Khi áp dụng mô hình này cùng với việc áp dụng các quy định tự chủ về tài chính theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập sẽ giúp ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ÁP DỤNG CƠ CHẾ ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ - BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ÁP DỤNG CƠ CHẾ ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ TRONG CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ - BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ)
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TẠ DOÃN TRỊNH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Tất cả các số liệu và những trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc chính xác và rõ ràng Những phân tích của luận văn cũng chưa từng được công
bố ở một công trình nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Thầy giáo TS Tạ Doãn Trịnh - người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết với kinh nghiệm cũng như kiến thức của mình tận tình chỉ bảo, đưa ra những hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo của trường Học viện Khoa Học Xã Hội, đặc biệt là các thầy cô thuộc khoa Chính sách công, ngành Quản lý khoa học và công nghệ đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học chuyển đổi và học cao học tại trường vừa qua
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn các cán bộ, công nhân viên chức Viện Ứng dụng công nghệ đã chỉ bảo, chia sẻ những tài liệu và các đóng góp quý báu để tôi có những tư liệu phục vụ cho việc hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn bộ gia đình, bạn bè và người thân, những người đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CƠ CHẾ ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ
VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC TRIỂN KHAI Ở CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG 8
1.1 Khái niệm và sự cần thiết thực hiện cơ chế PPP trong Khoa học và Công nghệ 81.2 Tổng quan về mô hình hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu khoa học 121.3 Những vấn đề phát sinh trong mô hình hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu khoa học 191.4 Triển vọng và thách thức 23
Tiểu kết chương 30 Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ (PPP) Ở VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI TẠI VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 31
2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về mô hình đối tác công - tư tại Việt Nam 312.2 Văn bản quy phạm pháp luật về mô hình đối tác Công - Tư trong hoạt động Khoa học và Công nghệ 392.3 Một số vấn đề vướng mắc về cơ chế, chính sách và luật pháp 422.4 Thực tiễn triển khai mô hình PPP tại Viện Ứng dụng công nghệ 44
Chương 3: PPP TRONG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐÔI MỚI SÁNG TẠO VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT THÚC ĐẨY HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ TRONG VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 51
3.1 Khung phân tích PPP trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi
Trang 63.2 Những điều kiện cần và đủ để thiết kế và thực hiện PPP trong hoạt động Khoa học và Công nghệ và đổi mới sáng tạo 603.3 Đề xuất trong việc triển khai PPP tại Viện Ứng dụng Công nghệ -
Bộ Khoa học và Công nghệ 64
KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AC Năng lực tiếp nhận Absorptive Capacity
BT xây dựng - chuyển giao Build - Transfer
BLT Hợp đồng xây dựng - thuê dịch
vụ - chuyển giao
Build - Lease - Transfer
BOT Hợp đồng xây dựng - kinh doanh -
chuyển giao
Build - Operate - Transfer
BTO Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
ĐHQG Đại học quốc gia
ICT Công nghệ thông tin và chuyền
thông
Information - Coonmunication
- Technology
IPR Quyền tài sản trí tuệ Intellectual property rights
KH&CN Khoa học và Công nghệ
NC&PT Nghiên cứu và phát triển
NNSN Nguồn ngân sách Nhà nước
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (đầu
tư nươc ngoài)
Official Development Assistance
PPP Quan hệ đối tác công – tư Public-Private Partnership
RC Năng lực nghiên cứu Research Capacity
STI Khoa học, công nghệ và đổi mới Science - Technology -
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG
Hình 1.1 Mô hình các khoa, bộ môn của Đại học quốc gia Hà Nội 17Hình 3.1 Hệ thống con theo chức năng, các tác nhân cơ sở và 53
tổ chức trung gian 53Hình 3.2 Môi trường liền kề: yếu tố tác động liên quan và các chế độ
(mức meso) 55Hình 3.3 Điều kiện khung: cấu trúc và lĩnh vực chính sách cấp độ vĩ mô 56 Bảng 3.1: Phân nhóm hoạt động có yếu tố chuyển giao tri thức và công
nghệ 58
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Public-Private Partnership - PPP có thể tạm dịch là Quan hệ đối tác công - tư Thuật ngữ đối tác công - tư bắt nguồn từ Hoa Kỳ với các chương trình giáo dục được cả khu vực công và khu vực tư cùng tài trợ trong thập niên 50 của thế kỷ trước Sau đó, nó được sử dụng rộng rãi để nói đến các liên doanh giữa các chính quyền thành phố và các nhà đầu tư tư nhân trong việc cải tạo các công trình đô thị ở Hoa Kỳ trong thập niên 60 Kể từ thập niên 80, thuật ngữ đối tác công - tư dần phổ biến ở nhiều nước và được hiểu là sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân để cùng xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT) hay cung cấp các dịch vụ công cộng Mô hình đối tác này bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ đầu thập niên 90 Có nhiều cách hiểu khác nhau về mô hình PPP, nhưng phổ biến nhất là nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân cùng ký một hợp đồng để phân chia lợi ích, chia sẻ rủi ro cũng như trách nhiệm của mỗi bên trong việc xây dựng một CSHT hay cung cấp một dịch vụ công nào đó
Trước nhu cầu vốn đầu tư CSHT của đất nước nói chung và mỗi ngành/địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi ngân sách nhà nước thì có hạn và vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp, thì PPP được xem là đòn bẩy tích cực bù đắp sự thiếu hụt này Thông qua PPP, nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp vốn bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó
sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân
Trước đây, PPP chủ yếu được áp dụng trong đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng, xây dựng đường xá, nhà máy phát điện hay hệ thống cấp thoát nước… Tuy nhiên đến nay, hình thức đầu tư này đã được mở rộng ra nhiều lĩnh vực, trong đó có KH&CN, với mục tiêu huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực này Theo các chuyên gia,
Trang 10PPP trong KH&CN có nhiệm vụ cơ bản là thu hút vốn đầu tư để xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và các nhiệm vụ KH&CN; thay đổi phương thức tổ chức và quản lý để khu vực tư tham gia nhiều hơn, tích cực và chủ động hơn vào các chương trình, dự án KH&CN; và chia sẻ rủi ro trong nghiên cứu khoa học Khi dự án theo hình thức PPP được thực hiện cũng sẽ giúp nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm, đồng thời thúc đẩy việc đổi mới công nghệ, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN - Một mục tiêu quan trọng trong phát triển KH&CN của Việt Nam
PPP hỗ trợ đổi mới công nghệ và nâng cấp chuỗi giá trị Nguồn lực đầu
tư cho đổi mới công nghệ luôn là vấn đề Nhà nước và doanh nghiệp hết sức quan tâm, vì đây là yếu tố quyết định đến sự thành công của việc nâng cấp chuỗi giá trị sản phẩm Với quan điểm không phân biệt các thành phần kinh tế trong việc thụ hưởng các cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, thời gian qua các doanh nghiệp trong nước đã và đang nhận được sự hỗ trợ từ khu vực công, nhất là hỗ trợ về công nghệ và các chính sách ưu đãi Tuy nhiên để tiếp tục phát triển, nhanh chóng tiếp cận được các công nghệ mới, hiện đại, các doanh nghiệp vẫn rất cần có thêm cơ chế và chính sách mang tính đột phá nhằm thu hút hơn nữa các nguồn lực đầu tư từ xã hội (cả trong và ngoài nước)
để đổi mới công nghệ, sáng tạo ra các sản phẩm mới Về cơ chế chính sách thu hút đầu tư phục vụ cho đổi mới công nghệ, ngày 14/2/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức PPP và ngày 28/6/2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư 06/2016/TT-BKHĐT hướng dẫn một số điều của Nghị định 15 Việc thu hút đầu tư phát triển hạ tầng dịch vụ KH&CN được quy định tại: Điểm đ, e Khoản 1, Điều 4 của Nghị định 15 Các điểm này thể hiện mục tiêu của chính sách mới về thu hút đầu tư, trong xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, quản lý khai thác các hạ tầng sẵn có đều có thể áp dụng hình thức PPP Đây là những điểm rất mới về chính sách mà trước đây chưa từng được xây dựng và triển khai Theo cơ chế
Trang 11mới này, nếu áp dụng PPP đối với các hạ tầng kỹ thuật cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm đã được Nhà nước đầu tư, có thể theo mô hình nhượng quyền khai thác (Franchise) Theo mô hình này, các CSHT đã được Nhà nước đầu tư sẽ được giao lại cho tư nhân quản lý và khai thác nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc về Nhà nước Khi áp dụng mô hình này cùng với việc áp dụng các quy định tự chủ về tài chính theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập sẽ giúp chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập thành doanh nghiệp KH&CN, đồng thời tạo ra cơ chế giúp cho các đối tượng khởi nghiệp tiếp cận thuận lợi và sử dụng được các hạ tầng kỹ thuật cho nghiên cứu và phát triển công nghệ mới cho chuỗi giá trị Khi áp dụng mô hình PPP cho các dự án đầu tư CSHT trong các khu công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao… khó áp dụng mô hình BOT (Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao), BTO (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) do khả năng hoàn vốn và sinh lời không cao, không hấp dẫn nhà đầu tư Tuy nhiên các mô hình BTL (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - thuê dịch vụ), hay BLT (Hợp đồng xây dựng - thuê dịch
vụ - chuyển giao) vẫn có tính hấp dẫn các nhà đầu tư nếu nguồn vốn từ ngân sách được sử dụng để bù đắp cho phần chi phí mà nguồn thu từ phí thực hiện các dịch vụ khoa học kỹ thuật không đủ bù đắp cho các nhà đầu tư Để thực hiện mô hình PPP cho nhiệm vụ KH&CN, ngày 7/10/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1931/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện cơ chế đối tác công - tư, đồng tài trợ thực hiện nhiệm vụ KH&CN (gọi tắt là Đề án 1931) Đề án 1931 cho phép khu vực tư và khu vực công cùng tiến hành xác định mục tiêu các nhiệm vụ KH&CN sẽ thực hiện để tạo ra các sản phẩm mới định hướng thị trường và có tính cạnh tranh Đề án thực hiện theo hình thức PPP sẽ giúp tận dụng được khả năng nhanh nhạy về nắm bắt nhu cầu thị trường của nhà đầu tư, doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhiệm
vụ và định hướng mục tiêu sản phẩm ngay từ khâu đầu vào Bản chất đây
Trang 12cũng là việc xây dựng lộ trình công nghệ cho sản phẩm tương lai theo định hướng thị trường
PPP hỗ trợ hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp KH&CN Trong mô hình PPP, khi thực hiện sẽ hình thành nên doanh nghiệp dự án Đây là chủ thể đại diện cho cả hai phía công và tư để tổ chức triển khai thực hiện dự án trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng PPP Đối với một dự án đầu tư cho hạ tầng KH&CN, hay dự án KH&CN sau khi được thành lập sẽ xuất hiện doanh nghiệp dự án là doanh nghiệp KH&CN Số lượng doanh nghiệp KH&CN được hình thành tùy thuộc vào tính chất và quy
mô của dự án
Tuy nhiên, điểm riêng biệt của các doanh nghiệp tham gia hợp đồng PPP là bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt hợp đồng, mọi sự thay đổi đều không được phép hoặc phải có ý kiến của các bên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhất là tổ chức tín dụng cho dự án PPP Đây là điểm quan trọng cần lưu ý trong quá trình khởi nghiệp sáng tạo và hình thành các doanh nghiệp KH&CN
Mặc dù đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới, song hình thức hợp tác đối tác công - tư là khá mới ở Việt Nam, nhất là khi áp dụng vào lĩnh vực KH&CN Tuy nhiên đây là một xu hướng tất yếu Do đó việc nghiên cứu mô hình này cần được tiếp tục cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn để PPP thực sự là một giải pháp đột phá thu hút các nguồn lực xã hội (cả trong và ngoài nước) nhằm thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp KH&CN
Vì vậy, việc lựa chọn và thực hiện đề tài khóa luận Thạc sĩ “Đề xuất
giải pháp áp dụng cơ chế đối tác công - tư trong các viện nghiên cứu ứng dụng (Nghiên cứu trường hợp Viện Ứng dụng công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ)” là cần thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tế
Trang 132 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công trình nghiên cứu thực nghiệm PPP trên thế giới rất phong phú, nhiều kết quả quan trọng đã được công bố, cụ thể nghiên cứu khẳng định không tồn tại một hình thức PPP chuẩn và mỗi nước đều có chiến lược riêng tùy thuộc bối cảnh của nước đó Ở Việt Nam vai trò của công nghệ trong phát triển đã được thừa nhận một cách rộng rãi Trong môi trường cạnh tranh ngày càng tăng hiện nay, công nghệ là một yếu tố chiến lược sống còn cho phát triển nhanh chóng kinh tế - xã hội Kết quả của việc ứng dụng, khai thác công nghệ phụ thuộc vào việc chúng ta tạo ra được những công nghệ phù hợp, có khả năng áp dụng được vào hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp Cho nên, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng các mô hình đối tác trong việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu khoa học tại Việt Nam
Tổng hợp cơ sở Pháp lý điều chỉnh mô hình đối tác giữa các đơn vị/tổ chức Nghiên cứu khoa học và các đối tác tư nhân theo mô hình đối tác công -
tư (PPP)
Đề xuất Mô hình đối công - tư (PPP) trong việc nghiên cứu, ứng dụng
và triển khai kết quả nghiên cứu khoa học giữa nhà nước và tư nhân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mô hình hợp tác công tư đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới trong nhiều lĩnh vực khác nhau Ở Việt Nam, mô hình này chủ yếu được áp dụng để xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, và cũng mới bắt đầu manh nha sang ngành KH&CN Do đó có thể nói, đề tài liên quan tới vấn đề trong ngành KH&CN vẫn còn rất mới Vì là một đề tài mới và có phạm vi rộng, nên luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu việc áp dụng cơ chế đối tác công -
tư ở Viện ứng dụng công nghệ
Trang 145 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Thực tiễn triển khai mô hình đối tác công - tư đã và đang được áp dụng vào ngành KH&CN, đã đưa ra được những cơ hội và thách thức trong việc triển khai mô hình đối tác công - tư Đồng thời cũng nêu được những khó khăn và thuận lợi của việc triển khai mô hình này Tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng cũng đã có bước thành công nhất định
Luận văn dựa vào phương pháp Phương pháp nghiên cứu chính sau đây
Phương pháp tiếp cận thể chế được sử dụng để tiến hành các hoạt động
nghiên cứu làm rõ vai trò của từng đối tác trong dự án PPP, bao gồm cả vai trò của người sử dụng/hưởng lợi từ dự án
Tiếp cận theo lợi ích được sử dụng nhằm xem xét cân bằng lợi ích,
cách ứng xử liên quan đến các quy định, quy tắc, cam kết của các bên nếu tham gia các dự án PPP, như đại diện Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân
Phương pháp hỏi chuyên gia là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia để xem xét nhận định bản chất của đối tượng, tìm ra một giải pháp tối ưu
Phương pháp phân tích tổng hợpphân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc
về cơ chế PPP Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về cơ chế PPP
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thực tiễn quốc tế cho thấy cách hiểu về PPP trong khoa học công nghệ
và đổi mới sáng tạo (STI) là rất đa dạng Một thiết kế cụ thể bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến những vấn đề mà PPP nhằm giải quyết; môi trường pháp lý và những thông lệ chi phối toan tính và hành xử của các bên; mong muốn, năng lực và cơ hội hợp tác của các bên Việc đạt được đồng thuận giữa nhiều bên có lợi ích cốt lõi khác nhau để thành lập PPP và sau đó triển khai thực hiện là điều không đơn giản và đòi hỏi nhiều nỗ lực Kinh
Trang 15nghiệm cũng cho thấy PPP đòi hỏi có thời gian để các bên hiểu về nhau tốt hơn, do vậy ngoài những mục tiêu về những kết quả cụ thể, bản thân quá trình tương tác giữa các bên cũng cần được coi là một mục tiêu của PPP
Để PPP có kết quả tốt, sẽ cần đến những thử nghiệm, những điều chỉnh chính sách, pháp luật liên quan Không có công thức chung cho những việc như vậy Quá trình cùng tiến hóa giữa thực tiễn và chính sách là điều không thể tránh khỏi và là điều hay nên thực hiện
Trong bối cảnh Việt Nam nói chung, PPP được kỳ vọng là một sự bổ sung chính sách để giải quyết những loại vấn đề mà các công cụ chính sách hiện thời chưa đáp ứng được
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận của cơ chế đối tác công - tư và kinh nghiệm
quốc tế trong việc triển khai ở các viện nghiên cứu ứng dụng
Chương 2 Thực trạng các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động đối tác
công - tư (PPP) ở Việt Nam và thực tiễn triển khai tại Viện ứng dụng công nghệ
Chương 3 PPP trong khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và và
một số đề xuất thúc đẩy hình thức đối tác công - tư trong Viện ứng dụng công nghệ
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CƠ CHẾ ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ
VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC TRIỂN KHAI
Ở CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG 1.1 Khái niệm và sự cần thiết thực hiện cơ chế PPP trong Khoa học và Công nghệ
1.1.1 Khái niệm PPP
Quan hệ đối tác công - tư được nhìn nhận như một phương thức để tổ chức và huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào những hoạt động từ trước tới nay vẫn được coi là thuộc chức năng của Nhà nước, vừa giúp thúc đẩy quá trình cải cách hoạt động của hệ thống Nhà nước, trong đó có cải cách hành chính, vừa cho phép thu hút vốn để xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho đất nước hoặc cho từng vùng, vừa cho phép thay đổi phương thức tổ chức
và quản lý, cho phép khu vực công tham gia nhiều hơn, tích cực và chủ động hơn vào các chương trình, dự án công Bên cạnh đó, PPP còn được nhìn nhận
từ khía cạnh chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân trong quá trình thực hiện
dự án Về bản chất, PPP là một hình thức hợp tác giữa Nhà nước và khu vực
tư nhân, nhằm tích hợp được những điểm mạnh, lợi thế nhất của cả hai khu vực này trong việc thực hiện một dự án nào đó Trong giai đoạn đầu mới xuất hiện, lĩnh vực truyền thống của PPP là phát triển cơ sở hạ tầng song hiện tại được mở rộng hơn sang các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
PPP khác với mua sắm công Trong một dự án mua sắm công điển hình, cơ quan nhà nước đặt ra những thông số kỹ thuật và yêu cầu về thiết kế/dịch vụ, gọi thầu trên cơ sở thiết kế chi tiết/dịch vụ đó, và thanh toán cho các nhà thầu tư nhân Nhà nước sẽ phải chi trả cho toàn bộ chi phí, kể cả những chi phí phát sinh do thay đổi yêu cầu từ phía nhà nước Việc vận hành
và bảo trì cũng hoàn toàn nằm trong tay Nhà nước và nhà thầu không chịu
Trang 17trách nhiệm cho kết quả hoạt động dài hạn của cơ sở dịch vụ sau thời gian bảo hành (thường là ngắn hơn rất nhiều)
Theo hình thức PPP, cơ quan nhà nước chỉ rõ những yêu cầu của họ dưới dạng “đầu ra” Khu vực tư nhân có mức độ tự do nhất định để thiết kế, cấp vốn, xây dựng và vận hành cơ sở dịch vụ sao cho đáp ứng được những yêu cầu “đầu ra” của nhà nước Khu vực tư nhân sẽ được thanh toán (phí dịch vụ) trong suốt quãng đời của hợp đồng PPP trên cơ sở thỏa thuận trước, theo
đó qua thời gian nhà đầu tư sẽ thu lại được vốn và lãi Kết quả chủ yếu của PPP là việc chuyển những rủi ro cơ bản liên quan tới dự án từ phía Nhà nước sang doanh nghiệp thực hiện
1.1.2 Sự cần thiết của cơ chế PPP trong thực hiện nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Thực tế đầu tư từ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ
KH&CN còn ít lại dàn trải và không tránh khỏi những trùng lặp trong các nhiệm vụ cụ thể được thực hiện, là một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế về hiệu quả đầu tư, kết quả đạt được Đặc biệt, sự liên kết, tham gia của khu vực tư trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có kinh phí từ ngân sách nhà nước còn khá mờ nhạt
Trên thực tế, nhà nước đã có một số cơ chế, chính sách khuyến khích
sự tham gia của khu vực tư trong việc tham gia và thực hiện các nhiệm vụ
KH&CN của nhà nước Những cơ chế, chính sách này đã có tác dụng huy
động, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp cùng với nhà nước thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Mặc dù vậy, nhìn chung, vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc khuyến khích khu vực tư tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN cùng với khu vực công Đặc biệt, việc tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ KH&CN của nhà nước vẫn còn thiếu sự tham gia một cách tích cực, chủ động, mạnh mẽ và xuyên suốt của khu vực tư trong tất cả các bước, từ xác định nhiệm vụ đến đóng góp kinh phí, tổ chức, quản lí việc thực hiện và
Trang 18chuyển giao, ứng dụng sản phẩm tạo ra Phân tích các cơ chế, chính sách hiện hành có thể thấy một số điểm nổi bật như sau:
- Thông thường các đề xuất bắt nguồn từ một phía, Nhà nước hoặc tư nhân Sự tham dự của phía thứ hai có tính chất hưởng ứng khi thấy nhu cầu của mình (về lợi ích, về sứ mệnh) được đồng thời thực hiện
- Về tổ chức và quản lý, nhà nước có vai trò điều phối và đưa ra cơ chế quản lý, thể hiện ở việc lựa chọn và xét duyệt đầu vào, kiểm tra và giám sát việc tổ chức thực hiện, xét duyệt nghiệm thu kết quả và duyệt quyết toán kinh phí được sử dụng
- Nguồn kinh phí do hai bên cùng đóng góp theo tỷ lệ 30:70 hoặc 50:50 (trước đây quy định tỷ lệ thu hồi 100%, 80 hoặc 70% cũng có ý nghĩa tương tự) nhưng cơ chế tài chính về sử dụng kinh phí áp dụng đối với các nhiệm vụ KH&CN liên kết về cơ bản cũng giống như các nhiệm vụ được cấp 100% kinh phí từ NSNN
- Còn vắng bóng hình thức hợp tác mà cả hai phía cùng chủ động bàn bạc và cùng khởi xướng ý tưởng nghiên cứu (không theo nghĩa 1 bên khởi xướng và 1 bên phê duyệt hoặc ngược lại) Sự thiếu vắng này được thể hiện
cả từ khía cạnh quy định của pháp luật, cả từ khía cạnh thực tiễn quản lý các nhiệm vụ KH&CN Có thể thấy, gần như hoàn toàn chưa xây dựng được quan
hệ hợp tác hai bên, khi sứ mệnh của Nhà nước và lợi ích của tư nhân gặp nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN
- Các qui định và cơ chế hiện hành đối với việc xác định, thực hiện nhiệm vụ KH&CN vẫn theo tinh thần hoặc nhà nước chủ động đặt hàng, doanh nghiệp tham gia thực hiện hoặc doanh nghiệp chủ động đề xuất, nhà nước hỗ trợ thực hiện Hiện chưa có những quy định pháp luật làm căn cứ cho việc nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác cùng nhau chủ động thiết lập quan hệ đối tác để cùng nhau xác định, thực hiện, khai thác kết
Trang 19quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN mà tất cả các bên cùng quan tâm, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí công cho KH&CN
Trong khi đó, kinh nghiệm nước ngoài cũng đã cho thấy, PPP là công
cụ mới, đáp ứng những nhiệm vụ mà những công cụ hiện có chưa đáp ứng được (qui mô, kinh phí, tầm ảnh hưởng) PPP nhằm vào các chương trình nghiên cứu trung và dài hạn với cam kết rõ ràng của khu vực tư nhân Trong quan hệ này, đóng góp khu vực công giữ vai trò đòn bẩy, tạo ra môi trường thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN Nội dung chương trình nghiên cứu được hình thành dựa trên đề xuất của doanh nghiệp
sẽ nâng cao tính khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn Thêm vào đó, với tính chất bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà khoa học và nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, cần xem xét đến khả năng quản lý rủi ro tốt hơn của doanh nghiệp trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ để việc quản lý và sử dụng nguồn lực chung của xã hội được hiệu quả hơn Ngoài ra, một khi cơ chế quản
lý nhiệm vụ được trao cho bên đầu tư nhiều hơn quản lý (50-70% đồng vốn góp chung vào thực hiện nhiệm vụ) thì khả năng hấp dẫn của loại hình hợp tác công - tư đối với khu vực tư nhân cũng sẽ tăng lên
Các vấn đề, hạn chế chung về đầu tư, thực hiện và hiệu quả của các nhiệm vụ KH&CN đòi hỏi phải có giải pháp tháo gỡ, trong đó có việc đẩy mạnh sự tham gia của khu vực tư Ngoài việc có thêm nguồn kinh phí đầu tư cho nhiệm vụ KH&CN, khu vực tư với những lợi thế về năng lực nghiên cứu
và phát triển, năng lực quản lí, phát triển thị trường, liên kết, tạo mạng lưới, v.v…, trở thành một đối tác quan trọng mà nhà nước có thể hợp tác để nâng cao hiệu quả đầu tư và thực hiện nhiệm vụ KH&CN Việc thu hút, khuyến khích khu vực tư tham gia vào nhiệm vụ KH&CN cũng đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động KH&CN, tạo điều kiện khu vực tư tham gia một cách chủ động, tích cực
Trang 20Thực tế đã cho thấy, đầu tư dự án theo hình thức đối tác công - tư trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ công là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, mang lại lợi ích cho cả nhà nước, doanh nghiệp và người dân Luật Đầu tư công cũng
đã chính thức mở ra cơ chế đối tác công - tư để thực hiện, quản lí, vận hành
dự án kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp các dịch vụ công (Luật Đầu tư công, 2014) Việc xây dựng cơ chế hợp tác công - tư, đồng tài trợ thực hiện nhiệm
vụ KH&CN là một trong những giải pháp để tăng cường huy động các nguồn lực xã hội, thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho KH&CN, hạn chế tình trạng đầu tư manh mún từ ngân sách nhà nước, giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo ra được một môi trường cạnh tranh cao trong hoạt động KH&CN
1.2 Tổng quan về mô hình hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu khoa học
1.2.1 Một số mô hình PPP ở nước ngoài
Quan hệ đối tác công - tư trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, PPP trong hoạt động R&D được coi là việc khu vực tư nhân tham gia đầu tư kinh phí cho các dự án nghiên cứu của đại học và các viện nghiên cứu nhà nước với kỳ vọng được tiếp cận sớm kết quả hoặc được
sở hữu (toàn bộ hoặc một phần) tài sản trí tuệ được tạo ra từ những nghiên cứu này
Năm 2000, chính phủ Hoa Kỳ trả tiền cho số lượng nghiên cứu nhiều hơn so với số nghiên cứu mà chính phủ thực hiện; ngược lại, khu vực doanh nghiệp và đại học tiến hành nhiều nghiên cứu bằng tiền cấp phát và hợp đồng với chính quyền liên bang NC&PT do khu vực doanh nghiệp thực hiện (chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng) chiếm tới ba phần tư tổng số NC&PT của Hoa
Kỳ, tuy nhiên NC&PT do các đại học và cơ quan chính phủ thực hiện cũng chiếm một tỷ lệ quan trọng, đặc biệt khi tính tới yếu tố là NC&PT trong hai
Trang 21khu vực này chủ yếu là nghiên cứu cơ bản NC&PT của khu vực đại học tuy chiếm có 14% tổng số NC&PT nhưng lại chiếm tới 50% tổng số nghiên cứu
cơ bản
Trong một thời gian dài (từ 1953 đến 2000), khu vực doanh nghiệp của Hoa Kỳ luôn nhận được khoản kinh phí NC&PT từ Chính phủ liên bang lớn hơn nhiều so với khu vực đại học Tuy nhiên, bản thân khu vực doanh nghiệp cũng đầu tư mạnh mẽ cho NC&PT, nên phần kinh phí nhận được từ chính phủ tuy lớn cũng chỉ chiếm 10% chi tiêu NC&PT của khu vực này Trong khi đó, khu vực đại học tuy nhận được kinh phí từ chính phủ ít hơn, nhưng số đó lại chiếm tới 60% kinh phí NC&PT mà khu vực này có được
Ngoài các cơ quan nhà nước trên đây, còn có khoảng 700 phòng thí nghiệm quốc gia (FFRDC) thực hiện 8.8% ngân sách NC&PT của Hoa kỳ Các phòng thí nghiệm này thuộc sở hữu của chính quyền liên bang, phần lớn ngân sách hoạt động của chúng là do Bộ năng lượng cấp, nhưng lại được quản
lý thông qua hợp đồng với các đại học hoặc doanh nghiệp lớn Khi xin kinh phí nghiên cứu các tổ chức này được đối xử giống như đại học, ngoài ra họ cũng có những hợp đồng nghiên cứu, chủ yếu với Bộ Năng lượng
Như vậy, có thể thấy hiện nay có sự đan xen về kinh phí từ cả nguồn công và tư trong các hoạt động NC&PT của cả khu vực tư nhân, đại học và nhà nước, đặc biệt là trong các hoạt động NC&PT của Hoa Kỳ Ranh giới giữa khoa học phi lợi nhuận, và khoa học vì lợi nhuận đang mờ dần đi Sự đan xen về nguồn tiền, và theo đó là mục tiêu, cùng với xu thế các doanh nghiệp đầu tư ngày càng nhiều cho hoạt động NC&PT của khu vực đại học và khu vực chính phủ, mặc dù vậy, cũng đặt ra những vấn đề trái chiều
Có thể thấy việc ngày càng có nhiều đầu tư của tư nhân tham gia NC&PT trong khu vực đại học và chính phủ ở Hoa Kỳ mới là nội hàm của thuật ngữ đối tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực này Ở đây, việc tư nhân đầu
tư cho nghiên cứu khoa học của đại học và chính phủ, những tổ chức có thiên
Trang 22hướng nghiên cứu khoa học phục vụ công chúng, phục vụ nhân loại nói chung, phần nào tương đồng với khái niệm PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng, theo đó cơ sở hạ tầng phục vụ công cộng lại được đầu tư và khai thác bởi khu vực tư nhân Xung đột về lợi ích giữa khu vực tư nhân và khu vực đại học, chính phủ đặt ra những dấu hỏi về những lợi ích và thiệt hại của PPP trong NC&PT của hai khu vực sau này
Những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu của các đại học Hoa Kì ngày càng dựa nhiều vào kinh phí từ khu vực doanh nghiệp Nhiều đại học ở Hoa Kì đã lập ra những đơn vị nghiên cứu để thu hút và tiếp nhận những nguồn kinh phí thương mại Cách phổ biến là cam kết chuyển giao quyền đối với tài sản trí tuệ được tạo nên từ những nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ mới, như công nghệ sinh học, vi điện tử, chế tạo, khoa học vật liệu, và trí tuệ nhân tạo Nhiều đại học đã tận dụng được sự bùng nổ của nhiều lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học để ký kết được những hợp đồng nghiên cứu khổng lồ Trong phần lớn trường hợp, giới doanh nghiệp nhận được những cam kết về sở hữu những tài sản trí tuệ hình thành từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu
Mục đích của doanh nghiệp khi cấp kinh phí nghiên cứu thường là để khai thác được chất xám của các nhà khoa học, và thường gắn khoản kinh phí
đó với những vấn đề cụ thể cần giải quyết Đổi lại cho khoản kinh phí cấp cho đại học, nhà tài trợ tư nhân thường nhận được li-xăng toàn quyền theo một tỷ
lệ nhất định đối với những bằng sáng chế phát sinh, và cùng với đó là được tiếp cận các kết quả nghiên cứu, tham gia các cuộc hội thảo khoa học, tiếp cận đội ngũ giảng viên và các sinh viên nghiên cứu Với việc cấp kinh phí nghiên cứu, doanh nghiệp thường đòi hỏi một số đặc quyền, chẳng hạn như trì hoãn công bố các kết quả nghiên cứu cho đến khi đảm bảo được sở hữu tài sản trí tuệ Một số doanh nghiệp trong những lĩnh vực nhạy cảm có thể lái kết quả nghiên cứu theo hướng có lợi cho họ Những điều trên đây đều ít nhiều hạn chế tính cởi mở của khoa học
Trang 23Một vấn đề khác cần giải quyết khi tư nhân đầu tư vào NC&PT của khu vực đại học là sự trộn lẫn các nguồn kinh phí của cả tư nhân và nhà nước trong hoạt động của đại học, do vậy, khi tài sản trí tuệ được chuyển cho doanh nghiệp thì về nguyên tắc, trong đó có chứa cả phần mà nhà nước đã đầu tư Vấn đề này trở nên đặc biệt nhạy cảm nếu nhà tài trợ tư nhân lại là một doanh nghiệp nước ngoài Người ta lo ngại rằng, với một số tiền tài trợ nghiên cứu khiêm tốn, các nhà tài trợ tư nhân lại có thể thu được những thành quả trên thực tế được đầu tư đáng kể từ nguồn của công Tương tự với khu vực đại học, đầu tư tư nhân cho NC&PT của các phòng thí nghiệm liên bang cũng gây nên những quan ngại tương tự
Như vậy, đối tác công - tư trong NC&PT một mặt khai thác được những ưu điểm như có thêm nguồn lực tài chính cho nghiên cứu, định hướng thực tiễn, khả năng áp dụng v.v., mặt khác, nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, như việc sở hữu các tài sản trí tuệ được tạo ra bằng cả hai nguồn tiền, sự hạn chế tính mở của khoa học, khuynh hướng quá thiên về lợi nhuận
Trung tâm cạnh tranh là tổ chức được thành lập theo vùng địa lý đảm nhận chức năng liên kết giữa các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu với các doanh nghiệp tạo nên nguồn lực cho quá trình hợp tác và phát triển với sự hỗ
Trang 24trợ đắc lực của các đối tác khác như nhà nước, các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức quốc tế Thực chất đây là một văn phòng điều hành chung các hoạt động nghiên cứu và triển khai ứng dụng KH&CN và thực tiễn sản xuất Trung tâm có nhiệm vụ:
- Trao đổi thông tin, xác định các nhu cầu về đổi mới và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất nhằm định hướng cho các quá trình nghiên cứu - triển khai tại các trường đại học và viện nghiên cứu;
- Tập hợp nguồn lực, nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo;
- Tìm kiếm, khai thác các nguồn lực tài chính cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai;
- Cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao, tìm kiếm nguồn tài chính cho các đầu tư đổi mới công nghệ
Kế hoạch thành lập trung tâm cạnh trang do chính phủ Pháp khởi xướng năm 2005 Các trường đại học, các viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp của từng địa phương tùy theo thế mạnh của mình mà liên kết với nhau và trình lên chính phủ đề án mang đặc thù riêng của mình Ví dụ ở vùng Grenoble có Trung tâm Minalogic chuyên sâu về lĩnh vực công nghệ Chip và công nghệ Nano, vùng Bourgogne có Trung tâm Vitagora chuyên sâu
về công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm,… Hệ thống các trung tâm này được đánh giá là đã có những đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển của nền kinh tế Pháp trong những năm qua Cụ thể 3 năm (2006 – 2008) đã huy động được nguồn lực tài chính 3,6 tỷ Euro cho triển khai 544 dự án nghiên cứu phát triển (R&D) Trong đó nguồn huy động từ nhà nước là 1,1 tỷ Euro còn lại 2,5 tỷ huy động từ các doanh nghiệp Với các kết quả đã đạt được, chính phủ Pháp quyết định chi tiếp 1,5 tỷ Euro cho triển khai giai đoạn tiếp theo
Trang 25Trung tâm có biên chế và nguồn tài chính riêng cho các hoạt động của mình Hàng năm, Ban điều hành Trung tâm phải có báo cáo hoạt động, quyết toán tài chính và bản dự toán ngân sách cho năm sau trình tại Đại hội thường niên Đây là căn cứ để quyết định mức tài trợ của các cấp chính quyền và lệ phí đóng góp của các thành viên Đây là cách huy động tài chính theo phương thức công - tư cùng hợp tác mà các tổ chức KH&CN của Việt Nam nên học tập Nhà nước, chính quyền địa phương góp một khoản tài trợ tượng trưng Các doanh nghiệp khi được trực tiếp tham gia xây dựng định hướng hoạt động của các tổ chức KH&CN họ sẽ có cách huy động phần lớn nguồn tài chính mà tổ chức này cần
1.2.2 Một số mô hình PPP ở trong nước
Mô hình của Đại học Quốc gia Hà Nội
Đây là mô hình các khoa, bộ môn phối thuộc đã và đang được áp dụng
và được cho là khá thành công tại Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia (ĐHQG) Hà Nội Theo mô hình này, tại trường đã có khoa Cơ học kỹ thuật và
tự động hóa là đơn vị phối thuộc của Viện Cơ học; Bộ môn Công nghệ hàng không - vũ trụ là bộ môn phối thuộc của Viện Công nghệ vũ trụ,…
Hình 1.1 Mô hình các khoa, bộ môn của Đại học quốc gia Hà Nội
Nguồn: Trường Đại học quốc gia Hà Nội
Theo đánh giá của một số chuyên gia đầu ngành về quản lý KH&CN,
Trang 26doanh nghiệp thực sự là mô hình hay, là giải pháp quan trọng và hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng kết quả KH&CN từ các đề tài, dự án, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và của đất nước
Mô hình hợp tác, liên kết giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp đang dần được khẳng định, có một số đơn vị triển khai và hoạt động khá hiệu quả, nhất là ở hai ÐHQG, các đại học vùng và một số trường đại học, viện nghiên cứu lớn Nhưng để mô hình hợp tác ba bên này mở rộng và phát triển hơn thì các ngành, các cấp có liên quan còn cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết nhiều vấn đề phía trước
Mô hình của Đại học Bách khoa Hà Nội
Một trong những thành công nổi bật của Đại học Bách khoa Hà Nội thể hiện qua sự hợp tác với Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Quan hệ hợp tác này đã mang lại nhiều đề tài, dự án và tăng cường năng lực nghiên cứu cho Đại học Bách khoa Hà Nội Đồng thời, góp phần tạo nên sự tăng trưởng vượt bậc của Rạng Đông Hiện nay, hai bên đã có nhiều dự án chung, trong đó có dự án xây dựng hai phòng thí nghiệm chung (01 đặt tại Rạng Đông và 01 tại Đại học Bách khoa Hà Nội), mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên
Mô hình của Trường ĐH Nông Lâm - Đại học Huế
Là một trong những trường ĐH Đại học đầu tiên được chọn thí điểm
mô hình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) từ năm
2005 Trường đã nỗ lực hợp tác với doanh nghiệp (DN) để đổi mới chương trình đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với thực tế, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Sinh viên được đào tạo theo Dự án POHE có nhiều cơ hội trực tiếp tham gia các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của các cơ quan, DN trong và ngoài nước, như: Lào, Campuchia, Thái Lan Đến nay, Trường đã có quan hệ hợp tác với gần
500 DN, mang lại cơ hội rất lớn cho người học Chính điều này giúp sinh viên
Trang 27tự tin, năng động và tìm kiếm được việc làm đúng với sở trường và ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp
1.3 Những vấn đề phát sinh trong mô hình hợp tác nghiên cứu, ứng dụng
và triển khai kết quả nghiên cứu khoa học
1.3.1 Vấn đề về quan điểm và cách tiếp cận mô hình liên kết
Một là, để tạo thành công khi liên kết, các doanh nghiệp cho rằng đó là
yếu tố: uy tín/danh tiếng của đối tác khi hợp tác, mục tiêu cần cụ thể khi hợp tác Trong khi đó, trường/viện thì cho rằng khả năng/năng lực, mức độ hợp tác sẽ tạo thành công cho liên kết
Hai là, doanh nghiệp cho rằng, từ sự khác biệt về đặc điểm hoạt động
đã làm giảm liên kết giữa doanh nghiệp và Viện do: doanh nghiệp tại Việt Nam chưa quan tâm đến việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao làm vấn
đề quyết định tạo ưu thế cho doanh nghiệp, cạnh tranh dựa trên lao động trẻ, thị trường khai thác rẻ hơn là dựa vào công nghệ
Ba là, đối với trường/viện, kinh nghiệm thực tế trong mô hình liên kết
còn hạn chế do mục tiêu thiên về đào tạo và nghiên cứu của trường/viện khác nhu cầu, quan điểm của doanh nghiệp
1.3.2 Vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu Khoa học và Công nghệ
Quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ của kết quả nghiên cứu
Quyền sở hữu đối với tổng thể kết quả triển khai đề tài, dự án thể hiện tập trung trong Báo cáo Toàn văn và Tóm tắt kết quả nghiên cứu, với tư cách
là hai tác phẩm được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả
Quyền sở hữu đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ (SHTT) khác phát sinh trong tiến trình triển khai kết quả nghiên cứu và thỏa mãn các tiêu chuẩn bảo hộ tương ứng theo pháp luật SHTT
Quyền công bố, quyền sử dụng các thông tin không tiết lộ phát sinh trong tiến trình triển khai kết quả nghiên cứu Đối với các thông tin mới và có
Trang 28giá trị nhưng không phải là thông tin không tiết lộ và cũng không đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ quyền SHTT liên quan, các bên tham gia triển khai kết quả nghiên cứu đều có quyền công bố, sử dụng và khai thác
Phân định tỷ lệ quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ của kết quả nghiên cứu
Việc phân định tỷ lệ quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ của kết quả nghiên cứu trước tiên phải được giao kết về nguyên tắc trong Hợp đồng thực hiện kết quả nghiên cứu giữa Cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu (sau đây gọi là các Bên đầu tư) với các bên có liên quan Đối với các kết quả nghiên cứu có huy động kinh phí hoặc cơ sở, phương tiện vật chất từ nhiều nguồn khác nhau, tỷ lệ quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ phát sinh được phân định như sau:
- Tỷ lệ quyền sở hữu đối với toàn bộ kết quả nghiên cứu cuối cùng, thể hiện trong Báo cáo Toàn văn và Tóm tắt kết quả nghiên cứu, do các Bên đầu
tư quyết định bằng văn bản, trên cơ sở đề xuất của Hội đồng nghiệm thu kết quả nghiên cứu, có sự đồng thuận của cơ quan chủ trì, cơ quan đặt hàng, cơ quan sử dụng kết quả nghiên cứu, các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác (nếu có) … Sự đồng thuận này được ghi nhận trong Biên bản nghiệm thu kết quả nghiên cứu
- Tỷ lệ quyền sở hữu đối với từng đối tượng SHTT khác do các Bên đầu
tư quyết định bằng văn bản, trên cơ sở đề xuất của Chủ nhiệm kết quả nghiên cứu và nhóm thực hiện, có sự thỏa thuận bằng văn bản của cơ quan chủ trì, cơ quan đặt hàng, cơ quan sử dụng kết quả nghiên cứu, các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác (nếu có)
- Quyền công bố, sử dụng các thông tin không tiết lộ được các Bên đầu
tư thỏa thuận bằng văn bản, tuân thủ các quy định liên quan của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước Các bên tham gia triển khai kết quả nghiên cứu đã
Trang 29biết về các thông tin trên có nghĩa vụ bảo mật và không sử dụng, tiết lộ khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Bên đầu tư liên quan
- Quyền công bố đối với Báo cáo Toàn văn và Tóm tắt kết quả nghiên cứu cần được các Bên đầu tư thỏa thuận và ghi nhận bằng văn bản, trên cơ sở của điều khoản tuyên bố chuyển giao quyền từ Chủ nhiệm và nhóm thực hiện trong Hợp đồng giao kết thực hiện kết quả nghiên cứu
Xác lập quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ của kết quả nghiên cứu
Đối với các tài sản trí tuệ được xác định sẽ thuộc quyền sở hữu của một chủ thể duy nhất, chủ thể đó tự chịu trách nhiệm xúc tiến các hoạt động xác lập quyền tương ứng
Đối với các tài sản trí tuệ được xác định sẽ thuộc quyền sở hữu của nhiều chủ thể, trong đó không có Cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu từ Ngân sách, các bên liên quan thỏa thuận cách thức xúc tiến các hoạt động xác lập quyền tương ứng
Đối với các tài sản trí tuệ được xác định sẽ thuộc quyền sở hữu của nhiều chủ thể trong đó có Cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu từ Ngân sách, Cơ quan này nên đảm nhận việc xúc tiến các hoạt động xác lập quyền tương ứng
Đối với các tài sản trí tuệ tự xác lập quyền khi thỏa các điều kiện luật định (bí mật kinh doanh, tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình…), chủ thể xúc tiến việc xác lập quyền cần tiến hành các hoạt động lưu giữ và bảo vệ các chứng cứ phát sinh quyền
Đối với các tài sản trí tuệ phải xác lập quyền theo cơ chế đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sáng chế, giống cây trồng…), hoặc có thể đăng ký để giảm thiểu nghĩa vụ chứng minh quyền (tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình…), chủ thể xúc tiến việc xác lập quyền cần ghi nhận và khai báo đầy đủ, chính xác tên của các tác giả, đồng tác giả liên quan cùng tỷ lệ đóng góp của từng người
Trang 30Đối với các tài sản trí tuệ là tác phẩm được bảo hộ theo quyền tác giả, phần quyền công bố tác phẩm thuộc quyền nhân thân của tác giả đã sáng tạo ra tác phẩm được chuyển giao cùng các quyền tài sản liên quan cho các chủ thể có quyền sở hữu tương ứng (như đã nêu trong mục Phân định tỷ lệ quyền sở hữu ở trên), phù hợp với các quy định tại Điều 39 và khoản 2 Điều 45 Luật SHTT [điều 39 và khoản 2 điều 45; 21]
Chi phí xác lập quỵền sở hữu trí tuệ do các chủ thể nắm giữ quyền sở hữu tài sản trí tuệ liên quan thanh toán theo tỷ lệ quyền sở hữu tương ứng Chi phí xác lập quyền của Cơ quan cấp kinh phí nghiên cứu từ Ngân sách nên được phép hạch toán trong kinh phí quản lý kết quả nghiên cứu liên quan, bao gồm các khoản phí, lệ phí quốc gia và phí dịch vụ đại diện SHTT (nếu có)
Đối với các tài sản trí tuệ bị bỏ sót không được ghi nhận lại cho đến khi
đã nghiệm thu xong đề tài, dự án, đến thời điểm được phát hiện mà vẫn còn đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ theo pháp luật SHTT, cũng sẽ được phân định
và xác lập quyền sở hữu theo các quy định trên đây
Đối với các đơn đăng ký bị từ chối bảo hộ do đối tượng đăng ký không đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ tương ứng, các bên tham gia triển khai kết quả nghiên cứu đều có quyền công bố, sử dụng, khai thác như nhau
Sử dụng, khai thác và phân chia lợi ích đối với các tài sản trí tuệ của kết quả nghiên cứu
Quyền sử dụng, khai thác các tài sản trí tuệ và tỷ lệ phân chia lợi ích (nếu có) được đặt cơ sở trên quyền sở hữu và tỷ lệ quyền sở hữu, trừ khi các bên có thỏa thuận khác
Bên khai thác sử dụng tài sản trí tuệ phải tôn trọng các quyền nhân thân và quyền tài sản của các tác giảvà đồng tác giả theo quy định của pháp luật SHTT
Việc sử dụng, khai thác các tài sản trí tuệ thuộc kết quả nghiên cứu đã được bảo hộ theo pháp luật SHTT, do Chủ nhiệm kết quả nghiên cứu hoặc của
Trang 31bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu, đều là hành vi xâm phạm quyền SHTT và phải chịu các chế tài liên quan theo quy định của pháp luật
1.4 Triển vọng và thách thức
Sự tham gia của khu vực tư nhân vào các hoạt động tài trợ cho phát triển hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi các tổ chức tài trợ phát triển phải có những chính sách, qui định, mục tiêu
rõ ràng cùng những hướng dẫn mang tính tác nghiệp chỉ đạo hoạt động hợp tác với khu vực tư nhân, sao cho vừa khai thác được những thế mạnh của khu vực tư nhân, lại vừa bảo toàn được trách nhiệm và sứ mệnh công ích của những tổ chức này Có rất nhiều ý kiến ủng hộ lẫn những lo ngại khác nhau
về lý lẽ của PPP trong tài trợ phát triển, đại thể như sau:
Huy động nguồn lực
Khả năng huy động được những thế mạnh, năng lực, khả năng và nguồn lực khác nhau mà mỗi khu vực có thể đáp ứng là lợi ích phổ biến nhất, chung nhất của PPP trong các dự án phát triển Ở đây, người ta không coi tiền bạc là nguồn lực duy nhất, hay thậm chí là nguồn lực được kỳ vọng nhất của khu vực tư nhân Khu vực tư nhân được kỳ vọng sẽ đóng góp nhiều nguồn lực quan trọng khác ngoài tiền bạc, như kỹ năng quản lý, chuyên môn kỹ thuật, hạ tầng, nền tảng, công nghệ, ý tưởng, cách nhìn nhận mới và các mạng lưới tác nghiệp Việc tham gia của khu vực tư nhân với nguồn lực đa dạng như vậy còn giúp quá trình hoạch định chính sách có được nhiều thông tin hơn, phong phú hơn, trúng hơn, do vậy nâng cao chất lượng ra quyết định, khả năng cùng giải quyết vấn đề và hiệu quả hoạt động tốt hơn
Tác dụng tuyên truyền
Có ý kiến cho rằng sự tham gia của khu vực tư nhân, đặc biệt là sự tham gia của những doanh nhân nổi tiếng trong các dự án tài trợ phát triển có thể có tác dụng tuyên truyền cho các dự án này, giúp quảng bá hình ảnh của
Trang 32chương trình, mục đích, ý nghĩa của những chương trình đó v.v Tuy nhiên, tác dụng trên cũng có thể theo chiều ngược lại, đối với nhiều hoạt động, ở một
số cộng đồng, sự tham gia của khu vực tư nhân với mục tiêu lợi nhuận có thể tạo ra những nghi hoặc của công chúng về ý nghĩa công ích của những dự án phát triển
Đổi mới trong khu vực công
Gần đây, xuất hiện ngày càng nhiều nghiên cứu, trao đổi về đổi mới trong khu vực công, trong việc nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công Quan
hệ đối tác giữa các cơ quan tài trợ phát triển và khu vực tư nhân mở ra cơ hội thử nghiệm những cách làm mới trong việc thực hiện những dự án phát triển, hứa hẹn thúc đẩy đối mới trong hoạt động này Điều này đòi hỏi các bên tham gia đối tác một mặt phải tuân thủ những nguyên tắc cốt lõi của mình để giữ được bản sắc, mặt khác phải có nhãn quan cởi mở, sẵn sàng tìm kiếm giải pháp tháo gỡ những xung đột, sẵn sàng chấp nhận những nguyên tắc, cơ chế làm việc mới Quá trình này đòi hỏi các cơ quan tài trợ phát triển phải nhìn nhận, đánh giá lại những giá trị thực sự là cốt lõi mà họ theo đuổi, loại bỏ đi những giá trị hay nguyên tắc ngụy tạo, không thực chất, mở đường cho những cách làm mới Có thể nói, tham gia quan hệ đối tác với khu vực tư nhân là một tác nhân để các tổ chức tài trợ phát triển phải đổi mới bản thân họ
Các bên cùng có lợi
Quan hệ đối tác có thể được tổ chức theo cách mang lại lợi ích cho tất
cả các bên, nói cách khác đó có thể và cần là một quan hệ đối tác cùng có lợi (win - win) Tuy nhiên, để hiện thực hóa điều này, các bên phải chỉ ra được những lợi ích trực tiếp và lâu dài mà bên mình (đặc biệt là khu vực tư nhân)
có thể kỳ vọng khi tham gia quan hệ đối tác Đối với đối tác tư nhân tiềm năng, đó có thể là cơ hội thị trường mới, uy tín và hình ảnh được cải thiện, quản lý rủi ro tốt hơn, tiếp cận được những kỹ năng hợp tác phát triển, tiếp cận với chính phủ tốt hơn
Trang 33Các bên cùng có lợi là một nguyên tắc quan trọng để bảo đảm tính bền vững trong các quan hệ đối tác mà mỗi bên thường có những lợi ích và mục tiêu khác nhau Tuy nhiên, thực tế sẽ xảy ra những tình huống xung đột lợi ích
và khi này cần phải đặt sứ mạng phục vụ cộng đồng lên trên những lợi ích khác Cơ chế đảm bảo cho điều này sẽ phải được tính đến trong quá trình thiết
kế cơ chế đối tác công - tư
Cùng học hỏi, tin cậy và hiểu nhau hơn
Đối tác công - tư có thể mang lại những lợi ích từ việc học hỏi lẫn nhau, xây dựng “vốn xã hội” hoặc lòng tin giữa các cơ quan tài trợ phát triển, khu vực tư nhân, và các tổ chức phi chính phủ Nó cũng giúp các bên có cơ hội hiểu nhau hơn, gỡ bỏ những định kiến về nhau Tuy nhiên đây cũng chính
là một thách thức trong hợp tác công - tư, bởi lẽ, tuy có những mẫu mực về cách làm tốt, quan hệ đối tác giữa chính phủ, khu vực tư nhân, và các tổ chức phi chính phủ vẫn bị phủ bóng bởi sự thiếu tin tưởng, thông tin sai lệch và những cơ hội bị bỏ lỡ Sự hoài nghi về những lý lẽ ủng hộ cho đối tác công -
tư trong tài trợ phát triển cũng là một rào cản
Phân định ranh giới và nêu rõ kỳ vọng
Mỗi bên trong quan hệ đối tác thường có những tôn chỉ mục đích khác nhau, vai trò và trách nhiệm khác nhau, quy tắc hành xử khác nhau Những điều tưởng chừng là rõ ràng, không cần phải bàn cãi này trên thực tế lại không
dễ xác định, không dễ phát biểu một cách tường minh, mạch lạc Điều này một phần do khó khăn mang tính bản chất của việc phân định ranh giới về sứ mệnh của một tổ chức, một phần do bản thân ranh giới đó (nếu có) cũng thay đổi theo thời gian cùng với sự ra đời và ảnh hưởng của những tư tưởng mới Phân định
rõ ranh giới của mỗi bên trong quan hệ đối tác sẽ đảm bảo tính tường minh, đồng thời giúp thiết kế được những cơ chế hợp tác hữu hiệu hơn
Việc nêu rõ kỳ vọng của các bên trong quan hệ đối tác cũng quan trọng không kém Hiểu được kỳ vọng của nhau sẽ tránh bớt những hiểu nhầm hoặc
Trang 34ảo tưởng về nhau ngay từ trước khi đi vào quan hệ đối tác Điều này cũng giúp sớm xác định những xung đột tiềm tàng trong quan hệ đối tác để có thể thiết kế cơ chế giải quyết xung đột hữu hiệu hơn
Quản lý rủi ro
Quan hệ đối tác giữa các loại tổ chức có bản chất khác nhau thường chứa đựng nhiều rủi ro Dựa trên kinh nghiệm của các tổ chức tài trợ phát triển và qua tham khảo cộng đồng doanh nghiệp, chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự, một số nhóm rủi ro sau đây được tổng kết:
- Rủi ro về uy tín
Khi thiết lập quan hệ đối tác với khu vực tư nhân, chính phủ hoặc các
tổ chức tài trợ phát triển phải chịu rủi ro về uy tín gắn với khả năng chọn phải đối tác tư nhân không phù hợp, hoặc hoạt động hợp tác không phù hợp, hoặc
bị những bên liên quan chủ chốt nhìn nhận là không phù hợp Điều này làm giảm tiếng nói và uy tín của chính phủ hoặc các cơ quan liên quan
- Rủi ro về quan hệ lợi ích
Loại rủi ro này gắn với quan hệ lợi ích giữa việc bên đối tác tư nhân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, tư vấn thiết kế chương trình, dự án vv với ý đồ thương mại của họ khi tham gia thực hiện dự án sau này, chẳng hạn khi thiết kế chương trình phía tư nhân có thể “cài cắm” những phần việc mà sau này chính họ sẽ tham gia cung cấp Hợp đồng hợp tác do vậy phải chỉ rõ những hạn chế, vai trò, trách nhiệm của các bên, đồng thời có thể sử dụng đánh giá độc lập trong những trường hợp cần thiết
- Rủi ro về lợi thế không công bằng
Những người phê phán cho rằng hợp tác công - tư có thể tạo ra những lợi thế không công bằng, bởi bên tư nhân có thể lợi dụng quan hệ đối tác, sử dụng danh nghĩa của các đối tác chính phủ để mưu lợi riêng Để khắc phục nguy cơ này, hợp đồng đối tác cần phải có những điều khoản về nguyên tắc minh bạch và quan hệ đối tác độc quyền Cần ghi rõ trong hợp đồng rằng việc
Trang 35tham gia quan hệ đối tác của một bên thuộc chính phủ sẽ không hạn chế bên này tham gia quan hệ đối tác với các bên khác
- Rủi ro về quản trị
Quản trị quan hệ đối tác không tốt sẽ khiến PPP thất bại khi không mang lại những kết quả được kỳ vọng, hoặc mang lại kết quả với chi phí giao dịch quá cao Cơ cấu quản trị PPP rất dễ thiếu tính đại diện, kéo theo đó là tình trạng mất cân bằng về quyền lực giữa các bên; dễ bỏ sót một số nhóm đối tượng thụ hưởng, hoặc thiếu cơ chế chịu trách nhiệm đối với những nhóm bị ảnh hưởng,
do vậy có thể làm giảm sự tin cậy và chấp nhận của công chúng
Nhiều nhà phê bình cho rằng tính chất đa dạng và phức tạp của những loại rủi ro trên đây trong PPP cần phải được công khai thừa nhận, đánh giá và quản lý thông qua quá trình hướng dẫn đầy đủ, dựa trên các thực hành mẫu mực của quan hệ đối tác và khi cần thiết, thông qua đối thoại nhiều bên, cũng như đánh giá, xem xét độc lập
Xử lý khác biệt
PPP xét về bản chất sẽ có sự tham gia của các đối tác có lợi ích khác nhau, động cơ khác nhau, đóng góp những loại nguồn lực và hiểu biết chuyên môn khác nhau, ở mức độ khác nhau, kỳ vọng vào những kết quả và lợi ích khác nhau Sự khác biệt này chính là tiền đề để hình thành quan hệ đối tác với
hy vọng khai thác được thế mạnh của mỗi bên Tuy nhiên cần phải thống nhất được những đích đến và mục tiêu chung Do vậy sự khác biệt cần phải được nhận thức rõ và được quản lý nhằm tránh những rủi ro đã đề cập trong phần trên, đồng thời đảm bảo một quan hệ đối tác hữu hiệu trong điều hành Ngay từ đầu khi thiết kế quan hệ đối tác cần có sự trao đổi để các bên hiểu nhau về những khác biệt trong động cơ tham gia, khuôn khổ về thời gian, mục tiêu, phong cách, văn hóa, ngôn ngữ, “thân chủ” của mỗi đối tác Ngay từ đầu cũng cần có sự đồng thuận về cơ chế trao đổi và giải quyết mâu thuẫn
Trang 36Quản lý kỳ vọng
Kỳ vọng ở đây được hiểu là kỳ vọng của các bên tham gia đối tác, lẫn
kỳ vọng của các thực thể chịu ảnh hưởng của quan hệ đối tác Một trong
những thách thức cần giải quyết là làm rõ vai trò và trách nhiệm của từng bên, ứng với chuyên môn sâu và hạn chế của mỗi bên Để quản lý kỳ vọng, quan hệ đối tác cần lường trước được những điều chỉnh cần có khi tình hình thay đổi Sự chia sẻ về kỳ vọng giữa các đối tác và những điều chỉnh cần thiết khi hoàn cảnh thay đổi sẽ giúp vận hành quan hệ đối tác hiệu quả hơn,
trôi chảy hơn
Trong PPP tài trợ phát triển, người ta thường kỳ vọng quá mức về đóng góp của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hóa công Nhiều nghiên cứu cho thấy, không nên xem doanh nghiệp là một sự thay thế cho chính phủ, đặc biệt
ở các nước nghèo hay ở các vùng sâu vùng xa nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển và việc quản trị còn yếu kém Khu vực công hay các nhà tài trợ vẫn sẽ phải đóng vai trò dẫn dắt trong tài trợ phát triển Đóng góp của khu vực tư nhân cho tài trợ phát triển chủ yếu phải thông qua hoạt động đầu tư có trách nhiệm, nhằm tối ưu hóa những tác động tích cực về kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực
Cơ hội hợp tác không chỉ cho những doanh nghiệp lớn
Đối tác công - tư giữa các cơ quan tài trợ phát triển và khu vực tư nhân thường xoay quanh một nhóm nhỏ những doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm hợp tác nhiều bên Những doanh nghiệp này thường có nguồn lực mạnh hơn
và có trình độ quản lý cao hơn, cho phép họ tham gia vào những quan hệ đối tác với những bên có bản chất khác họ Tuy nhiên, cơ hội hợp tác nên và cần phải mở rộng cho mọi loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ
và vừa (SMEs) ở những địa bàn có đặc thù địa phương Để hiện thực hóa điều này sẽ cần đến những chỉ dẫn, hỗ trợ cụ thể, rõ ràng giúp SMEs không có kinh nghiệm tham gia vào quan hệ đối tác phục vụ phát triển
Trang 37Xây dựng năng lực và khắc phục sự quan liêu
Các cơ quan của chính phủ cũng cần nâng cao năng lực đối tác với khu vực tư nhân Đối tác công - tư đòi hỏi những kỹ năng và chuyên môn mới, cũng như đòi hỏi những nhân sự có khả năng hiểu và làm việc vượt qua ranh giới hành chính của tổ chức, có khả năng tiếp nhận những tư duy mới, khác biệt của những đối tác khác Các cơ quan chính phủ thường có tiếng là quan liêu, để tham gia hợp tác công - tư hữu hiệu, cần có những biện pháp sáng tạo
để vượt qua sự quan liêu mang tính bản chất này
Trang 38Tiểu kết chương
Như vậy, có thể thấy mô hình PPP trong lĩnh vực đầu tư đổi mới công nghệ là một hướng đi mới, việc áp dụng các tiêu chuẩn và tiêu chí theo mô hình PPP sẽ giúp thay đổi tư duy trong việc sử dụng ngân sách cho KH&CN, theo đó các quan điểm sẽ được thay đổi từ “tài trợ hay hỗ trợ” sang “đầu tư hay góp vốn”, và như vậy dòng vốn từ xã hội sẽ tìm thấy cơ hội để cùng đầu
tư vào giải quyết các vấn đề công nghệ để tạo ra các sản phẩm mới, sản phẩm
có giá trị gia tăng cao và hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp KH&CN theo chuỗi giá trị Mô hình PPP cũng sẽ đem đến sự thay đổi về cách thức quản lý và thực hiện các dự án KH&CN, giúp tránh tình trạng sản phẩm của quá trình nghiên cứu không tìm được địa chỉ ứng dụng Tuy nhiên để áp dụng hiệu quả mô hình PPP cho hạ tầng kỹ thuật, hay cho các nhiệm vụ KH&CN cần xác định rõ những công việc mà các đối tác tham gia trong khi thực hiện, cần có sự chuẩn bị tốt trong quá trình đàm phán giữa khu vực công và tư để đảm bảo chất lượng của các hợp đồng dự án, cần xác định rõ đối với các dự án KH&CN các nội dung nào là “tài trợ”, phần nào là
“đầu tư” và phương thức thực hiện như thế nào để ngăn ngừa các rủi ro xuất hiện trong quá trình triển khai thực hiện dự án
Thông qua các phân tích tổng hợp các vấn đề liên quan như khái niệm mối quan hệ đối tác công - tư, vai trò trách nhiệm của mỗi bên có thể khẳng định rằng đối tác giữa nhà nước và khối tư nhân là quan hệ bình đẳng, hai bên cùng có lợi (win-win) trên cơ sở sự tin tưởng, bảo đảm các cam kết, chia sẻ công tác quản lý điều hành, đảm bảo lợi ích cho các bên và chia sẻ rủi ro
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH
HOẠT ĐỘNG ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ (PPP) Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI TẠI VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
Ở chương 1 đã phân tích đưa ra những lợi ích mà mô hình đối tác công
- tư PPP đem lại cũng như kinh nghiệm trong nước và quốc tế Để từ đó hiểu
rõ hơn về mô hình đối tác công - tư PPP Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia lại có các
cơ chế, chính sách và luật pháp khác nhau Ở chương 2 chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích thực trạng các quy định, cơ chế chính sách và luật pháp về
mô hình đối tác công - tư tại Việt Nam
2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về mô hình đối tác công - tư tại Việt Nam
2.1.1 Hệ thống quy phạm văn bản pháp luật
Trong hệ thống khuôn khổ pháp luật Việt Nam các Luật, Nghị định và các văn bản liên quan sau có những chính sách, quy định điều chỉnh đối với
mô hình hợp tác công - tư tại Việt Nam bao gồm:
- Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ban hành ngày 16/12/2002;
- Luật Khoa học & Công nghệ số 29/2013/QH1 ban hành ngày 18/06/2013;
- Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 ban hành ngày 13/11/2008;
- Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 ban hành ngày 19/6/2017;
- Luật Sở hữu trí tuệ 36/2009/QH12 ban hành ngày 19/6/2009;
- Luật Xây dựng số 16/2003/QH11; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12; Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014;
- Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005; Nghị định số