1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NỘI DUNG của CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG với tư CÁCH là hạt NHÂN lý LUẬN của THẾ GIỚI QUAN KHOA học LIÊN hệ để LUẬN GIẢI một HIỆN TƯỢNG, một QUÁ TRÌNH cụ THỂ của đời SỐNG KINH tế CHÍNH TRỊ xã hội

9 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống quan điểm nhận thức duy vật về thế giới trong sự vận động, biến đổi không ngừng của nó, đem lại cho con người không chỉ một bức tranh chân

Trang 1

BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT

ĐỀ TÀI:

NỘI DUNG CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỚI TƯ CÁCH

LÀ HẠT NHÂN LÝ LUẬN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC LIÊN

HỆ ĐỂ LUẬN GIẢI MỘT HIỆN TƯỢNG, MỘT QUÁ TRÌNH CỤ THỂ

CỦA ĐỜI SỐNG KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

Hà Nội - 2017

Trang 2

I LÝ LUẬN

1 Thế giới quan và thế giới quan khoa học

1.1 Khái niệm thế giới quan

1.1.1 Định nghĩa và nguồn gốc

Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, xã hội loài người

Thế giới quan ra đời từ cuộc sống, xuất phát từ nhu cầu nhận thức thế giới, nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới để điều chỉnh hoạt động của mình Suy cho cùng nó là kết quả của cả những yếu tố khách quan và chủ quan, của cả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

1.1.2 Nội dung

Thế giới quan phản ánh thế giới ở ba góc độ:

- Các đối tượng bên ngoài con người

- Bản thân con người

- Mối quan hệ của con người với các đối tượng

Thế giới quan gồm hai yếu tố cơ bản là tri thức và niềm tin, trong đó tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã chuyển hóa thành niềm tin thúc đẩy hành động của con người

1.1.3 Vai trò

Thế giới quan có nhiều chức năng như nhận thức, xác lập giá trị, bình xét đánh giá, điều chỉnh hành vi nhưng bao trùm nhất là chức năng định hướng cho toàn bộ hoạt động sống của con người

1.1.4 Những hình thức cơ bản của thế giới quan

- Thế giới quan huyền thoại

- Thế giới quan tôn giáo

- Thế giới quan triết học: Là hệ thống lý luận chung nhất về thế giới quan – hạt nhân lý luận của thế giới quan, là thế giới quan đã phát triển lên trình độ tự giác trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và thành tựu của tri thức khoa học Thế giới quan triết học bao gồm hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau: Thế giới quan duy vật khoa học và thế giới quan duy tâm

1.2 Thế giới quan duy vật và lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật.

1.2.1 Thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật

Trang 3

- Thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật xuất hiện từ việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học:

+ Thế giới quan duy tâm là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới

là tinh thần

+ Thế giới quan duy vật là thế giới quan thừa nhận bản chất thế giới là vật chất

- Thế giới quan duy vật khẳng định thế giới vật chất bất sinh, bất diệt Thừa nhận sự tồn tại của các hiện tượng tinh thần có nguồn gốc từ vật chất, khẳng định vai trò năng động, tích cực của con người

Thế giới quan duy vật thể hiện rất đa dạng dưới nhiều cấp độ khác nhau như tự phát hay tự giác, thô sơ, chất phác hay văn minh

1.2.2 Lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật

- Thế giới quan duy vật chất phác là thế giới quan thể hiện trình độ nhận thức ngây thơ, chất phác

- Thế giới quan duy vật siêu hình

- Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống quan điểm nhận thức duy vật về thế giới trong sự vận động, biến đổi không ngừng của nó, đem lại cho con người không chỉ một bức tranh chân thực về thế giới mà còn đem lại một định hướng phương pháp tư duy khoa học để con người tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới

2 Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt nhân của thế giới quan khoa học

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật,

do Mác – Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được Lênin phát triển Chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình

2.1 Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

2.1.1 Quan điểm duy vật về thế giới

- Bản chất của thế giới là vật chất, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều

có mối liên hệ thống nhất với nhau

- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, không tự sinh ra cũng không tự mất đi

- Chỉ có 1 thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất là cái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người thống nhất với nhau

2.1.2 Quan điểm duy vật về xã hội

- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào

ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được

Trang 4

- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người

- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất

2.2 Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một học thuyết mang tính khoa học và cách mạng triệt để, là "hạt nhân" lý luận của thế giới quan khoa học Nó mang những đặc điểm khác với các học thuyết triết học vốn có trong lịch sử Sự khác biệt ấy toát lên từ bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thể hiện ở những điểm sau:

- Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn: Đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức, đặc biệt việc thấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và sự phát triển của xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó để giải quyết thoả đáng các vấn đề cơ bản của triết học

- Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng: Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C Mac và Ăngghen

đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng

- Quan niệm duy vật triệt để (duy vật cả về mặt xã hội):

Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để Khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ

- Tính thực tiễn - cách mạng:

Tính thực tiễn - cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết thể hiện ở:

+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản + Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới

- Tính sáng tạo của chủ nghĩa duy vật biện chứng:

+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho mọi hành động

Trang 5

+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn được đổi mới và phát triển cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng phải được vận dụng phù hợp với tình hình cụ thể của mỗi thời kỳ lịch sử và mỗi quốc gia

+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hệ thống mở, sẵn sàng tiếp nhận những phát minh khoa học mới

2.3 Những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

2.3.1 Tôn trọng tính khách quan

- Trong nhận thức sự vật phải xuất phát từ chính bản thân sự vật, xem xét

sự vật đúng như nó tồn tại trong thực tế

- Cải tạo sự vật phải xuất phát từ quy luật khách quan Phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

- Việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách phải xuất phát từ tình hình thực tế Không được lấy tình cảm, ý chỉ chủ quan làm điểm xuất phát

- Khi đã có đường lối, chủ trương đúng đắn rồi cần phải tổ chức lực lượng vật chất để thực hiện nó

2.3.2 Phát huy tính năng động chủ quan

- Nhân tố chủ quan là ý thức và hoạt động có ý thức của con người Vì ý thức có vai trò rất quan trọng nên phải phát huy nó Đó là:

- Phát huy vai trò của tri thức khoa học, lý luận cách mạng

- Phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội trong nhận thức và hành động cách mạng

- Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa bệnh chủ quan, duy ý chí

- Chống thái độ thụ động, ỉ lại, bảo thủ, trì trệ

3 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

3.1 Các khái niệm.

3.1.1 Vật chất:

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:

Trang 6

- Một là, với việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được sự hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học cho sự phát triển của triết học và các khoa học khác và là cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử

- Hai là V.I Lênin khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai đồng thời thừa nhận khả năng của con người có thể nhận thức được thực tại khách quan

3.1.2 Ý thức

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội, đó là kết quả sự tiến hóa của bộ não

và thuộc tínhh phản ánh của nó và là lao động, ngôn ngữ

Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người, là "hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan" Ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, ý chí, trong đó tri thức là nhân tố quan trọng nhất

3.2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

3.2.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức:

- Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; là cái quyết định nội dung, hình thức biểu hiện lẫn mọi sự thay đổi của ý thức bởi vì:

- Vật chất là nguồn gốc của ý thức, ý thức là sản phẩm của bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức, còn con người là kết quả phát triển lâu dài của thế giới vật chất

- Ý thức là sự phản ảnh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất

3.2.2 Vai trò của ý thức đối với vật chất:

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người:

- Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có nghị lực, ý chí, hành động hợp quy luật khách quan thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn, cải tạo được thế giới, đạt được mục đích của mình

- Nếu ý thức phản ánh sai hiện thực khách quan, khiến cho hành động của con người đi ngược lại quy luật khách quan thì những tác động ấy sẽ mang lại tác động tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, kìm hãm sự phát triển xã hội

Chính vì thế, trong hoạt động thực tiễn, ngoài việc nhận thức đúng quy luật khách quan, còn cần phải phát huy cao độ tính năng động chủ quan, đồng thời chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chống lại những

tư tưởng lạc hậu, phản động, phản khoa học

Trang 7

3.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới; bản chất năng động, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận là:

- Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan là xuất phát từ tính khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng hiện thực khách quan mà căn bản là tôn trọng quy luật; nhận thức và hành động theo quy luật khách quan Trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động

- Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học, mặt khác phải tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học đồng thời phải tu dưỡng rèn luyện bản thân mình về đạo đức, ý chí, nghị lực

- Đảm bảo nguyên tắc tính thống nhất biện chứng giữa tôn trọng khách quan và phát huy năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường tri thức khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

II THỰC TIỄN

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triể để từ xã hội cũ thành xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), được bắt đầu từ khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào xây dựng xã hội mới, kết thúc khi xây dựng thành công các cơ sở kinh tế, xã hội, chính trị của XHCN

Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) là con đường phát triển của các nước không phải xuất phát từ nền sản xuất lớn TBCN sẵn có

mà từ nền sản xuất thấp kém, quy mô nhỏ là chủ yếu

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là “đốt cháy giai đoạn mà chính là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”

Trang 8

Đối với nước ta, một nước đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, sự lựa chọn này đã phát huy tính năng động chủ quan, sáng tạo cho con đường phát

triển của dân tộc và đây là một tất yếu lịch sử:

- Thực tiễn đã chứng minh, CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn mà giai đoạn đầu là CNXH Cho dù CNTB thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển, nhưng vẫn không vượt ra khỏi giới hạn của nó CNTB không còn là tương lai của nhân loại

- Cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH và hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc Chỉ có đi lên CNXH mới giữ vững được độc lập, tự do cho dân tộc, mới thực hiện được mục tiêu mọi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và tiến bộ

Từ thực tiễn khách quan, mặc dù nền kinh tế còn lạc hậu, nước ta vẫn có khả năng và tiền đề để quá độ lên CNXH thông qua những phân tích, đánh giá của Đảng ta dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, đó là:

- Khả năng khách quan:

+ Nhân tố thời đại: Xu thế chung của thời đại vẫn là hòa bình và CNXH,

xu thế quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới đóng vai trò tích cực làm thức tỉnh các dân tộc, quốc gia, tạo điều kiện và khả năng khách quan cho sự quá

độ đi lên CNXH

+ Xu thế quốc tế hóa và hội nhập kinh tế quốc tế làm cho giữa các nước

có quan hệ với nhau, cho phép kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

để phát triển nhanh kinh tế đất nước

+ Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ tạo điều kiện và khả năng để nước ta tiếp thu và vận dụng những lực lượng sản xuất hiện đại của các nước đi trước để thực hiện con đường phát triển rút ngắn

- Điều kiện chủ quan:

+ Cách mạng nước ta do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, hiện đang lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, đã xây dựng những cơ sở ban đầu về chính trị, kinh tế, xã hội của CNXH, kiên quyết đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN đã lựa chọn

+ Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã từng chiến đấu hy sinh không chỉ giành độc lập dân tộc, mà còn vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Những đòi hỏi đó chỉ có thể đạt được khi toàn dân quyết tâm theo Đảng thực hiện xây dựng thành công CNXH

Tiểu kết:

Trang 9

Lựa chọn và thực hiện đề tài tiểu luận này, với tư cách là một học viên cao học, một công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt tôi muốn nghiên cứu chuyên sâu đồng thời vận dụng vào đời sống Triết học Mác

- Lênin phần chủ nghĩa duy vật biện chứng hay chủ nghĩa duy vật biện chứng là

cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học Cụ thể hơn, đó là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức Mặt khác, tôi cũng muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp cách mạng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay- sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội - mà nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là, mọi sách lược, chiến lược cách mạng của chúng ta phải được xuất phát từ thực tế khách quan, phát huy được tính năng động chủ quan và đồng thời chống chủ quan duy ý chí Đây được coi là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại trên con đường đi tới chủ nghĩa xã hội ở nước ta

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia.

2 Ts An Như Hải (2006), Phương cách làm bài kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội

Ngày đăng: 12/06/2021, 00:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w