểu thường

dẫn những câu thơ Kiều hoặc nhắc đến nhà thơ Hồ Xuân Hương, khi sang Nga họ

Trang 14

10

thường nhắc đến L Tolstoi, M Dostoevsky Đó không phải là sự “ngẫu hứng”, đó

là sự tôn trọng rất cao đối với văn hóa nước chủ nhà và sự ứng xử lịch lãm, rất văn hóa Văn học như vậy là một hiện tượng văn hóa đặc biệt

Vì vậy, luận văn này tôi chọn tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa để hiểu phần nào đó về dân tộc của mình, một dân tộc có bề dày lịch sử và góp phần tạo nên những đặc sắc đa dạng trong văn hóa người Việt nói chung và văn hóa người Mường nói riêng

qua hai tiểu thuyết của Phượng Vũ Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Văn học và văn hóa quan hệ với nhau như bộ phận và toàn thể, như cái hẹp với cái rộng, cái “trên”với cái “dưới” Văn hóa và văn học đều tồn tại như một hiện tượng của ý thức xã hội và là sự biểu hiện của tinh thần Nói cách khác chúng đều

có tính xã hội về hình thức và nội dung tinh thần, những hiện tượng không thuộc về

xã hội, không có ý nghĩa tư tưởng không phải là văn hóa Văn hóa và văn học đều thể hiện như hệ thống kí hiệu mang nội dung tâm lí, tư tưởng, trong đó kí hiệu của văn học là ngôn ngữ- lời nói (ngôn lời) của con người

Trong công trình Mĩ học sáng tạo ngôn từ, Nxb Nghệ thuật, Maxcova, 1989, tr.329, M.Bakhtin xác định: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn

hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại” Văn học được coi là sự “tựý thức văn hóa”[68, tr.2],

có nghĩa là trong văn học, luôn bộc lộ rõ nét bản chất của văn hóa một đất nước, dân tộc và những tác phẩm văn học luôn mang trong mình những biểu hiện văn hóa đặc trưng của một vùng, miền của một đất nước, mặc dù người viết có thể không ý thức là phải truyền tải văn hóa vào sáng tác của mình, nhưng văn hóa cứ tồn tại như một lẽ tự nhiên

Theo Trần Lê Bảo, “Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu

sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà

cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ”[68 tr.5]

Trang 15

11

Còn Trần Đình Sử đã khẳng định: “Văn học là bộ phận quan trọng của văn

hoá, sự giàu có của nó về nội dung và hình thức trực tiếp làm giàu cho văn hoá”[49, tr.1] Cũng theo Trần Đình Sử, việc sáng tạo ra khúc ngâm, truyện Nôm,

hát nói, thơ mới, kịch nói, tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại phải được xem “là

những hiện tượng sáng tạo văn hoá lớn lao của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ XX”[49, tr.3] Trong văn hóa, văn học có một vai trò rất quan trọng Văn học vừa

giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc vừa sáng tạo thêm những giá trị văn hóa mới cho nhân loại Bởi văn học luôn được coi là tấm gương phản chiếu văn

hóa, nhà văn là “người thư ký trung thành của thời đại”(Balzac) Trần Nho Thìn có viết : Văn học xét cho cùng phản ánh hiện thực, những mặt khác, sự phản ánh này

không đơn giản như việc cầm một tấm gương soi chiếu hiện thực đời sống mà nó chịu sự quy định của tính chủ quan của chủ thể thẩm mĩ Do tính chủ quan này, giữa hình tượng nghệ thuật và hiện thực cuộc sống thường không có sự trùng khít.Nghệ thuật không tự hạn chế mình chỉ trong việc tái hiện lại bộ mặt của hiện thực và cũng không cố tình xem các sáng tạo của mình chỉ như cái giống thực [37,

tr.34] Nhà văn tiếp nhận và tái hiện văn hóa thông qua những tác phẩm của mình

Ở mỗi tác phẩm văn học Việt Nam, những nét văn hóa đặc trưng của mỗi một vùng, miền đất nước lại được hiện rõ Ta bắt gặp một bức tranh đồng quê đậm chất Bắc bộ

trong chùm Thơ thu của Nguyễn Khuyến, văn hóa dân gian đa dạng sắc màu

trongsáng tác thơ văn của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, thấy được vẻ đẹp của một thời

đã qua trong tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, hay cách nói năng, suy nghĩ tiến bộ của người Hà Nội qua nhân vật cô Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội- Nguyễn Khải, rồi những tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh.“Văn hoá tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn

ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá Người đọc, với chân trời chờ đợi hướng về tác phẩm, cũng được rèn luyện về thị hiếu thẩm mỹ trong một môi trường văn hoá nhất định Chính không gian văn hoá này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức trong quá trình tiếp nhận Một nền văn hoá cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển Vì vậy, có

Trang 16

12

thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế”vừa lượng định, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hoá của một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định”[46, tr.20]

Theo Trần Nho Thìn, văn hoá là một hệ thống mở “nhân học văn hoá” Văn

hoá Việt còn là sản phẩm của sự giao lưu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, Ân Độ Bất kỳ một giá trị văn học nào cũng đều thoát thai từ một môi trường văn hoá, từ một đời sống văn hoá nhất định Những yếu tố văn hoá ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của tác phẩm Cách tiếp cận văn hoá học trong nghiên cứu tác phẩm văn chương sẽ giúp chúng ta khám phá chân lý nghệ thuật một cách đúng hướng hơn

“Về mặt thời gian, khi cái cũ chưa bàn giao cho cái mới, văn học có thể là nơi hội

tụ của những tìm tòi cho sự chuẩn bị chuyển tiếp thời đại Còn về mặt không gian, khi một địa bàn trở thành ngã ba đường của sự giao lưu văn hoá, thì văn học có thể

là nơi hoà giải của những xung đột tinh thần, nhằm tìm một tiếng nói cho sự chung sống giữa các nhóm người”[46, tr.23]

Như vậy văn hóa và văn học có sự tác động qua lại với nhau, gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình tồn tại và phát triển Nếu văn hóa chi phối hoạt động

và sự phát triển của văn học thì văn học có xứ mệnh phản ánh lưu giữ những giá trị của cuộc sống, hướng con người đến chân – thiện- mĩ Văn hóa chính là nền tảng của văn học còn văn học là bộ phận của văn hóa

1.1.3 Hiểu về văn hóa người Mường

“Mường”là tộc người lâu đời của Việt Nam Người Mường sống rải rác khắp

các vùng núi phía Bắc Việt Nam Dân số người Mường, theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê công bố năm 1989, ởkhắp đất nước Việt Nam mới chỉ có 914.396 người nhưng 10 năm sau, tức năm 1999, vẫn theo kết quả Tổng điều tra dân số của Tổng cục Thống kê công bố, thì người Mường đã tăng lên 1.137.515

người Năm 2009 người Mường đã là 1.268.963 người (cũng theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)

Tuy người Mường sống rải rác theo các vùng núi phía Bắc nhưng lại tập trung nhiều nhất là ở tỉnh Hòa Bình

Ở Hòa Bình được xem là cái nôi của người Mường Vì thế, số dân Mường sống tại tỉnh Hòa Bình luôn là đông nhất Theo điều tra nhân khẩu của Jeanne Cuisinier

từ năm 1936-1937 tỉnh Hòa Bình có 52.014 người Mường[10 tr.77] Theo tổng cục

Trang 17

13

thống kê đến năm 1999, người Mường ở Hòa Bình (479.197 người, chiếm 63,3% dân số của tỉnh) Người Mường, họ là chủ nhân lâu đời nhất của mảnh đất Hòa Bình, ngay từ thời xa xưa, người Mường đã cư trú ở khắp các huyện thị trên địa bàn tỉnh, nhưng mức

độ phân bố không đồng đều cả về số lượng người dân và mật độ phân bố Người Mường tập trung ở những khu vực có địa hình thấp, độ cao trung bình là 300m, và các trung tâm trù phú nhất của đất Mường như: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động Đây, chính là vùng Mường lớn ở Hòa Bình mà do các dòng lang lớn của người Mường cai quản như: Đinh, Quách, Bạch, Hoàng, Hà Giờ đây, những huyện mà có người Mường tập trung đông nhất chính là: huyện Lạc Sơn, huyện Kim Bôi, huyện Tân Lạc, huyện Mai Châu, Kì Sơn xong mới đến các huyện khác

Văn hóa Hòa Bình luôn mang một bản sắc đậm bản sắc dân tộc Mường xưa Người Mường luôn tự hào về văn hóa của mình, ngay tên gọi của họ đã thể hiện

điều đó Trong cuốn “Văn hóa Mường”của Trần Từ, NXB Dân tộc, 1978 viết khái niệm “Mường” (Mượng) vốn là một khái niệm chung cho cả Thái cổ truyền và xã

hội Mường cổ truyền Trong cả hai trường hợp, nó đều chỉ một vùng (gồm nhiều xóm) do một dòng họ quý tộc trực tiếp cai quản Mường, với tư cách tên dân tộc, là một cách gọi không chính xác: dân tộc chúng ta quen gọi là Mường, thực ra, tự xưng là “MỌL”(nghĩa đen: người) Tuy nhiên vì mấy chữ “dân tộc Mường” đã trở thành quen thuộc trong tiếng phổ thông, và dược dùng trong cả trong công văn giấy

tờ chính thức”(9,tr127) Theo Từ điển Mường- Việt, Nguyễn Văn Khang chủ biên,

NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội (2002) thì “MÕI” là “người Mường” Ví dụ: “Nả là Mõi” tức là “nó là người Mường” hay “Mõi ăn mày” tức là “Người ăn mày” “Mõi các cửa” tức là “Người gác cửa” “Ẻng đỉ là mõi hay cảy Chỡ?” tức là “Anh ấy là người Mường hay người Kinh?” Hay, “Mõi chi mà ác mằn đỉ” có nghĩa là “người

gì mà ác thế) Người Mường ngoài tên gọi là Mõi, theo biến đổi phương ngữ còn xưng là Mọi, Mol, Mual [20, tr.309-310]

Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danh như ngày nay Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùng danh từ này làm tên gọi cho dân tộc mình Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức Từ Chi hay Nguyễn

Từ Chi), Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường bao gồm nhiều làng Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang Qua sự tiếp xúc

Trang 18

và một số xã thuộc huyện Thanh Thuỷ, người Mường tự gọi mình là Mol, Monl Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau về mặt nghĩa Tất cả những từ mà người Mường dùng để chỉ dân tộc mình có nghĩa là người Do đó, Mường đã trở thành tên gọi chính thức và duy nhất của tộc người này để phân biệt với các dân tộc khác Tộc danh Mường đã được các tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu và nhân dân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứu gọi dân tộc người Mường

Cũng như các dân tộc khác, để lý giải về nguồn gốc của dân tộc mình, dân gian Mường ở Hòa Bình còn lưu giữ và truyền kể dân tộc mình bằng những huyền

thoại về sự xuất hiện dân tộc mình dưới dạng những áng Mo, truyền thuyết Truyền

thuyết của người Mường kể rằng: xưa kia, khi con người còn chưa xuất hiện, trời làm hạn hán, khô khan, cây cối khô mà chết, rồi trời lại mưa Một trận mưa to chưa từng thấy Nước chảy thành suối thành sông Đất lở bồi thành đồng bằng Đá lăn chất đầy thành gò thành đống, thành đồi thành núi Có một cây mọc lên rất đẹp, gọi

là cây si Cây si mọc lên từ núi đá, cây si lớn nhanh như thổi trở thành một cây cổ thụ, cành lá che kín cả bầu trời, bị một cơn bão lớn làm đổ Từ cây si bị đổ sinh ra một đôi chim, gọi là chim Ây và chim Ứa Chim Ây là đực, chim Ứa là cái Đôi chim Ây và Cái Ứa lại rủ nhau bay lên núi đá lấy cỏ làm thành tổ ở Hang Hao (nay

là hang Ma- Chứng- Điếng thuộc thôn Phú Nhiên, tổng Ngọc Hào, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) [6, tr.16] Cái Ứa đẻ ra trăm ngàn quả trứng Trứng chim nở ra thành muôn loài muôn vật Còn lại một trăm cái trứng thì nở ra con người Đó là người Mường và người Kinh Người Kinh xuống đồng bằng ở còn người Mường sống trên miền núi Người khởi đầu tiên của đất Mường là Lang Đá Cài, Lang Đá Cần, nàng Dạ Kịt Sau này Lang Đá Cần lên ngôi vua lấy em gái mình nhưng sinh con không nuôi được, Lang Đá Cần lấy vợ khác sinh được nhiều con trai và con gái Con trai thứ nhất thay cha lên làm vua (chính là vua Dịt Dàng sau này) những người con còn lại đã chia nhau thành bốn họ lớn của người Mường là: Đinh, Quách, Bạch,

Trang 19

15

Hoàng chính là tổ tiên của các quan lang xứ Mường Còn các cô con gáilàm vợ các quan lang ở các châu Dịt Dàng kế tục cha lên ngôi, có nhiều vàng bạc châu báu, lãnh đạo các quan Lang và dân Mường phát triển Như vậy, để giải thích cho cho sự

ra đời của dân tộc mình người Mường đã dựa vào truyền thuyết với những câu truyện li kì giống như Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ

Bên cạnh việc người Mường giải thích nguồn gốc của mình bằng Truyền thuyết

Ây và Ứa, thì người Mường xuất hiện cùng với tiếng nói để trao đổi thông tin, tạo ra tiếng nói riêng cho mình Người Mường không có chữ viết riêng, nhưng họ có tiếng nói của dân tộc mình, tiếng nói mang bản sắc của dân tộc Ngôn ngữ Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường trong ngữ chi Việt của ngữ hệ Nam Á Tiếng

Mường rất gần với tiếng Việt Theo Từ điển Mường-Việt, Nguyễn Văn Khang chủ

biên, NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội (2002), cách đọc và phát âm của tiếng Mường gần giống tiếng việt, có một số từ có dấu ngã, dấu nặng…đọc chệch đi, ví dụ:

Những từ không dấu trong tiếng Việt thì giữ nguyên là thành tiếng Mường như: Con, con chim, con voi, ăn, cho, tiêu pha= tiêu pha một số từ khác phụ âm đầu: tay = thay, đi= ti, đi, con dê= con tê

Những từ có dấu hỏi trong tiếng Việt cũng giữ nguyên: của cải= của cải, đểu= đểu, giả= giả

Những từ có dấu ngã thì chuyển thành dấu hỏi như: đã= đả, những= nhửng Những từ có dấu nặng thì chuyển thành dấu sắc: nặng= nắng (phát âm lại ~ nặng= nắăng, tận= tấn (tấân)

Những từ mà có âm "ặc, ịt, ặc, ục”thì giữ nguyên không chuyển dấu: đông đặc= đông đặc

Những từ có dấu huyền thì chuyển thành dấu sắc và ngược lại dấu sắc thì thành dấu huyền: nắng= đằng ( trời nắng= trới đằng)

Một số từ không theo quy luật: cây tre= cân pheo, xưng hô(chú=ô, cháu= xôn), nhìn (ngắm)= hẩu, trông thấy= hẩu kỉa, ở giữa= ở khừa

Phát âm nhiều khi bị chệch hoặc thêm một số âm đệm vào Ví dụ như phát âm chệch như từ: Anh = Enh “Anh có thấy cái còng vợt ở đâu không” (Enh ản đố cải còng

kha ớ no chăng) Hay ở = ớ, án mạng = ản mãng, anh tạo (một chức trong bản Mường)

= anh tão, áo choàng = ảo khoang… Phát âm thêm một số các âm đệm như: Bảy năm

Trang 20

ỉa = tị é, bố già = bố khà, thịt gà = thịt ca, người Kinh = người Đáo, vợ = cái, bông lúa, hoa lúa = trái bông cơn, người giúp việc cho nhà lang = ậu, người đứng đầu trong các

ậu = ậu cả, túi vải có quai đeo = thông, hoa dâm bụt = hoa chu chiênh, thắt lưng = tênh, cơm độn với củ nâu = cơm nâu, đi lấy nước= ti rác, nồi ninh = viêng, lúa = lọ, ruộng=

nà, để tang= để đem, nước mạch trong lòng đất phun lê = nước mó, dưới âm phủ = bên

ma, chim bồ câu rừng = chim gâu, hoa hồng bì = hoa vòng, chỗ lầy lội, lấm láp = rậm,

cỏ gianh = cỏ bái, bố = pộ, cửa chính vào nhà = cửa khoáng, chơi bời = nhởi, uống rượu = oỏng ráo, bánh dày = bánh xếp, các lang đạo lấy vợ con nhà thường dân = vợ nuôi, bồ đựng chăn = pồ ố…[29]

Về tổ chức xã hội của người Mường không giống như tộc người H’Mông, họ

có vùng tự trị riêng Người Mường tuy dân số đông và có nguồn gốc lâu đời nhưng

họ chỉ tồn tại thành vùng Mường trong tổng thể dân tộc Việt Nam Nhưng, về hình thái xã hội của người Mường xưa kia là xã hội Mường cổ truyền chịu sự lãnh đạo

của chế độ quan lang

Dưới chế độ quan lang, bản chất Lang cun Mường cũng có xấu, tốt Giống như quan lại vùng xuôi Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, dân Mường vẫn thích chế độ lang đạo hơn và không chịu sự quản lý của người Kinh, nên người Mường có chút cục bộ Vì vậy, khi nhà Nguyễn thành lập phế bỏ chế độ Lang đạo, đưa quan lại dưới xuôi lên cai quản vùng Mường liền xảy ra sự chống đối kịch liệt của nhân dân vùng Mường, như khởi nghĩa Lê Duy Lương, khởi nghĩa ở Thạch Bị, Sơn Âm Về sau vua Minh Mạng lại khôi phục chức chế độ Lang đạo Đặc biệt khi bắt được người cầm đầu, nhà Nguyễn chỉ phủ dụ chứ không giết

Trang 21

17

Ngày 23 tháng 6 năm 1892, toàn quyền Đông Dương ký nghị định tổ chức

bộ máy chính quyền ở Hoà bình Theo nghị định này, công việc toàn tỉnh do một hội đồng quan lang điều hành, gồm có 12 quan lang: sáu người do các lang cử ra, sáu người do công sứ Hoà Bình chỉ định Hội đồng mười hai quan lang do viên công sứ Pháp làm chủ tịch Hội đồng cử ra một chánh quan lang, một phó quan lang

và một viên đề đốc Chánh quan lang trông nom các công việc chung của tỉnh, phó quan lang có nhiệm vụ giúp việc chánh quan lang Còn viên đề đốc thì giữ việc chỉ huy lính dõng trong tỉnh

Chế độ lang cun và tồn tại đến sau cách mạng tháng 8/ 1945 Đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng chế độ lang cun hoàn toàn chấm dứt

Người Mường cũng có những món ăn ẩm thực đặc sắc, họ thích ăn các món

đồ, nướng như xôi đồ, rau đồ, cá đồ Nướng như thịt cá nướng rất thơm và ngon Những thứ gia vị đắng, cay, chua, ví dụ như: họ thích ăn những rau rừng có vị đắng như rau đắc đốm, lá chân chim, măng đắng…Vị chua như thịt muối chua, măng muối chua, lá sắn muối chua…khi đã chua họ đem ra nướng hoặc nấu với thực phẩm khác cùng các hương vị của hạt dổi, tiêu, ớt…, ăn rất ngon và hương vị đậm đà

Người Mường Hòa bình còn có đặc sản rượu Cần nổi tiếng,bởi cách chế biến

và hương vị đậm đà của men được ủ cùng ngũ cốc như ngô, sắn, gạo nếp, gạo tẻ…ủ trong một thời gian nhất định được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể Ở Hòa Bình những buổi sinh hoạt tập thể hoặc ngày lễ, tết không thể thiếu rượu cần, uống rượu cần trong những ngày đó như một nét văn hóa

Người Mường ở Hòa Bình, họ sống gần với người Kinh nên cách sống cũng gần giống với người Kinh Người Mường sống thành các bản làng (xóm, làng), có những ngôi nhà sàn nằm sát ven đồi tựa lưng vào đồi núi, trước mặt trông ra những cánh đồng xanh, tốt trông rất thơ mộng và lãng mạn Xung quanh nhà của người Mường trồng những cây ăn quả như mít, nhãn, vải, bưởi… hoặc trồng các cây hoa quanh năm đơm hoa kết trái, tạo ra không khí trong lành

Nhà ở của người Mường nói chung và người Mường Hòa Bình nói riêng là ở nhà sàn, nhà sàn được dựng theo kiểu truyền thống của người Mường, như thần Rùa

dạy trong truyền thuyết: “Bốn chân tôi là bốn cột cái/Hai mai tôi là hai mái

nhà/Xương sống tôi là đòn nóc/Chặt cây lim làm cột/Lạt buộc bằng cây giang/Cỏ gianh dùng để lợp”[30, tr.76] Nhà kiểu bốn mái, cột nhà bằng gỗ quý, được bố trí

Trang 22

18

rất khéo léo, tiện lợi, cho việc ăn, ở sinh hoạt Vật liệu làm nên ngôi nhà sàn của người Mường làm bằng gỗ, tre, nứa, cỏ gianh hoặc lá cọ Cột nhà chôn sâu xuống đất từ 70cm- 1m hoặc kê trên đá Vách ngăn và che xung quanh nhà họ dùng tấm đan bằng tre, nứa hoặc gỗ tùy theo điều kiện của từng gia đình Mái nhà sàn xưa lợp bằng cỏ gianh, lá cọ nên có đặc điểm mát về mùa hè, ấm về mùa đông Nhà sàn của người Mường có bậc cầu thang đi lên và thường được lấy số lẻ như: 5,7,9,11 Người Mường lấy số lẻ làm số bậc cầu thang là dựa vào quan niệm theo quy luật: vào-ra-vào, nên của cải sẽ vào nhà mà không ra đi làm cho nhà cửa trở nên giầu có, con cháu khỏe mạnh, gia đình êm ấm, hoặc theo quy luật của đời người: sinh, lão, bệnh, tử để mong cho con người sống trong gia đình đó luôn khỏe mạnh, sống lâu trăm tuổi Nhà sàn tùy theo diện tích nhà lớn hay nhỏ để mở số cửa sổ cho phù hợp, về cầu thang nhà sàn người Mường có hai cầu thang, cầu thang chủ và cầu thang khách Sàn nhà làm bằng sàn gỗ tự nhiên, phía dưới sàn người Mường xưa kia họ nuôi trâu, bò, lợn, gà (người Mường ngày nay đã bỏ làm chuồng nuôi ở dưới)

Điểm độc đáo ở nhà sàn Hòa Bình, trước khi bước lên nhà họ phải rửa chân bằng nước để ở cái chum, vò, vại được để ngay dưới cầu thang với quan niệm rửa sạch sẽ những bụi bẩn trước khi lên nhà

Như vậy, nhà sàn của đồng bào Mường là một biểu hiện sinh động của văn hóa vật chất Trong cấu trúc truyền thống, nhà sàn Mường là một kiến trúc đa năng, ngôi nhà thoả mãn nhiều nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của mỗi gia đình Kiểu dáng nhà sàn Mường cũng là một nét riêng làm phong phú thêm văn hoá nhà sàn của các dân tộc Việt Nam

Cưới xin, ma chay của người Mường đặc biệt người Mường ở Hòa Bình

cũng có những nét riêng biệt

Tục cưới xin của người Mường gần giống như người Kinh (chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới và đón dâu) Lễ vật của nhà trai đem đến cho nhà gái có trầu, cau,

rượu, lợn, gà…có ba lễ chính và những yêu cầu của nhà gái Còn con gái đi lấy

chồng phải tự sắm sửa và dệt chăn, gối mang về nhà chồng, và cho bố mẹ chồng

Còn ma chay cũng theo một tục lệ nhất định, khi người chết tắt thở được thông báo cho con cháu họ hàng, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải

Trang 23

19

Tang lễ do thầy mo chủ trì Hình thức chịu tang của con cái trong nhà không khác so với người Kinh, tuy nhiên con dâu chịu tang cha mẹ còn có bộ trang phục riêng, nhìn vào trang phục tang lễ người ta có thể nhận biết các thành viên trong gia đình Ví dụ: con trai con dâu, con gái chưa lấy chồng sẽ mặc áo và đội mũ, khăn trắng bằng đồ xô gai, con gái đã đi lấy chồng và và con rể, cháu, họ hàng…mặc áo

và bịt khăn tang mầu trắng bằng vải màn Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất

Sau khi chôn người chết, lấp đất kĩ họ lấy 4 viên đá to đẹp để dánh dấu phần

mồ của gia đình mình Bốn viên đá này rất quan trọng để tránh mất mồ mả Tìm được 4 viên đá coi như tìm được mả Ngày nay, ở Hòa Bình việc đánh dấu này đã không còn tồn tại, thay vào đó là những tấm bia ghi tên người mất đặt ngay phần đầu Người Mường ở Kim Bôi sau khi chôn họ còn làm nhà ma Người Mường ở huyện Lạc Thủy xưa người chết cũng được chia của với quan niệm người sống có gì người chết có đó, thứ mà họ chia của như nồi, xoong, bát, đĩa, quần áo…nên vào những năm 80 của thế kỷ trước một số vùng bị khai thác đồ cổ do từ văn hóa chia của cho người chết

Người Mường Lạc Sơn Hòa bình: sau khi chôn người chết, 3 đêm đầu vẫn để hương thờ, sau 3 đêm thì làm lễ cho đồ dùng…và đưa người chết về mồ về mả Đến

49 ngày thì làm lễ "thay màu áo" Tức là nhuộm áo tang chấm dứt mặc áo tang

Đám ma của người Mường Bi Hòa Bình, nếu tổ chức theo nghi lễ cổ truyền

là một chuỗi nghi lễ phức tạp và kéo dài đến 12 ngày đêm [30, tr117] Nhà văn

Phượng Vũ nghiên cứu trong cuốn Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi

thì đám hiếu được tổ chức phức tạp và kéo dài với nhiều thủ tục như lễ nghĩa như

thủ tục trao quần áo cho người chết ở ngày thứ nhất, ngày thứ hai làm lễ lống trùng

để xua đuổi những hồn ma đang lẩn khuất bên người chết, những ngày sau đó làn lễ

tâng dây để cát đứt dây dưa bệnh tật, truyền nhiễm cho con cháu sau này, rồi làm lễ nhập quan,lễ quạt mo, lễ nhương ăn, rồi đêm mo nhì họ ở ngày thứ 3, ngày thứ tư

đưa người chết ra mộ địa, sau đó cúng các lễ theo luật tục cho đến ngày thứ 12 Như vậy, điểm qua một vài nét động đáo trong đám ma của người Mường Hòa Bình, ta

đã thấy nhiều nét khác biệt tạo nên văn hóa của vùng Mường

Lễ hội, trang phục của người Mường cũng đáng để cho chúng ta phải quan tâm Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Sắc bùa, hội xuống đồng (Khung

Trang 24

20

mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới Còn

trang phục của người Mường cũng có nhiều nét độc đáo Họ đã tạo hình và phong cách thẩm mỹ trên trang phục của mình và có đặc trưng riêng Đàn ông thường là mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, có hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Quần của của đàn ông thường có ống rộng và dùng khăn thắt giữa bụng

Còn nữ giới, hằng ngày thường mặc áo pắn (áo ngắn) Đó là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, ống tay dài, áo màu nâu hoặc trắng, bên trong mặc áo yếm trắng Trên đầu người phụ nữ Mường họ thường đội khăn trắng, xanh Váy, thường là loại váy kín màu đen Nét đặc sắc trên trang phục của người Mường chính là những mảng hoa văn nổi lên giữa trang phục và cạp váy, ở phần thắt lưng Hoa văn trên cạp váy còn thể hiện đẳng cấp, con gái và bà nàng nhà lang sẽ mặc những váy có cạp váy với văn hoa rồng phượng, còn đàn bà, con gái dân thường chỉ được mặc cạp váy với hoa văn thường như kẻ vuông, hình quả trám Mỗi hoa văn lại có một cái

co này để sau này để nhấc lên, rồi xuyên chỉ để nó có màu trắng, màu đen hoặc màu

đỏ để nó kết hợp hoặc làm nổi bật con rồng bay Đây là nét hoa văn trên trang phục của người Mường

Người Mường có một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, đa dạng với nhiều thể loại như: Truyền thuyết, sử thi, thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ… Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi Cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù Đặc sắc nhất trong các loại hình này chính là những làn điệu của những bài dân ca Mường Dân ca Mường gồm nhiều thể loại như: Thường đang (hát mừng nhà mới), bọ mẹng (hát giao duyên), hay trường ca như Nàng Nga – Hai Mối,

Út Lót – Hồ Liêu Những lời ca trong dân ca Mường thường có câu 6 và câu 8 xen

kẽ nhau như một câu thơ lục bát của người Việt cùng những thang âm luyến láy

Trên đây khái quát sơ lược những văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc Mường nói chung và người Mường ở Hòa Bình nói riêng Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thiếu xót, nhưng phần nào gợi mở chút hiểu biết về dân tộc Mường Những đặc trưng về văn hóa vật chất và tinh thần người Mường Hòa Bình đã thể hiện khá nhiều trong hai tiểu thuyết của Phượng Vũ, ít nhiều giúp người đọc hình dung và lưu nhớ về một dân tộc Mường Qua đây, chúng ta cần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường ở các huyện có đồng bào Mường sinh sống không chỉ góp

Trang 25

21

phần xây dựng, phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho người dân mà còn góp phần thúc đẩy văn hóa xã hội ngày càng phát triển

1.2 Khái lược sáng tác của Phượng Vũ

1.2.1 Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp

Phượng Vũ (1937-2000), tên thật là Nguyễn Phương Tú, ngoài bút danh Phượng Vũ ông còn có bút danh khác như Từ Vân, Phương Lê Sinh ngày 23 tháng

7 năm 1937 Quê ở xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc ngoại thành Hà Nội) Xuất thân là một giáo viên cấp 2 dạy văn học, sau đó ông làm cán bộ tại ty Văn hóa tỉnh Hà Đông, rồi làm Trưởng phòng sáng tác của Sở văn hóa tỉnh Hà Sơn Bình (gồm Hà Tây, Hòa Bình, Sơn Tây)

Năm 1992 tái lập tỉnh Hà Tây, Nguyễn Phương Tú (Phượng Vũ) làm Giám đốc Sở Văn hóa- Thông tin và thể thao Hà Tây Khi thành lập Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hà Tây ông làm chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật, Tổng biên tập tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam

Phượng Vũ với niềm đam mê văn chương và có có duyên với nghiệp văn nên năm 21 tuổi ông tham gia cuộc thi sáng tác văn chương do tạp chí Văn nghệ tổ chức

và đạt giải ba với truyện ngắn Người nữ trưởng ga và được in trong tạp chí Văn

nghệ số 21 vào tháng 2 năm 1959 Từ đó, ông tạm biệt nghề dạy học và chuyển lên

ty Văn hóa Hà Đông (thuộc tỉnh Hà Sơn Bình cũ) làm công tác biên tập và sáng tác văn học Sau nhiều năm sáng tác ông đã có những đóng góp đáng kể vào kho tàng văn học Việt Nam ở nhiều thể loại khác nhau

Như vậy, Phượng Vũ đến với văn chương là một cái duyên và ông đã ghi dấu những trang văn của mình vào làng văn, là người đầu tiên của vùng Hà Tây đóng góp

trong sáng tác văn chương trong thời kì mới, đúng như Đặng Hiển đã nhận xét “Phượng

Vũ cũng là người lãnh đạo, thúc đẩy và nêu gương cho cả phong trào sáng tác của một vùng văn học Phượng Vũ là cánh chim đầu đàn của vùng văn học ấy”[2, 169 ]

Có lẽ, Phượng Vũ đến với văn chương là không chủ định, nhưng nghiệp văn

đã gắn với cuộc đời ông Phượng Vũ không chỉ sáng văn học mà còn nghiên cứu văn hóa, lịch sử, địa chí Hơn 40 năm sáng tác ông để lại cho đời một số lượng sáng tác không nhỏ, dù là cương vị là một thầy giáo, trưởng phòng sáng tác hay Giám đốc Sở Văn hóa thông tin Hà Tây Phượng Vũ vẫn miệt mài, hăng say trong công việc sáng tác văn học và nghiên cứu văn hóa lịch sử, địa chí về vùng đất Hà Tây,

Trang 26

Ghi chú

( tác phẩm dự thi)

Truyện ngắn

hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam

trên đồng cỏ

Truyện vừa

truyện ngắn

hóa TT

Hà Sơn Bình

đứa con

Truyện ngắn

1986

Sở văn hóa thông tin

Hà Sơn Bình

Lần1

Hoa hậu xứ

Mường(T1)

Hội nhà văn

Lần2 Nhiều tập

Xuất bản nhiều lần

Hoa hậu xứ Mường

thuyết

Trang 27

Sở văn hóa thông tin

Sở văn hóa thông tin

Sở văn hóa thông tin

Huyện Phú Xuyên

học nghệ thuật Sở văn hóa

Hà Tây

Phượng Vũ chủ biên

18

Văn học Hán Nôm

Hà Tây 10 thế kỉ

Sách sưu tầm, khảo cứu

Sở văn hóa thông tin

1

Trang 28

24

khảo cứu

học nghệ thuật Sở văn hóa

Hà Tây

Hồ Phương chủ biên

văn hóa cổ truyền

Mường Bi

Sách sưu tầm, khảo cứu

Sơn Bình: Vă hóa- Thông tin

giả, Phượng Vũ chủ biên

1.2.2 Quan niệm văn chương của Phượng Vũ Phượng Vũ

Bảng thống kê sơ bộ trên cho thấy Phượng Vũ có số lượng trước tác khá phong phú, trong cả tư cách nhà văn và nhà sưu tầm, khảo cứu

Cũng giống như các nhà văn khác cùng thời, Phượng Vũ cũng có những quan điểm sáng tác riêng, nhưng có lẽ những gì ông viết đều phản ánh cuộc sống đời thực Từ xã hội, con người, đến những nét văn hóa hiện lên như bức tranh cuộc sống Từ khen đến chê, từ tự hào đến nỗi xót xa đều dựa vào thực tế Tóm lại văn

chương của Phượng Vũ là phản ánh hiện thực Nhà thơ Đặng Hiển có nói: “những

nhân vật trong truyện của Phượng Vũ Thường lấy trong nguyên mẫu đời thường”,

ví dụ nhân vật Diễm trong truyện ngắn cùng tên của ông

Phượng Vũ có hơn 40 năm nghề cầm bút và có nhiều đóng góp ở nhiều thể loại khác nhau Với những sáng tác truyện ngắn Phượng Vũ đã đánh dấu công lao

của mình với giải ba tác phẩm Người nữ trưởng ga( 1959) đã kể về sự trưởng thành

và quyết tâm của một cô gái xinh đẹp, giỏi giang Miền nam tập kết luôn có lí tưởng,

ý thức phấn đấu làm chủ cuộc đời Còn trong tập truyện Người mẹ và những đứa

con với bút pháp hiện thực, ông dựng lên tượng đài người mẹ anh hùng đã dâng

hiến cho tổ quốc những đứa con thân yêu, coi các chiến sĩ cách mạng như con của mình làm nổi bật sự hi sinh vĩ đại của người mẹ, khiến người đọc cảm thấy rất xúc

động Và tác phẩm Diễm cho ta thấy một sự vượt lên sau những vấp ngã của của cuộc đời Còn truyện Tầm gửi, phản ánh những tồn tại của xã hội đương thời những

cán bộ bất tài nhưng luôn mưu lợi cho cá nhân

Tác phẩm được coi là lớn và có giá trị hơn cả trong sáng tác của ông chính là

bộ tiểu thuyết Đất Mường gồm hai quyển có tên Hoa hậu xứ Mường và Vương

Quốc ảo ảnh hơn một nghìn trang viết, quyển Hoa hậu xứ Mường ra đời lần đầu

Trang 29

25

năm 1984 và được xuất bản nhiều lần, tác phẩm đã phản ánh được cuộc sống người

dân dưới chế độ lang đạo và thực dân, tác phẩm Hoa hậu xứ Mường cũng được

chuyển thể thành kịch do Doãn Hoàng Giang đạo diễn Tác phẩm được nhà văn viết

về những biến cố lịch sử, con người ở vùng đất Mường Hòa Bình sau cách mạnh tháng 8/ 1945

Trong những trang viết của ông trong hai tiểu thuyết, người đọc không chỉ thấy những biến cố lịch sử của vùng đất mà còn thấy sự phân hóa nội bộ của chế độ quan lang, những số phận người dân Mường phải chịu cảnh bóc lột, đè nén lên cuộc sống và tâm hồn của họ dưới sự cai tri của chế độ quan lang và thực dân Pháp Tác phẩm người đọc phần nào cũng thấy được cảnh đẹp của thiên nhiên núi rừng và những phong tục tập quán của dân tộc Mường Hòa Bình

Để có được bộ tiểu thuyết Đất Mường, Phượng Vũ đã dày công tìm hiểu về

vùng đất, con người, văn hóa nơi đây Khi sáng tác bộ tiểu thuyết “Đất Mường”, Phượng Vũ đang công tác tại Ty văn hóa Hà Sơn Bình Ông đã nghiên cứu, tìm hiểu sưu tập nhiều về văn hóa người Mường, ông đã đi đến những địa danh của cái nôi văn hóa Mường như: Mường Vân, Bi, Vang, Thàng, Động…tìm hiểu, sưu tầm viết

lên bộ tiểu thuyết Đất Mường hơn 1000 trang Sự hiểu biết của ông về người

Mường, đất Mường còn thể hiện ngay ở việc ông là chủ biên cho những nghiên cứu, sưu khảo sâu về văn hóa Mường được giới nghiên cứu dân tộc học đánh giá cao, coi

như tư liệu gốc mà tiêu biểu nhất là Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường

Bi– Mường lớn và quan trọng nhất của xứ Mường Hòa Bình

Bên cạnh những trang viết về truyên ngắn, tiểu thuyết Phượng Vũ còn có nhiều đóng góp ở những thể loại khác nhau

Về địa lí, lịch sử, văn hóa ông có tác phẩm Địa chí Hà Tây một quyển sách

viết về 9 vấn đề của: Điều kiện tự nhiên dân cư, dân số, đất đai và phần lịch sử Hà Tây từ tiền sử đến nay Kinh tế du lịch, danh lam thắng cảnh, y tế giáo dục, những thành tựu văn hoá khoa học kỹ thuật, văn học, tôn giáo và và tập quán văn hoá, Hồ

Chủ Tịch với nhân dân Hà Tây , Lễ hội cổ truyền, cuốn sách lựa chọn và giới thiệu

những lễ hội tiêu biểu của Hà Tây Hội Bối Khê, Hội Đền Và, Hội Chùa Hương, Hội chùa Thầy, Hội làng Khê Thượng, lễ hội Vân Sa v.v… Nội dung sách tập trung miêu tả diễn biến của các lễ hội đi sâu vào những trò diễn, lễ thức đặc sắc có giá trị

văn hóa trên địa bàn của tỉnh Hà Tây (cũ) Hà Tây Làng nghề- làng văn, giới thiệu

Trang 30

hóa cổ truyền Mường Bi, đây là cuốn sách nghiên cứu của nhiều tác giả mà Phượng

Vũ là chủ biên viết về nền văn hóa cổ truyền Mường Bi, đã kết đọng vốn liếng vật chất, tinh thần của nhiều thời đại lịch sử đã đi qua về văn hóa cổ truyền, dân ca, tục ngữ, truyện cổ

Với những đóng góp của Phượng Vũ ở nhiều lĩnh vực đã có nhiều tác giả nổi tiếng đã có bài viết nói đến công lao của Phượng Vũ như nhà thơ Đặng Hiển có bài :

Phượng Vũ – cánh chim đầu đàn của văn học xứ Đoài (Tiểu luận của Đặng Hiển)

Trong cuốn Nhà văn Việt nam hiện đại (NXB Hội nhà văn, 2010), đã khái quát cuộc

đời và những tác phẩm tiêu biểu của Phượng Vũ Nhà thơ Nông Quốc Trấn, Tô Đông

Hải có những bài viết về Phượng Vũ như Folklore trong tiểu thuyết “Hoa hậu xứ

Mường” của nhà văn Phượng Vũ Tác giả giới thiệu qua về tiểu thuyết Hoa hậu xứ

Mường, phân tích và trích dẫn một số đoạn để chứng minh rằng phônclo có mặt trong

tiểu thuyết này và là một bộ phận hữu cơ của đời sống các nhân vật trong tiểu thuyết

Tuy Phượng Vũ có nhiều đóng góp trong sáng tác, nhưng trên thực tế vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, hay luận văn, luận án nào viết về Phượng

Vũ Đơn cử như luận án tiến sĩ của Bế Thị Thu Huyền với tiêu đề Tiểu thuyến của

các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa cũng

nhắc nhiều đến các nhà văn viết về người miền núi cả cử dân tộc đa số nhưng không nhắc đến tên nhà văn Phượng Vũ Vì vậy, luận văn này tôi muốn có một chút đóng góp nho nhỏ để nghiên cứu công lao, thành tựu của nhà văn Phượng Vũ trong hai tiểu

thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh nhìn ở góc độ văn hóa

1.2.3 Tác giả Phượng Vũ trong dòng văn học viết về miền núi

Hơn nửa thế kỉ qua, dòng văn học viết về đề tài miền núi đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển văn học Việt nam Với những đóng góp của các nhà

văn tên tuổi như Tô Hoài với “Vợ chồng A Phủ”; Thu Bồn với “Bài ca chim Chơ rao”,

Ma Văn Kháng với “Xa Phủ”, “Đồng bạc trắng hoa xòe”, Cao Duy Sơn với “Đàn

trời”, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với “Những ngọn gió Hua Tát”…Thì mảnh đất Hà

Tây (cũ) có nhà văn Phượng Vũ cũng có nhiều đóng góp cho văn chương hiện đại nói

Trang 31

27

chung và đặc biệt văn chương miền núi, nhất là người Mường Hòa Bình với tiểu thuyết

Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh và một số nghiên cứu khác

Ông nổi tiếng với bộ tiểu thuyết Đất Mường sau đổi là Hoa hậu xứ Mường và

Vương quốc ảo ảnh được ra đời vào năm 1984 Sau cuộc cách mạng giải phóng dân

tộc văn chương nhanh chóng tìm được nguồn cảm hứng mới, hướng thể hiện mới đó là

cuộc hồi sinh kì diệu, như Hoài Thanh nói “cuộc tái sinh mầu nhiệm”của đất nước và

con người Nhà văn Phượng Vũ cũng bắt nguồn từ cảm hứng đó đã tìm đến văn học miền núi để dồn tâm huyết cho việc tái sinh lại những sự kiện tại đất Mường sau cách mạng tháng 8 năm 1945, hai thuyết là sự hiện thực hóa các vấn đề mà nhà văn còn trăn trở Với sự thay đổi của đất nước ảnh hưởng đến đồng bào miền núi, đặc biệt dân tộc Mường Hòa Bình Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú, sự hiểu biết sâu rộng về vùng đất, dân tộc Mường Ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của người dân dưới ách áp bức nặng nề của kẻ thù thực dân phong kiến Phượng Vũ đã xây dưng được một số nhân vật sinh động đại diện cho cả hai mặt, phản ánh đúng tính chất, đặc điểm tính vùng miền Điểm đáng chú ý nhất trong các tiểu thuyết này của ông là hàng loạt những chi tiết đầy giá trị về mặt dân tộc học, văn hóa Mường Hòa Bình ở mọi mặt đời sống, tâm tình đã được tái hiện, sinh động và chân thực Chính kho dữ liệu đồ sộ này về văn hóa Mường trong tiểu thuyết của ông có một giá trị đặc biệt trong việc hiểu con người văn hóa Mường Hòa Bình

Bên cạnh hai tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh, Phượng Vũ còn có đóng góp vào văn chương miền núi với nghiên cứu Người

Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi Đây là cuốn sách, là một công trình

nghiên cứu của nhiều tác giả, mà Phượng Vũ là chủ biên Cuốn sách nghiên cứu nền văn hoá cổ Mường Bi, kết đọng vốn liếng vật chất, tinh thần của nhiều thời đại lịch sử đã đi qua: Văn hoá cổ truyền, dân ca tục ngữ, truyện cổ Ngoài ra, ông cũng có nhiều bài đăng báo thể hiện sự quan tâm, nghiên cứu về đề tài miền núi

như Cuộc vận động viết về vùng dân tộc miền núi

Người ta nói: “Dao có mài mới sắc”, với sự cần mẫn, bền bỉ, dẻo dai, không

ngừng học hỏi và sự tích lũy, tự vượt mình để sáng tạo đó chính là điều làm nên bản lĩnh và tài năng nghệ thuật của Phượng Vũ Với những thành tựu to lớn đã đạt được sau gần nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Phượng Vũ xứng đáng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, là tấm gương lao động nghệ

Trang 32

28

thuật cho văn nghệ sĩ Mong sao người đọc hiện nay và mai sau có lẽ sẽ biết đến tên tuổi và những đóng góp to lớn của Phượng Vũ đối với nền văn chương dân tộc, đặc biệt văn chương viết về miền núi qua những sáng tác của ông

Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa luôn có mối quan hệ khăng khít Vì vậy, văn học không chỉ là bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối trực tiếp của văn hóa mà còn là một phương tiện để lưu giữ và truyền tải văn hóa Trong hai tiểu thuyết của Phượng Vũ, văn hóa Mường hiện lên gắn với một không gian truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc

Ngoài làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê những sáng tác của Phượng Vũ để có cái nhìn sơ lược về những đóng góp của Phượng Vũ ở các thời kì, từ đó người đọc thấy được công lao

to lớn của Phượng Vũ cả về văn hóa và văn học đặc biệt văn hóa dân tộc Mường Hòa Bình

Trang 33

29

Chương 2 VĂN HÓA TỘC NGƯỜI TRONG HAI TIỂU THUYẾT CỦA PHƯỢNG VŨ

2.1 Quan điểm, triết lí văn hóa của nhà văn Phượng Vũ

Từ xưa đến nay có rất nhiều các quan niệm văn hóa khác nhau Trần Nho

Thìn viết trong Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng dạy văn học

[37], đã thống kê rất nhiều quan niệm văn hóa của các nhà nghiên cứu như:

Năm 1959, Leslie Alvin White cho rằng văn hóa là biểu tượng, các sự vật, hiện tượng hay hành động có gắn với năng lực tạo ra biểu tượng của con người

“Trong nhiều lớp sự vật, hiện tượng mà khoa học hiện đại nghiên cứu có một lớp

chưa có tên gọi Đó là lớp hiện tượng gắn liền với năng lực cấp cho tư tưởng, hành động, các sự vật ý nghĩa tượng trưng và năng lực tiếp nhận các biểu tượng vốn là năng lực chỉ con người mới có Chúng tôi đề nghị gọi lớp sự vật, hiện tượng gắn liền với sự biểu tượng hóa là lớp các biểu tượng”[37, tr16] Với quan niệm này, Leslie

Alvin White coi văn hóa chính là hệ biểu tượng Dựa vào quan niệm này, ta thấy nhà văn Phượng Vũ đã dựa vào biểu tượng mà cung cấp cho người đọc về các sự vật, hiện tượng gắn liền với văn hóa của người Mường Hòa Bình Những thông điệp về văn hóa mang chiều sâu của quá khứ tộc người, vùng đất thông qua những hệ thống hình ảnh phái sinh của biểu tượng trong hai tiểu thuyết của mình Vậy, biểu tượng trong thế giới tiểu thuyết của Phượng Vũ ở đây là gì? Chính là các yếu tố vật chất và tinh thần tạo nên văn hóa của người Mường Hòa Bình như: trống đồng, xanh đồng, cồng chiêng, thổ cẩm…, còn biểu tượng tinh thần được thể hiện qua các truyền thuyết, văn học dân gian, các lễ hội như vua Dịt Dàng, cây si…Tất cả các biểu tượng này đều chứa các hiện tượng văn hóa do con người tạo nên để ghi dấu những nét riêng biệt của người Mường Hòa Bình trong hai tiểu thuyết của ông

Hofstede lấy hình ảnh các lớp của vỏ của củ hành để hình dung các thành tố của văn hóa Lớp vỏ ngoài cùng là biểu tượng (symbol), lớp tiếp theo nữa là các nhân vật tiêu biểu (heroes), lớp vỏ thứ ba là nghi lễ (ritual) và lớp nữa thuộc về quan niệm về giá trị (value) [27, tr 17] Có lẽ quan niệm này rất đồng quan điểm về văn hóa của Phượng Vũ, vì thế, hình ảnh các lớp củ hành đã lần lượt hiện ra ở hai

tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh Đầu tiên ta đọc Hoa hậu xứ

Mường, ta cảm nhận được văn hóa Mường hiện lên trong văn hóa sinh hoạt của nhà

Trang 34

30

lang đạo, rồi từ đó mở ra những nét văn hóa khác nhau trong các biểu tượng, như cảnh quan nhà lang, như văn hoa cạp váy, như ăn uống, tín ngưỡng, lễ hội, cồng chiêng… của người Mường Với Phượng Vũ, biểu tượng văn hóa vừa mang biểu hiện của sự vật có tính vật chất như trống đồng, xanh đồng, cồng chiêng, nhà sàn thể hiện quyền lực, giầu có… của nhà lang, thì biểu tượng văn hóa còn mang chức năng biểu hiện một tư tưởng, một ý nghĩa trừu tượng đó là những cái không có tính vật chất như lễ hội, lễ cụng mùa, lễ kéo si, hát …và từ biểu tượng văn hóa vật chất

và tinh thần ta cảm nhận được những giá trị văn hóa của người Mường thông qua

biểu tượng đó Đúng như Trần Nho Thìn đã nhận xét: Một biểu tượng có thể chứa

đựng nhiều nghĩa và một nghĩa có thể được diễn tả bằng nhiều biểu tượng [37,

tr18] Mỗi một biểu tượng là một tự sự về văn hóa, có cả một lịch sử đứng sau nó và

từ lịch sử đó chúng ta hiểu về sự việc, con người, xã hội, dân tộc Hình ảnh xanh đồng được nhà văn Phượng Vũ giới thiệu khi miêu tả về quyền thế của nhà lang Xanh đồng đặt trên trụ nằm giữa trung tâm của khu nhà lang, xanh đồng rất to, về

sự vật con người ta có thể nhìn thấy và có thể dùng như một vật dụng của cuộc sống

mà như nhà văn nói: có thể luộc ba con trâu một lúc Ngoài ra, hình ảnh xanh đồng này còn biểu tượng cho quyền lực, giầu có, quyền thế của nhà lang Hay, hình ảnh cồng chiêng cũng biểu tượng trong văn hóa Hòa Bình, cũng được Phượng Vũ giới thiệu trong tiểu thuyết của mình với tư cách là vật dụng biểu tượng quyền uy của các nhà lang trong những ngày lễ, tết…Trong đời sống xã hội Mường, cồng chiêng đảm nhiệm một vai trò rất quan trọng và có tác dụng về nhiều mặt như: để gây không khí rộn rã, tưng bừng, náo nhiệt trong hội hè, xắc bùa, cưới xin, đón rước…, trang nghiêm trong cúng bái, buồn thảm trong tang lễ Cồng chiêng còn thay mệnh lệnh, như chiêng triệu tập, hiệu lệnh Cồng chiêng còn tăng uy thế, khích lệ lòng dũng cảm, gây hào hứng động viên trong các cuộc đi săn, kéo gỗ…Cồng chiêng còn tượng trưng cho quyền lực như chiêng nhà lang, chiêng nhà thờ, chiêng mo Hay những tri thức dân gian được từ đời này sang đời khác cũng được Phượng Vũ góp nhặt và đưa vào trong tiểu thuyết của mình, chẳng hạn như biểu tượng cây si Bởi

lẽ, cây si xuất hiện trong truyền thuyết lí giải nguồn gốc người Mường, cây si có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người Mường nên cây si là biểu tượng cho sự may mắn, nên hẹn hò yêu nhau cũng ở gốc si, muốn khỏi ốm thì cúng si, muốn thoát cảnh nghèo đói cũng cúng si Cây si là vật biểu tượng cho yếu tố tinh

Trang 35

2.2 Xứ Mường Hòa Bình

Hòa Bình từ lâu đời được coi là vùng đất cổ người Mường, ở đây có các Mường lớn như Bi, Vang, Thàng, Động và nhiều Mường nhỏ châu tuần Xứ Mường Hòa Bình xa xưa được biết đến một chỉnh thể địa lý tộc người mang đậm bản sắc văn hóa Mường Người ta biết đến tỉnh Hòa Bình với hình ảnh con sông Đà hung

dữ và trữ tình trong áng văn của Nguyễn Tuân, họ còn biết đến Hòa Bình với công trình thủy điện được bắc trên con sông hung bạo và trữ tình đó để cung cấp cho cả nước dòng điện thắp sáng và còn biết Hòa Bình là cái nôi của văn hóa Đông Sơn

Xứ Mường Hòa Bình được hình thành từ rất lâu: “từ buổi Chi Quyên Chạp và

Chi Quyên Chò cầu xin Lang Đá Cần lên làm lang các xứ Mường và làm vua vùng xuôi, dân chúng cư xử chân thành đối với lang Lang coi dân như con Cho nên, dân làng luôn luôn giữ kỉ niệm về những việc làm tốt do viên lang đầu tiên đã đem lại cho họ”[6, tr.29] Theo P Grossin viết trong quyển Tỉnh Mường Hòa Bình thì Lang Đá

Cần là người đầu tiên dạy dân, ông sống vào thời Hùng Vương, ông có công khai phá vùng Mường, dạy cho dân Mường biết kiếm cái ăn để sống, biết dùng lửa để giữ ấm và nấu ăn Thổ lang cũng đã hình thành và phát triển tại đây, trên đất Mường Hòa Bình

Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua (năm 968) thì trong nghiệp bá vương của ông, Đinh Tiên Hoàng được các thổ lang giúp đỡ, nên khi lên ngôi vua, nhà vua đã chiếu cho các quan lang ở xứ Mường được cha truyền con nối, các lang phải nộp thuế ba tháng một lần, các quan lang còn thay nhau vào chầu vua, mỗi người chầu

ba tháng một lần [6, tr.30]

Đến Thời vua Lê Đại Hành, quan lang nộp thuế cho vua bằng cống vật, vua cũng ban tước hiệu cho quan lang như các triều đại trước, con trai trưởng được làm lang cun, con trai thứ được làm thổ đạo

Dưới thời Lý Thánh Tông, các thổ lang giúp vua đánh giặc, quan lang cũng được thưởng nhiều tước hiệu như: công, hầu, bá, chỉ huy sứ, kinh lược sứ, phụng

Trang 36

32

ngự sử, phò mã…vua còn sai thợ đúc nhiều trống đồng để cho các thổ lang, thế nên chiếc trống đồng cũng được coi là biểu tượng của các nhà lang, sự sở hữu trống đồng chứng tỏ chủ của nó là thổ lang

Dưới thời Hồ Quý Ly, thì bắt tất cả các thổ lang, thổ ty, phụ đạo, đàn bà con gái, của cải về chầu vua

Thời Mạc Đăng Dung, có sắc chỉ ban tước hiệu và đặc quyền cho các lang,

có quan lang theo giúp đỡ vua được ban chức “Cẩm thị vệ”

Thời Lê- Trịnh, các thổ lang chỉ khi nào có lệnh mới phải về chầu vua

Khi nhà Tây Sơn lên ngôi thì các thổ lang, thổ thổ ty, phụ đạo phải đích thân vào lạy và mừng nhà vua Các tước hiệu, thưởng vật cũng được hưởng như thời Lê [6, tr 32]

Dưới thời Thế tổ Cao Hoàng Đế, các thổ lang, thổ ty và phụ đạo ở khắp nước vào mừng nhà vua, vua ban thưởng chức tước và đặc ân như thời Lê

Năm thứ 14 dưới triều vua Minh Mạng, tả quân Lê Văn Duyệt đã xúi các thổ lang làm loạn Thổ lang làng Sơn Âm, làng Yên Lương thuộc tổng Chiêm Hóa, châu Lạc Thủy là Quách Tất Công xúi dục các thổ lang Lạc Sơn, Quảng Tô, … chống lại chính phủ Nam Triều, tái lập nhà Lê cho một người con cháu nhà hậu Lê, đó là Lê Duy Lương đang ẩn náu vùng Lạc Sơn Triều đình đã cử Hà Duy Phiên làm chánh khâm sai

và Tạ Quang Cự làm phó khâm sai, đi bắt Quách Tất Công và các thổ lang ở Mường Bi

và đưa người đứng đầu cuộc nổi loạn về triều đình quy thuận chứ không giết [6, tr.33]

Sau cuộc nổi loạn này, nhà vua đã tước bỏ mọi đặc quyền của các thổ lang và phụ đạo, song dân chúng vẫn yêu thương, trung thành, đùm bọc và che chở còn giấu các quan lang vào rừng

Triều đình Minh Mạng năm thứ 18, châu Lạc Sơn gồm 24 làng, nhưng các xóm của các làng nơi đây lại lớn nên bị chia nhỏ thành 50 làng Làng Sơn Âm, nơi

mà các thổ lang nổi loan chống lại triều đình dân đều bị đuổi đi hết, mãi sau này mới được trở về làng cũ

Khi Tự Đức lên ngôi mới phục hồi các quyền và đặc ân cho các thổ lang và được ban thưởng các chức lãnh binh

Sau này, người Mường cùng nhân dân cả nước tham gia bảo vệ và lao động xây dựng đất nước Đến thời kì Pháp thuộc, người Pháp vẫn trọng dụng họ đặc biệt các quan lang vẫn cho họ được giữ các chức vụ và đặc quyền

Trang 37

xứ Mường, giữ các chức như án sát, bố chánh, lãnh binh hay đề đốc Lỵ sở là Chợ

Bờ (Hòa Bình) là nơi đóng dinh của quan tuần phủ Mường và các nhà chức trách của tỉnh Ngày 29/11/1886 tòa phó sứ quyết định chuyển li sở từ Chợ Bờ về Phương Lâm (nay là trung tâm thành phố Hòa Bình), lúc này ông Paul Bert chết đột ngột ở

Hà Nội vào ngày 11/11/1886,nên ngày 29/11/1886 ông Moulié phó sứ hạng hai được chỉ định nắm quyền chỉ đạo tỉnh này[6, tr.36,37]

Ngày 29/11/1896, tỉnh lỵ tỉnh Mường chính thức được chuyển về đóng tại Phương Lâm Hòa Bình, phía bờ trái sông Đà, đối diện với Phương Lâm Từ đó, tỉnh Mường được gọi là tỉnh Hòa Bình với 4 châu: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn và Mai

Đà (Huyện Lạc Thủy lúc này thuộc châu Lạc Sơn)

Năm 1908 chuyển về tỉnh Hà Nam Từ đó, địa giới hành chính cơ bản ổn định Đến tháng 5/1953, huyện Lạc Thủy cùng một số xã thuộc Nho Quan, Ninh Bình chuyển về tỉnh Hòa Bình

Từ năm 1950, các châu được đổi thành huyện và các đơn vị hành chính huyện của tỉnh Hòa Bình

Ngày 27/12/1975, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa V đã ra nghị quyết hợp nhất tỉnh Hòa Bình với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình Và theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 9, ngày 12/8/1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách ra thành 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Tây Khi đó, tỉnh Hòa Bình có diện tích 4.697 km với dân số 670.000 người gồm 10 đơn vị hành chính: 1 thị xã Hòa Bình và 9 huyện: Đà Bắc, Mai Châu, Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Kim Bôi, Tân Lạc, Yên Thủy

Như vậy, trên đây đã khái quát một cách sơ lược về một vùng Mường, tỉnh Mường Hòa Bình Nhìn một cách tổng thể, người Mường không có một nền hành chính tự trị, cũng không có biên giới tự nhiên Và họ lựa chọn các cao nguyên và

Trang 38

34

sườn đồi để dựng làng, sự ưa thích của họ là cảnh suối chảy xiết hơn là sông rộng,

và sự có mặt của các núi đá trong các vùng có người ở [16,tr 59] Người Mường đã trải qua một quá trình để hình thành, phát triển khá dài với những biến cố và những thành tựu đáng được ghi nhận

Nhà văn Phượng Vũ viết hai tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc

ảo ảnh khi Hòa Bình sát nhập với Hà Tây có tên tỉnh Hà Sơn Bình, nên những vốn

hiểu biết về văn hóa, lịch sử diễn biến theo trình tự thời gian và được nhà văn truyền tải khá rõ trong tác phẩm của mình Qua khảo sát và nghiên cứu, tác giả đã thể hiện, cung cấp cung cấp cho người đọc những tri thức cơ bản về vùng Mường

Họ là cư dân bản địa, có nguồn gốc lâu đời, là chủ nhân đầu tiên của vùng đất Hòa Bình

2.3 Không gian văn hóa Mường Hòa Bình

2.3.1 Địa lí và cảnh quan bản Mường

Người Mường thường sống ở gần đồi, núi và các thung lũng ép mình vào những dãy núi vàhai bờ sông Đà và khu vực trung lưu của sông Mã, sông Bưởi Người Mường tập trung sống nhiều nhất ở tỉnh Hòa Bình Nhà văn Phượng Vũ là một nhà văn của miền xuôi nhưng rất am hiểu văn hóa con người tập tục người Mường, đất Mường Những đặc điểm địa lí, cảnh quan của đất Mường Hòa Bình được Phượng Vũ khéo léo đưa vào tiểu thuyết, một cách uyển chuyển và hợp lý, để làm nổi bật giá trị dân tộc chí của tiểu thuyết toát ra từ các trang viết của mình

Hai tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh của Phượng Vũ,

nhà văn đã tái hiện tổng thể cảnh quan vùng Mường Hòa Bình về địa lí, quang cảnh, cuộc sống thường ngày Về địa lí, Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội gần 80 km về phía Đông, Hòa Bình giáp với Hà Nam, Phú Thọ, Thanh Hoá, Ninh Bình, Sơn La, Thanh Hoá Được coi là cửa ngõ thủ đô, là vùng đệm nối các địa danh của vùng đồng bằng

và vùng tây bắc Do địa hình là có đồi núi, nên Hòa Bình cũng mang một vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng Những đặc điểm này được thể hiện cụ thể trong tiểu thuyết của Phượng Vũ, cảnh vật thiên nhiên hòa quện vào nhau tạo một bức tranh đẹp, vẻ

đẹp đầu tiên người đọc cảm nhận được là vẻ đẹp của đồi núi với những “Dãy núi

Thau Lau xa xanh trước mặt lúc vàng ửng lên, lúc tím thẫm, có những chỗ vàng hoe như những vạt lúa hoa ngâu Khoảng giữa dãy Thau Lau có một ngọn núi đỉnh tròn, đầy đăn như mâm xôi Núi ấy là Khụ Mụ "[29,tr 63] Một vẻ đẹp nên thơ của

Trang 39

hướng bắc của một quần sơn đẹp đẽ, những dãy núi lộn xôn kéo dài khoảng 30 cây số

từ đông sang tây […] Dãy núi ôm trọn thủ phủ của tỉnh Mường Phía tây quần sơn này, đất hạ thấp xuống tạo thành một cái khe ngoằn ngoèo chạy xuyên qua tỉnh Hòa Bình từ trung tâm đến phía nam và qua cái khe đó Các núi Thạch Bi thoai thoải cao dần lên […] nhờ có thung lũng tròn có những thửa ruộng có bậc quanh một vài làng quan trọng”[10,tr.48] Những đoạn miêu tả khi “Đứng từ đây có thể thấy bao quát cả một thung lũng lớn rộng lớn cả một nghìn mẫu trải dưới chân đồi Xa tít cuối thung lũng là một rặng núi vòng cung uốn lượn như rồng phục, hổ chầu”[29,tr 35]

Chính sự ngoằn ngoèo của những khe núi và dãy núi trập trùng làm cho thiên nhiên nơi có một vẻ đẹp hoang sơ như đoạn Quỳ đi ngựa từ xóm Chiềng lên núi

Khụ Mụ khi ngoảnh lại thấy xóm Chiềng chỉ là một vệt xanh lẫm thẫm lẫn vào

khoảng rừng núi thăm thẳm [29,tr 60] Những đoạn nhà văn miêu tả những cao

nguyên, thung lũng rất nên thơ và đặc sắc: “Cao nguyên Thạch Phong như một cái

lẫy của vòng cung Mường”[29,tr.430] Câu văn như tạc, như khắc cảnh thiên nhiên

đẹp đến mê hồn Và những Thung Mây như chốn bồng lai, tiên cảnh “mây lúc nào

bay là là trên mái nhà, khi leo núi mây bay ở dưới chân Cây cối thì gốc to như cái nia, cao đến mấy chục thước Lại có nhiều thông chẳng khác gì Sa Pa hay Đà lạt Ở Thung mây phong cảnh hùng vĩ…”[29,tr.499] Nhà văn, hiểu thiên nhiên, đã dùng

những tri thức về địa lí để miêu tả thiên nhiên xứ Mường, giúp người đọc cảm nhận được sự hùng vĩ, hoang sơ, lãng mạn, dữ dội của vùng đất này – một vùng thung lũng lòng chảo miền núi thấp điển hình

Bên cạnh vẻ đẹp hoang sơ của núi non, thung lũng thì những dòng suối cũng góp phần tạo nên vẻ đẹp hung dữ và lạng mạn của đất Mường Hòa Bình như suối

Me, suối Lạt, suối Chiềng… “Con suối Chiềng ranh giới giữa hai Mường đang

chảy róc rách trước mặt, làm vơi đi nỗi vất vả đường xa” [29,tr.504] Dòng suối trở

nên hung dữ, chảy xiết và giết nhiều người sau những trận mưa, nước dồn về làm

nguy hiểm cho những người qua đây: “mấy hôm trước mưa rừng, nước trên núi

Khụ Mụ dồn về, suối nào cũng chảy lồng lên như thú dữ Đoạn suối Chiềng này mọi

Trang 40

36

khi nông có thể lội qua, giờ đang chảy xiết Đã bao nhiêu người chết ở đoạn suối này”[29, tr.156] Rồi có lúc, những con suối nơi đây cũng trở nên hiền hòa, mềm

mại như những dải lụa, êm dịu những câu hát của người Mường: “suối Lạt, suối

Chiềng là hai con suối to không có lũ rừng, lũ suối cuốn trôi người trôi trâu, ruộng chân chim bóng núi không bị hạn hán làm héo cây mạ, cây rau Dòng nước hiền hòa sẽ như dải lụa từ trên núi xuống ruộng rộc, ruộng vàn Suối lớn, suối nhỏ sẽ êm

ả như câu hát ngày thường, hát rang, ngày đêm chảy róc rách từ bờ ruộng cao xuống ruộng thấp, gọi cây lúa mọc lên tươi tốt”[31,tr.16] Rồi những đoan miêu tả

suối ở Mường Vân: “Đứng trên đồi nhà lang có thể nhìn thấy con suối rộng chảy

dưới chân đồi, song song với một dạy núi giống như một lưỡi hái”[31,tr.196] Vẻ

đẹp dữ dội và trữ tình của những con suối nơi đây đã cung cấp cho độc giả có được những hiểu biết sinh động về cảnh quan địa lý xứ Mường

Bên cạnh cảnh núi non tròn đầy như mâm xôi, thì những thung lũng thơ mộng, con suối hung dữ, hiền hòa là những con đường rừng khó đi Đất Mường Hòa Bình trước đây giao thông không được thuận tiện, không phải vì khoảng cách

mà là do địa hình và đặc điểm vùng miền, đường xá nơi đây sau những trận mưa tàn

phá thì việc đi lại rất khó khăn, cảnh bà nàng Quỳ trở về Mường Vân trong Hoa hậu

xứ Mường: “Càng gần về Mường Vân đường càng xấu Năm nào qua tri châu cũng bắt dân sửa đườngnhưng cứ sau mùa mưa lũ, đường lại hư hỏng nhiều, có bận ô tô quan tri châu phải nằm lại giữa rừng”[29,tr.15] Do bị chia cắt bởi núi đồi nên sau

những trận mưa lớn làm sạt lở, xẻ rãnh, lầy lội trên con đường vào Mường khiến

giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn “Năm nay, có lẽ từ sau mùa mưa đến giờ

đường không được sửa nên cứ xẻ rãnh chằng chịt khắp mặt đường”[29,tr.15].Vì

thế, nên nhiều lần xe quan đi về gặp trời mưa đã bỏ lại xe giữa rừng Với chi tiết này, nhà văn như nhấn mạnh đặc điểm địa, khí hậu đã ảnh hưởng đến giao thông đi lại của vùng đất này Trong tiểu thuyết ta còn thấy tình cảm yêu mến lắng đọng về

vùng đất nơi đây khi nhà văn khai thác vẻ đẹp mùa xuân trên đất Mường: “Đã sang

tháng 3 nhưng dáng vẻ tươi non trên cảnh sắc của Mường Vân Chưa có tiếng ve lặng kêu, chỉ có hương thơm của hoa bưởi nở muộn ngan ngát khắp ngõ xóm Những đóa bông mát xòe cánh trắng trong, nở đầy sân mọi nhà Rồi hoa chu chiềnh, hoa chu chiếng bông đỏ, bông trắng chi chít trên hàng dào quanh ngõ, quanh vườn Tiếng chim đốc trộc ầm thầm thỉnh thoảng lại chợt vẳng lên trên

Ngày đăng: 12/06/2021, 00:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thiện(1995), Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường
Tác giả: Bùi Thiện
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc
Năm: 1995
2. Đặng Hiển (2013), Văn chương cùng thời, Nhà xuất bản Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương cùng thời
Tác giả: Đặng Hiển
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn
Năm: 2013
3. Đặng Hiển (2016), Văn học đươi góc nhìn địa văn hóa, Nhà xuất bản hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đươi góc nhìn địa văn hóa
Tác giả: Đặng Hiển
Nhà XB: Nhà xuất bản hội nhà văn
Năm: 2016
4. Đặng Hiển, (2010), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Đặng Hiển
Nhà XB: Nhà xuất bản hội nhà văn
Năm: 2010
5. Đỗ Lai Thúy (2010), Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, Nhà xuất bản hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nhà xuất bản hội nhà văn
Năm: 2010
6. Grossin(1994), Tỉnh Mường Hòa Bình, XN in Công Đoàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh Mường Hòa Bình
Tác giả: Grossin
Năm: 1994
7. Hà Minh Đức (1995) chủ biên, Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Văn học và văn học, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
9. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1969), Từ điển biểu tượng văn hoá thếgiới, bản dịch tiếng Việt của Nxb Đà Nẵng (2002)-Trường Viết văn NguyễnDu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hoá thếgiới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1969), Từ điển biểu tượng văn hoá thếgiới, bản dịch tiếng Việt của Nxb Đà Nẵng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng (2002)-Trường Viết văn NguyễnDu
Năm: 2002
10. Jeanne Cuisinier ( 1995), Người Mường, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
11. Lê Chí Quế (2001), Văn hóa dân gian( khảo sát và nghiên cứu), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian( khảo sát và nghiên cứ
Tác giả: Lê Chí Quế
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ vănhọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Trần Khắc Phi( chủ biên)(2006), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Trần Khắc Phi( chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
14. Lê Ngọc Trà (2001), Thách thức của sáng tạo, Thách thức của văn hóa, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức của sáng tạ
Tác giả: Lê Ngọc Trà
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
15. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
Năm: 2002
16. Nguyễn Đăng Điệp(2016), Một số vấn đề văn học Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2016
17. Nguyễn Mạnh Tiến (2017), Những đỉnh núi du ca, Nhà xuất bản tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đỉnh núi du ca
Tác giả: Nguyễn Mạnh Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản tri thức
Năm: 2017
18. Nguyễn Mạnh Tiến (2017), Sống đời của chợ, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống đời của chợ
Tác giả: Nguyễn Mạnh Tiến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2017
19. Nguyễn Văn Dân ( 2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
20. Nguyễn Văn Khang (2002),Từ điển Việt – Mường, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt – Mường
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc Hà Nội
Năm: 2002

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w