Trong Bộ luật hình sự BLHS năm 2015, hình phạt tiền không chỉ được quy định để áp dụng đối với các cá nhân thể nhân bị kết án mà còn để áp dụng đối với pháp nhân thương mại bị kết án về
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH HƯƠNG
HÌNH PHẠT TIỀN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH HƯƠNG
HÌNH PHẠT TIỀN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TIỀN 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa của hình phạt tiền 8 1.2 Phân biệt hình phạt tiền với các hình phạt và biện pháp phạt khác
có liên quan 17
Chương 2: QUY ĐỊNH HÌNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ HÌNH PHẠT TIỀN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH 23
2.1 Quy định về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam 23 2.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh 40
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ HÌNH PHẠT TIỀN 52
3.1 Yêu cầu đối với việc áp dụng đúng hình phạt tiền 52 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tiền 60
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
TAND : Toà án nhân dân
TANDTC : Toà án nhân dân tối cao
TANDCC : Toà án nhân dân cấp cao
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
KHXH : Khoa học xã hội
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hình phạt tiền là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt vừa được quy định với tính chất là hình phạt chính vừa được quy định với tính chất là hình phạt bổ sung Đây là một trong những hình phạt có lịch sử lâu đời đã được quy định trong pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ khá sớm Cùng với
sự phát triển của pháp luật hình sự, các quy định về hình phạt tiền cũng dần dần được hoàn thiện Trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, hình phạt tiền không chỉ được quy định để áp dụng đối với các cá nhân (thể nhân) bị kết án
mà còn để áp dụng đối với pháp nhân thương mại bị kết án về một số tội phạm nhất định Có thể thấy, hình phạt tiền được quy định trong BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là kết quả của nhiều lần sửa đổi, bổ sung trên cơ sở tổng kết thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt này của các Cơ quan bảo vệ pháp luật
Việc quy định và áp dụng hình phạt này đã thể hiện được chính sách
hình sự của Đảng và Nhà nước ta là “Trừng trị kết hợp với khoan hồng,
nghiêm trị kết hợp với giáo dục, cải tạo, cảm hóa người phạm tội”, thể hiện
quan điểm chỉ đạo về đấu tranh phòng, chống tội phạm theo phương châm
“đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội”
Mặc dù vậy, trong thực tiễn xét xử ở tỉnh Quảng Ninh cũng như trong phạm vi toàn quốc, việc áp dụng hình phạt tiền còn rất khiêm tốn Có tình trạng này là do các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tiền mặc dù
đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần qua các thời kỳ nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập gây khó khăn, vướng mắc cho thực tiễn áp dụng Bên cạnh đó, nhận thức về vị trí, vai trò của hình phạt tiền; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
ý thức pháp luật, trách nhiệm nghề nghiệp của một bộ phận những người làm
Trang 6công tác xét xử còn hạn chế Điều đó vô hình chung đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của hình phạt tiền trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính
trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với phương châm: “Hoàn
thiện chính sách hình sự, thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa
và tính hướng hiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với một số tội phạm Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình ” [5, tr 3] Thêm vào đó, sự phát triển, bổ
sung và đề cao quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành để các quyền con người, quyền công dân được bảo vệ và đảm bảo trên thực tế
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật quy định về hình phạt tiền để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện và đảm bảo áp dụng đúng các quy định của BLHS hiện hành về hình phạt tiền theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, tôn trọng và bảo vệ quyền con người và quyền công dân là hết sức cần thiết và cấp thiết
Với lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Hình phạt tiền theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu làm luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hình phạt tiền là một loại hình phạt có lịch sử lâu đời, được quy định trong hầu hết BLHS của các nước trên thế giới và Việt Nam không phải là một ngoại lệ Do vậy, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học quan tâm nghiên cứu về hình phạt tiền ở nhiều phương diện khác nhau, với cấp độ nghiên cứu rộng, hẹp khác nhau Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn bổ ích mà học viên tham khảo, tiếp thu để thực hiện đề tài luận văn của mình
Trang 7Trong số những công trình khoa học đề cập đến hình phạt tiền mà học viên có điều kiện tiếp cận nghiên cứu chủ yếu là các công trình cụ thể sau đây:
+ Hệ thống các giáo trình Luật hình sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo ngành luật như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, đặc biệt là cuốn giáo trình Luật hình sự Việt Nam-phần chung và phần các tội phạm do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, được Nhà xuất bản khoa học xã hội phát hành năm 2013 và năm 2014 Trong những cuốn giáo trình này, các tác giả đều làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hình phạt tiền ở mức
độ khái quát nhất
Ngoài hệ thống giáo trình nêu trên, đề cập đến hình phạt tiền còn có các
cuốn bình luận khoa học BLHS, đặc biệt là cuốn “Bình luận Khoa học BLHS
năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017” (phần chung) do GS.TS Nguyễn
Ngọc Hòa chủ biên Trong các cuốn bình luận Khoa học BLHS, các tác giả đã bình luận làm rõ nội dung của các điều luật quy định hình phạt tiền trên các mặt: bản chất, nội dung, điều kiện, căn cứ áp dụng
+ Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ (chuyên ngành Luật hình sự và tố
tụng hình sự) có các công trình tiêu biểu như: Luận án tiến sĩ “Các hình phạt
chính trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Sơn, Viện nghiên cứu
Nhà nước và pháp luật năm 2003; luận án tiến sĩ “Quyết định hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả
Lương Ngọc Châm, Học viện khoa học xã hội năm 2015; Luận án tiến sĩ “Xã
hội học hình phạt - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Võ Khánh
Linh, Học viện KHXH năm 2017; Luận văn thạc sĩ “Hình phạt bổ sung theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Sóc Trăng”, Học viện KHXH
năm 2016; Luận văn thạc sĩ “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội qua thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Hải Dương” của tác giả Vũ
Minh Hải, Học viện KHXH năm 2013; Luận văn thạc sĩ “Quyết định hình
phạt trong trường hợp đồng phạm từ thực tiễn T.P Đà Nẵng” của tác giả
Trang 8Trương Minh Tuấn, Học viện KHXH năm 2015; Luận văn thạc sĩ “Tổng hợp
hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn TP Đà Nẵng” của tác
giả Dương Hoàng Tú, Học viện KHXH năm 2016; Luận văn thạc sĩ “Hình
phạt bổ sung theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận”
của tác giả Nguyễn Xuân Hùng; Luận văn thạc sĩ “Hình phạt tiền theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An” của tác giả Nguyễn Văn
Đức, Học viện KHXH năm 2014; Luận văn thạc sĩ “Hình phạt tiền theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Nguyễn Ngọc
Thắng, Học viện KHXH năm 2015 Những luận án, luận văn nêu trên chủ yếu đề cập đến hình phạt nói chung (trong đó có hình phạt tiền), tuy nhiên cũng có những luận văn đề cập riêng về hình phạt tiền từ thực tiễn của một địa bàn cụ thể trên cả phương diện: lý luận, thực tiễn quyết định, áp dụng và giải pháp Đây là những tài liệu tham khảo quý giá để học viên thực hiện đề tài luận văn của mình
+ Sách chuyên khảo, có các công trình tiêu biểu như: cuốn “Hình phạt
và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Đinh Văn
Quế, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2000; cuốn “Định tội danh và quyết định
hình phạt” của tác giả Dương Tuyết Miên, NXB Công an nhân dân năm
2004; cuốn “Nghiên cứu hình phạt trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ
bảo vệ quyền con người” của tác giả Trịnh Quốc Toàn, NXB Chính trị Quốc
gia, năm 2015; cuốn “Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của Viện
nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, NXB Chính trị Quốc gia năm 1995.v.v Những cuốn sách chuyên khảo này đi sâu nghiên cứu những vấn đề
lý luận về hình phạt được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam, nhưng chủ yếu theo quy định của BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này đã giúp học viên có cách tiếp cận nghiên cứu lý luận về hình phạt tiền, một trong những loại hình phạt nói chung
+ Các bài báo khoa học có: “Một số vấn đề lý luận về hình phạt tiền” của tác giả Nguyễn Hoàng Lâm, tạp chí TAND số 16/2009; “Hình phạt tiền
Trang 9trong BLHS năm 1999” của tác giả Trương Quang Vinh, tạp chí Luật học, số
2/2000; “Hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh, tạp chí TAND, số 5/2009; “Hoàn thiện quy định về hình phạt tiền” của tác giả Nguyễn Hoàng Lâm, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2012; “Cần bổ sung
các điều kiện áp dụng hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam” của tác
giả Trần Thúy Hằng, tạp chí Kiểm sát số 18/2010; “Hình phạt tiền áp dụng
đối với người phạm tội trong BLHS năm 2015” của tác giả Mai Thị Thủy và
Đào Thì Nguyệt, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2016.v.v Những bài báo khoa học trực tiếp đề cập đến hình phạt tiền cả dưới góc độ lý luận và quy định của luật thực định (BLHS) là những tài liệu bổ ích để học viên tham
khảo, tiếp thu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn “Hình phạt tiền
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”
Như vậy, mặc dù đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hình phạt nói chung, hình phạt tiền nói riêng, nhưng do mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu khác nhau nên chưa có một công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về hình phạt tiền được quy định trong BLHS năm 2015 từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh Qua đây có thể xác định luận văn này không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn của học viên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn pháp luật (quy định và áp dụng) về hình phạt tiền, luận văn hướng tới mục đích kiến nghị những quy định cần sửa đổi, bổ sung về hình phạt tiền trong BLHS hiện hành và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định đó nhằm nâng cao hiệu quả của hình hình phạt này trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như bảo
vệ và đảm bảo quyền con người trong bối cảnh hiện nay
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hình phạt tiền trên các bình diện: khái niệm, đặc điểm, mục đích, vị trí, vai trò của hình phạt tiền với tính cách là hình phạt chính và hình phạt bổ sung, được quy định đối với cả cá nhân phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội
+ Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình
sự về hình phạt tiền của TAND tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 - 2018, rút ra những mặt tích cực, cũng như hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân
+ Đưa ra yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của BLHS hiện hành về hình phạt tiền trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Trang 11Ngoài ra, luận văn còn dựa trên lý luận chuyên ngành luật hình sự về hình phạt tiền để làm rõ đối tượng nghiên cứu
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Cụ thể được sử dụng gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, chuyên gia Các phương pháp này được sử dụng kết hợp để làm rõ từng nội dung nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa của lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 Chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về hình phạt tiền
Chương 2: Thực tiễn quy định hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam và thực trạng áp dụng hình phạt tiền tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tiền
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TIỀN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa của hình phạt tiền
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm
1.1.1.1 Khái niệm
Hình phạt tiền là một trong những hình phạt được quy định từ lâu trong
hệ thống hình phạt của nước ta Nhưng trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay vẫn chưa có quy phạm định nghĩa về khái niệm hình phạt tiền
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, có nhiều định nghĩa khác nhau
về khái niệm hình phạt tiền như: “Phạt tiền là hình phạt buộc người phạm tội
phải nộp một khoản tiền nhất định vào ngân sách Nhà nước” [61, tr.272]
Khái niệm này mặc dù hết sức khái quát nhưng cũng chỉ ra được nội dung của
hình phạt tiền là “buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định vào
ngân sách Nhà nước” Tuy nhiên, trong khái niệm này chưa phản ánh đầy đủ
đặc điểm, tính chất, chủ thể, đối tượng, phạm vi, mục đích áp dụng của hình phạt tiền
Quan điểm khác thì cho rằng: “Phạt tiền được hiểu là một trong những
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án về những tội phạm được BLHS xác định với nội dung là tước một khoản tiền nhất định của họ sung vào quỹ của Nhà nước, thông qua đó giáo dục, cải tạo họ, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời thực hiện phòng ngừa, giáo dục chung” [20, tr.183] Tương tự như quan điểm
này, có tác giả định nghĩa: “Phạt tiền là một trong những biện pháp cưỡng
chế của Nhà nước được Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người
bị kết án về những tội phạm do luật hình sự quy định với nội dung là tước một khoản tiền nhất định của họ sung vào công quỹ của Nhà nước, thông qua đó
Trang 13giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời thực hiện phòng ngừa, giáo dục chung” [55, tr.84]
Đây là những khái niệm đầy đủ về hình phạt tiền trong đó đã phản ánh được bản chất, nội dung của hình phạt tiền cũng như đối tượng, phạm vi, chủ thể, và mục đích áp dụng loại hình phạt này Nhưng trong hai khái niệm này
đêu diễn đạt “Phạt tiền là hình phạt ”, theo chúng tôi chưa thật sự chính
xác và đúng như BLHS quy định Bởi vì, phạt tiền theo quy định của pháp luật có thể là phạt hành chính, có thể là hình phạt Đồng thời, trong các BLHS
đều dùng thuật ngữ “hình phạt tiền” mà không dùng thuật ngữ “phạt tiền”
Mặt khác, những khái niệm này, được đưa ra trước thời điểm BLHS năm
2015 được ban hành, vì thế chưa phản ánh đầy đủ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền, đó là pháp nhân thương mại bị kết án
Kế thừa những yếu tố hợp lý trong những khái niệm trên, đồng thời trên cơ sở quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt tiền, chúng tôi cho rằng, trong nội hàm khái niệm hình phạt tiền cần thể hiện đầy đủ bản chất, nội dung, chủ thể, đối tượng, phạm vi, mục đích áp dụng Với cách tiếp cận như
vậy, khái niệm hình phạt tiền cần được định nghĩa như sau: “Hình phạt tiền là
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được quy định trong BLHS với tính chất
là hình phạt chính và hình phạt bổ sung, do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án hoặc pháp nhân thương mại bị kết án về những tội được Bộ luật này xác định, với nội dung tước một khoản tiền nhất định của đối tượng bị kết án sung công quỹ của Nhà nước nhằm phòng ngừa riêng, cũng như phòng ngừa chung”
1.1.1.2 Đặc điểm của hình phạt tiền
Là một hình phạt trong hệ thống hình phạt, hình phạt tiền mang đầy đủ các đặc điểm chung của hình phạt như: là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc (trừng trị, giáo dục, cải tạo) của Nhà nước; được quy định cụ thể trong BLHS;
do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với đối tượng bị kết án
Trang 14Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hình phạt tiền có những đặc điểm riêng khác với hình phạt còn lại trong hệ thống hình phạt, đó là:
+ Thứ nhất, hình phạt tiền là hình phạt có khả năng tác động về mặt
kinh tế đối với đối tượng bị áp dụng Đặc điểm này của hình phạt tiền thể hiện
ở nội dung của nó là: “tước một khoản tiền nhất định của đối tượng bị áp
dụng sung công quỹ của Nhà nước” Vì thế, hình phạt tiền có khả năng tác
động đến ý thức của đối tượng bị áp dụng, buộc đối tượng phải nhận thức được sự lên án của Nhà nước, nhận thức được tính chất sai trái của hành vi
mà mình thực hiện để có phương hướng sửa chữa Đồng thời, hình phạt tiền còn có tác dụng loại trừ, hạn chế những điều kiện về tài sản mà đối tượng có thể sử dụng để tiếp tục phạm tội
+ Thứ hai, hình phạt tiền là loại hình phạt lưỡng tính vừa được quy
định là hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung
Cũng như hình phạt trục xuất, hình phạt tiền vừa tồn tại trong hệ thống hình phạt chính, vừa tồn tại trong hệ thống hình phạt bổ sung Tuy nhiên, tính lưỡng tính này của hình phạt tiền hoàn toàn không cho phép áp dụng trong cùng một tội phạm, có nghĩa là đối với một tội phạm cụ thể, hình phạt tiền chỉ có thể
áp dụng là hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính Quy định
như vậy, đúng như một tác giả đã nhận định: “Nhà làm luật đã mở ra khả năng
đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự, tăng cường tính linh hoạt trong việc vận dụng, định hướng áp dụng hình phạt mà luật đã định”[55, tr.85]
+ Thứ ba, hình phạt tiền được áp dụng đối với cả cá nhân (thể nhân) bị
kết án và pháp nhân thương mại bị kết án
Nếu như một số hình phạt như hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù, hình phạt tử hình chỉ có thể áp dụng đối với cá nhân người bị kết án (thể nhân) thì hình phạt tiền theo quy định của BLHS hiện hành có thể áp dụng đối với cá nhân bị kết án và cả pháp nhân thương mại bị kết án Như
Trang 15vậy, đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền rộng hơn đối tượng bị áp dụng một
số hình phạt khác, do tính chất, nội dung của các loại hình phạt này
1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của hình phạt tiền
1.1.2.1 Mục đích của hình phạt tiền
Với bản chất là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, nội dung của hình phạt tiền được thể hiện ở việc tước một số tiền nhất định của đối tượng (thể nhân hoặc pháp nhân thương mại) bị kết án sung công quỹ Nhà nước Mức phạt tiền (khoản tiền bị tước sung vào công quỹ của Nhà nước) phải tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của đối tượng bị áp dụng, cũng như sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng (đối với cá nhân bị kết án) và không được thấp hơn 50.000.000 đồng (đối với pháp nhân thương mại bị kết án)
Có thể thấy, sự tước bỏ một khoản tiền nhất định của đối tượng bị kết án sung công quỹ của Nhà nước thể hiện tính nghiêm khắc của hình phạt này
Với nội dung là tước bỏ lợi ích kinh tế (một khoản tiền nhất định) của đối tượng bị kết án, hình phạt tiền có khả năng tác động về mặt kinh tế (tài sản) đối với cá nhân người phạm tội, cũng như đối với pháp nhân thương mại phạm tội Nếu không tước bỏ một khoản tiền nhất định, đối tượng bị kết án sẽ không nhận thức được lỗi lầm của mình, không nhận thức được tính không tránh khỏi hình phạt, cũng như sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với họ Việc tước bỏ lợi ích kinh tế không chỉ có tác dụng răn đe đối tượng bị kết án
mà còn có khả năng loại trừ, hạn chế những điều kiện về tài sản mà người phạm tội có thể sử dụng để tiếp tục phạm tội Chính vì vậy, có thể thấy hình phạt tiền có mục đích giáo dục, cải tạo đối tượng phạm tội, loại trừ điều kiện tái phạm của những đối tượng này (mục đích phòng ngừa riêng) Đồng thời, thông qua việc quy định và áp dụng hình phạt tiền còn có tác dụng răn đe,
giáo dục những đối tượng “không vững vàng”, có khả năng sẽ phạm tội phải
tự kiềm chế không thực hiện hành vi phạm tội, cũng như giáo dục người dân
Trang 16và pháp nhân thương mại khác có ý thức tôn trọng pháp luật, nâng cao sự hiểu biết pháp luật, để tránh những vi phạm pháp luật và tội phạm (phòng ngừa
chung) Đúng như một nhà nghiên cứu đã nhận định: “Với đặc trưng riêng là
việc tước bỏ lợi ích kinh tế của người phạm tội, hình phạt tiền có một cách thức tác động độc đáo với người phạm tội để tạo ra hiệu quả của hình phạt Trong những trường hợp nhất định, cách thức tác động này có ưu thế hơn hẳn
so với cách thức tác động khác và trong nhiều trường hợp nếu không có sự hỗ trợ của hình phạt tiền thì việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung không thể đạt được một cách triệt để” [2, tr 1] 1.1.2.2 Ý nghĩa của hình phạt tiền
Ý nghĩa của hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt của Nhà nước ta được thể hiện trên những mặt sau đây:
+ Thứ nhất, việc quy định hình phạt tiền trong cả hai: hình phạt chính
và bổ sung có tác dụng đa dạng hóa các hình thức xử lý hình sự, đa dạng hóa các biện pháp trách nhiệm hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Như trên đã phân tích, hình phạt tiền vừa được quy định là hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt của Nhà nước ta Việc quy định như vậy mở ra khả năng đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự, tăng cường tính linh hoạt trong vận dụng, áp dụng hình phạt mà luật đã quy định Chính vì lẽ đó, khi quy định hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt, nhà lập pháp nước ta ghi rõ có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính và chỉ trong trường hợp có điều luật quy định thì hình phạt tiền mới được áp dụng là hình phạt chính
+ Thứ hai, hình phạt tiền được quy định trong hệ thống là hình phạt
chính và hình phạt bổ sung đã tạo ra khả năng phân hoá trách nhiệm hình sự
và cá thể hoá hình phạt đối với các trường hợp phạm tội khác nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, góp phần thực hiện nguyên tắc xử lý tội
Trang 17phạm “nghiêm trị, kết hợp với khoan hồng, trừng trị với giáo dục, cải tạo,
cảm hóa người phạm tội”
Thực tế cho thấy, trong hệ thống hình phạt, hình phạt tiền vừa được quy định là hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung Điều đó
đã góp phần làm tăng tính phong phú và cân đối của hệ thống hình phạt, làm cho các hình phạt trong hệ thống không có sự chênh lệch quá xa về tính nghiêm khắc đảm bảo được tính nối tiếp, tính liên tục theo hướng tăng dần về mức độ nghiêm khắc, làm cho hệ thống h́nh phạt có tính chỉnh thể Bởi, trong
hệ thống h́nh phạt của Nhà nước ta, các hình phạt chính được sắp xếp theo một trình tự tăng dần về tính nghiêm khắc (từ nhẹ đến nặng) Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính giữ vị trí nối tiếp giữa hình phạt cảnh cáo - hình phạt ít nghiêm khắc nhất với cải tạo không giam giữ - có tính nghiêm khắc cao hơn hình phạt tiền, nhưng thấp hơn về tính nghiêm khắc so với hình phạt
tù có thời hạn Nhờ đó đã tạo nên tính nối tiếp, tính liên tục theo hướng tăng dần về mức độ nghiêm khắc của các hình phạt trong hệ thống
Khi được quy định là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền cùng với hình phạt tịch thu tài sản đã làm phong phú, cân đối các hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt Nhờ đó, giúp cho việc thực hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt trong việc xử lý đối tượng phạm tội, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả khả năng tác động của các hình phạt trong hệ thống đối với phòng ngừa tội phạm Đồng thời, giúp Tòa án có nhiều khả năng lựa chọn hơn khi quyết định hình phạt đối với cá nhân phạm tội cũng như đối với pháp nhân thương mại phạm tội
trên cơ sở “căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”
+ Thứ ba, việc quy định hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt còn
góp phần thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, góp
Trang 18phần thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ và bảo đảm quyền con người
Trước hết, việc quy định hình phạt tiền có mức độ nghiêm khắc thấp hơn các hình phạt tước tự do của con người là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án lựa chọn khi áp dụng các biện pháp khoan hồng trong việc quyết định
hình phạt đối với “người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác tội phạm, lập
công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
đã gây ra” và đối với “người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải”
Bởi theo quy định của BLHS hiện hành, đối với những người này (trường hợp này) Tòa án có thể áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, trong đó có hình phạt tiền Mặt khác, việc quy định mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền đối với người bị kết án còn góp phần bảo vệ quyền con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, nhất là quyền tự do thân thể của con người Điều đó còn thể hiện trách nhiệm nội luật hóa của Việt Nam với tư cách là nước thành
viên của Công ước của Liên hợp quốc về “Chống tra tấn và các hình thức đối
xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người” được Đại
hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1984, được Việt Nam chính thức ký tham gia Công ước ngày 07/11/2013 và được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam phê chuẩn ngày 28/11/2014 Công ước này có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 07/03/2015
1.1.3 Phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt tiền
1.1.3.1 Đối với cá nhân bị kết án
Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 35 BLHS hiện hành thì phạm vi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính chỉ trong hai trường hợp sau:
- Tội phạm mà người bị kết án thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và điều luật về tội phạm ấy có quy định hình phạt tiền
- Tội phạm mà người bị kết án thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng và thuộc các nhóm tội phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về môi trường, tội
Trang 19xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng hoặc tội phạm khác được BLHS quy định
Như vậy, phạm vi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính được BLHS năm 2015 quy định rộng hơn BLHS năm 1999, nghĩa là không chỉ đối với tội
ít nghiêm trọng mà còn đối với cả tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và không có sự giới hạn ở nhóm tội phạm cụ thể nào thuộc phần các tội phạm của BLHS Đối với tội phạm rất nghiêm trọng, hình phạt tiền là hình phạt chính chủ yếu được áp dụng đối với 3 nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Tuy nhiên, BLHS hiện hành cũng cho phép áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với một số tội phạm khác mà điều luật có quy định hình phạt này Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 35 BLHS hiện hành thì hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được áp dụng trước hết đối với người bị kết án về các tội tham nhũng, các tội phạm về ma túy Ngoài ra, hình phạt tiền là hình phạt
bổ sung còn có thể áp dụng đối với những tội phạm khác do BLHS quy định Với quy định như vậy, BLHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung so với BLHS năm 1999
Khoản 3 Điều 35 BLHS hiện hành quy định rõ mức phạt tiền và căn cứ quyết định mức phạt tiền, theo đó mức phạt tiền thấp nhất khi áp dụng hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung là 1.000.000 đồng Như vậy khoản 3, Điều 35 chỉ quy định mức phạt tiền tối thiểu mà không quy định mức phạt tiền tối đa Do vậy, tòa án có quyền quyết định bất cứ mức phạt tiền nào nhưng không được vượt quá mức cao nhất mà điều luật về tội phạm quy định và không được dưới 1.000.000 đồng
Khi quyết định mức phạt tiền cụ thể để áp dụng đối với người bị kết án, Tòa án phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời
có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả thị trường
Trang 201.1.3.2 Đối với pháp nhân thương mại bị kết án
Theo quy định tại Điều 77 BLHS hiện hành, đối với pháp nhân thương mại phạm tội, hình phạt tiền cũng được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung
Về phạm vi áp dụng: Theo quy định tại Điều 76 BLHS hiện hành thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm về những tội phạm quy định tại 33 điều luật thuộc phần các tội phạm của BLHS, trong đó có 22/47 tội thuộc các tội xâm phạm trật tự kinh tế; 9/12 tội thuộc nhóm các tội phạm về môi trường và 2/68 tội của các nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng và trật
tự công cộng Trong ba nhóm tội phạm này, BLHS năm 2015 quy định hình phạt tiền vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung đối với 18/22 tội và hình phạt tiền chỉ là hình phạt chính đối với 4/22 tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Thế còn; 9/12 tội xâm phạm về môi trường, BLHS hiện hành được quy định hình phạt tiền vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung Đối với các tội phạm có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt
bổ sung, BLHS hiện hành quy định cụ thể mức phạt tiền tối thiểu và tối đa tương ứng với từng khung hình phạt
Về mức phạt tiền và căn cứ quyết định mức phạt tiền đối với pháp nhân thương mại bị kết án, khoản 2 Điều 77 BLHS hiện hành chỉ quy định vấn đề
này có tính nguyên tắc là: "Mức phạt tiền được quyết định căn cứ vào tính
chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không thấp hơn 50.000.000 đồng" Như vậy, để quyết định mức phạt tiền cụ thể đối với
pháp nhân thương mại bị kết án, Tòa án phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, tình hình tài chính của pháp nhân thương mại đó, có xét đến sự biến động giá cả Riêng mức phạt tiền cụ thể thì Tòa án phải căn cứ vào khung hình phạt, trong đó có quy định mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tiền đối với từng tội để
Trang 21quyết định mức phạt tiền trong phạm vi mức độ tối thiểu và tối đa đó với điều kiện là không dưới 50 triệu đồng
1.2 Phân biệt hình phạt tiền với các hình phạt và biện pháp phạt khác có liên quan
1.2.1 Phân biệt hình phạt tiền với hình phạt tịch thu tài sản
Tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung được quy định tại Điều 45 BLHS hiện hành với nội dung là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước
Nếu so sánh hình phạt tiền với hình phạt tịch thu tài sản thấy rằng, hai hình phạt bổ sung này có một số điểm giống nhau cơ bản như sau sau:
+ Đều được quy định là hình phạt bổ sung
+ Tiền và tài sản bị tước đều được nộp vào ngân sách nhà nước
+ Đều là những biện pháp tác động về mặt mặt kinh tế của nhà nước đối với người bị kết án để đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt Tuy nhiên, hai hình phạt này khác nhau ở những điểm sau đây:
- Một là, về tính chất: Tịch thu tài sản theo quy định của BLHS hiện hành
chỉ là hình phạt bổ sung; còn hình phạt tiền vừa được quy định là hình phạt chính vừa được quy định là hình phạt bổ sung Điều đó có ý nghĩa là hình phạt tịch thu tài sản trong mọi trường hợp chỉ được áp dụng kèm theo một hình phạt chính khác theo quy định của BLHS hiện hành Trong khi đó, hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính được áp dụng độc lập không phải kèm theo một hình phạt chính nào khác
- Hai là, về phạm vi áp dụng: Hình phạt tịch thu tài sản theo quy định tại
Điều 45 BLHS hiện hành chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác mà BLHS quy định Trong khi đó hình phạt tiền được áp dụng là
Trang 22hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định; hoặc người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác (khoản 1 Điều 35 BLHS năm 2015) Hình phạt tiền áp dụng đối với hình phạt bổ sung đối với người phạm tội tham nhũng, ma túy, những tội phạm khác trong BLHS quy định, không phụ thuộc vào những tội phạm này thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nghĩa là có thể áp dụng đối với cả tội ít nghiêm trọng Như vậy, phạm vi tội phạm được áp dụng hình phạt tiền rộng hơn nhiều hơn so với hình phạt tịch thu tài sản
- Ba là, về nội dung pháp lý: Nội dung cơ bản của hình phạt tịch thu tài
sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án, còn nội dung của hình phạt tiền và tước một khoản tiền nhất định của người (thể nhân) hoặc của pháp nhân thương mại bị kết án nộp vào ngân sách Nhà nước Như vậy, đối tượng mà nhà nước tước bỏ của người bị kết án hoặc pháp nhân thương mại bị kết án là một khoản tiền nhất định, còn đối tượng mà Nhà nước tước bỏ của người bị kết án tịch thu tài sản là toàn bộ hay một phần tài sản của người đó Tài sản mà tòa án tuyên bố tịch thu không nhất thiết phải là tiền mà còn có thể là những tài sản khác như: hiện vật, giấy tờ có giá trị như tiền, Những tài sản này có thể đang do người bị kết án trực tiếp chiếm giữ, quản lý và cũng có thể là tài sản mà người bị kết án đang cho vay, cho thuê, cầm cố, gửi ở ngân hàng, quỹ tín dụng, … trừ tài sản, đồ vật là tang vật của vụ
án, bởi tang vật của vụ án đương nhiên bị tịch thu và xử lý theo quy định của BLTTHS hiện hành
- Bốn là, về mức tiền, tài sản mà tòa án tuyên bố tước bỏ tịch thu nộp vào
ngân sách nhà nước
Khi quyết định hình phạt tiền, Tòa án sẽ lựa chọn một mức tiền nhất định
để tuyên bố tước của đối tượng bị kết án sung công quỹ nhà nước tùy thuộc
Trang 23vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình hình tài sản, tài chính của đối tượng bị kết án, có xét đến biến động của giá cả nhưng không thấp hơn một 1.000.000 đồng (đối với cá nhân người bị kết án) hoặc không dưới 50.000.000 đồng (đối với pháp nhân thương mại bị kết án) Trong khi đó, mức tài sản mà tòa án tuyên bố tịch thu của người bị kết án có thể chỉ là một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu riêng của người bị kết án tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình hình tài sản của người bị kết án, nhất là những tài sản bất hợp pháp do phạm tội mà có, BLHS không quy định mức tối thiểu cũng như mức tối đa tài sản bị tịch thu như mức phạt tiền Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, khi quyết định tịch thu toàn bộ tài sản của người bị kết án, Tòa án vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống
- Năm là, về đối tượng bị áp dụng hình phạt: Đối tượng bị áp dụng hình
phạt tiền bao gồm cả cá nhân người bị kết án, cả pháp nhân thương mại bị kết
án Còn đối tượng bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản chỉ có thể là cá nhân người bị kết án
1.2.2 Phân biệt hình phạt tiền với biện pháp tịch thu vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm
Cả hai biện pháp trách nhiệm hình sự này giống nhau ở chỗ: Đều là những biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLHS Đối tượng bị áp dụng
có thể là cá nhân phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Tuy nhiên, hình phạt tiền và biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
có một số điểm khác nhau sau:
+ Thứ nhất, khác nhau về tính chất và hậu quả pháp lý: Phạt tiền là một
trong những hình phạt do vậy khi đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền sẽ để lại
án tích trong một thời hạn nhất định Còn biện pháp tịch thu vật, tiền không phải là hình phạt mà chỉ là một trong những biện pháp tư pháp, do vậy khi bị
áp dụng không để lại án tích đối với đối tượng bị áp dụng
Trang 24+ Thứ hai, về đối tượng bị áp dụng: Hình phạt tiền chỉ có thể đối với cá
nhân bị kết án hoặc pháp nhân thương mại bị kết án Còn biện pháp tư pháp tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm được áp dụng đối với cá nhân phạm tội hoặc pháp nhân phạm tội, không đòi hỏi đã bị kết án
+ Thứ ba, về thẩm quyền áp dụng: Hình phạt tiền chỉ do Tòa án áp dụng,
còn biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm thì ngoài Tòa
án, còn có thể do các cơ quan tiến hành tố tụng khác áp dụng
+ Thứ tư, về khoản tiền, vật bị tước hoặc tịch thu: Khoản tiền phạt bị Tòa
án tuyên bố tước bỏ của đối tượng bị kết án sung công quỹ nhà nước là khoản tiền bất kỳ; còn tiền, vật bị các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định tịch thu phải là tiền, đồ vật trực tiếp liên quan đến tội phạm Theo quy định tại Điều 47 BLHS hiện hành thì khoản tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm bao gồm: a) Công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội; b) vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có, hoặc thu lợi bất chính từ việc phạm tội; c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành
+ Thứ năm, về mục đích áp dụng cụ thể: Khoản tiền phạt bị Tòa án tuyên
bố tước của đối tượng bị kết án là để để sung công quỹ nhà nước Còn tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm bị các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định tịch thu là để sung công quỹ nhà nước (nếu là tiền hoặc tài sản), hoặc để tiêu hủy (nếu là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được)
+ Thứ sáu, về thời điểm áp dụng: Hình phạt tiền được tòa án quyết định
áp dụng đối với đối tượng bị kết án ở giai đoạn xét xử vụ án hình sự sự; còn biện pháp tư pháp tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm được các
cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào khi có căn cứ luật định
1.2.3 Phân biệt hình phạt tiền với biện pháp phạt tiền với tính chất là biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
Hình phạt tiền với phạt tiền là biện pháp xử phạt vi phạm hành chính có
Trang 25những điểm giống nhau như: Đều là chế tài pháp lý áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật; chủ thể vi phạm đều phải nộp một khoản tiền vào công quỹ nhà nước Tuy nhiên, hai biện pháp phạt tiền này có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:
+ Một là, về tính chất: Hình phạt tiền là chế tài hình sự được quy định
trong BLHS, còn phạt tiền với tính chất là biện pháp xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
+ Hai là, đối tượng áp dụng: Hình phạt tiền được áp dụng đối với cá
nhân người bị kết án hoặc pháp nhân thương mại bị kết án theo quy định của pháp luật hình sự, còn phạt tiền với tính chất là biện pháp xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với mọi cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì phải xử phạt vi phạm hành chính
+ Ba là, về chủ thể có thẩm quyền áp dụng: Hình phạt tiền là do Tòa án
quyết định áp dụng đối với những đối tượng bị kết án, còn phạt tiền với tính chất là biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là do nhiều cơ quan, tổ chức quyết định áp dụng tùy theo từng lĩnh vực, vi phạm cụ thể như: Công an, Ủy ban nhân dân, Thanh tra chuyên ngành, Hải quan, Kiểm lâm, Thuế, v.v
+ Bốn là, về mức tiền phạt: Đối với hình phạt, mức tiền phạt được BLHS
hiện hành quy định nhiều mức khác nhau tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm nhưng thấp nhất không dưới 1.000.000đ (đối với cá nhân bị kết án) hoặc thấp nhất không dưới 50.000.000 đồng (đối với pháp nhân thương mại bị kết án) Còn đối với phạt tiền với tính chất là hình thức xử phạt vi phạm hành chính cũng được luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định nhiều mức khác nhau tùy theo từng loại vi phạm hành chính nhưng chỉ nằm trong khoảng từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng (đối với cá nhân vi phạm hành chính) hoặc từ 100.000 đồng đến 2.000.000 đồng (đối với tổ chức vi phạm hành chính) (Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính)
Trang 26Trên đây là những điểm khác nhau cơ bản giữa hình phạt tiền với các loại hình phạt và các biện pháp phạt khác có liên quan Nắm vững những điểm khác nhau này, cơ quan và người có thẩm quyền mới có thể áp dụng đúng đắn các biện pháp xử phạt vi phạm pháp luật trong thực tiễn
+ Hình phạt tiền là một trong những biện pháp cưỡng chế có tính nghiêm khắc của Nhà nước, là một trong những hình phạt thuộc hệ thống hình phạt của Nhà nước ta Do vậy, hình phạt này có nhiều điểm tương đồng với các biện pháp cưỡng chế hình sự khác, nhất là những biện pháp trách nhiệm pháp
lý, những hình phạt và biện pháp tư pháp có những nội dung giống hình phạt tiền Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có sự khác biệt, đòi hỏi phải làm rõ, để áp dụng đúng đắn trên thực tế
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt tiền trong Luật hình sự Việt Nam cho thấy, hình phạt tiền không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn
là một hiện tượng pháp lý hình sự, một loại hình phạt có khả năng tác động về mặt kinh tế đối với cá nhân, pháp nhân thương mại bị kết án
+ Kết quả nghiên cứu ở Chương 1 là cơ sở lý luận và pháp lý để đánh giá thực tiễn ở Chương 2 và đưa ra giải pháp đảm bảo áp dụng đúng hình phạt tiền trên thực tiễn ở Chương 3
Trang 27Chương 2 QUY ĐỊNH HÌNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT TIỀN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Quy định về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam
2.1.1 Quy định về hình phạt tiền trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985
Nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 thấy rằng, ngay sau khi giành được chính quyền, bên cạnh việc tạm thời áp dụng luật lệ hiện hành của chế độ cũ nhưng không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đã từng bước xây dựng hệ thống pháp luật mới làm cơ sở pháp lý cho việc xử lý tội phạm Văn bản pháp luật đầu tiên có quy định hình phạt tiền là Sắc lệnh số 51 do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ban hành ngày 17/4/1946 Tại điều 10 của Sắc lệnh này có quy định: "
những việc tiểu hình là những việc có thể bị phạt tù từ 6 ngày đến 5 năm, hay
bị phạt trên 900đ" Đến ngày 14/4/1948, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số
168-SL trừng trị tội đánh bạc Trong sắc lệnh này hình phạt tiền được quy định
tại Điều 2 với nội dung như sau: "Những người nào tổ chức một cuộc đánh
bài, đánh bạc, một trò chơi, không cứ một nơi nào đều bị phạt tù từ 2 đến 5 năm và phạt bạc từ 1.000đ đến 10.000đ
Các người làm công tác khác, giúp trực tiếp vào cuộc chơi đều là tòng phạm Những người nào đánh bạc hay dự vào cuộc chơi nói trên sẽ bị phạt tù
từ 1 năm đến 3 năm và phạt bạc 5.000đ đến 50.000đ"
Còn tại Điều 3 của Sắc lệnh này quy định: "Các việc làm bày bán, tàng
trữ, lưu hành các khí cụ chuyên dùng để đánh bạc đều cấm hẳn Những người phạm vào điều này sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm và phạt bạc từ 1.000đ
Trang 28đến 10.000đ" [56, tr.497] Ngoài ra ở thời kỳ này còn có một số sắc lệnh khác
cũng quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt phụ (nay là hình phạt bổ sung) như: Sắc lệnh số 123-SL ngày 27/10/1949 về vi phạm thể
lệ chữa bệnh, chế thuốc; Sắc lệnh số 89-SL ngày 22/5/1950 cấm việc cho vay lãi chồng thành gốc; Nghị định số 150-TTg ngày 5/3/1952 của Thủ tướng Chính phủ về tội vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện, v.v Đặc biệt, Điều 6 Nghị định số 32/NĐ ngày 6/4/1952 của Bộ Tư pháp đã hướng dẫn tiền phạt được tính theo giá gạo Sau đó, Thông tư số 113/VHH ngày 4/4/1952 một Bộ
Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định này đã xác định rõ: "Để định tiền phạt
giá gạo ấy là giá gạo nơi trụ sở Tòa án xét xử, khi tuyên án Mức tối đa và tối thiểu tiền phạt lấy giá gạo làm tiêu chuẩn, nhưng khi tòa án tuyên phạt tiền phải tính ra tiền và đơn vị vẫn lấy đồng bạc tài chính" [56, tr.52] Nhìn chung
các văn bản pháp luật hình sự quy định về hình phạt tiền giai đoạn 1945- 1954 còn hết sức đơn giản, nội dung chưa cụ thể, rõ ràng Sau khi chính thức xóa bỏ hoàn toàn việc áp dụng luật lệ của chế độ cũ, Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm đến việc ban hành những văn bản pháp luật mới để có cơ sở pháp lý đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là những năm 1955 trở về sau Ở thời kỳ này, các văn bản pháp luật hình sự có quy định hình phạt tiền phải kể đến: Sắc lệnh số 282-SL ngày 14/12/1956 về chế độ báo chí; Sắc luật 003/SLT ngày 18/6/1957 về quyền tự do xuất bản, Sắc luật số 011/SLT ngày 14/9/1957 về tội đầu cơ Hình phạt tiền được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự này
có sự tiến bộ hơn, rõ ràng, cụ thể hơn như:
Tại Điều 13 của Sắc lệnh số 282 ngày 14/12/1956 về chế độ báo chí có
quy định: "Báo chí nào vi phạm Điều 10 bị trừng phạt tùy theo lỗi nặng nhẹ
mà cảnh cáo, tịch thu ấn phẩm, đình bản tạm thời, hoặc bị truy tố trước Tòa
án, có thể bị phạt tiền từ năm vạn đồng đến hai chục vạn đồng" [56, tr 421]
Hoặc tại Điều 16 của Sắc luật số 003/SLT ngày 18/6/1957 về quyền tự do xuất
bản có quy định: "Nhà xuất bản hay cá nhân xuất bản nào vi phạm Điều 12 thì
Trang 29cơ quan có thẩm quyền tùy theo trường hợp nhẹ hay nặng mà cảnh cáo, thu hồi tạm thời giấy phép hoặc truy tố trước Tòa án Tòa án có thể xử phạt tiền
từ năm vạn đồng đến hai mươi vạn đồng" [56, tr 427]
Còn tại Điều 3 của Sắc luật 001-SLT ngày 19/4/1957 cấm mọi hành đầu
cơ quy định: "Những người vi phạm luật này và những người đồng phạm theo
nhẹ hay nặng có thể bị truy tố trước Tòa án và có thể bị phạt tiền từ 10 vạn đồng đến 100 vạn đồng và bị phạt tù từ 1 tháng đến 5 năm, hoặc một trong hai hình phạt trên" [56, tr 268]
Đến năm 1970, để bảo vệ tài sản của nhà nước và của công dân, Nhà nước ta ban hành 2 pháp lệnh, đó là Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Việc ban hành hai pháp lệnh này đã đánh dấu bước tiến quan trọng về kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta Trong hai pháp lệnh này, hình phạt tiền được quy định một cách khá rõ ràng về phạm vi, điều kiện áp dụng Cụ thể: tại khoản 3 Điều 20 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN có quy định:
"Phạm một trong những tội quy định ở các điều 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13,
14, 15, 16, 17, thì tùy theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm hoặc nguồn thu lợi bất chính mà có thể bị phạt tiền từ 50 đồng đến 5.000 đồng " [56, tr
208]; hoặc tại khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
riêng của công dân có quy định: "Phạm một trong các tội quy định ở điều 3, 4,
5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 13 trong trường hợp có tính chất nghiêm trọng của tội phạm hoặc nguồn thu lợi bất chính mà có thể bị phạt tiền từ 50 đồng đến 3.000 đồng " [56, tr 457]
Sau năm 1975 miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03SL/76 ngày 15/3/1976 quy định về các tội phạm và hình phạt Theo Sắc luật này, hình phạt tiền được áp dụng đối với tội phạm về kinh tế, các tội xâm phạm trật tự công cộng và an toàn công cộng, xâm phạm sức khỏe của nhân
Trang 30dân và chỉ được áp dụng là hình phạt bổ sung Điều 6 của Sắc luật này quy
định hình phạt tiền đối với tội phạm về kinh tế với nội dung: "Phạm một trong
những các tội phạm (về kinh tế) trên đây thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm và phạt tiền đến 50.000 đồng ngân hàng" Còn Điều 9 của Sắc luật 03/SL-76 quy
định hình phạt tiền (là hình phạt bổ sung) đối với các tội xâm phạm đến trật tự
công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân với nội dung như sau:
" cờ bạc, tổ chức ổ mại dâm, buôn bán, tàng trữ ma túy và các chất độc khác, thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm Trong mọi trường hợp, có thể bị phạt tiền đến 1.000 đồng ngân hàng" [57, tr 237]
Để đáp ứng yêu cầu ổn định trật tự quản lý kinh tế (trật tự kinh doanh, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước, ngày 20/5/1981 Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ và ngày 30/6/1982 ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép Trong hai pháp lệnh này, hình phạt tiền được quy định là hình phạt
bổ sung Cụ thể: Điều 7 Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ quy định: "Người
phạm tội hối lộ nói ở Điều 2 và Điều 3 của Pháp lệnh này còn có thể bị phạt tiền từ 1 đến 3 lần giá trị của hối lộ"; còn Điều 2 Pháp lệnh trừng trị các tội
đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép quy định: "Người nào lợi
dụng khó khăn về kinh tế hoặc tạo ra những khó khăn đó, mua vét hàng hóa, lương thực, vật tư, các loại tem, phiếu, vé, giấy tờ có giá trị phân phối hàng hóa, vật tư hoặc cung ứng dịch vụ nhằm thu lợi bất chính, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm và bị phạt tiền gấp 3 lần giá trị hàng phạm pháp"
Qua nghiên cứu các quy định về hình phạt tiền trong các văn bản pháp luật nêu trên có thể thấy:
+ Hình phạt tiền được quy định ngay trong các văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta sau khi mới giành được chính quyền dưới các hình thức Sắc lệnh, Sắc luật, Pháp lệnh (văn bản pháp luật hình sự đơn hành, dưới luật)
Trang 31+ Hình phạt tiền vừa được quy định là hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính theo quy định của Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/1946, Sắc lệnh số 168-SL ngày 14/04/1948 và Sắc luật 03/SL-76 ngày 15/3/1976 Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung theo quy định của Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN năm 1970, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân năm 1970, Pháp lệnh trừng trị các tội phạm về hối lộ năm
1981 và Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982
+ Hình phạt tiền được áp dụng chủ yếu đối với người phạm tội có tính chất vụ lợi nhằm trừng phạt họ về mặt kinh tế và loại trừ điều kiện mà họ sử dụng được phạm tội mới (tái phạm) Về cơ bản phạm vi áp dụng hình phạt tiền còn hẹp, chỉ đối với một số ít tội
+ Hình phạt tiền được áp dụng trong hoàn cảnh chính quyền nhà nước còn non trẻ, tình hình kinh tế xã hội còn thấp kém, đời sống nhân dân còn khó khăn Do vậy, hình phạt tiền được áp dụng căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, khả năng kinh tế cụ thể của người phạm tội; không áp dụng hình phạt tiền liên đới Đặc biệt, từ năm 1955 trở về trước, do vẫn áp dụng luật lệ của chế độ cũ, nên Tòa
án đã đổi hình phạt tù thành hình phạt tiền, nhưng từ sau năm 1955 trở về sau thì không được quy đổi hình phạt tù thành hình phạt tiền và ngược lại
2.1.2 Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 1985
Năm 1985 đánh dấu một bước phát triển quan trọng của công tác lập pháp hình sự ở nước ta bằng việc ban hành BLHS đầu tiên ngày 27/6/1985 (sau đây gọi là BLHS năm 1985) Đây là một văn bản quy phạm pháp luật hình sự có kỹ thuật pháp điển hóa cáo, trong đó quy định tương đối đầy đủ về tội phạm, về hình phạt phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt là tình hình tội phạm vào thời điểm đó Trong BLHS năm 1985, hình phạt tiền là hình phạt duy nhất được quy định vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung
Trang 32Theo quy định tại Điều 23 BLHS năm 1985 thì: "Hình phạt tiền được áp dụng
đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, tham nhũng các tội dùng tiền làm phương tiện hoạt động hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định Mức phạt tiền được quyết định theo mức độ nghiêm trọng của tội đã phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả" [6, tr 91]
Tại phần các tội phạm của BLHS năm 1985, hình phạt tiền là hình phạt chính quy định tại 9 điều luật, là hình phạt bổ sung được quy định tại 58 điều luật
Nghiên cứu các quy định của BLHS năm 1985 về hình phạt tiền thấy rằng:
+ Một là, trong BLHS năm 1985, hình phạt tiền vừa được quy định là
hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung, nhưng trong phần các tội phạm hình phạt tiền chỉ được quy định là hình phạt chính đối với một
số ít tội phạm cụ thể Điều này, cho thấy các nhà làm luật nước ta chưa nhìn nhận, đánh giá đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của hình phạt tiền trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Mặt khác, theo quy định tại Điều 23 BLHS năm
1985 thì hình phạt tiền được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất vụ lợi, tham nhũng, các tội có dùng tiền làm phương tiện hoạt động, nhưng trong phần các tội phạm, có một số tội cũng thuộc loại tội phạm có tính chất này nhưng nhà làm luật không quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung, ví dụ: Điều 170, 174, 175, 176 Như vậy, quy định tại Điều 23 phần chung không được cụ thể hóa một cách triệt để trong phần các tội phạm của BLHS năm 1985 Điều đó đã dẫn đến việc thu hẹp phạm vi áp dụng của hình phạt tiền
+ Hai là, một số chế tài có hình phạt tiền được quy định là hình phạt bổ
sung bắt buộc chiếm tỷ lệ không đáng kể (khoảng 11%) trong tổng số các chế tài của BLHS năm 1985 đã ảnh hưởng đến tần suất áp dụng trong thực tiễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung Trong nhiều trường hợp, Tòa án không bị ràng buộc phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung mà có thể tùy nghi
Trang 33lựa chọn giữa hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với hình phạt bổ sung khác
Do vậy, có ý kiến cho là "Điều đó đã làm cho phạm vi áp dụng hình phạt tiền
trên thực tế lại bị thu hẹp thêm một lần nữa, cho thấy sự nhìn nhận về vai trò và hiệu quả của hình phạt tiền chưa được đánh giá một cách chính xác" [49, tr 27]
+ Ba là, trong phần các tội phạm của BLHS năm 1985, nhà làm luật quy
định mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tiền (tiền phạt) hoặc chỉ quy định mức tối đa mà không quy định mức tối thiểu Trong đó có một số khung hình phạt giữa mức tối thiểu và mức tối đa của tiền phạt quá rộng, ví dụ: Điều
215 "Tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, ấn phẩm
khác" quy định mức tối thiểu của hình phạt tiền là 250.000đ, mức tối đa là 10
triệu (gấp 40 lần mức tối thiểu) Điều đó có thể dẫn đến sự tùy tiện trong thực tiễn áp dụng đồng thời không bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và khả năng tác động có lựa chọn của hình phạt tiền đối với người bị kết án Mặt khác, đối với một số tội, do nhà làm luật chỉ quy định mức tiền phạt tối đa mà không quy định mức tối thiểu cũng có thể dẫn tới việc áp dụng hình phạt tiền
bị cứng nhắc, không bảo đảm công bằng khi quyết định hình phạt, đồng thời
còn gây khó khăn cho việc áp dụng khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 "Khi có
nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định"
Như vậy, mặc dù BLHS năm 1985 qua hơn chục năm áp dụng đã được sửa đổi bổ sung tới 4 lần vào các năm: 1989, 1991, 1992, 1997 nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình mới, cần phải sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, trong đó các quy định về hình phạt tiền Với tinh thần đó ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa
X tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua BLHS năm 1999 thay thế BLHS năm 1985
2.1.3 Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 1999
Trong BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 1999), hình phạt tiền tiếp tục được quy định vừa là hình phạt
Trang 34chính, vừa là hình phạt bổ sung Nếu so với quy định của BLHS năm 1985, thì quy định về phạt tiền trong BLHS năm 1999 có nhiều điểm mới Cụ thể là:
+ Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã mở rộng số lượng điều luật quy định
hình phạt tiền
Trong BLHS năm 1999 (lúc mới ban hành), h́nh phạt tiền được quy định
ở hình phạt chính tại 68/263 điều luật (chiếm 25,85%); hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được quy định tại 104/263 điều luật (chiếm 39,54%) Như vậy, hình phạt tiền là hình phạt chính được BLHS năm 1999 quy định tăng hơn 7,5 lần so với hình phạt tiền là hình phạt chính được quy định ở BLHS năm 1985 (Bộ luật này chỉ quy định hình phạt tiền là hình phạt chính tại 9 điều luật) Hình phạt bổ sung tăng 1,8 lần (BLHS năm 1999 quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung tại 104 điều luật, còn BLHS năm 1985 chỉ quy định tại 58 điều luật) Qua đây thấy rằng, nhà làm luật nước ta đã có cách nhìn và đánh giá tích cực về vai trò của hìnhphạt tiền trong đấu tranh phòng chống tội phạm Mặt khác, việc
mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền là nhằm phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
+ Thứ hai, BLHS năm 1999 quy định chặt chẽ hơn về phạm vi, điều kiện
áp dụng hình phạt tiền
Khác với Điều 23 BLHS năm 1985, Điều 30 BLHS năm 1999 quy định
phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính như sau: "Phạt
tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính
và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định" (khoản 1 Điều 30)
Như vậy, khác với quy định của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 không dựa vào tính chất của tội phạm (như tính chất vụ lợi, tính chất tham nhũng) hoặc tính chất của phương tiện sử dụng để phạm tội mà căn cứ vào từng nhóm tội xâm phạm đến những quan hệ xã hội nhất định được luật hình
sự bảo vệ để quy định phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt tiền là hình phạt
Trang 35chính Nghiên cứu phần các tội phạm của BLHS năm 1999 cho thấy, hình phạt tiền được áp dụng đối với các nhóm tội phạm cụ thể sau đây:
+ Nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Nhóm này hình phạt tiền áp dụng đối với những tội mà người phạm tội thực hiện nhằm mục đích thu lợi bất chính được quy định tại 20/31 điều luật
+ Nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Nhóm này, hình phạt tiền được áp dụng đối với những tội có tính chất vụ lợi hoặc dùng tiền làm phương tiện phạm tội được quy định tại 30/56 điều luật;
+ Nhóm các tội phạm khác do BLHS quy định Nhóm này bao gồm các tội phạm (nhưng không thuộc hai nhóm tội phạm nêu trên) mà BLHS có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc xử lý tội phạm Thuộc nhóm này có 02 tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân; 01 tội xâm phạm sở hữu; 09 tội phạm về môi trường; 01 tội phạm về ma túy, 07 tội phạm trật tự quản lý hành chính
Điều kiện duy nhất để áp dụng hình phạt tiền đối với những nhóm tội
phạm nêu trên là: "Tội phạm mà người phạm tội thực hiện phải thuộc tội phạm
ít nghiêm trọng", tức là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức
cao nhất đối với tội ấy là đến 03 năm tù (khoản 2 Điều 8 BLHS năm 1999) Đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền chỉ là những người phạm tội đủ 16 tuổi trở lên, còn đối với người ở độ tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thì không áp dụng hình phạt tiền (khoản 5 Điều 69 BLHS năm 1999)
* Về hình phạt tiền là hình phạt bổ sung, khoản 2 Điều 30 đã quy định rõ ràng, cụ thể những trường hợp được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ
sung khi không áp dụng là hình phạt chính, theo đó: "Phạt tiền được áp dụng
là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội tham nhũng, ma túy hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định" Từ quy định này thấy rằng, khoản 2 Điều
30 không quy định điều kiện áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung mà chỉ quy định phạm vi các trường hợp được áp dụng hình phạt này Tuy nhiên,
Trang 36theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 28 BLHS năm 1999 thì có thể hiểu điều
kiện để áp dụng thì phạt tiền với tính chất là hình phạt bổ sung là "Khi hình
phạt chính được áp dụng không phải là hình phạt tiền" Điều này có nghĩa là,
nếu hình phạt tiền đã được áp dụng là hình phạt chính thì không áp dụng là hình phạt bổ sung
Tóm lại, Điều 30 BLHS năm 1999 đã quy định cụ thể trường hợp nào thì hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính, trường hợp nào hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung Trong khi đó, BLHS năm 1985 không quy định rõ vấn đề này Do vậy, quy định tại Điều 30 BLHS năm 1999 đã đảm bảo việc áp dụng hình phạt tiền được thống nhất hơn và có tác dụng hạn chế sự tùy tiện khi áp dụng Nghiên cứu phần các tội phạm của BLHS năm 1999 có quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung thấy rằng, ngoài những người phạm tội tham nhũng, ma túy, Bộ luật này đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với những người phạm các tội được quy định ở các chương khác của BLHS Cụ thể là: 03 tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (Chương XII); 02 tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân (Chương XIII); 10 tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV);
24 tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (chương XVI); 10 tội phạm về môi trường (Chương XVII); 28 tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chương XIX) và 7 tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Chương XX) Cũng như hình phạt tiền là hình phạt chính, hình phạt tiền là hình phạt bổ sung chỉ áp dụng với người phạm tội đủ 16 tuổi trở lên, không áp dụng đối với người phạm tội ở độ tuổi từ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi
+ Thứ ba, BLHS năm 1999 quy định cụ thể mức phạt tiền tối thiểu tại
Điều 30 phần chung, đồng thời trong phần các tội phạm hầu hết các điều luật đều quy định mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tiền, hoặc quy định mức tối đa của hình phạt này Trong khi đó Điều 23 BLHS năm 1985 không quy định mức tối thiểu của hình phạt tiền, còn trong phần các tội phạm của Bộ
Trang 37luật này gần như chỉ quy định mức tiền phạt tối đa (ngoại trừ Điều 215 Tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, ấn phẩm khác, tuy có quy định mức tiền phạt tối thiểu là 250.000đ và mức tiền phạt tối ta là 10.000.000đ, nhưng khoảng cách giữa mức tiền phạt tối thiểu với mức tiền phạt tối đa là quá lớn, gấp khoảng 40 lần Để khắc phục hạn chế này, khoản 3
Điều 30 BLHS năm 1999 quy định: "Mức phạt tiền được quyết định tùy theo
tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 1.000.000đ"
Như vậy, mức tối thiểu của hình phạt tiền được quy định chung cho cả hình phạt tiền là hình phạt chính và hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và được nhà làm luật xác định cụ thể là 1.000.000đ Đây là một quy định mới, thể hiện tính nghiêm khắc của chế tài hình sự so với chế tài hành chính Về vấn đề
này có tác giả nhận định: "Quy định này phản ánh được các đòi hỏi của cả hai
khía cạnh của nguyên tắc công bằng; công bằng ngang nhau và công bằng phân phối Luật quy định mức phạt tiền được quyết định tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thể hiện sự bình đẳng giữa mọi người trước pháp luật, thể hiện khía cạnh ngang nhau của công bằng; đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả thị trường
đã thể hiện khía cạnh phân phối của công bằng" [27, tr.70] Trên cơ sở quy
định có tính nguyên tắc này, tại phần các tội phạm BLHS, mức phạt tiền được quy định cụ thể đối với từng tội danh từ mức tối thiểu đến mức tối đa hoặc theo số lần giá trị hàng phạm pháp hoặc số lợi bất chính Đơn vị tiền tệ để tính mức phạt tiền là Việt Nam đồng Khi quyết định mức phạt tiền cụ thể đối với người bị kết án, Tòa án không chỉ phải bảo đảm mức tiền phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà còn phải xét đến tình hình tài sản của người bị kết án để hình phạt tiền được áp dụng có tính khả thi
Trang 38Thứ tư, BLHS năm 1999 quy định rõ, cụ thể phương thức thi hành hình
phạt tiền tại khoản 4 Điều 30, theo đó: "Tiền phạt có thể nộp một lần hoặc
nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định trong bản án" Phương thức thi
hành hình phạt tiền được BLHS năm 1999 quy định như vậy là nhằm tạo điều kiện để người bị kết án với những điều kiện, hoàn cảnh kinh tế khác nhau, khả năng tài sản khác nhau đều có thể thi hành hình phạt tiền mà Tòa án áp dụng đối với họ Đồng thời xác định rõ trách nhiệm của Tòa án phải ấn định rõ trong bản án thời hạn thi hành hình phạt tiền của người bị kết án
Từ sự phân tích, đánh giá trên có thể thấy rằng, quy định của BLHS năm
1999 về hình phạt tiền chặt chẽ, cụ thể hơn, có nhiều ưu điểm hơn, đặc biệt là
đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền và phương thức thi hành hình phạt tiền Tuy nhiên, trong quá trình thi hành BLHS năm 1999 kể từ khi có hiệu lực đến nay cho thấy, quy định của Bộ luật này về hình phạt tiền đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định cần phải sửa đổi bổ sung để phát huy hiệu quả của hình phạt tiền trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
2.1.4 Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 2015
BLHS năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là BLHS năm 2015) Trong Bộ luật này, bên cạnh việc kế thừa những quy định hợp lý về hình phạt tiền của BLHS năm 1999 thì cũng có nhiều sửa đổi, bổ sung mới Một trong những sửa đổi, bổ sung quan trọng là quy định hình phạt
tiền đối với pháp luật thương mại phạm tội Theo quy định tại Điều 32 “Các
hình phạt đối với người phạm tội” và Điều 33 “Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội” của BLHS năm 2015 có thể thấy, trong hệ thống
hình phạt nước ta, hình phạt tiền là hình phạt duy nhất vừa được áp dụng đối với người phạm tội (thể nhân) vừa được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội với tư cách là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung khi không
áp dụng là hình phạt chính
Trang 39* Trước hết, quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt tiền áp dụng đối
với người phạm tội
Nếu so sánh với quy định của BLHS năm 1999, thì BLHS năm 2015 quy định về hình phạt tiền áp dụng đối với người phạm tội có những sửa đổi, bổ sung mới sau đây:
- Mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người phạm tội Cụ thể là:
Khoản 1 Điều 35 BLHS năm 2015 quy định:
"1 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:
a Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định;
b Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do
Bộ luật này quy định" Như vậy, khoản 1 Điều 35 đã mở rộng phạm vi áp dụng
hình phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội theo hướng: + Mở rộng loại tội phạm hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội Theo đó, phạt tiền là hình phạt chính không chỉ được
áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng (theo quy định tại Điều 30 BLHs năm 1999), mà còn được áp dụng đối với người phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng
Với việc sửa đổi, bổ sung này thấy rằng, việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người phạm tội không bị giới hạn về nhóm tội phạm
cụ thể được quy định tại phần các tội phạm với điều kiện tội phạm mà người phạm tội thực hiện phải thuộc loại tội ít nghiệm trọng, tội nghiêm trọng (quy định tại khoản 1, 2 Điều 9 BLHS năm 2015), đồng thời trong điều luật tương ứng có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính Chỉ riêng đối với người phạm tội rất nghiêm trọng, điểm b khoản 1 Điều 35 BLHS năm 2015 đã giới hạn một số nhóm tội phạm cụ thể mà người phạm tội thực hiện được áp dụng
Trang 40hình phạt tiền là hình phạt chính Đó là nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và các tội phạm khác
do BLHS quy định Một số tội phạm khác do BLHS năm 2015 quy định ở đây
là những tội phạm không thuộc các nhóm tội phạm nêu trên và cũng không thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, nhưng nhà làm
luật nhận thấy, "Khi áp dụng phạt tiền là hình phạt chính sẽ đạt được mục đích
của hình phạt" [53,tr26]
Đối với hình phạt tiền là hình phạt bổ sung, nhà làm luật kế thừa toàn bộ quy định tại khoản 2 Điều 30 BLHS năm 1999 và tiếp tục quy định tại khoản 2
Điều 35 BLHS năm 2015 như sau: "Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt
bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định" Trong BLHS hiện hành, phạt tiền là hình phạt
bổ sung được quy định dưới dạng chế tài tùy nghi (không bắt buộc) Vì vậy, nếu điều luật có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, đồng thời hình phạt tiền không được áp dụng là hình phạt chính thì tùy từng trường hợp mà Tòa án
có thể áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với người bị kết án
Thứ hai, về căn cứ quyết định và mức phạt tiền, khoản 3 Điều 35 BLHS
năm 2015 về cơ bản kế thừa quy định tại khoản 3 Điều 30 BLHS năm 1999
nên tiếp tục quy định: "3 Mức phạt tiền được quyết định căn cứ vào tính chất
và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không thấp hơn 1.000.000đ"
Tuy vậy, khoản 3 Điều 35 BLHS năm 2015 có sửa đổi về kỹ thuật lập pháp, cụ
thể là thay một số từ "tùy theo" bằng cụm từ "căn cứ vào" và thay từ "nghiêm
trọng" bằng từ "nguy hiểm" trong nội dung của khoản này Việc thay đổi này
là nhằm đảm bảo sự chuẩn xác, sự thống nhất về mặt thuật ngữ trong các quy định của BLHS năm 2015 Về mức phạt tiền, theo quy định tại khoản 3 Điều
35 BLHS hiện hành cho thấy, nhà làm luật nước ta chỉ quy định mức tối thiểu chung của hình phạt tiền là 1.000.000đ mà không quy định mức phạt tiền tối