Tiểu thuyết của Phượng Vũ đã làm rấttốt công việc của văn chương dân tộc chí.Mặc dù với hàng ngàn trang viết sâu sắc về người Mường, xứ Mường đượcgiới dân tộc học đánh giá cao và coi như
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MẠNH TIẾN
Hà Nội - năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Mạnh Tiến hướng dẫn.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính khoa học cũng như nội dung trích dẫn các tài liệu Luận văn
Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trongHọc viện khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình họctập tại Học viện
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy, cô giáo trong khoa Văn học, cung cấp chotôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy TS Nguyễn Mạnh Tiến, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn
động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của thầy đãmang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quýbáu để hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè,
cơ quan nơi tôi công tác đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi để tôi có thể học tập đạt kếtquả tốt và thực hiện thành công luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC – VĂN HÓA VÀ TÁC GIẢ PHƯỢNG VŨ 6
1.1 Hướng tiếp cận văn hóa 6
1.2 Khái lược sáng tác của Phượng Vũ 21
Chương 2 VĂN HÓA TỘC NGƯỜI TRONG HAI TIỂU THUYẾT CỦA PHƯỢNG VŨ 29
2.1 Quan điểm, triết lí văn hóa của nhà văn Phượng Vũ 29
2.2 Xứ Mường Hòa Bình 31
2.3 Không gian văn hóa Mường Hòa Bình 34
2.4 Con người văn hóa 43
Chương 3 CÁC BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA PHƯỢNG VŨ 55
3.1 Các biểu tượng văn hóa 55
3.2 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Phượng Vũ 67
3.3 Giọng điệu trong tiểu thuyết của Phượng Vũ 76
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học là một hiện tượng văn hóa, những tác phẩm văn học tiêu biểu chonhững giá trị văn hóa dân tộc, cốt tính dân tộc Văn học có khả năng nhận thức, phảnánh, truyền tải, lưu giữ, kiến tạo các giá trị văn hóa và nâng văn hóa lên tầm cao mới.Mối quan hệ văn học - văn hóa là mối quan hệ gắn bó khăng khít và không thể tách rờinhư trên với dưới, như trong với ngoài Ở mỗi dân tộc, mỗi vùng đất trên thế giới đềuxây đắp cho mình bản sắc văn hóa riêng Bản sắc văn hóa của dân tộc nào là chínhgương mặt của dân tộc đó và được thể hiện qua những tác phẩm văn học cụ thể
Hướng tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa không phải là một hướng
tiếp cận mới, nói như Đỗ Lai Thúy “cũ như trái đất” Nhưng, so với các hướng tiếp cận
khác thì đây vẫn là một hướng tiếp cận tác phẩm văn học ra đời muộn hơn ở nước ta.Tuy nhiên, văn học từ góc nhìn văn hóa giúp chúng ta có khả năng khai thác sâu giá trịnội tại của các tác phẩm, có cái nhìn vừa bao quát, sâu sắc toàn diện về đời sống vănhóa của cả cộng đồng dân tộc Vì thế, các nhà nghiên cứu thấy được tính khả dụng của
nó đã chọn cách tiếp cận này để hiểu sâu về văn hóa của các vùng, miền qua văn học
Muốn tìm hiểu về người Mường, nhất là vùng Mường Hòa Bình tôi đã chọncách tiếp cận văn hóa qua tác phẩm văn học chính là một cách mở chìa khóa vào nềnvăn hóa Việt – Mường có ảnh hưởng rất lớn với quốc gia Việt Nam đa tộc người Vănchương viết về xứ Mường, ở những tác phẩm đỉnh cao, đồ sộ có những đóng gópkhông thể bỏ qua mà Phượng Vũ chính là một tiểu thuyết gia tiêu biểu nhất đã thành
công khi viết về người Mường và xứ Mường Với hai tác phẩm lớn là Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh, Phượng Vũ đã kể về những sự kiện và nhân vật ở xứ
Mường trước và sau những ngày Cách mạng tháng 8/1945, kéo dài đến 1954, thời khắcquan trọng khi giới lang đạo cai trị vùng Mường đã sụp đổ hoàn toàn Xứ Mường sau
đó bước vào chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa Tác giả đã xây dựng được một bứctranh văn hóa Mường rộng lớn, với một số nhân vật sinh động có nội tâm và tính cáchriêng, nhất là về bản chất của giới quan lang, xã hội với những luật lệ hà khắc đè nặnglên cuộc sống và tâm hồn người nông dân miền núi
Trang 6Tác phẩm thông qua phản ánh sự biến chuyển cách mạng trong các tầng lớpquần chúng nông dân Mường trong và sau cách mạng tháng 8 Quá trình của nhữngcán bộ Việt Minh, cán bộ Đảng thâm nhập vào quần chúng nhân dân, những ngườinông dân Mường đã trưởng thành, trở thành cốt cán của phong trào, có khả năngđương đầu với bọn quan lang âm mưu khôi phục lại "uy quyền”của quan lang ở nơiđây Thông qua câu chuyện lịch sử đầy biến cố về xứ Mường,tiểu thuyết củaPhượng Vũ đã tái hiện lại sinh động địa lý phong tục vùng Mường Hòa Bình, mộtbức tranh sinh hoạt thường ngày, tâm tình con người Mường… mà thông qua đó,người đọc có được hiểu biết về xứ Mường Tiểu thuyết của Phượng Vũ đã làm rấttốt công việc của văn chương dân tộc chí.
Mặc dù với hàng ngàn trang viết sâu sắc về người Mường, xứ Mường đượcgiới dân tộc học đánh giá cao và coi như tư liệu tham khảo, nhưng tiểu thuyết củaPhượng Vũ lại chưa hề có một nghiên cứu chuyên sâu và công phu nào về ông vàtác phẩm của ông Vì vậy, đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu, nhằm ít nhiều đónggóp vào sự hiểu biết về văn hóa Mường qua tác phẩm của Phượng Vũ, đóng gópvào nghiên cứu nền văn chương dân tộc chí còn ít được để ý ở Việt Nam hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu về văn học ở góc nhìn văn hóa đã được hình thành và pháttriển trên thế giới đã lâu, hướng nghiên cứu này nảy sinh từ những năm 50 ởAnh,Đức,Pháp sau đó lan sang Úc, Mĩ, Canada,…Nghiên cứu trọng tâm hơn của
E.B Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy xuất bản tại London năm 1871 đến
những nghiên cứu của Kroeber và C.Kluckhohn năm 1952, đưa ra những quan điểm
về văn hóa trong cuốn sách: Văn hóa – tổng luận phê phán các quan điểm và định nghĩa Đến nghiên cứu của M.Bakhtin về văn hóa văn học trong những công trình tiêu biểu của ông như Sáng tác của François Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng (1965) đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa và
văn học Phương pháp nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ngày càng nhậnđược sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, văn họctrên thế giới
2.2 Ở Việt Nam các tác giả như: GS Đặng Thai Mai, GS Đào Duy Anh, GS.Nguyễn Văn Huyên, nhà phê bình văn học Hoài Thanh, GS Phan Ngọc, GS
Trang 7Trần Đình Hượu, GS Phạm Vĩnh Cư, GS Trần Đình Sử, … đã đặt những nền móngđầu tiên cho việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa khi xem tác phẩm nhưmột cấu trúc văn hóa, kí hiệu văn hóa, văn bản của văn hóa và đặt trong mối tươngquan so sánh với văn hóa Hiện nay nhà nghiên cứu phê bình văn học Đỗ Lai Thúycũng đi theo hướng phê bình dưới góc độ văn hóa có phần sáng tạo và sinh độnghơn làm tiền đề cho những nghiên cứu trẻ sau này.
Nhờ có những công trình mở đường của các bậc tiền bối về văn học từ gócnhìn văn hóa mà sau này có nhiều người nghiên cứu mạnh dạn áp dụng phươngpháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa cho các công trình nghiên cứu của mình
như: Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, PGS TS Lê Nguyên Cẩn, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2011; Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa, Luận án Tiến sĩ, Lương Minh Chung, Học viện Khoa học Xã hội, 2012; Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa, Luận án Tiến sĩ, Đỗ Thị Ngọc Chi, Học viện Khoa học
Xã hội, 2013; Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa qua trường hợp tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Phùng Phương Nga, Học viện Khoa
định mình của một cô gái miền Nam tập kết, đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp
của mình thì bộ tiểu thuyết Đất Mường với hai quyển Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh, Phượng Vũ cho người đọc những số phận người dân miền núi vượt lên
trên hoàn cảnh với những luật lệ hà khắc của chế độ lang đạo, thực dân để giảiphóng chính mình Qua đó, ta thấy sự chuyển biến cách mạng trong tầng lớp quầnchúng trong và sau Cách mạng Tháng 8 Nhờ sự soi sáng của Đảng và cách mạng cónhững người dân đã giác ngộ sớm và trở thành cốt cán của phong trào cách mạngcủa vùng Mường Hòa Bình
Trang 8Phượng Vũ đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học nước nhà, làngười thúc đẩy nêu gương cho phong trào sáng tác, là người in dấu đậm nét cho nềnvăn học viết về cuộc sống mới, con người mới đặc biệt vùng dân tộc Mường HòaBình Những trang viết của ông đã phản ánh được mặt xấu của xã hội từ truyệnngắn đến tiểu thuyết đồng thời cũng có những ca ngợi những nhân vật có ý chí, nghịlực vượt lên trên những khó khăn trước mắt, hòa mình trong nhưng không khí cáchmạng chung của dân tộc để giải phóng bản làng, đất nước.
Tuy có những đóng góp như thế nhưng những nghiên cứu, bài viết về sángtác Phượng Vũ còn hạn chế - mới chỉ một số bài bài báo nhỏ lẻ, chưa có nhữngnghiên cứu chuyên sâu, xứng tầm về sáng tác của ông Với đề tài này tôi mongmuốn đóng góp chút công sức để hiểu sâu hơn về sáng tác của Phượng Vũ nhìn từ
góc độ văn hóa qua hai tiểu thuyết quan trọng Hoa hậu xứ Mườngvà Vương quốc ảo ảnh.
- Khẳng định mối quan hệ giữa văn hóa - văn học
- Hiểu về văn hóa xứ Mường thông qua hai sáng tác của nhà văn
- Khẳng định nét độc đáo các biểu tượng văn hóa và ngôn ngữ trong sáng tác tiểu thuyết của Phượng Vũ
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Hai tiểu thuyết“Hoa hậu xứ Mường”và “Vương quốc ảo ảnh”của Phượng
Vũ
- Con người và văn hóa Mường Hòa Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp các phương pháp chính sau:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Nhìn từ văn hóa để tìm thấy những mốiquan hệ phức hợp giữa văn hóa và văn học, sử dụng tri thức văn hóa để minh giảicác nội dung phản ánh văn học, ở đây là hai tiểu thuyết của Phượng Vũ
Trang 9- Phương pháp thi pháp học: để nhìn thấy bản chất sáng tạo nghệ thuật, cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Phượng Vũ.
- Phương pháp so sánh: So sánh dữ liệu văn hóa được phản ánh trong tiểu thuyết với các tư liệu dân tộc học, sử học về xứ Mường Hòa Bình
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để lí giải các hiện tượng văn học từvăn hóa, luận văn tất yếu cần vận dụng kết hợp tri thức liên ngành như văn hóa học,nhân học, ngôn ngữ học, xã hội học…
6 Đóng góp của luận văn
- Ý nghĩa lí luận: Tiếp tục phát triển và khẳng định tính khả dụng của hướngnghiên cứu văn học nhìn từ góc độ văn hóa, nghiên cứu văn học như một sự kiện xãhội tổng thể
- Về thực tiễn:
+ Tìm hiểu về vùng đất, con người, văn hóa Mường và hai tiểu thuyết của
Phượng Vũ “Hoa hậu xứ Mường”và “Vương quốc ảo ảnh”.
+Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nhữngnhà nghiên cứu, nhà giáo hoặc sinh viên, học sinh cũng như các bậc phụ huynh quantâm tới sáng tác của Phượng Vũ và văn chương viết về tộc người thiểu số
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết thúc và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn triển khai thành 3 chương như sau:
Chương 1: Mối quan hệ giữa văn học – văn hóa và tác giả Phượng Vũ
Chương 2: Văn hóa tộc người trong hai tiểu thuyết của Phượng Vũ
Chương 3: Các biểu tượng văn hóa và ngôn ngữ trong tiểu thuyết của
Phượng Vũ
Trang 10Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC – VĂN HÓA VÀ TÁC GIẢ PHƯỢNG VŨ 1.1 Hướng tiếp cận văn hóa
1.1.1 Tiếp cận văn học từ văn hóa
Đã từ rất lâu, văn học đã từng tồn tại dưới dạng nguyên hợp, bất phân giữavăn và tôn giáo, tín ngưỡng, triết học, sử hoc, trên nhữngbình diện tư tưởng và tìnhcảm Vì thế, văn học luôn tồn tại những yếu tố văn hóa Như PGS.TS Đoàn Đức
Phương khẳng định trong chuyên luận Phương pháp nghiên cứu văn học, phương
pháp tiếp cận văn hóa học là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhân diện vàgiải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm Còn Trần Nho Thìn viết trong cuốn
Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học như sau:
“Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải
mã các nghĩa của biểu tượng mà chủ yếu phải phân tích đời sống của biểu tượng trong xã hội, trong văn học, phân tích sự vận động của biểu tượng trong tiến trình lịch sử Đến lượt mình, biểu tượng không tồn tại độc lập mà thể hiện quan niệm về nghĩa, về giá trị của mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi tầng lớp”[37, tr.29] Như vậy,
nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa không chỉ tìm đến các biểu tượng để nhậndiện giải mã mà biểu tượng luôn tồn tại các quan niệm về nghĩa, về về giá trị củathời đại dân tộc, tầng lớp nữa, từ đó chúng ta đặt ra nhiệm vụ đối chiếu so sánh truynguyên các quan niệm văn hóa ở các thời đại, ở những thời điểm lịch sử nơi mà sảnsinh ra tác phẩm và để tìm nguồn gốc của dạng thức quan niệm về con người, vềkhông gian, thời gian được thể hiện trong tác phẩm văn học Vậy, khi nghiên cứu,chúng ta xem xét, đánh giá một hiện tượng văn học, thì phương pháp tiếp cận vănhóa học có những tiêu chí tương ứng về quan niệm, xã hội, các kiểu hình tượng xãhội được thể hiện trong văn học Bên cạnh quan niệm xã hội, và các kiểu hình tượng
xã hội thì không gian tồn tại của con người dưới góc độ văn hóa, quan hệ của conngười với thiên nhiên và các hình tượng thiên nhiên, quan niệm về con người gắnvới hoàn cảnh cụ thể cũng được nghiên cứu xem xét Thế nên, văn học tồn tạinhững yếu tố văn hóa là có từ rất lâu và việc nghiên cứu văn học dưới góc độ vănhóa là rất cần, nó cũng xuất hiện từ lâu như Đỗ Lai Thúy viết trong cuốn phê bình
văn học Con vật lưỡng thê ấy trong mục Phê bình văn học từ hệ thống văn hóa ông
có viết: “Phê bình văn học từ văn hóa, tự thân nó, là một câu chuyện cũ”[5, tr.241].
Trang 11Nhà nghiên cứu nói “cũ như trái đất” quả là rất đúng, bởi nghiên cứu và phê bình
văn học từ hệ thống văn hóa không phải là mới mà đây chính là làm mới một đề tài
cũ, và đây không phải là thay đổi bản thân vấn đề mà thay đổi cái nhìn về nó, về vănhọc từ hệ thống văn hóa
Văn hóa là sức sống nội tại của mỗi dân tộc Một nền văn hóa đậm đà bản sắcdân tộc là biểu hiện cao nhất của tinh thần độc lập tự chủ, là tiềm năng sáng tạo vô hạncủa dân tộc đó Văn hóa Mường được thể hiện trong tác phẩm văn học Việt Nam cũngvậy Bởi qua những tác phẩm văn học, văn hóa Mường đã hiện lên làm phong phú chonền văn học dân tộc ở nhiều mảng khác nhau cả về tinh thần và vật chất
Văn hóa (Trong tiếng Anh và tiếng Pháp là Culture) là khái niệm mang nộihàm rộng có rất nhiều cách hiểu và cách lý giải khác nhau, liên quan đến mọi mặtđời sống vật chất, tinh thần của con người Người ta có thể hiểu văn hóa như mộthoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như là lối sống,thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hóa như một trình độ học vấn
Theo định nghĩa văn hóa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một
xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng”[35, tr.10].
Khái niệm văn hóa được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, văn hóa đều
là đặc trưng của văn hóa tộc người Theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng thể các thànhtựu, những giá trị vật chất và tinh thần do các cộng đồng dân tộc sáng tạo ra trongquá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội, nhằm đảm bảonhu cầu cuộc sống của con người
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu, theo chiều rộng, hoặctheo không gian, hoặc theo thời gian…giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu lànhững giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa như: ăn ở, tục lệ…Còn văn hóanghệ thuật như: múa hát, hội họa, …) còn giới hạn theo chiều rộng, văn hóa dùng đểchỉ trong từng lĩnh vực( văn hóa kinh doanh, văn hóa ứng xử, văn hóa đọc…) Giớihạn theo không gian, văn hóa được dùng chỉ các đặc thùở các vùng, miền khác nhau(miền Bắc, miền Trung, miền Nam hay vùng đồng bằng, vùng miền núi…) Giớihạn theo thời gian như văn hóa Âu Lạc, Đông Sơn…
Trang 12Ở nước ta, năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là là sự tổng hợp của các phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[28, tr.17].
Còn theo nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một thể thống nhất các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn thông qua các mối quan hệ tự nhiên và xã hội”[33, tr.27].
Như vậy, ta thấy văn hóa chính là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra
và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lạitham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóađược truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác thông qua quátrình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tươngtác giữa xã hội và con người Văn hóa đánh dấu trình độ phát triển của con người vàcủa xã hội, được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành độngcủa con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Còn văn học, là loại hình nghệ thuật ngôn từ, phản ánh thực tại và những vấn
đề của cuộc sống xã hội và con người Văn học phản ánh tất cả các vấn đề văn hóanhư: xã hội, vận mệnh, tiền đồ…của dân tộc, tinh thần của dân tộc Phương thứctruyền tải văn hóa trong văn học chính là bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ văn họcrồi hư cấu, xây dựng hình tượng, nội dung các đề tài được biểu hiện trong tác phẩm,nội dung tác phẩm văn học chịu sư quy định của các quan niệm văn hóa Trong vănbản văn học có ba phương diện (đối tượng) của văn hóa
Thứ nhất: Văn bản văn học phản ánh toàn bộ đời sống cộng đồng dân tộc,trong đó văn hóa như phần hợp thành quan trọng, ta dễ thấy nhất là các hoạt độngvăn hóa thể hiện trong văn học như: tập tục, lễ hội, lối sống của một cộng đồng, mộtthời đại nào đó
Thứ hai: Ngôn ngữ với tư cách là chất liệu tạo nên văn bản văn học, ví dụnhư lời ăn tiếng nói dân gian hay bác học của nhân vật, cả các hình thức thể loại,các kiểu cốt truyện
Trang 13Thứ ba: Văn bản văn học khi được công chúng tiếp nhận đã ảnh hưởng, tácđộng xã hội, đến tâm lí, sở thích cá nhân và cộng đồng, đôi khi tạo nên cả nhữngphong trào xã hội Hoạt động của nó cũng là một hiện tượng văn hóa.
Trong thể loại văn học phản ánh gián tiếp quan điểm cá nhân, tất cả các yếu
tố của tác phẩm đều liên quan với nó như tính chất các xung đột, sự phát triển cốttruyện, cả hệ thống hình tượng Như M Bakhtin cho rằng, thể loại là nhân vật chínhcủa văn học, sự ra đời và tồn tại của nó có cơ sở ở văn hóa thời đại Mà văn hóa thời
cổ đại của những công xã thị tộc bộ lạc cho ra đời những thể loại thần thoại, vớinhững cuộc chiến tranh giữa chúng làm xuất hiện trong những anh hùng ca như
Illiat của Homer.
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ, nó bắt nguồn từ đời sống, phảnánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường của nhà văn đối với đời sống xã hội.Nhưng văn học cũng phản ánh hiện thực nhưng là hiện thực trong ý nghĩa khách quan,phổ quát của chủng loại mà nó quan tâm được kết tinh trong sự vật và từ những sự vật
đó làm người đọc hiểu theo một nghĩa khác Ví dụ, nói đến mặt trời, văn học nhiều khi không phản ánh nó giống như một hiện tượng của tự nhiên để chiếu sáng cho con người mà nói đến nó là một hình tượng con người, đầy sự yêu thương kính trọng Có một mặt trời trong lăng rất đỏ/ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ (Viếng lăng Bác, Viễn Phương) Văn học nói đến trăng không phải với tư cách là một vệ tinh tự nhiên của hệ mặt trời, mà trăng là hiện thân của cái đẹp, là khuôn mặt đẹp, phúc hậu của con người: Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang (Truyện Kiều, Nguyễn Du) Trần Nho Thìn viết trong Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học như sau: cùng một nghĩa, có thể có nhiều biểu tượng khác nhau Biểu tượng nhân cách nhà nho tài tử ngoài tùng còn cúc, trúc, mai Khảo sát ca dao, thơ Việt Nam, chúng tôi phân tích các biểu tượng diễn tả sự bị động của người con trai trong tình yêu nam nữ và nhận thấy có những biểu tượng sau: bướm (ong) – hoa, bến – thuyền (đò), sóng – bờ, trâu- cọc… Mặt khác, cùng một sự vật, người ta có thể khai thác các nghĩa biểu tượng khác nhau [37, tr.22].
Như vậy, văn học là một hiện tượng văn hóa, những tác phẩm văn học lớntiêu biểu cho những giá trị văn hóa dân tộc, cốt tính dân tộc Chúng ta đều thấy hiệntượng những vị tổng thống Hoa Kì, khi đến Việt Nam trong các phát biểu thường
dẫn những câu thơ Kiều hoặc nhắc đến nhà thơ Hồ Xuân Hương, khi sang Nga họ
Trang 14thường nhắc đến L Tolstoi, M Dostoevsky Đó không phải là sự “ngẫu hứng”, đó là
sự tôn trọng rất cao đối với văn hóa nước chủ nhà và sự ứng xử lịch lãm, rất vănhóa Văn học như vậy là một hiện tượng văn hóa đặc biệt
Vì vậy, luận văn này tôi chọn tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa để hiểu phầnnào đó về dân tộc của mình, một dân tộc có bề dày lịch sử và góp phần tạo nên nhữngđặc sắc đa dạng trong văn hóa người Việt nói chung và văn hóa người Mường nói riêng
qua hai tiểu thuyết của Phượng Vũ Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh.
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Văn học và văn hóa quan hệ với nhau như bộ phận và toàn thể, như cái hẹpvới cái rộng, cái “trên”với cái “dưới” Văn hóa và văn học đều tồn tại như một hiệntượng của ý thức xã hội và là sự biểu hiện của tinh thần Nói cách khác chúng đều
có tính xã hội về hình thức và nội dung tinh thần, những hiện tượng không thuộc về
xã hội, không có ý nghĩa tư tưởng không phải là văn hóa Văn hóa và văn học đềuthể hiện như hệ thống kí hiệu mang nội dung tâm lí, tư tưởng, trong đó kí hiệu củavăn học là ngôn ngữ- lời nói (ngôn lời) của con người
Trong công trình Mĩ học sáng tạo ngôn từ, Nxb Nghệ thuật, Maxcova, 1989, tr.329, M.Bakhtin xác định: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại” Văn học được coi là sự “tựý thức văn hóa”[68, tr.2],
có nghĩa là trong văn học, luôn bộc lộ rõ nét bản chất của văn hóa một đất nước, dântộc và những tác phẩm văn học luôn mang trong mình những biểu hiện văn hóa đặctrưng của một vùng, miền của một đất nước, mặc dù người viết có thể không ý thức
là phải truyền tải văn hóa vào sáng tác của mình, nhưng văn hóa cứ tồn tại như một
lẽ tự nhiên
Theo Trần Lê Bảo, “Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu
sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà
cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ”[68 tr.5].
Trang 15Còn Trần Đình Sử đã khẳng định: “Văn học là bộ phận quan trọng của văn hoá, sự giàu có của nó về nội dung và hình thức trực tiếp làm giàu cho văn hoá”[49, tr.1] Cũng theo Trần Đình Sử, việc sáng tạo ra khúc ngâm, truyện Nôm, hát nói, thơ mới, kịch nói, tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại phải được xem “là những hiện tượng sáng tạo văn hoá lớn lao của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ XX”[49, tr.3] Trong văn hóa, văn học có một vai trò rất quan trọng Văn học vừa
giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc vừa sáng tạo thêm những giá trịvăn hóa mới cho nhân loại Bởi văn học luôn được coi là tấm gương phản chiếu văn
hóa, nhà văn là “người thư ký trung thành của thời đại”(Balzac) Trần Nho Thìn có viết : Văn học xét cho cùng phản ánh hiện thực, những mặt khác, sự phản ánh này không đơn giản như việc cầm một tấm gương soi chiếu hiện thực đời sống mà nó chịu sự quy định của tính chủ quan của chủ thể thẩm mĩ Do tính chủ quan này, giữa hình tượng nghệ thuật và hiện thực cuộc sống thường không có sự trùng khít.Nghệ thuật không tự hạn chế mình chỉ trong việc tái hiện lại bộ mặt của hiện thực và cũng không cố tình xem các sáng tạo của mình chỉ như cái giống thực [37,
tr.34] Nhà văn tiếp nhận và tái hiện văn hóa thông qua những tác phẩm của mình
Ở mỗi tác phẩm văn học Việt Nam, những nét văn hóa đặc trưng của mỗi một vùng,miền đất nước lại được hiện rõ Ta bắt gặp một bức tranh đồng quê đậm chất Bắc bộ
trong chùm Thơ thu của Nguyễn Khuyến, văn hóa dân gian đa dạng sắc màu
trongsáng tác thơ văn của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, thấy được vẻ đẹp của một thời
đã qua trong tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, hay cách nói năng, suy nghĩ tiến bộ của người Hà Nội qua nhân vật cô Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội- Nguyễn Khải, rồi những tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh.“Văn hoá tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn
ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá Người đọc, với chân trời chờ đợi hướng về tác phẩm, cũng được rèn luyện về thị hiếu thẩm mỹ trong một môi trường văn hoá nhất định Chính không gian văn hoá này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức trong quá trình tiếp nhận Một nền văn hoá cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển Vì vậy, có
Trang 16thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế”vừa lượng định, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hoá của một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định”[46, tr.20].
Theo Trần Nho Thìn, văn hoá là một hệ thống mở “nhân học văn hoá” Văn
hoá Việt còn là sản phẩm của sự giao lưu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, Ân Độ.Bất kỳ một giá trị văn học nào cũng đều thoát thai từ một môi trường văn hoá, từmột đời sống văn hoá nhất định Những yếu tố văn hoá ảnh hưởng rất lớn đến sựthành công của tác phẩm Cách tiếp cận văn hoá học trong nghiên cứu tác phẩm vănchương sẽ giúp chúng ta khám phá chân lý nghệ thuật một cách đúng hướng hơn
“Về mặt thời gian, khi cái cũ chưa bàn giao cho cái mới, văn học có thể là nơi hội
tụ của những tìm tòi cho sự chuẩn bị chuyển tiếp thời đại Còn về mặt không gian, khi một địa bàn trở thành ngã ba đường của sự giao lưu văn hoá, thì văn học có thể
là nơi hoà giải của những xung đột tinh thần, nhằm tìm một tiếng nói cho sự chung sống giữa các nhóm người”[46, tr.23].
Như vậy văn hóa và văn học có sự tác động qua lại với nhau, gắn bó mậtthiết với nhau trong quá trình tồn tại và phát triển Nếu văn hóa chi phối hoạt động
và sự phát triển của văn học thì văn học có xứ mệnh phản ánh lưu giữ những giá trịcủa cuộc sống, hướng con người đến chân – thiện- mĩ Văn hóa chính là nền tảngcủa văn học còn văn học là bộ phận của văn hóa
1.1.3 Hiểu về văn hóa người Mường
“Mường”là tộc người lâu đời của Việt Nam Người Mường sống rải rác khắp
các vùng núi phía Bắc Việt Nam Dân số người Mường, theo kết quả điều tra củaTổng cục Thống kê công bố năm 1989, ởkhắp đất nước Việt Nam mới chỉ có914.396 người nhưng 10 năm sau, tức năm 1999, vẫn theo kết quả Tổng điều tra dân
số của Tổng cục Thống kê công bố, thì người Mường đã tăng lên 1.137.515 người.
Năm 2009 người Mường đã là 1.268.963 người (cũng theo kết quả điều tra dân sốnăm 2009 của Tổng cục thống kê)
Tuy người Mường sống rải rác theo các vùng núi phía Bắc nhưng lại tậptrung nhiều nhất là ở tỉnh Hòa Bình
Ở Hòa Bình được xem là cái nôi của người Mường Vì thế, số dân Mường sốngtại tỉnh Hòa Bình luôn là đông nhất Theo điều tra nhân khẩu của Jeanne Cuisinier từnăm 1936-1937 tỉnh Hòa Bình có 52.014 người Mường[10 tr.77] Theo tổng cục
Trang 17thống kê đến năm 1999, người Mường ở Hòa Bình (479.197 người, chiếm 63,3%dân số của tỉnh) Người Mường, họ là chủ nhân lâu đời nhất của mảnh đất HòaBình, ngay từ thời xa xưa, người Mường đã cư trú ở khắp các huyện thị trên địa bàntỉnh, nhưng mức độ phân bố không đồng đều cả về số lượng người dân và mật độphân bố Người Mường tập trung ở những khu vực có địa hình thấp, độ cao trungbình là 300m, và các trung tâm trù phú nhất của đất Mường như: Mường Bi, MườngVang, Mường Thàng, Mường Động Đây, chính là vùng Mường lớn ở Hòa Bình mà
do các dòng lang lớn của người Mường cai quản như: Đinh, Quách, Bạch, Hoàng,
Hà Giờ đây, những huyện mà có người Mường tập trung đông nhất chính là: huyệnLạc Sơn, huyện Kim Bôi, huyện Tân Lạc, huyện Mai Châu, Kì Sơn xong mới đếncác huyện khác
Văn hóa Hòa Bình luôn mang một bản sắc đậm bản sắc dân tộc Mường xưa.Người Mường luôn tự hào về văn hóa của mình, ngay tên gọi của họ đã thể hiện
điều đó Trong cuốn “Văn hóa Mường”của Trần Từ, NXB Dân tộc, 1978 viết khái niệm “Mường” (Mượng) vốn là một khái niệm chung cho cả Thái cổ truyền và xã
hội Mường cổ truyền Trong cả hai trường hợp, nó đều chỉ một vùng (gồm nhiềuxóm) do một dòng họ quý tộc trực tiếp cai quản Mường, với tư cách tên dân tộc, làmột cách gọi không chính xác: dân tộc chúng ta quen gọi là Mường, thực ra, tựxưng là “MỌL”(nghĩa đen: người) Tuy nhiên vì mấy chữ “dân tộc Mường” đã trởthành quen thuộc trong tiếng phổ thông, và dược dùng trong cả trong công văn giấy
tờ chính thức”(9,tr127) Theo Từ điển Mường- Việt, Nguyễn Văn Khang chủ biên,
NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội (2002) thì “MÕI” là “người Mường” Ví dụ: “Nả làMõi” tức là “nó là người Mường” hay “Mõi ăn mày” tức là “Người ăn mày” “Mõicác cửa” tức là “Người gác cửa” “Ẻng đỉ là mõi hay cảy Chỡ?” tức là “Anh ấy làngười Mường hay người Kinh?” Hay, “Mõi chi mà ác mằn đỉ” có nghĩa là “người
gì mà ác thế) Người Mường ngoài tên gọi là Mõi, theo biến đổi phương ngữ cònxưng là Mọi, Mol, Mual [20, tr.309-310]
Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danh nhưngày nay Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùng danh từ nàylàm tên gọi cho dân tộc mình Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức Từ Chi hay Nguyễn
Từ Chi), Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường bao gồmnhiều làng Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang Qua sự tiếp xúc
Trang 18giao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh đã sử dụng từ Mường đểgọi dân tộc này.
Cho đến tận bây giờ, người Mường vẫn từ gọi mình là mol, moăn như ở HoàBình, mon, mọi như ở Thanh Hoá Còn ở Phú Thọ, đặc biệt là ở Thanh Sơn, nơingười Mường tập trung đông đảo nhất, cũng như Người Mường ở huyện Yên Lập
và một số xã thuộc huyện Thanh Thuỷ, người Mường tự gọi mình là Mol, Monl.Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đềuquan niệm giống nhau về mặt nghĩa Tất cả những từ mà người Mường dùng để chỉdân tộc mình có nghĩa là người Do đó, Mường đã trở thành tên gọi chính thức vàduy nhất của tộc người này để phân biệt với các dân tộc khác Tộc danh Mường đãđược các tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu và nhân dân dùng khi tìm hiểu,nghiên cứu gọi dân tộc người Mường
Cũng như các dân tộc khác, để lý giải về nguồn gốc của dân tộc mình, dângian Mường ở Hòa Bình còn lưu giữ và truyền kể dân tộc mình bằng những huyền
thoại về sự xuất hiện dân tộc mình dưới dạng những áng Mo, truyền thuyết Truyền
thuyết của người Mường kể rằng: xưa kia, khi con người còn chưa xuất hiện, trờilàm hạn hán, khô khan, cây cối khô mà chết, rồi trời lại mưa Một trận mưa to chưatừng thấy Nước chảy thành suối thành sông Đất lở bồi thành đồng bằng Đá lănchất đầy thành gò thành đống, thành đồi thành núi Có một cây mọc lên rất đẹp, gọi
là cây si Cây si mọc lên từ núi đá, cây si lớn nhanh như thổi trở thành một cây cổthụ, cành lá che kín cả bầu trời, bị một cơn bão lớn làm đổ Từ cây si bị đổ sinh ramột đôi chim, gọi là chim Ây và chim Ứa Chim Ây là đực, chim Ứa là cái Đôichim Ây và Cái Ứa lại rủ nhau bay lên núi đá lấy cỏ làm thành tổ ở Hang Hao (nay
là hang Ma- Chứng- Điếng thuộc thôn Phú Nhiên, tổng Ngọc Hào, huyện Gia Viễn,tỉnh Ninh Bình) [6, tr.16] Cái Ứa đẻ ra trăm ngàn quả trứng Trứng chim nở rathành muôn loài muôn vật Còn lại một trăm cái trứng thì nở ra con người Đó làngười Mường và người Kinh Người Kinh xuống đồng bằng ở còn người Mườngsống trên miền núi Người khởi đầu tiên của đất Mường là Lang Đá Cài, Lang ĐáCần, nàng Dạ Kịt Sau này Lang Đá Cần lên ngôi vua lấy em gái mình nhưng sinhcon không nuôi được, Lang Đá Cần lấy vợ khác sinh được nhiều con trai và con gái.Con trai thứ nhất thay cha lên làm vua (chính là vua Dịt Dàng sau này) những ngườicon còn lại đã chia nhau thành bốn họ lớn của người Mường là: Đinh, Quách, Bạch,
Trang 19Hoàng chính là tổ tiên của các quan lang xứ Mường Còn các cô con gáilàm vợ cácquan lang ở các châu Dịt Dàng kế tục cha lên ngôi, có nhiều vàng bạc châu báu,lãnh đạo các quan Lang và dân Mường phát triển Như vậy, để giải thích cho cho sự
ra đời của dân tộc mình người Mường đã dựa vào truyền thuyết với những câutruyện li kì giống như Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ
Bên cạnh việc người Mường giải thích nguồn gốc của mình bằng Truyền thuyết
Ây và Ứa, thì người Mường xuất hiện cùng với tiếng nói để trao đổi thông tin, tạo ratiếng nói riêng cho mình Người Mường không có chữ viết riêng, nhưng họ có tiếng nóicủa dân tộc mình, tiếng nói mang bản sắc của dân tộc Ngôn ngữ Mường thuộc nhómngôn ngữ Việt - Mường trong ngữ chi Việt của ngữ hệ Nam Á Tiếng Mường rất gầnvới tiếng Việt Theo Từ điển Mường-Việt, Nguyễn Văn Khang chủ biên, NXB Văn hóa
dân tộc Hà Nội (2002), cách đọc và phát âm của tiếng Mường gần giống tiếng việt, cómột số từ có dấu ngã, dấu nặng…đọc chệch đi, ví dụ:
Những từ không dấu trong tiếng Việt thì giữ nguyên là thành tiếng Mườngnhư: Con, con chim, con voi, ăn, cho, tiêu pha= tiêu pha một số từ khác phụ âmđầu: tay = thay, đi= ti, đi, con dê= con tê
Những từ có dấu hỏi trong tiếng Việt cũng giữ nguyên: của cải= của cải,đểu= đểu, giả= giả
Những từ có dấu ngã thì chuyển thành dấu hỏi như: đã= đả, những= nhửng.Những từ có dấu nặng thì chuyển thành dấu sắc: nặng= nắng (phát âm lại ~nặng= nắăng, tận= tấn (tấân)
Những từ mà có âm "ặc, ịt, ặc, ục”thì giữ nguyên không chuyển dấu: đôngđặc= đông đặc
Những từ có dấu huyền thì chuyển thành dấu sắc và ngược lại dấu sắc thìthành dấu huyền: nắng= đằng ( trời nắng= trới đằng)
Một số từ không theo quy luật: cây tre= cân pheo, xưng hô(chú=ô, cháu=xôn), nhìn (ngắm)= hẩu, trông thấy= hẩu kỉa, ở giữa= ở khừa
Phát âm nhiều khi bị chệch hoặc thêm một số âm đệm vào Ví dụ như phát âmchệch như từ: Anh = Enh “Anh có thấy cái còng vợt ở đâu không” (Enh ản đố cải còng
kha ớ no chăng) Hay ở = ớ, án mạng = ản mãng, anh tạo (một chức trong bản Mường)
= anh tão, áo choàng = ảo khoang… Phát âm thêm một số các âm đệm như: Bảy năm
Trang 20mươi = páy năm mươl, bề trên = bậc tliênh “ông ấy là bề trên”(ông đỉ là bậc tliênh), trong= tlong“trong buồng này ấm lắm”(tlong puồng nì ẩm lắm) [20, tr.25- 39].
Nói chung, ngôn ngữ của người Mường họ dùng rất hiệu quả trong tộc ngườicủa mình Hiện nay, nhà nước ta đã bảo tồn tiếng dân tộc Mường bằng nhiều cáchkhác nhau để lưu giữ và bảo tồn ngôn ngữ này như: qua sáng tác văn chương, sách,báo, rồi có đài phát thanh và truyền hình bằng tiếng Mường Tiếng Mường mangbản sắc văn hóa riêng, họ dùng để trao đổi thông tin, gọi nhau, nói chuyện, phânbiệt vai vế, các gọi đồ dùng… Phượng Vũ sử dụng ngôn ngữ của người Mường kháthành công khi xưng hô, gọi tên… ví dụ: gọi mẹ =mế, bên ngoại =oại, người trông
em = đọi ún, đi ỉa = tị é, bố già = bố khà, thịt gà = thịt ca, người Kinh = người Đáo,
vợ = cái, bông lúa, hoa lúa = trái bông cơn, người giúp việc cho nhà lang = ậu,người đứng đầu trong các ậu = ậu cả, túi vải có quai đeo = thông, hoa dâm bụt = hoachu chiênh, thắt lưng = tênh, cơm độn với củ nâu = cơm nâu, đi lấy nước= ti rác, nồininh = viêng, lúa = lọ, ruộng= nà, để tang= để đem, nước mạch trong lòng đất phun
lê = nước mó, dưới âm phủ = bên ma, chim bồ câu rừng = chim gâu, hoa hồng bì =hoa vòng, chỗ lầy lội, lấm láp = rậm, cỏ gianh = cỏ bái, bố = pộ, cửa chính vào nhà
= cửa khoáng, chơi bời = nhởi, uống rượu = oỏng ráo, bánh dày = bánh xếp, cáclang đạo lấy vợ con nhà thường dân = vợ nuôi, bồ đựng chăn = pồ ố…[29]
Về tổ chức xã hội của người Mường không giống như tộc người H’Mông, họ
có vùng tự trị riêng Người Mường tuy dân số đông và có nguồn gốc lâu đời nhưng
họ chỉ tồn tại thành vùng Mường trong tổng thể dân tộc Việt Nam Nhưng, về hìnhthái xã hội của người Mường xưa kia là xã hội Mường cổ truyền chịu sự lãnh đạocủa chế độ quan lang
Dưới chế độ quan lang, bản chất Lang cun Mường cũng có xấu, tốt Giốngnhư quan lại vùng xuôi Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, dân Mường vẫn thíchchế độ lang đạo hơn và không chịu sự quản lý của người Kinh, nên người Mường cóchút cục bộ Vì vậy, khi nhà Nguyễn thành lập phế bỏ chế độ Lang đạo, đưa quan lạidưới xuôi lên cai quản vùng Mường liền xảy ra sự chống đối kịch liệt của nhân dânvùng Mường, như khởi nghĩa Lê Duy Lương, khởi nghĩa ở Thạch Bị, Sơn Âm Vềsau vua Minh Mạng lại khôi phục chức chế độ Lang đạo Đặc biệt khi bắt đượcngười cầm đầu, nhà Nguyễn chỉ phủ dụ chứ không giết
Trang 21Ngày 23 tháng 6 năm 1892, toàn quyền Đông Dương ký nghị định tổ chức bộmáy chính quyền ở Hoà bình Theo nghị định này, công việc toàn tỉnh do một hộiđồng quan lang điều hành, gồm có 12 quan lang: sáu người do các lang cử ra, sáungười do công sứ Hoà Bình chỉ định Hội đồng mười hai quan lang do viên công sứPháp làm chủ tịch Hội đồng cử ra một chánh quan lang, một phó quan lang và mộtviên đề đốc Chánh quan lang trông nom các công việc chung của tỉnh, phó quanlang có nhiệm vụ giúp việc chánh quan lang Còn viên đề đốc thì giữ việc chỉ huylính dõng trong tỉnh.
Chế độ lang cun và tồn tại đến sau cách mạng tháng 8/ 1945 Đến khi đấtnước hoàn toàn giải phóng chế độ lang cun hoàn toàn chấm dứt
Người Mường cũng có những món ăn ẩm thực đặc sắc, họ thích ăn các món đồ,nướng như xôi đồ, rau đồ, cá đồ Nướng như thịt cá nướng rất thơm và ngon Nhữngthứ gia vị đắng, cay, chua, ví dụ như: họ thích ăn những rau rừng có vị đắng như rauđắc đốm, lá chân chim, măng đắng…Vị chua như thịt muối chua, măng muối chua, lásắn muối chua…khi đã chua họ đem ra nướng hoặc nấu với thực phẩm khác cùng cáchương vị của hạt dổi, tiêu, ớt…, ăn rất ngon và hương vị đậm đà
Người Mường Hòa bình còn có đặc sản rượu Cần nổi tiếng,bởi cách chế biến
và hương vị đậm đà của men được ủ cùng ngũ cốc như ngô, sắn, gạo nếp, gạo tẻ…ủtrong một thời gian nhất định được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộcvui tập thể Ở Hòa Bình những buổi sinh hoạt tập thể hoặc ngày lễ, tết không thểthiếu rượu cần, uống rượu cần trong những ngày đó như một nét văn hóa
Người Mường ở Hòa Bình, họ sống gần với người Kinh nên cách sống cũnggần giống với người Kinh Người Mường sống thành các bản làng (xóm, làng), cónhững ngôi nhà sàn nằm sát ven đồi tựa lưng vào đồi núi, trước mặt trông ra nhữngcánh đồng xanh, tốt trông rất thơ mộng và lãng mạn Xung quanh nhà của ngườiMường trồng những cây ăn quả như mít, nhãn, vải, bưởi… hoặc trồng các cây hoaquanh năm đơm hoa kết trái, tạo ra không khí trong lành
Nhà ở của người Mường nói chung và người Mường Hòa Bình nói riêng là ởnhà sàn, nhà sàn được dựng theo kiểu truyền thống của người Mường, như thần Rùa
dạy trong truyền thuyết: “Bốn chân tôi là bốn cột cái/Hai mai tôi là hai mái nhà/Xương sống tôi là đòn nóc/Chặt cây lim làm cột/Lạt buộc bằng cây giang/Cỏ gianh dùng để lợp”[30, tr.76] Nhà kiểu bốn mái, cột nhà bằng gỗ quý, được bố trí
Trang 22rất khéo léo, tiện lợi, cho việc ăn, ở sinh hoạt Vật liệu làm nên ngôi nhà sàn củangười Mường làm bằng gỗ, tre, nứa, cỏ gianh hoặc lá cọ Cột nhà chôn sâu xuốngđất từ 70cm- 1m hoặc kê trên đá Vách ngăn và che xung quanh nhà họ dùng tấmđan bằng tre, nứa hoặc gỗ tùy theo điều kiện của từng gia đình Mái nhà sàn xưa lợpbằng cỏ gianh, lá cọ nên có đặc điểm mát về mùa hè, ấm về mùa đông Nhà sàn củangười Mường có bậc cầu thang đi lên và thường được lấy số lẻ như: 5,7,9,11 NgườiMường lấy số lẻ làm số bậc cầu thang là dựa vào quan niệm theo quy luật: vào-ra-vào, nên của cải sẽ vào nhà mà không ra đi làm cho nhà cửa trở nên giầu có, concháu khỏe mạnh, gia đình êm ấm, hoặc theo quy luật của đời người: sinh, lão, bệnh,
tử để mong cho con người sống trong gia đình đó luôn khỏe mạnh, sống lâu trămtuổi Nhà sàn tùy theo diện tích nhà lớn hay nhỏ để mở số cửa sổ cho phù hợp, vềcầu thang nhà sàn người Mường có hai cầu thang, cầu thang chủ và cầu thangkhách Sàn nhà làm bằng sàn gỗ tự nhiên, phía dưới sàn người Mường xưa kia họnuôi trâu, bò, lợn, gà (người Mường ngày nay đã bỏ làm chuồng nuôi ở dưới)
Điểm độc đáo ở nhà sàn Hòa Bình, trước khi bước lên nhà họ phải rửa chânbằng nước để ở cái chum, vò, vại được để ngay dưới cầu thang với quan niệm rửasạch sẽ những bụi bẩn trước khi lên nhà
Như vậy, nhà sàn của đồng bào Mường là một biểu hiện sinh động của vănhóa vật chất Trong cấu trúc truyền thống, nhà sàn Mường là một kiến trúc đa năng,ngôi nhà thoả mãn nhiều nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của mỗi gia đình Kiểu dángnhà sàn Mường cũng là một nét riêng làm phong phú thêm văn hoá nhà sàn của cácdân tộc Việt Nam
Cưới xin, ma chay của người Mường đặc biệt người Mường ở Hòa Bình cũng có những nét riêng biệt.
Tục cưới xin của người Mường gần giống như người Kinh (chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới và đón dâu) Lễ vật của nhà trai đem đến cho nhà gái có trầu, cau,
rượu, lợn, gà…có ba lễ chính và những yêu cầu của nhà gái Còn con gái đi lấychồng phải tự sắm sửa và dệt chăn, gối mang về nhà chồng, và cho bố mẹ chồng
Còn ma chay cũng theo một tục lệ nhất định, khi người chết tắt thở đượcthông báo cho con cháu họ hàng, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang Thi hàingười chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quantài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải
Trang 23Tang lễ do thầy mo chủ trì Hình thức chịu tang của con cái trong nhà khôngkhác so với người Kinh, tuy nhiên con dâu chịu tang cha mẹ còn có bộ trang phụcriêng, nhìn vào trang phục tang lễ người ta có thể nhận biết các thành viên trong giađình Ví dụ: con trai con dâu, con gái chưa lấy chồng sẽ mặc áo và đội mũ, khăntrắng bằng đồ xô gai, con gái đã đi lấy chồng và và con rể, cháu, họ hàng…mặc áo
và bịt khăn tang mầu trắng bằng vải màn Khi người con trai trong gia đình ấy
chống gậy tre thì gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất
Sau khi chôn người chết, lấp đất kĩ họ lấy 4 viên đá to đẹp để dánh dấu phần
mồ của gia đình mình Bốn viên đá này rất quan trọng để tránh mất mồ mả Tìmđược 4 viên đá coi như tìm được mả Ngày nay, ở Hòa Bình việc đánh dấu này đãkhông còn tồn tại, thay vào đó là những tấm bia ghi tên người mất đặt ngay phầnđầu Người Mường ở Kim Bôi sau khi chôn họ còn làm nhà ma Người Mường ởhuyện Lạc Thủy xưa người chết cũng được chia của với quan niệm người sống có gìngười chết có đó, thứ mà họ chia của như nồi, xoong, bát, đĩa, quần áo…nên vàonhững năm 80 của thế kỷ trước một số vùng bị khai thác đồ cổ do từ văn hóa chiacủa cho người chết
Người Mường Lạc Sơn Hòa bình: sau khi chôn người chết, 3 đêm đầu vẫn đểhương thờ, sau 3 đêm thì làm lễ cho đồ dùng…và đưa người chết về mồ về mả Đến
49 ngày thì làm lễ "thay màu áo" Tức là nhuộm áo tang chấm dứt mặc áo tang
Đám ma của người Mường Bi Hòa Bình, nếu tổ chức theo nghi lễ cổ truyền
là một chuỗi nghi lễ phức tạp và kéo dài đến 12 ngày đêm [30, tr117] Nhà văn
Phượng Vũ nghiên cứu trong cuốn Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi
thì đám hiếu được tổ chức phức tạp và kéo dài với nhiều thủ tục như lễ nghĩa như
thủ tục trao quần áo cho người chết ở ngày thứ nhất, ngày thứ hai làm lễ lống trùng
để xua đuổi những hồn ma đang lẩn khuất bên người chết, những ngày sau đó làn lễ
tâng dây để cát đứt dây dưa bệnh tật, truyền nhiễm cho con cháu sau này, rồi làm lễ nhập quan,lễ quạt mo, lễ nhương ăn, rồi đêm mo nhì họ ở ngày thứ 3, ngày thứ tư
đưa người chết ra mộ địa, sau đó cúng các lễ theo luật tục cho đến ngày thứ 12 Nhưvậy, điểm qua một vài nét động đáo trong đám ma của người Mường Hòa Bình, ta
đã thấy nhiều nét khác biệt tạo nên văn hóa của vùng Mường
Lễ hội, trang phục của người Mường cũng đáng để cho chúng ta phải quantâm Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Sắc bùa, hội xuống đồng (Khung
Trang 24mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới Còn
trang phục của người Mường cũng có nhiều nét độc đáo Họ đã tạo hình và phongcách thẩm mỹ trên trang phục của mình và có đặc trưng riêng Đàn ông thường làmặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, có hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Quần củacủa đàn ông thường có ống rộng và dùng khăn thắt giữa bụng
Còn nữ giới, hằng ngày thường mặc áo pắn (áo ngắn) Đó là loại áo cánhngắn, xẻ ngực, ống tay dài, áo màu nâu hoặc trắng, bên trong mặc áo yếm trắng.Trên đầu người phụ nữ Mường họ thường đội khăn trắng, xanh Váy, thường là loạiváy kín màu đen Nét đặc sắc trên trang phục của người Mường chính là nhữngmảng hoa văn nổi lên giữa trang phục và cạp váy, ở phần thắt lưng Hoa văn trêncạp váy còn thể hiện đẳng cấp, con gái và bà nàng nhà lang sẽ mặc những váy cócạp váy với văn hoa rồng phượng, còn đàn bà, con gái dân thường chỉ được mặc cạpváy với hoa văn thường như kẻ vuông, hình quả trám Mỗi hoa văn lại có một cái
co này để sau này để nhấc lên, rồi xuyên chỉ để nó có màu trắng, màu đen hoặc màu
đỏ để nó kết hợp hoặc làm nổi bật con rồng bay Đây là nét hoa văn trên trang phụccủa người Mường
Người Mường có một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, đa dạng vớinhiều thể loại như: Truyền thuyết, sử thi, thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm,tục ngữ… Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻcon chơi Cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngoài ra còn nhị,sáo trống, khèn lù Đặc sắc nhất trong các loại hình này chính là những làn điệu củanhững bài dân ca Mường Dân ca Mường gồm nhiều thể loại như: Thường đang (hátmừng nhà mới), bọ mẹng (hát giao duyên), hay trường ca như Nàng Nga – Hai Mối,
Út Lót – Hồ Liêu Những lời ca trong dân ca Mường thường có câu 6 và câu 8 xen
kẽ nhau như một câu thơ lục bát của người Việt cùng những thang âm luyến láy
Trên đây khái quát sơ lược những văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc Mường nói chung và ngườiMường ở Hòa Bình nói riêng Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thiếu xót, nhưng phần nào gợi mở chút hiểu biết về dân tộc Mường Những đặc trưng
về văn hóa vật chất và tinh thần người Mường Hòa Bình đã thể hiện khá nhiều trong hai tiểu thuyết của Phượng Vũ, ít nhiều giúp người đọc hình dung và lưu nhớ về một dân tộc Mường Qua đây, chúng ta cần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường ở các huyện có đồng bào Mường sinh sống không chỉ góp
Trang 25phần xây dựng, phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho người dân mà còn gópphần thúc đẩy văn hóa xã hội ngày càng phát triển.
1.2 Khái lược sáng tác của Phượng Vũ
1.2.1 Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp
Phượng Vũ (1937-2000), tên thật là Nguyễn Phương Tú, ngoài bút danhPhượng Vũ ông còn có bút danh khác như Từ Vân, Phương Lê Sinh ngày 23 tháng
7 năm 1937 Quê ở xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc ngoạithành Hà Nội) Xuất thân là một giáo viên cấp 2 dạy văn học, sau đó ông làm cán bộtại ty Văn hóa tỉnh Hà Đông, rồi làm Trưởng phòng sáng tác của Sở văn hóa tỉnh HàSơn Bình (gồm Hà Tây, Hòa Bình, Sơn Tây)
Năm 1992 tái lập tỉnh Hà Tây, Nguyễn Phương Tú (Phượng Vũ) làm Giámđốc Sở Văn hóa- Thông tin và thể thao Hà Tây Khi thành lập Hội Văn học nghệthuật tỉnh Hà Tây ông làm chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật, Tổng biên tập tạp chíDiễn đàn văn nghệ Việt Nam
Phượng Vũ với niềm đam mê văn chương và có có duyên với nghiệp văn nênnăm 21 tuổi ông tham gia cuộc thi sáng tác văn chương do tạp chí Văn nghệ tổ chức
và đạt giải ba với truyện ngắn Người nữ trưởng ga và được in trong tạp chí Văn nghệ số 21 vào tháng 2 năm 1959 Từ đó, ông tạm biệt nghề dạy học và chuyển lên
ty Văn hóa Hà Đông (thuộc tỉnh Hà Sơn Bình cũ) làm công tác biên tập và sáng tácvăn học Sau nhiều năm sáng tác ông đã có những đóng góp đáng kể vào kho tàngvăn học Việt Nam ở nhiều thể loại khác nhau
Như vậy, Phượng Vũ đến với văn chương là một cái duyên và ông đã ghi dấunhững trang văn của mình vào làng văn, là người đầu tiên của vùng Hà Tây đóng góp trong
sáng tác văn chương trong thời kì mới, đúng như Đặng Hiển đã nhận xét “Phượng Vũ cũng
là người lãnh đạo, thúc đẩy và nêu gương cho cả phong trào sáng tác của một vùng văn học Phượng Vũ là cánh chim đầu đàn của vùng văn học ấy”[2, 169 ].
Có lẽ, Phượng Vũ đến với văn chương là không chủ định, nhưng nghiệp văn
đã gắn với cuộc đời ông Phượng Vũ không chỉ sáng văn học mà còn nghiên cứuvăn hóa, lịch sử, địa chí Hơn 40 năm sáng tác ông để lại cho đời một số lượng sángtác không nhỏ, dù là cương vị là một thầy giáo, trưởng phòng sáng tác hay Giámđốc Sở Văn hóa thông tin Hà Tây Phượng Vũ vẫn miệt mài, hăng say trong côngviệc sáng tác văn học và nghiên cứu văn hóa lịch sử, địa chí về vùng đất Hà Tây,
Trang 26Hòa Bình (trước đây là Hà Sơn Bình) Để thấy được đóng góp của Phượng Vũ, luậnvăn đã thống kê sáng tác của nhà văn một cách sơ lược như sau:
Nhà Số lượng
xuất bản
xuất bản
1 Người nữ trưởng ga Truyện 1959 Hội liên 1 Tg Phượng Vũ
( tác phẩm dự thi) ngắn hiệp văn
học nghệthuậtViệtNam
2 Người anh hùng Truyện 1967 1 Tg Phượng Vũ
4 Người mẹ và những Truyện 1996 Hội nhà 1 Tg Phượng Vũ
5 Hoa hậu xứ Mường Tiểu 1984 Tác 1 Tg Phượng Vũ
mớiHoa hậu xứ Mường 1984 Sở văn Lần1
hóathông tin
Hà SơnBình
Hoa hậu xứ 1986 Hội nhà Lần2 Xuất bản nhiều
tậpHoa hậu xứ Mường 1997 Văn học Lần3
(Tập 1,2)
Hoa hậu xứ Mường 2004 Hội nhà Lần 4
vănHoa hậu xứ Mường 2007 Hội nhà Lần 5
văn
6 Năm người bạn Tiểu 1996 Văn học 1
thuyếtTiểu thuyết Phượng Tập tiểu 1997 Văn học 1 Gồm nhiều tiểu
22
Trang 278 Trước cửa thiền Tiểu 1993 Hội nhà 1 Tg Phượng Vũ
9 Vương quốc ảo ảnh Tiểu 2001 Quân đội 1 Tg Phượng Vũ
thuyết nhân dân
ViệtNamVùng đất có những Tập bút 1995 Hội văn 1 Tg: Phượng Vũ
Địa chí Hà Tây Sách 1999 Sở 1 Tg Phượng Vũ
14 Lễ hội cổ truyền Hà Sách 1997 Hà Tây : 2 Tác giả: Phượng
Tây Sách sưu Sở văn Vũ, Hồ Sĩ Vịnh
khảo cứu thông tin
Lễ hội cổ truyền Hà Sách sưu 2000 Hà Tây : 3 Phượng Vũ và
thông tinQuy ước làng văn Sách sưu 1995 Hà Tây: 1 Tg Phượng Vũ
16 hóa Phú Xuyên… tầm, Huyện
XuyênThơ Hà Tây thế kỉ Sách sưu 1997 Hội văn 1 Tô Hoài và
văn hóa
Hà TâyVăn học Hán Nôm Sách sưu 1997 Hà Tây : 1
Trang 28hóa-1.2.2 Quan niệm văn chương của Phượng Vũ Phượng Vũ
Bảng thống kê sơ bộ trên cho thấy Phượng Vũ có số lượng trước tác kháphong phú, trong cả tư cách nhà văn và nhà sưu tầm, khảo cứu
Cũng giống như các nhà văn khác cùng thời, Phượng Vũ cũng có nhữngquan điểm sáng tác riêng, nhưng có lẽ những gì ông viết đều phản ánh cuộc sốngđời thực Từ xã hội, con người, đến những nét văn hóa hiện lên như bức tranh cuộcsống Từ khen đến chê, từ tự hào đến nỗi xót xa đều dựa vào thực tế Tóm lại văn
chương của Phượng Vũ là phản ánh hiện thực Nhà thơ Đặng Hiển có nói: “những nhân vật trong truyện của Phượng Vũ Thường lấy trong nguyên mẫu đời thường”,
ví dụ nhân vật Diễm trong truyện ngắn cùng tên của ông
Phượng Vũ có hơn 40 năm nghề cầm bút và có nhiều đóng góp ở nhiều thểloại khác nhau Với những sáng tác truyện ngắn Phượng Vũ đã đánh dấu công lao
của mình với giải ba tác phẩm Người nữ trưởng ga( 1959) đã kể về sự trưởng thành
và quyết tâm của một cô gái xinh đẹp, giỏi giang Miền nam tập kết luôn có lí tưởng,
ý thức phấn đấu làm chủ cuộc đời Còn trong tập truyện Người mẹ và những đứa con với bút pháp hiện thực, ông dựng lên tượng đài người mẹ anh hùng đã dâng
hiến cho tổ quốc những đứa con thân yêu, coi các chiến sĩ cách mạng như con củamình làm nổi bật sự hi sinh vĩ đại của người mẹ, khiến người đọc cảm thấy rất xúc
động Và tác phẩm Diễm cho ta thấy một sự vượt lên sau những vấp ngã của của cuộc đời Còn truyện Tầm gửi, phản ánh những tồn tại của xã hội đương thời những
cán bộ bất tài nhưng luôn mưu lợi cho cá nhân
Tác phẩm được coi là lớn và có giá trị hơn cả trong sáng tác của ông chính là
bộ tiểu thuyết Đất Mường gồm hai quyển có tên Hoa hậu xứ Mường và Vương Quốc ảo ảnh hơn một nghìn trang viết, quyển Hoa hậu xứ Mường ra đời lần đầu
Trang 29năm 1984 và được xuất bản nhiều lần, tác phẩm đã phản ánh được cuộc sống người
dân dưới chế độ lang đạo và thực dân, tác phẩm Hoa hậu xứ Mường cũng được
chuyển thể thành kịch do Doãn Hoàng Giang đạo diễn Tác phẩm được nhà văn viết
về những biến cố lịch sử, con người ở vùng đất Mường Hòa Bình sau cách mạnhtháng 8/ 1945
Trong những trang viết của ông trong hai tiểu thuyết, người đọc không chỉthấy những biến cố lịch sử của vùng đất mà còn thấy sự phân hóa nội bộ của chế độquan lang, những số phận người dân Mường phải chịu cảnh bóc lột, đè nén lên cuộcsống và tâm hồn của họ dưới sự cai tri của chế độ quan lang và thực dân Pháp Tácphẩm người đọc phần nào cũng thấy được cảnh đẹp của thiên nhiên núi rừng vànhững phong tục tập quán của dân tộc Mường Hòa Bình
Để có được bộ tiểu thuyết Đất Mường, Phượng Vũ đã dày công tìm hiểu về
vùng đất, con người, văn hóa nơi đây Khi sáng tác bộ tiểu thuyết “Đất Mường”,Phượng Vũ đang công tác tại Ty văn hóa Hà Sơn Bình Ông đã nghiên cứu, tìm hiểusưu tập nhiều về văn hóa người Mường, ông đã đi đến những địa danh của cái nôivăn hóa Mường như: Mường Vân, Bi, Vang, Thàng, Động…tìm hiểu, sưu tầm viết
lên bộ tiểu thuyết Đất Mường hơn 1000 trang Sự hiểu biết của ông về người
Mường, đất Mường còn thể hiện ngay ở việc ông là chủ biên cho những nghiên cứu,sưu khảo sâu về văn hóa Mường được giới nghiên cứu dân tộc học đánh giá cao, coi
như tư liệu gốc mà tiêu biểu nhất là Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi– Mường lớn và quan trọng nhất của xứ Mường Hòa Bình.
Bên cạnh những trang viết về truyên ngắn, tiểu thuyết Phượng Vũ còn cónhiều đóng góp ở những thể loại khác nhau
Về địa lí, lịch sử, văn hóa ông có tác phẩm Địa chí Hà Tây một quyển sách
viết về 9 vấn đề của: Điều kiện tự nhiên dân cư, dân số, đất đai và phần lịch sử HàTây từ tiền sử đến nay Kinh tế du lịch, danh lam thắng cảnh, y tế giáo dục, nhữngthành tựu văn hoá khoa học kỹ thuật, văn học, tôn giáo và và tập quán văn hoá, Hồ
Chủ Tịch với nhân dân Hà Tây , Lễ hội cổ truyền, cuốn sách lựa chọn và giới thiệu
những lễ hội tiêu biểu của Hà Tây Hội Bối Khê, Hội Đền Và, Hội Chùa Hương, Hộichùa Thầy, Hội làng Khê Thượng, lễ hội Vân Sa v.v… Nội dung sách tập trungmiêu tả diễn biến của các lễ hội đi sâu vào những trò diễn, lễ thức đặc sắc có giá trị
văn hóa trên địa bàn của tỉnh Hà Tây (cũ) Hà Tây Làng nghề- làng văn, giới thiệu
Trang 30những đặc điểm về môi trường địa lý, sắc thái văn hóa riêng biệt của các làng quênổi danh của tỉnh Hà Tây Truyền thống hiếu học, đôi nét về các danh nhân, các di
tích lịch sử văn hóa của mỗi làng Tập bút kí Vùng đất có tên gọi mới Đặc biệt cuốn sách nghiên cứu về người Mường Bi Hòa Bình có nhan đề Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi, đây là cuốn sách nghiên cứu của nhiều tác giả mà Phượng
Vũ là chủ biên viết về nền văn hóa cổ truyền Mường Bi, đã kết đọng vốn liếng vậtchất, tinh thần của nhiều thời đại lịch sử đã đi qua về văn hóa cổ truyền, dân ca, tụcngữ, truyện cổ
Với những đóng góp của Phượng Vũ ở nhiều lĩnh vực đã có nhiều tác giả nổitiếng đã có bài viết nói đến công lao của Phượng Vũ như nhà thơ Đặng Hiển có bài :
Phượng Vũ – cánh chim đầu đàn của văn học xứ Đoài (Tiểu luận của Đặng Hiển) Trong cuốn Nhà văn Việt nam hiện đại (NXB Hội nhà văn, 2010), đã khái quát cuộc
đời và những tác phẩm tiêu biểu của Phượng Vũ Nhà thơ Nông Quốc Trấn, Tô Đông
Hải có những bài viết về Phượng Vũ như Folklore trong tiểu thuyết “Hoa hậu xứ
Mường” của nhà văn Phượng Vũ Tác giả giới thiệu qua về tiểu thuyết Hoa hậu xứ
Mường, phân tích và trích dẫn một số đoạn để chứng minh rằng phônclo có mặt trong
tiểu thuyết này và là một bộ phận hữu cơ của đời sống các nhân vật trong tiểu thuyết
Tuy Phượng Vũ có nhiều đóng góp trong sáng tác, nhưng trên thực tế vẫn chưa
có công trình nghiên cứu chuyên sâu, hay luận văn, luận án nào viết về Phượng Vũ
Đơn cử như luận án tiến sĩ của Bế Thị Thu Huyền với tiêu đề Tiểu thuyến của các nhà văn dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc sau 1986 từ góc nhìn văn hóa cũng nhắc nhiều
đến các nhà văn viết về người miền núi cả cử dân tộc đa số nhưng không nhắc đến tênnhà văn Phượng Vũ Vì vậy, luận văn này tôi muốn có một chút đóng góp nho nhỏ để
nghiên cứu công lao, thành tựu của nhà văn Phượng Vũ trong hai tiểu thuyết Hoa hậu
xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh nhìn ở góc độ văn hóa.
1.2.3 Tác giả Phượng Vũ trong dòng văn học viết về miền núi
Hơn nửa thế kỉ qua, dòng văn học viết về đề tài miền núi đã có những đóng gópđáng kể cho sự nghiệp phát triển văn học Việt nam Với những đóng góp của các nhà
văn tên tuổi như Tô Hoài với “Vợ chồng A Phủ”; Thu Bồn với “Bài ca chim Chơ rao”,
Ma Văn Kháng với “Xa Phủ”, “Đồng bạc trắng hoa xòe”, Cao Duy Sơn với “Đàn trời”, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với “Những ngọn gió Hua Tát”…Thì mảnh đất Hà
Tây (cũ) có nhà văn Phượng Vũ cũng có nhiều đóng góp cho văn chương hiện đại nói
Trang 31chung và đặc biệt văn chương miền núi, nhất là người Mường Hòa Bình với tiểu
thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh và một số nghiên cứu khác.
Ông nổi tiếng với bộ tiểu thuyết Đất Mường sau đổi là Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh được ra đời vào năm 1984 Sau cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
văn chương nhanh chóng tìm được nguồn cảm hứng mới, hướng thể hiện mới đó là
cuộc hồi sinh kì diệu, như Hoài Thanh nói “cuộc tái sinh mầu nhiệm”của đất nước và
con người Nhà văn Phượng Vũ cũng bắt nguồn từ cảm hứng đó đã tìm đến văn họcmiền núi để dồn tâm huyết cho việc tái sinh lại những sự kiện tại đất Mường sau cáchmạng tháng 8 năm 1945, hai thuyết là sự hiện thực hóa các vấn đề mà nhà văn còn trăntrở Với sự thay đổi của đất nước ảnh hưởng đến đồng bào miền núi, đặc biệt dân tộcMường Hòa Bình Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú, sự hiểu biết sâurộng về vùng đất, dân tộc Mường Ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh độngnhững nỗi đau thương, khổ nhục của người dân dưới ách áp bức nặng nề của kẻ thùthực dân phong kiến Phượng Vũ đã xây dưng được một số nhân vật sinh động đại diệncho cả hai mặt, phản ánh đúng tính chất, đặc điểm tính vùng miền Điểm đáng chú ýnhất trong các tiểu thuyết này của ông là hàng loạt những chi tiết đầy giá trị về mặt dântộc học, văn hóa Mường Hòa Bình ở mọi mặt đời sống, tâm tình đã được tái hiện, sinhđộng và chân thực Chính kho dữ liệu đồ sộ này về văn hóa Mường trong tiểu thuyếtcủa ông có một giá trị đặc biệt trong việc hiểu con người văn hóa Mường Hòa Bình
Bên cạnh hai tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh, Phượng
Vũ còn có đóng góp vào văn chương miền núi với nghiên cứu Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi Đây là cuốn sách, là một công trình nghiên cứu của
nhiều tác giả, mà Phượng Vũ là chủ biên Cuốn sách nghiên cứu nền văn hoá cổMường Bi, kết đọng vốn liếng vật chất, tinh thần của nhiều thời đại lịch sử đã điqua: Văn hoá cổ truyền, dân ca tục ngữ, truyện cổ Ngoài ra, ông cũng có nhiều bài
đăng báo thể hiện sự quan tâm, nghiên cứu về đề tài miền núi như Cuộc vận động viết về vùng dân tộc miền núi.
Người ta nói: “Dao có mài mới sắc”, với sự cần mẫn, bền bỉ, dẻo dai, không
ngừng học hỏi và sự tích lũy, tự vượt mình để sáng tạo đó chính là điều làm nên bảnlĩnh và tài năng nghệ thuật của Phượng Vũ Với những thành tựu to lớn đã đạt đượcsau gần nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Phượng Vũ xứng đáng là một trong nhữngcây bút tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, là tấm gương lao động nghệ
Trang 32thuật cho văn nghệ sĩ Mong sao người đọc hiện nay và mai sau có lẽ sẽ biết đến têntuổi và những đóng góp to lớn của Phượng Vũ đối với nền văn chương dân tộc, đặcbiệt văn chương viết về miền núi qua những sáng tác của ông.
Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa luôn có mối quan hệ khăng khít Vìvậy, văn học không chỉ là bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối trực tiếp của vănhóa mà còn là một phương tiện để lưu giữ và truyền tải văn hóa Trong hai tiểuthuyết của Phượng Vũ, văn hóa Mường hiện lên gắn với một không gian truyềnthống đậm đà bản sắc dân tộc
Ngoài làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, luận văn còn sử dụngphương pháp thống kê những sáng tác của Phượng Vũ để có cái nhìn sơ lược vềnhững đóng góp của Phượng Vũ ở các thời kì, từ đó người đọc thấy được công lao
to lớn của Phượng Vũ cả về văn hóa và văn học đặc biệt văn hóa dân tộc MườngHòa Bình
Trang 33Chương 2 VĂN HÓA TỘC NGƯỜI TRONG HAI TIỂU THUYẾT CỦA PHƯỢNG VŨ
2.1 Quan điểm, triết lí văn hóa của nhà văn Phượng Vũ.
Từ xưa đến nay có rất nhiều các quan niệm văn hóa khác nhau Trần Nho
Thìn viết trong Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng dạy văn học
[37], đã thống kê rất nhiều quan niệm văn hóa của các nhà nghiên cứu như:
Năm 1959, Leslie Alvin White cho rằng văn hóa là biểu tượng, các sự vật,hiện tượng hay hành động có gắn với năng lực tạo ra biểu tượng của con người
“Trong nhiều lớp sự vật, hiện tượng mà khoa học hiện đại nghiên cứu có một lớp chưa có tên gọi Đó là lớp hiện tượng gắn liền với năng lực cấp cho tư tưởng, hành động, các sự vật ý nghĩa tượng trưng và năng lực tiếp nhận các biểu tượng vốn là năng lực chỉ con người mới có Chúng tôi đề nghị gọi lớp sự vật, hiện tượng gắn liền với sự biểu tượng hóa là lớp các biểu tượng”[37, tr16] Với quan niệm này, Leslie Alvin White coi văn hóa chính là hệ biểu tượng Dựa vào quan niệm này, ta
thấy nhà văn Phượng Vũ đã dựa vào biểu tượng mà cung cấp cho người đọc về các
sự vật, hiện tượng gắn liền với văn hóa của người Mường Hòa Bình Những thôngđiệp về văn hóa mang chiều sâu của quá khứ tộc người, vùng đất thông qua những
hệ thống hình ảnh phái sinh của biểu tượng trong hai tiểu thuyết của mình Vậy,biểu tượng trong thế giới tiểu thuyết của Phượng Vũ ở đây là gì? Chính là các yếu tốvật chất và tinh thần tạo nên văn hóa của người Mường Hòa Bình như: trống đồng,xanh đồng, cồng chiêng, thổ cẩm…, còn biểu tượng tinh thần được thể hiện qua cáctruyền thuyết, văn học dân gian, các lễ hội như vua Dịt Dàng, cây si…Tất cả cácbiểu tượng này đều chứa các hiện tượng văn hóa do con người tạo nên để ghi dấunhững nét riêng biệt của người Mường Hòa Bình trong hai tiểu thuyết của ông
Hofstede lấy hình ảnh các lớp của vỏ của củ hành để hình dung các thành tốcủa văn hóa Lớp vỏ ngoài cùng là biểu tượng (symbol), lớp tiếp theo nữa là cácnhân vật tiêu biểu (heroes), lớp vỏ thứ ba là nghi lễ (ritual) và lớp nữa thuộc về quanniệm về giá trị (value) [27, tr 17] Có lẽ quan niệm này rất đồng quan điểm về vănhóa của Phượng Vũ, vì thế, hình ảnh các lớp củ hành đã lần lượt hiện ra ở hai tiểu
thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh Đầu tiên ta đọc Hoa hậu xứ Mường, ta cảm nhận được văn hóa Mường hiện lên trong văn hóa sinh hoạt của nhà
Trang 34lang đạo, rồi từ đó mở ra những nét văn hóa khác nhau trong các biểu tượng, nhưcảnh quan nhà lang, như văn hoa cạp váy, như ăn uống, tín ngưỡng, lễ hội, cồngchiêng… của người Mường Với Phượng Vũ, biểu tượng văn hóa vừa mang biểuhiện của sự vật có tính vật chất như trống đồng, xanh đồng, cồng chiêng, nhà sànthể hiện quyền lực, giầu có… của nhà lang, thì biểu tượng văn hóa còn mang chứcnăng biểu hiện một tư tưởng, một ý nghĩa trừu tượng đó là những cái không có tínhvật chất như lễ hội, lễ cụng mùa, lễ kéo si, hát …và từ biểu tượng văn hóa vật chất
và tinh thần ta cảm nhận được những giá trị văn hóa của người Mường thông qua
biểu tượng đó Đúng như Trần Nho Thìn đã nhận xét: Một biểu tượng có thể chứa đựng nhiều nghĩa và một nghĩa có thể được diễn tả bằng nhiều biểu tượng [37,
tr18] Mỗi một biểu tượng là một tự sự về văn hóa, có cả một lịch sử đứng sau nó và
từ lịch sử đó chúng ta hiểu về sự việc, con người, xã hội, dân tộc Hình ảnh xanhđồng được nhà văn Phượng Vũ giới thiệu khi miêu tả về quyền thế của nhà lang.Xanh đồng đặt trên trụ nằm giữa trung tâm của khu nhà lang, xanh đồng rất to, về
sự vật con người ta có thể nhìn thấy và có thể dùng như một vật dụng của cuộc sống
mà như nhà văn nói: có thể luộc ba con trâu một lúc Ngoài ra, hình ảnh xanh đồngnày còn biểu tượng cho quyền lực, giầu có, quyền thế của nhà lang Hay, hình ảnhcồng chiêng cũng biểu tượng trong văn hóa Hòa Bình, cũng được Phượng Vũ giớithiệu trong tiểu thuyết của mình với tư cách là vật dụng biểu tượng quyền uy củacác nhà lang trong những ngày lễ, tết…Trong đời sống xã hội Mường, cồng chiêngđảm nhiệm một vai trò rất quan trọng và có tác dụng về nhiều mặt như: để gâykhông khí rộn rã, tưng bừng, náo nhiệt trong hội hè, xắc bùa, cưới xin, đón rước…,trang nghiêm trong cúng bái, buồn thảm trong tang lễ Cồng chiêng còn thay mệnhlệnh, như chiêng triệu tập, hiệu lệnh Cồng chiêng còn tăng uy thế, khích lệ lòngdũng cảm, gây hào hứng động viên trong các cuộc đi săn, kéo gỗ…Cồng chiêng còntượng trưng cho quyền lực như chiêng nhà lang, chiêng nhà thờ, chiêng mo Haynhững tri thức dân gian được từ đời này sang đời khác cũng được Phượng Vũ gópnhặt và đưa vào trong tiểu thuyết của mình, chẳng hạn như biểu tượng cây si Bởi lẽ,cây si xuất hiện trong truyền thuyết lí giải nguồn gốc người Mường, cây si có vị tríquan trọng trong đời sống tâm linh của người Mường nên cây si là biểu tượng cho
sự may mắn, nên hẹn hò yêu nhau cũng ở gốc si, muốn khỏi ốm thì cúng si, muốnthoát cảnh nghèo đói cũng cúng si Cây si là vật biểu tượng cho yếu tố tinh
Trang 35thần, là cây bản mệnh cho dân tộc Mường mà Phượng Vũ đã nắm bắt đưa vào tiểuthuyết làm biểu tượng cho văn hóa Mường Hòa Bình ở phương diện tinh thần.
Như vậy, với quan niệm và triết lí văn hóa của Phượng Vũ có lẽ là lấy cáibiểu hiện chính là biểu tượng chứa đựng văn hóa Hòa Bình để biểu hiện những quyước của một cộng đồng văn hóa Vì vậy, văn hóa Mường Hòa Bình hiện lên trongtiểu thuyết của Phượng Vũ một cách tự nhiên chứa đựng nhiều ý nghĩa
2.2 Xứ Mường Hòa Bình
Hòa Bình từ lâu đời được coi là vùng đất cổ người Mường, ở đây có cácMường lớn như Bi, Vang, Thàng, Động và nhiều Mường nhỏ châu tuần Xứ MườngHòa Bình xa xưa được biết đến một chỉnh thể địa lý tộc người mang đậm bản sắcvăn hóa Mường Người ta biết đến tỉnh Hòa Bình với hình ảnh con sông Đà hung dữ
và trữ tình trong áng văn của Nguyễn Tuân, họ còn biết đến Hòa Bình với côngtrình thủy điện được bắc trên con sông hung bạo và trữ tình đó để cung cấp cho cảnước dòng điện thắp sáng và còn biết Hòa Bình là cái nôi của văn hóa Đông Sơn
Xứ Mường Hòa Bình được hình thành từ rất lâu: “từ buổi Chi Quyên Chạp và Chi Quyên Chò cầu xin Lang Đá Cần lên làm lang các xứ Mường và làm vua vùng xuôi, dân chúng cư xử chân thành đối với lang Lang coi dân như con Cho nên, dân làng luôn luôn giữ kỉ niệm về những việc làm tốt do viên lang đầu tiên đã đem lại cho họ”[6, tr.29] Theo P Grossin viết trong quyển Tỉnh Mường Hòa Bình thì Lang Đá Cần
là người đầu tiên dạy dân, ông sống vào thời Hùng Vương, ông có công khai phá vùngMường, dạy cho dân Mường biết kiếm cái ăn để sống, biết dùng lửa để giữ ấm và nấu
ăn Thổ lang cũng đã hình thành và phát triển tại đây, trên đất Mường Hòa Bình
Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua (năm 968) thì trong nghiệp bá vương củaông, Đinh Tiên Hoàng được các thổ lang giúp đỡ, nên khi lên ngôi vua, nhà vua đãchiếu cho các quan lang ở xứ Mường được cha truyền con nối, các lang phải nộpthuế ba tháng một lần, các quan lang còn thay nhau vào chầu vua, mỗi người chầu
ba tháng một lần [6, tr.30]
Đến Thời vua Lê Đại Hành, quan lang nộp thuế cho vua bằng cống vật, vuacũng ban tước hiệu cho quan lang như các triều đại trước, con trai trưởng được làmlang cun, con trai thứ được làm thổ đạo
Dưới thời Lý Thánh Tông, các thổ lang giúp vua đánh giặc, quan lang cũngđược thưởng nhiều tước hiệu như: công, hầu, bá, chỉ huy sứ, kinh lược sứ, phụng
Trang 36ngự sử, phò mã…vua còn sai thợ đúc nhiều trống đồng để cho các thổ lang, thế nênchiếc trống đồng cũng được coi là biểu tượng của các nhà lang, sự sở hữu trốngđồng chứng tỏ chủ của nó là thổ lang.
Dưới thời Hồ Quý Ly, thì bắt tất cả các thổ lang, thổ ty, phụ đạo, đàn bà congái, của cải về chầu vua
Thời Mạc Đăng Dung, có sắc chỉ ban tước hiệu và đặc quyền cho các lang,
có quan lang theo giúp đỡ vua được ban chức “Cẩm thị vệ”
Thời Lê- Trịnh, các thổ lang chỉ khi nào có lệnh mới phải về chầu vua
Khi nhà Tây Sơn lên ngôi thì các thổ lang, thổ thổ ty, phụ đạo phải đích thânvào lạy và mừng nhà vua Các tước hiệu, thưởng vật cũng được hưởng như thời Lê[6, tr 32]
Dưới thời Thế tổ Cao Hoàng Đế, các thổ lang, thổ ty và phụ đạo ở khắp nướcvào mừng nhà vua, vua ban thưởng chức tước và đặc ân như thời Lê
Năm thứ 14 dưới triều vua Minh Mạng, tả quân Lê Văn Duyệt đã xúi các thổlang làm loạn Thổ lang làng Sơn Âm, làng Yên Lương thuộc tổng Chiêm Hóa, châuLạc Thủy là Quách Tất Công xúi dục các thổ lang Lạc Sơn, Quảng Tô, … chống lạichính phủ Nam Triều, tái lập nhà Lê cho một người con cháu nhà hậu Lê, đó là Lê DuyLương đang ẩn náu vùng Lạc Sơn Triều đình đã cử Hà Duy Phiên làm chánh khâm sai
và Tạ Quang Cự làm phó khâm sai, đi bắt Quách Tất Công và các thổ lang ở Mường Bi
và đưa người đứng đầu cuộc nổi loạn về triều đình quy thuận chứ không giết [6, tr.33]
Sau cuộc nổi loạn này, nhà vua đã tước bỏ mọi đặc quyền của các thổ lang vàphụ đạo, song dân chúng vẫn yêu thương, trung thành, đùm bọc và che chở còn giấucác quan lang vào rừng
Triều đình Minh Mạng năm thứ 18, châu Lạc Sơn gồm 24 làng, nhưng cácxóm của các làng nơi đây lại lớn nên bị chia nhỏ thành 50 làng Làng Sơn Âm, nơi
mà các thổ lang nổi loan chống lại triều đình dân đều bị đuổi đi hết, mãi sau nàymới được trở về làng cũ
Khi Tự Đức lên ngôi mới phục hồi các quyền và đặc ân cho các thổ lang vàđược ban thưởng các chức lãnh binh
Sau này, người Mường cùng nhân dân cả nước tham gia bảo vệ và lao độngxây dựng đất nước Đến thời kì Pháp thuộc, người Pháp vẫn trọng dụng họ đặc biệtcác quan lang vẫn cho họ được giữ các chức vụ và đặc quyền
Trang 37Tỉnh Mường Hòa Bình được thành lập vào năm 1884, nhưng lúc bấy giờchưa có cuộc sống riêng biệt, đến ngày 27/ 1/ năm 1886 bãi bỏ tình trang phong tỏa
xứ Bắc Kì, và quyết định ngày 24/5/ 1886 của quan toàn quyền Paul Bert tạm chấpthuận cho riêng xứ Mường được quyền tự quyết định về mặt quân sự [6, tr.35]
Ngày 22/6/1886 tỉnh Mường ra đời nhằm duy trì xứ Mường ở vùng núi phíaTây đồng bằng, và các tỉnh phía tây nam xứ Bắc kì, có một chế độ tự trị rõ ràng,tỉnh Mường bao gồm các vùng đất Mường thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, HàNội, Ninh Bình Các quan của tỉnh được lựa chọn trong các gia đình quyền quý của
xứ Mường, giữ các chức như án sát, bố chánh, lãnh binh hay đề đốc Lỵ sở là Chợ
Bờ (Hòa Bình) là nơi đóng dinh của quan tuần phủ Mường và các nhà chức tráchcủa tỉnh Ngày 29/11/1886 tòa phó sứ quyết định chuyển li sở từ Chợ Bờ về PhươngLâm (nay là trung tâm thành phố Hòa Bình), lúc này ông Paul Bert chết đột ngột ở
Hà Nội vào ngày 11/11/1886,nên ngày 29/11/1886 ông Moulié phó sứ hạng haiđược chỉ định nắm quyền chỉ đạo tỉnh này[6, tr.36,37]
Ngày 29/11/1896, tỉnh lỵ tỉnh Mường chính thức được chuyển về đóng tạiPhương Lâm Hòa Bình, phía bờ trái sông Đà, đối diện với Phương Lâm Từ đó, tỉnhMường được gọi là tỉnh Hòa Bình với 4 châu: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn và Mai
Đà (Huyện Lạc Thủy lúc này thuộc châu Lạc Sơn)
Năm 1908 chuyển về tỉnh Hà Nam Từ đó, địa giới hành chính cơ bản ổn định Đến tháng 5/1953, huyện Lạc Thủy cùng một số xã thuộc Nho Quan, NinhBình chuyển về tỉnh Hòa Bình
Từ năm 1950, các châu được đổi thành huyện và các đơn vị hành chínhhuyện của tỉnh Hòa Bình
Ngày 27/12/1975, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa V đã ra nghị quyết hợp nhấttỉnh Hòa Bình với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình Và theo Nghị quyết của Quốchội khóa VIII kỳ họp thứ 9, ngày 12/8/1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách ra thành 2 tỉnh HòaBình và Hà Tây Khi đó, tỉnh Hòa Bình có diện tích 4.697 km với dân số 670.000 ngườigồm 10 đơn vị hành chính: 1 thị xã Hòa Bình và 9 huyện: Đà Bắc, Mai Châu, LươngSơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Kim Bôi, Tân Lạc, Yên Thủy
Như vậy, trên đây đã khái quát một cách sơ lược về một vùng Mường, tỉnhMường Hòa Bình Nhìn một cách tổng thể, người Mường không có một nền hànhchính tự trị, cũng không có biên giới tự nhiên Và họ lựa chọn các cao nguyên và
Trang 38sườn đồi để dựng làng, sự ưa thích của họ là cảnh suối chảy xiết hơn là sông rộng,
và sự có mặt của các núi đá trong các vùng có người ở [16,tr 59] Người Mường đãtrải qua một quá trình để hình thành, phát triển khá dài với những biến cố và nhữngthành tựu đáng được ghi nhận
Nhà văn Phượng Vũ viết hai tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc
ảo ảnh khi Hòa Bình sát nhập với Hà Tây có tên tỉnh Hà Sơn Bình, nên những vốn
hiểu biết về văn hóa, lịch sử diễn biến theo trình tự thời gian và được nhà văn truyềntải khá rõ trong tác phẩm của mình Qua khảo sát và nghiên cứu, tác giả đã thể hiện,cung cấp cung cấp cho người đọc những tri thức cơ bản về vùng Mường Họ là cưdân bản địa, có nguồn gốc lâu đời, là chủ nhân đầu tiên của vùng đất Hòa Bình
2.3 Không gian văn hóa Mường Hòa Bình
2.3.1 Địa lí và cảnh quan bản Mường
Người Mường thường sống ở gần đồi, núi và các thung lũng ép mình vàonhững dãy núi vàhai bờ sông Đà và khu vực trung lưu của sông Mã, sông Bưởi.Người Mường tập trung sống nhiều nhất ở tỉnh Hòa Bình Nhà văn Phượng Vũ làmột nhà văn của miền xuôi nhưng rất am hiểu văn hóa con người tập tục ngườiMường, đất Mường Những đặc điểm địa lí, cảnh quan của đất Mường Hòa Bìnhđược Phượng Vũ khéo léo đưa vào tiểu thuyết, một cách uyển chuyển và hợp lý, đểlàm nổi bật giá trị dân tộc chí của tiểu thuyết toát ra từ các trang viết của mình
Hai tiểu thuyết Hoa hậu xứ Mường và Vương quốc ảo ảnh của Phượng Vũ,
nhà văn đã tái hiện tổng thể cảnh quan vùng Mường Hòa Bình về địa lí, quang cảnh,cuộc sống thường ngày Về địa lí, Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội gần 80 km về phíaĐông, Hòa Bình giáp với Hà Nam, Phú Thọ,Thanh Hoá, Ninh Bình,Sơn La, ThanhHoá Được coi là cửa ngõ thủ đô, là vùng đệm nối các địa danh của vùng đồng bằng
và vùng tây bắc Do địa hình là có đồi núi, nên Hòa Bình cũng mang một vẻ đẹphùng vĩ và thơ mộng Những đặc điểm này được thể hiện cụ thể trong tiểu thuyếtcủa Phượng Vũ, cảnh vật thiên nhiên hòa quện vào nhau tạo một bức tranh đẹp, vẻ
đẹp đầu tiên người đọc cảm nhận được là vẻ đẹp của đồi núi với những “Dãy núi Thau Lau xa xanh trước mặt lúc vàng ửng lên, lúc tím thẫm, có những chỗ vàng hoe như những vạt lúa hoa ngâu Khoảng giữa dãy Thau Lau có một ngọn núi đỉnh tròn, đầy đăn như mâm xôi Núi ấy là Khụ Mụ "[29,tr 63] Một vẻ đẹp nên thơ của
Trang 39thiên nhiên được tạo bởi ánh nắng chiếu vào dãy núi Thau Lau tạo đa sắc mầu làm chodãy núi nơi đây hiền hòa, mát dịu gây ấn tượng cho người đọc Nói đến đây làm ta lại
nhớ đến Cuisiner viết trong quyển Người Mường dường như các dãy núi đánh dấu địa danh vùng đất nơi đây “Những dãy núi Phương Lâm là đất khởi phục theo hướng bắc của một quần sơn đẹp đẽ, những dãy núi lộn xôn kéo dài khoảng 30 cây số từ đông sang tây […] Dãy núi ôm trọn thủ phủ của tỉnh Mường Phía tây quần sơn này, đất hạ thấp xuống tạo thành một cái khe ngoằn ngoèo chạy xuyên qua tỉnh Hòa Bình từ trung tâm đến phía nam và qua cái khe đó Các núi Thạch Bi thoai thoải cao dần lên […] nhờ có thung lũng tròn có những thửa ruộng có bậc quanh một vài làng quan trọng”[10,tr.48] Những đoạn miêu tả khi “Đứng từ đây có thể thấy bao quát cả một thung lũng lớn rộng lớn cả một nghìn mẫu trải dưới chân đồi Xa tít cuối thung lũng là một rặng núi vòng cung uốn lượn như rồng phục, hổ chầu”[29,tr 35].
Chính sự ngoằn ngoèo của những khe núi và dãy núi trập trùng làm cho thiênnhiên nơi có một vẻ đẹp hoang sơ như đoạn Quỳ đi ngựa từ xóm Chiềng lên núi
Khụ Mụ khi ngoảnh lại thấy xóm Chiềng chỉ là một vệt xanh lẫm thẫm lẫn vào khoảng rừng núi thăm thẳm [29,tr 60] Những đoạn nhà văn miêu tả những cao nguyên, thung lũng rất nên thơ và đặc sắc: “Cao nguyên Thạch Phong như một cái lẫy của vòng cung Mường”[29,tr.430] Câu văn như tạc, như khắc cảnh thiên nhiên đẹp đến mê hồn Và những Thung Mây như chốn bồng lai, tiên cảnh “mây lúc nào bay là là trên mái nhà, khi leo núi mây bay ở dưới chân Cây cối thì gốc to như cái nia, cao đến mấy chục thước Lại có nhiều thông chẳng khác gì Sa Pa hay Đà lạt Ở Thung mây phong cảnh hùng vĩ…”[29,tr.499] Nhà văn, hiểu thiên nhiên, đã dùng
những tri thức về địa lí để miêu tả thiên nhiên xứ Mường, giúp người đọc cảm nhậnđược sự hùng vĩ, hoang sơ, lãng mạn, dữ dội của vùng đất này – một vùng thunglũng lòng chảo miền núi thấp điển hình
Bên cạnh vẻ đẹp hoang sơ của núi non, thung lũng thì những dòng suối cũnggóp phần tạo nên vẻ đẹp hung dữ và lạng mạn của đất Mường Hòa Bình như suối
Me, suối Lạt, suối Chiềng… “Con suối Chiềng ranh giới giữa hai Mường đang chảy róc rách trước mặt, làm vơi đi nỗi vất vả đường xa” [29,tr.504] Dòng suối trở
nên hung dữ, chảy xiết và giết nhiều người sau những trận mưa, nước dồn về làm
nguy hiểm cho những người qua đây: “mấy hôm trước mưa rừng, nước trên núi Khụ Mụ dồn về, suối nào cũng chảy lồng lên như thú dữ Đoạn suối Chiềng này mọi
Trang 40khi nông có thể lội qua, giờ đang chảy xiết Đã bao nhiêu người chết ở đoạn suối này”[29, tr.156] Rồi có lúc, những con suối nơi đây cũng trở nên hiền hòa, mềm mại như những dải lụa, êm dịu những câu hát của người Mường: “suối Lạt, suối Chiềng là hai con suối to không có lũ rừng, lũ suối cuốn trôi người trôi trâu, ruộng chân chim bóng núi không bị hạn hán làm héo cây mạ, cây rau Dòng nước hiền hòa sẽ như dải lụa từ trên núi xuống ruộng rộc, ruộng vàn Suối lớn, suối nhỏ sẽ êm
ả như câu hát ngày thường, hát rang, ngày đêm chảy róc rách từ bờ ruộng cao xuống ruộng thấp, gọi cây lúa mọc lên tươi tốt”[31,tr.16] Rồi những đoan miêu tả suối ở Mường Vân: “Đứng trên đồi nhà lang có thể nhìn thấy con suối rộng chảy dưới chân đồi, song song với một dạy núi giống như một lưỡi hái”[31,tr.196] Vẻ
đẹp dữ dội và trữ tình của những con suối nơi đây đã cung cấp cho độc giả có được những hiểu biết sinh động về cảnh quan địa lý xứ Mường
Bên cạnh cảnh núi non tròn đầy như mâm xôi, thì những thung lũng thơmộng, con suối hung dữ, hiền hòa là những con đường rừng khó đi Đất MườngHòa Bình trước đây giao thông không được thuận tiện, không phải vì khoảng cách
mà là do địa hình và đặc điểm vùng miền, đường xá nơi đây sau những trận mưa tàn
phá thì việc đi lại rất khó khăn, cảnh bà nàng Quỳ trở về Mường Vân trong Hoa hậu
xứ Mường: “Càng gần về Mường Vân đường càng xấu Năm nào qua tri châu cũng bắt dân sửa đườngnhưng cứ sau mùa mưa lũ, đường lại hư hỏng nhiều, có bận ô tô quan tri châu phải nằm lại giữa rừng”[29,tr.15] Do bị chia cắt bởi núi đồi nên sau
những trận mưa lớn làm sạt lở, xẻ rãnh, lầy lội trên con đường vào Mường khiến
giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn “Năm nay, có lẽ từ sau mùa mưa đến giờ đường không được sửa nên cứ xẻ rãnh chằng chịt khắp mặt đường”[29,tr.15].Vì thế,
nên nhiều lần xe quan đi về gặp trời mưa đã bỏ lại xe giữa rừng Với chi tiết này,nhà văn như nhấn mạnh đặc điểm địa, khí hậu đã ảnh hưởng đến giao thông đi lạicủa vùng đất này Trong tiểu thuyết ta còn thấy tình cảm yêu mến lắng đọng về vùng
đất nơi đây khi nhà văn khai thác vẻ đẹp mùa xuân trên đất Mường: “Đã sang tháng
3 nhưng dáng vẻ tươi non trên cảnh sắc của Mường Vân Chưa có tiếng ve lặng kêu, chỉ có hương thơm của hoa bưởi nở muộn ngan ngát khắp ngõ xóm Những đóa bông mát xòe cánh trắng trong, nở đầy sân mọi nhà Rồi hoa chu chiềnh, hoa chu chiếng bông đỏ, bông trắng chi chít trên hàng dào quanh ngõ, quanh vườn Tiếng chim đốc trộc ầm thầm thỉnh thoảng lại chợt vẳng lên trên