ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA LẦN THỨ XX NĂM 2018 TÊN CÔNG TRÌNH: ĐÁNH GIÁ
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA
LẦN THỨ XX NĂM 2018
TÊN CÔNG TRÌNH: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ QUAN TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
VIỆT NAM – EU (EVFTA) ĐẾN MỘT SỐ NGÀNH XUẤT NHẬP
KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Lĩnh vực kinh tếCHUYÊN NGÀNH: Thương mại – Quản trị kinh doanh và du lịch - Marketing
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC a DANH MỤC HÌNH c DANH MỤC BẢNG d DANH MỤC VIẾT TẮT e
TÓM TẮT 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
1.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của chính sách thương mại quốc tế 8
1.1.1 Lý thuyết liên minh thuế quan của Jacob Viner (1950) 8
1.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 13
1.2 Tổng quan về Hiệp định thương mại EVFTA 21
1.2.1 Quá trình đàm phán, ký kết 22
1.2.2 Nội dung chính của Hiệp định EVFTA 22
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA 26
VIỆT NAM 26
2.1 Tình hình thương mại của Việt Nam và thế giới 26
2.1.1 Thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam 27
2.1.2 Các ngành xuất nhập khẩu chủ lực của Việt Nam 29
2.2 Tình hình thương mại giữa Việt Nam và EU 33
2.2.1 Ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam sang EU 33
2.2.2 Nhập khẩu của Việt Nam từ EU 35
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Các chỉ số thương mại 40
3.1.1 Chỉ số cường độ thương mại (Trade Intensity Index - TII) 40
3.1.2 Chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (Revealed Comparative Advantage - RCA) 41 3.2 Mô hình SMART 43
3.3 Mô hình GSIM 48
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
4.1 Kết quả phân tích các chỉ số thương mại 53
4.2 Kết quả mô phỏng từ mô hình SMART và GSIM 58
Trang 34.2.1 Xây dựng kịch bản mô phỏng 58
4.2.2 Kết quả mô phỏng và thảo luận 58
4.2.2.1 Tác động của EVFTA dưới góc độ thị trường và chính phủ Việt Nam: 59
4.2.2.2 Tác động của EVFTA dưới góc độ người tiêu dùng và người sản xuất Việt Nam 66
4.2.2.3 Tác động của EVFTA đối với một số nước khác 67
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC v
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô tả hiệu ứng tạo lập thương mại 9
Hình 1.2: Mô tả hiệu ứng chuyển hướng thương mại 11
Hình 1.3: Tỉ lệ các dòng thuế được cắt giảm theo năm 23
Hình 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa từ năm 2006-2016 (đơn vị: tỷ USD) 26 Hình 2.2: Top các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2016 28
Hình 2.3: Top các thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2016 29
Hình 2.4: Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa năm 2016 30
Hình 2.5: Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2016 32
Hình 2.6: Cơ cấu các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong năm 2016 34
Hình 2.7: Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam sang EU trong năm 2016 36
Hình 4.1: Chỉ số cường độ xuất nhập khẩu của Việt Nam so với EU 53
Hình 4.2: Chỉ số lợi thế so sánh (RCA) của một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực sang EU của Việt Nam 55
Hình 4.3: Chỉ số lợi thế cạnh tranh nhập khẩu (RMA) của một số sản phẩm nhập khẩu chủ lực từ EU của Việt Nam 57
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Hiệu ứng tạo lập thương mại 10Bảng 1.2: Hiệu ứng chuyển hướng thương mại 12Bảng 4.1: Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm theo từng kịch bản 60Bảng 4.2: Giá trị kim ngạch thay đổi theo từng kịch bản 61Bảng 4.3 Danh sách mười quốc gia giảm thị phần xuất khẩu sang Việt Nam nhiều nhất 68Bảng 4.4: Danh sách mười quốc gia giảm thị phần xuất khẩu sang EU nhiều nhất 69
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
AEC Asean Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
CGE Computable general equilibrium Mô hình cân bằng tổng thể
CKD Completely Knocked Down Xe lắp ráp trong nước với 100% linh
kiện được nhập khẩu EII Export Intensity Index Chỉ số cường độ xuất khẩu
ES Export specialization index Chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu
EVFTA European Union Vietnam Free
Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam
- EU FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
FLEGT Forest Law Enforcement
Governance and Trade
Forest Law Enforcement Governance and Trade
FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội
GEM General Equilibrium Model Mô hình cân bằng tổng thể
GSIM Generic Statistical Information
Model
Mô hình mô phỏng toàn cầu
HS Harmonized System Mã số hàng hóa xuất nhập khẩu ISIC International Standard Industrial
Classification
Phân loại theo tiêu chuẩn quốc tế
KVFTA Korea Vietnam Free Trade
Agreement
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc
MFN Most favoured nation Nguyên tắc tối huệ quốc
MII Import Intensity Index Chỉ số cường độ nhập khẩu
PEM Partial Equilibrium Model Mô hình cân bằng cục bộ
RCA Revealed Comparative
advantage
Chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu
RCEP Regional Comprehensive
Economic Partnership
Hiệp định kinh tế toàn diện khu vực
RMA Relative Import Advantage Chỉ số lợi thế so sánh nhập nhẩu
tương đối
Trang 7RoO Rule of Origin Quy tắc xuất xứ hàng hóa
RXA Relative Export Advantage Chỉ số lợi thế so sánh xuất khẩu tương
tối SMART Software for Market Analysis
and Restrictions on Trade
Phần mềm Phân tích Thị trường và Hạn chế Thương mại
SPS Sanitary and Phytosanitary
and Policy Research
Viện nghiên Cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam
WITS World Integrated Trade
Trang 8TÓM TẮTBài viết đánh giá tác động tiềm năng của thuế quan trong Hiệp định thương mại tự
do Việt Nam – EU (EVFTA) đến một số ngành xuất nhập khẩu chủ lực sử dụng mô hình cân bằng từng phần SMART và GSIM Bên cạnh đó, chỉ số cường độ giao thương (TII) và lợi thế so sánh hiển thị (RCA) cũng được sử dụng để phân tích mức độ thương mại và lợi thế so sánh ở cấp độ ngành Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thương mại giữa Việt Nam và EU còn khá thấp, tuy nhiên đứng ở một góc độ khác thì
có thể kì vọng rằng một khi điều kiện cạnh tranh của Việt Nam thay đổi tốt hơn thì EU
là một thị trường xuất nhập khẩu tiềm năng của Việt Nam; các chỉ số lợi thế so sánh RCA của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang EU qua các năm luôn duy trì ở mức rất cao (trên 9), điều đó nói lên rằng các ngành này đều có lợi thế so sánh mạnh Khi thuế quan được cắt giảm về 0%, kim ngạch xuất nhập khẩu biến động mạnh theo chiều hướng tăng, một số ngành xuất khẩu có cơ hội mở rộng thị trường tại khu vực Châu
Âu như giày dép, may mặc; đồng thời một lượng lớn nguồn hàng nhập khẩu sẽ đổ vào thị trường nội địa dẫn đến thặng dư nhà sản xuất nội địa bị giảm và phúc lợi kinh tế ròng cũng bị giảm đi đáng kể (%) Hàm ý chính sách chính được đề xuất là nhà nước nên đa dạng hóa các ngành xuất khẩu chủ lực và doanh nghiệp cần nâng cao chiến lược cạnh tranh theo hướng thâm dụng công nghệ
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦUTrong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay, hội nhập quốc tế đã trở thành một
xu hướng tất yếu của các quốc gia Việc gia nhập kí kết các hiệp định thúc đẩy kinh tế phát triển, hợp tác phát triển sâu rộng, toàn diện cũng là xu hướng chung Việt Nam cũng không ngoại lệ, Việt Nam đã liên tục tham gia các cuộc đàm phán, ký kết các hiệp định đầu tư, hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Tính đến nay, Việt Nam đã tiến hành đàm phán và ký kết 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương và song phương với các quốc gia và các khu vực trên toàn cầu, điển hình như: FTA với khối ASEAN, Việt Nam-Hàn Quốc (KVFTA), Việt Nam-Liên Minh kinh tế Á Âu, Việt Nam-Chile (VCFTA)…và đặc biệt là hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)
Trong số các Hiệp định thương mại tự do thì hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (gọi tắt là EVFTA) được cho là Hiệp định quan trọng và được kỳ vọng sẽ đem lại cho nền kinh tế Việt Nam nhiều cơ hội mới để phát triển và
mở rộng thị trường thế giới Hiện nay, mức độ thương mại của Việt Nam và EU khá cao, EU là đối tác thương mại lớn thứ hai và là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các sản phẩm xuất khẩu có lợi thế so sánh của Việt Nam Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-EU đã tăng từ 17,75 tỷ đô
la Mỹ vào năm 2010 lên khoảng 45 tỷ đô la Mỹ năm 2014 (Uncomtrade, 2016) Tính riêng 8 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 24,7 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2016 (Cục Hải Quan Việt Nam) Kim ngạch xuất khẩu sang EU đóng góp 16% GDP và chiếm 17% tổng xuất khẩu Việt Nam (tỷ lệ này giữ
ổn định kể từ năm 2005)
Mức thuế quan bình quân hiện nay EU đang áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam vào khoảng 4,1% (giảm từ 4,5% năm 2005) Tuy nhiên, mức thuế quan bình quân gia quyền (có tính đến tỷ trọng thương mại) lên tới 7%, nghĩa là EU đang áp mức thuế tương đối cao hơn đối với các sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Việt Nam (ví
dụ dệt may: 11,7%; thủy sản: 10,8% và giày dép: 12,4%) và mức thuế cao nhất (hơn 57%) Điều này cũng có nghĩa là Hiệp định EVFTA đóng vai khá quan trọng thúc đẩy mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia EU Bằng việc cắt giảm thuế đối với hầu hết các sản phẩm trong khuôn khổ Hiệp định thương mại khi EVFTA được
Trang 10thực thi, Hiệp định này hy vọng sẽ mang lại nhiều lợi thế thương mại quan trọng cho Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh khác tại thị trường EU, nhất là đối với ngành
có sự thay đổi lớn về mức thuế quan được điều chỉnh trong Hiệp định
Hiện nay, nghiên cứu về tác động của Hiệp định EVFTA đến nền kinh tế đang
là mối quan tâm và thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp, và các nhà làm chính sách Trong lịch sử nghiên cứu về Hiệp định thương mại tự do, có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động tiềm năng của các Hiệp định thương mại song phương và đa phương đối với một quốc gia và khu vực (Chakravarty, S L và cộng sự, 2014; Alschner, W và cộng sự, 2017; Urata, S.,và cộng sự, 2010) Tuy nhiên, trong phạm vi hiểu biết của nhóm tác giả, phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực này thường tập trung vào hướng đánh giá tác động dài hạn trong phạm vi tổng thể của một quốc gia hơn là tập trung đánh giá ảnh hưởng trong ngắn hạn của Hiệp định thương mại đến một số ngành cụ thể như: dệt may, giày dép, phụ tùng thiết bị, Trong khi hướng nghiên cứu đánh giá tác động trực tiếp trong ngắn hạn là rất cần thiết đối với mọi thành phần kinh tế trong nước nhằm điều chỉnh kế hoạch, chủ trương và chính sách của đơn vị mình Cụ thể, các doanh nghiệp cần hiểu rõ hơn về Hiệp định để có thể đưa ra chiến lược cạnh tranh và có những bước đi phù hợp; các nhà làm chính sách cần có nhiều thông tin hơn để đưa ra các quyết định chính sách phù hợp và kịp thời nhằm tận dụng được lợi thế và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các thách thức mà Hiệp định đem lại Cùng với yêu cầu thực tiễn kết hợp với tầm ảnh hưởng quan trọng của Hiệp định EVFTA như đề cập trên, nhóm nghiên cứu chọn đề tài "ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ QUAN TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EU (EVFTA) ĐẾN MỘT SỐ NGÀNH XUẤT NHẬP KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM"
Ngành xuất nhập khẩu chủ lực trong đề tài này được hiểu là các ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong bức tranh thương mại song phương, tức là những ngành
có tỷ trọng đóng góp lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam; và những sản phẩm thuộc các ngành này có sự thay đổi lớn về mức thuế quan trong thương mại của Việt Nam và EU trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực Việc xác định các ngành xuất nhập khẩu chủ lực thông qua tính toán tỷ trọng thương mại trong cơ cấu xuất nhập khẩu của cả nước và xem xét mức độ thay đổi về thuế quan trong thương
Trang 11mại giữa Việt Nam và EU nhiều nhất khi so sánh mức thuế trước và sau khi Hiệp định thương mại VN và EU được ký
Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là tính toán và đánh giá các tác động tiềm năng của Hiệp định thương mại EVFTA đối với các ngành kinh tế chủ lực dựa trên các kịch bản thuế quan được xây dựng theo lộ trình cắt giảm trong khuôn khổ Hiệp định này Bên cạnh đó, đề tài cũng đánh giá tiềm năng mở rộng thị trường thông qua việc đánh giá cường độ thương mại lợi thế so sánh của những ngành này trên thị trường thế giới Từ đó đưa ra các gợi ý chính sách nhằm khai thác tốt nhất cơ hội và ứng phó với thách thức phát sinh khi Hiệp định này được thực thi Mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
(1) Tính toán các chỉ số thương mại và chỉ số lợi thế cạnh tranh hiển thị của các ngành xuất nhập khẩu chủ lực nhằm đánh giá tiềm năng của các ngành này;
(2) Tính toán sự thay đổi của kim ngạch xuất nhập khẩu của các ngành có tỷ trọng thương mại cao của Việt Nam đối với thị trường EU;
(3) Tính toán sự thay đổi về phúc lợi kinh tế dưới góc độ người tiêu dùng, người sản xuất, chính phủ, và cả đối với các thị trường cạnh tranh nước ngoài để đánh giá lợi ích tổng thể mà Hiệp định thương mại đem lại;
(4) Đưa ra khuyến nghị chính sách trên cơ sở phân tích và đánh giá ở các mục tiêu trên
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài nghiên cứu kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên cơ sở dữ liệu thứ cấp để tính toán và phân tích Mô hình chính được sử dụng để phân tích và mô phỏng tác động của các chính sách thương mại lên cấp độ ngành là mô hình cân bằng từng phần (Partial Equilibrium - PEM) Đây là mô hình tập trung phân tích các tác động trực tiếp của sự thay đổi chính sách thương mại đến thị trường các ngành sản phẩm Mô hình này có ưu điểm về mặt
số liệu (không đòi hỏi nhiều số liệu, chỉ cần số liệu của các ngành cần phân tích là đủ), đồng thời cho phép phân tích sâu và chi tiết các ngành hàng mà điều này rất cần thiết cho nhà hoạch định chính sách trong việc chọn lựa ngành ưu tiên có lợi thế để tập trung khai thác và phát triển sau khi Hiệp định được thực thi Tuy nhiên, cũng vì lợi thế đơn giản và tập trung vào phân tích một số ngành cụ thể mà PEM bỏ qua các tương
Trang 12tác qua lại giữa các ngành khác nhau trong nền kinh tế thông qua việc tái phân bổ nguồn lực Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng chỉ số cường độ thương mại (Trade Intensity Index - TII) và chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (Revealed Comparative Advantage - RCA) để đánh giá tiềm năng mở rộng thị trường của các ngành thông qua phân tích mức độ thương mại và lợi thế cạnh tranh của từng ngành
Khác với phần lớn các nghiên cứu khác sử dụng đơn lẻ mô hình PEM, mô hình PEM được sử dụng trong đề tài nghiên cứu này bao gồm sự kết hợp cả mô hình SMART, một ứng dụng từ phần mềm WITS của Ngân hàng thế giới (WB) và mô hình GSIM (Global Simulation Analysis of Industry-level Trade Policy) được phát triển bởi Francois and Hall (2003) Trong khi mô hình SMART nhấn mạnh vào tính toán sự thay đổi trong giá trị thương mại của Việt Nam - EU và sự thay đổi thị trường của các đối thủ cạnh tranh đối với các thành viên trong Hiệp định thì mô hình GSIM đưa ra các kết quả về sự thay đổi phúc lợi kinh tế từ việc cắt giảm thuế quan trong Hiệp định thương mại Kết quả tổng hợp từ hai mô hình SMART và GSIM hỗ trợ và bổ sung cho nhau (bao gồm ảnh hưởng về thương mại gồm tạo lập, chệch hướng thương mại, ảnh hưởng về doanh thu thuế và phúc lợi xã hội) sẽ đem lại một bức tranh chung thể hiện tác động của việc thực thi Hiệp định EVFTA đến các ngành sản phẩm trọng yếu của Việt Nam ở mọi góc độ Bên cạnh đó, kết quả phân tích từ việc đánh giá chỉ số cường
độ thương mại và chỉ số lợi thế so sánh (RCA) cũng góp thêm một góc nhìn hẹp cho bức tranh thương mại giữa Việt Nam và EU và qua đó cho thấy tiềm năng xuất khẩu của các ngành kinh tế đứng đầu trong xuất nhập khẩu của Việt Nam
Nguồn dữ liệu chủ yếu cho việc tính toán và phân tích bao gồm số liệu thương mại của UN-COMTRADE, số liệu thuế quan từ nguồn TRAIN và số liệu thống kê khác của Cục hải quan Việt Nam Các số liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2016
Đối tượng nghiên cứu là các ngành xuất nhập khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU hiện nay, các ngành xuất khẩu bao gồm ngành dệt may và da giày, ngành thuỷ sản, cà phê Khác với xuất khẩu, các ngành nhập khẩu chủ lực của Việt Nam từ EU như máy móc thiết bị, ngành dược phẩm, … Đây là những ngành được chọn lọc từ việc tính toán trên số liệu thương mại (xuất khẩu và nhập khẩu thuộc tốp
Trang 13các ngành có kim ngạch cao nhất) và là những ngành có mức thuế quan thay đổi nhiều nhất theo Hiệp định
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi hiệp định có hiệu lực sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến một số ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam Khi thuế quan được cắt giảm về 0%, kim ngạch xuất nhập khẩu ước tính của các ngành có sự biến động mạnh như: xuất khẩu ngành giày dép tăng 13.63%, may mặc tăng khoảng 12%, ngành thuỷ sản tăng 15.31%; chủ yếu việc từ chuyển hướng thương mại của EU từ Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, và Ấn Độ sang Việt Nam Cùng với xuất khẩu, nhập khẩu xe nguyên chiếc tăng 38,04%, ngành dược phẩm tăng 4.32% Một lượng lớn nguồn hàng
sẽ đổ vào thị trường nội địa Việt Nam, gây một số tác động tích cực cũng như tiêu cực đến phúc lợi nền kinh tế: nguồn thu thuế của chính phủ bị giảm đáng kể, thặng dư người tiêu dùng tăng lên nhờ tiêu dùng với giá thấp hơn, thặng dư nhà sản xuất nội địa giảm khác nhau theo từng ngành (giảm nhiều nhất là ngành dược) Phúc lợi kinh tế ròng bị giảm đi khi thuế nhập khẩu về 0 do sự sụt giảm quá lớn của nguồn thu ngân sách
Khác với phần lớn các nghiên cứu trước đây sử dụng đơn lẻ một mô hình cân bằng từng phần (SMART hoặc GSIM) để phân tích, đề tài này kết hợp cả hai mô hình SMART và GSIM mô phỏng bức tranh toàn diện thể hiện tác động của Hiệp định thương mại đến các ngành xuất nhập khẩu chủ lực của VN ở mọi góc độ Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn kết hợp phương pháp chỉ số để tính toán và phân tích mức độ thương mại cũng như lợi thế so sánh hiển thị ở cấp độ ngành nhằm đánh giá tiềm năng
mở rộng thị trường của những ngành này
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, các hàm ý chính sách được đề xuất nhằm giúp cho các doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế tham khảo Bài nghiên cứu phân tích các ngành xuất nhập khẩu sử dụng số liệu thực sát với thực tiễn và gắn liền với nội dung hiệp định EVFTA nên các hàm ý chính sách đưa ra sẽ có ý nghĩa thực tiễn đóng góp cao đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc quy hoạch ngành
Kết cấu của bài nghiên cứu (không bao gồm phần giới thiệu) gồm có năm chương: Chương 1 trình bày Cơ sở lý luận trong đó có hai phần chính: phần đầu trình bày tổng quan về Hiệp định thương mại EVFTA bao gồm quá trình ký kết, những nội
Trang 14dung chính của hiệp định; phần 2 trình bày các lý thuyết thương mại quốc tế của Viner (1950) và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do Chương 2 sẽ cung cấp cho người đọc toàn cảnh bức tranh thương mại của Việt Nam và thế giới, trong đó tập trung nhấn mạnh đến mối quan hệ thương mại giữa thị trường Việt Nam – EU Chương 3 sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu được sử dụng để phân tích trong đề tài Chương 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu về đánh giá lợi thế cạnh tranh
và tác động của việc cắt giảm thuế quan trong Hiệp định EVFTA đến một số ngành xuất nhập khẩu chủ lực giữa Việt Nam và EU Cuối cùng, chương 5 sẽ kết luận, tóm tắt kết quả và đưa ra một số hàm ý chính sách cho Nhà Nước và các doanh nghiệp Việt Nam nhằm khai thác tốt nhất cơ hội và ứng phó với thách thức phát sinh khi Hiệp định này được thực thi
Trang 15PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của chính sách thương mại quốc tế
1.1.1 Lý thuyết liên minh thuế quan của Jacob Viner (1950)
Jacob Viner (1950) là công trình nghiên cứu đầu tiên đặt nền móng cho các phân tích kinh tế hiện đại về khối thương mại khu vực, trong đó chủ yếu tập trung vào việc mô tả và phân tích các hiệu ứng phúc lợi tĩnh như là tạo lập thương mại và chuyển hướng thương mại khi một Hiệp định thương mại được ký kết và thực thi
Hiệu ứng tạo lập thương mại xuất hiện khi một thành viên của FTA gia tăng nhập khẩu từ một thành viên khác trong khối FTA có mức giá cung ứng thấp hơn so với mức giá nội địa của mình hoặc so với mức giá của nhà cung ứng ngoài khối FTA
đó Điều này làm lợi cho người tiêu dùng vì mua được hàng nhập khẩu ở mức giá rẻ hơn trước khi có FTA Do đó, hiệu ứng này còn giúp người tiêu dùng tăng thu nhập, kích cầu và làm tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu từ các thành viên cũng như những nước không phải thành viên của FTA, từ đó làm cải thiện phúc lợi và hiệu quả kinh tế cho các quốc gia
Ngược lại, hiệu ứng chuyển hướng thương mại xuất hiện khi một FTA làm chệch hướng thương mại từ một nhà cung cấp hiệu quả hơn ngoài khối FTA chuyển sang một nhà cung ứng sản phẩm khác ít hiệu quả hơn trong khối FTA Nghĩa là, một nước thành viên trong khối FTA quyết định thay thế một nhà cung ứng ngoài khối FTA có mức giá thấp bằng một nhà cung ứng trong khối FTA có mức giá cao hơn Như vậy nhà cung ứng thành viên FTA kém hiệu quả hơn lại thay thế cho nhà cung ứng hiệu quả hơn nhưng không phải thành viên FTA vì được hưởng các ưu đãi thuế quan do việc tham gia FTA mang lại Do vậy, hiệu ứng này làm chệch hướng thương mại của một thành viên FTA từ nhà cung ứng hiệu quả sang nhà cung ứng kém hiệu quả hơn, và thành viên đó phải chịu thêm một khoản chi phí do phải trả giá nhập khẩu cao hơn Tức là hiệu ứng chệch hướng thương mại làm giảm phúc lợi kinh tế của các quốc gia thành viên Hệ quả này còn làm nhà cung ứng ngoài FTA có khả năng bị mất thị phần xuất khẩu và có thể họ buộc phải giảm giá xuất khẩu
Giả định rằng quốc gia A là Việt Nam, Quốc gia B là thành viên thuộc khối EU (là các Quốc gia thuộc phạm vi Hiệp định EVFTA) và Quốc gia C là một Quốc gia
Trang 16khác nằm ngoài phạm vi Hiệp định EVFTA Sau đây chúng ta sẽ xem xét chi tiết các hiệu ứng được tạo ra do việc hình thành mối quan hệ tự do thương mại giữa Việt Nam
và các nước EU thông qua EVFTA
i Hiệu ứng tạo lập thương mại (Trade Creation)
Hiệu ứng này xuất hiện khi một thành viên của FTA gia tăng nhập khẩu từ một thành viên khác trong khối FTA có mức giá cung ứng thấp hơn so với mức giá nội địa của mình Điều này làm cho người tiêu dùng có lợi vì mua được hàng nhập khẩu ở mức giá rẻ hơn so với trước khi có FTA Do đó, hiệu ứng này giúp người tiêu dùng tăng thu nhập, kích cầu và làm tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu từ các thành viên FTA
Hình 1.1: Mô tả hiệu ứng tạo lập thương mại
(Nguồn: WTO, 2011) Hình 1.1 mô tả các đường cung và cầu sản phẩm X của Việt Nam PB và PC thể hiện giá cung cấp thương mại tự do của hàng hóa thuộc khối EU và Quốc gia C tương ứng Giả sử rằng Quốc gia C có khả năng cung cấp sản phẩm X ở mức giá thấp hơn thành viên EU Giả định rằng Việt Nam có mức thuế cụ thể tB = tC = t∗, dựa trên nhập khẩu từ khối EU và C Mức thuế này làm tăng giá cung nội địa cho PTB và PTC tương ứng Lượng thuế quan được biểu thị như sau: t∗ = PTB − PB = PTC − PC
Trang 17Khi có thuế quan, giá sản phẩm X ở Việt Nam (PA) sẽ thấp hơn giá nhập khẩu
PTB và PTC, sản phẩm X sẽ không được nhập khẩu Thay vào đó, Việt Nam sẽ cung ứng cho nhu cầu nội địa của mình tại điểm S1 = D1
Tiếp theo, giả sử Việt Nam và thành viên thuộc khối EU hình thành một FTA
và Việt Nam sẽ loại bỏ thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm từ EU Bây giờ tB = 0, nhưng tC vẫn ở t* Do đó, giá nội địa đối với hàng hoá nhập khẩu từ EU và nước C tương ứng bây giờ là PB và PTC Vì PB <PA, nên Việt Nam sẽ nhập khẩu sản phẩm X từ các thành viên thuộc khối EU sau khi thực thi FTA Tại mức giá đã loại bỏ thuế (PB
thấp hơn giá trong nước), lượng hàng nhập khẩu sẽ tăng lên một khoảng (D2 – S2) Vì thương mại hiện tại xảy ra trong điều kiện có FTA mà không phải xảy ra trước đó, thương mại được cho là được tạo lập Các ảnh hưởng phúc lợi của việc hình thành FTA trong trường hợp tạo lập thương mại tại Việt Nam được mô tả trong bảng sau:
Bảng 1.1: Hiệu ứng tạo lập thương mại Thặng dư tiêu dùng + (a + b + c)
Phúc lợi quốc gia + (b + c)
(Nguồn: WTO, 2011)
Từ bảng trên cho thấy người tiêu dùng sản phẩm X tại Việt Nam được hưởng lợi từ khu vực mậu dịch tự do là diện tích (a+b+c) Việc giảm giá tại thị trường nội địa của hàng nhập khẩu và các sản phẩm thay thế trong nước làm tăng thặng dư tiêu dùng trên thị trường Tuy nhiên, các nhà sản xuất Việt Nam lại bị thiệt hại một khoảng là (-a) do sự giảm giá của sản phẩm nhập khẩu tại thị trường nội địa làm giảm sản lượng cung ứng nội địa của các công ty hiện có trong ngành này, dẫn một số doanh nghiệp sẽ rút khỏi ngành và đóng cửa, giảm cung ứng việc làm, giảm lợi nhuận Tóm lại, Hiệp định thương mại tự do làm giảm thặng dư của nhà sản xuất trong ngành Bên cạnh đó, lợi ích chính phủ Việt Nam dường như không bị ảnh hưởng vì Việt Nam sẽ không tiêu dùng sản phẩm X tại mức giá cung ứng của EU và quốc gia C nếu tính luôn thuế nhập khẩu Do đó FTA không gây ra tổn thất doanh thu ngân sách chính phủ
Tóm lại, ảnh hưởng của FTA đến phúc lợi kinh tế của Việt Nam được tìm thấy bằng cách tổng hợp những lợi ích và thiệt hại đối với người tiêu dùng và nhà sản xuất
Trang 18Hiệu quả ròng bao gồm hai thành phần tích cực: tăng hiệu quả sản xuất tích cực (b) và tăng hiệu quả tiêu thụ tích cực (c) Điều này có nghĩa là hiệu ứng tạo lập thương mại phát sinh khi một FTA được hình thành sẽ dẫn đến phúc lợi quốc gia ròng xét về mặt kinh tế
ii Hiệu ứng chuyển hướng thương mại (Trade Diversion)
Hiệu ứng này xuất hiện khi nhà cung ứng không phải là thành viên của FTA có mức giá thấp hơn lại bị thay thế bởi một nhà cung ứng trong FTA mặc dù họ có chi phí cao hơn Như vậy nhà cung ứng kém hiệu quả hơn (thành viên FTA) lại thay thế nhà cung ứng hiệu quả hơn (không phải thành viên FTA) vì được hưởng các ưu đãi thuế quan do việc tham gia FTA mang lại Do vậy, hiệu ứng này làm chệch hướng thương mại của một thành viên FTA từ nhà cung ứng hiệu quả sang nhà cung ứng kém hiệu quả hơn và thành viên đó phải chịu thêm một khoản chi phí do phải chi trả một giá nhập khẩu cao hơn Hệ quả này còn làm nhà cung ứng ngoài FTA mất thị phần xuất khẩu và có thể buộc họ phải giảm giá xuất khẩu
Hình 1.2: Mô tả hiệu ứng chuyển hướng thương mại
(Nguồn: WTO, 2011) Hình 1.2 mô tả hiệu ứng chuyển hướng thương mại trong trường hợp Việt Nam
và một quốc gia thuộc khối EU tham gia FTA Qua mô hình cung cầu sản phẩm X
Trang 19trong hình 1.2, PB và PC thể hiện giá cung ứng thương mại tự do của hàng hóa X từ các thành viên thuộc khối EU và quốc gia C tương ứng Giả định rằng Quốc gia C có khả năng cung cấp sản phẩm X ở mức giá thấp hơn so với các thành viên thuộc khối EU; Việt Nam đánh một lượng thuế tB = tC = t* trên sản phẩm X nhập khẩu từ các thành viên thuộc khối EU và C Mức thuế này làm tăng giá cung nội địa cho PTB và PTC
tương ứng Khi có thuế quan, giá sản phẩm X từ Quốc gia C rẻ hơn, Việt Nam sẽ nhập khẩu sản phẩm X từ C và sẽ không giao dịch ban đầu với các thành viên thuộc khối
EU Hàng nhập khẩu được cung cấp bằng khoảng cách (D1 - S1) Doanh thu thuế ban đầu được tính theo diện tích (c + e), tương đương thuế suất nhân với lượng nhập khẩu
Giả sử Việt Nam và các thành viên thuộc khối EU tham gia FTA và Việt Nam
gỡ bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đánh trên các sản phẩm nhập khẩu từ EU Bây giờ, tB
= 0, nhưng tC vẫn ở mức t* Giá nội địa đối với hàng hoá từ các thành viên thuộc khối
EU và C giờ là PB và PTC Do PB < PTC, Việt Nam sẽ nhập khẩu tất cả các sản phẩm X
từ các thành viên thuộc khối EU sau FTA và sẽ không nhập khẩu từ Quốc gia C Ở mức giá PB thấp hơn trong nước, lượng hàng nhập khẩu sẽ tăng lên một khoảng (D2 - S2) Ngoài ra, do giá cung ứng của quốc gia C (không bao gồm thuế) thấp hơn giá của các thành viên thuộc khối EU, thương mại được cho là chuyển từ một nhà cung cấp hiệu quả hơn sang nhà cung cấp kém hiệu quả hơn Các ảnh hưởng phúc lợi của việc hình thành khu vực thương mại tự do trong trường hợp chuyển hướng thương mại tại Việt Nam như sau:
Bảng 1.2: Hiệu ứng chuyển hướng thương mại Thặng dư tiêu dùng (a+b+c+d)
Phúc lợi quốc gia (b+d)-e
Người tiêu dùng sản phẩm X tại Việt Nam được hưởng lợi từ khu vực mậu dịch
tự do Việc giảm giá hàng nhập khẩu tại thị trường nội địa và các sản phẩm thay thế trong nước làm tăng thặng dư tiêu dùng một lượng là (a+b+c+d) Tuy nhiên, thặng dư
Trang 20của nhà sản xuất Việt Nam bị thiệt hại do sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu từ việc cắt giảm thuế nhập khẩu trên sản phẩm X được quy định trong Hiệp định thương mại tự
do Sự cạnh tranh về giá của hành nhập khẩu làm cho sản lượng của các công ty hiện
có giảm đi, dẫn đến một số doanh nghiệp sẽ bị đóng cửa, sa thải lao động, …Về phía chính phủ, các khoản thu thuế nhập khẩu lẽ ra sẽ thu được từ việc đánh thuế trên sản phẩm X bị mất đi Điều này làm giảm nguồn thu ngân sách của chính phủ, dẫn đến chi tiêu của chính phủ hoặc các khoản trợ cấp phúc lợi có thể giảm đi hoặc nợ chính phủ tăng lên
Tóm lại, FTA có ảnh hưởng đến phúc lợi kinh tế của quốc gia A, được tính bằng cách tổng hợp các lợi ích của người tiêu dùng (a+b+c+d), thiệt hại của nhà sản xuất (-a) và thiệt hại của chính phủ (-c-e) Như vậy, hiệu quả ròng của FTA là (b+d-e), bao gồm cả yếu tố tích cực và tiêu cực Hiệu quả ròng này là con số dương hay âm phụ thuộc vào mức độ giảm thuế nhiều hay ít Điều này cho thấy trong một số trường hợp, việc hình thành một FTA tạo ra hiệu ứng chuyển hướng thương mại có thể là tích cực chứ không nhất thiết là tiêu cực
1.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng lý thuyết của Vinner (1950) để đánh giá tác động của FTA đến phúc lợi kinh tế của một quốc gia Các nghiên cứu này được thực hiện theo hai chiều hướng Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (General Equilibrium Model – GEM) để đánh giá tác động của FTA đến các ngành trong nền kinh tế tổng thể trong dài hạn (Viện nghiên Cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam, 2015; ) Thứ hai, một số nghiên cứu khác đánh giá tác động của FTA đến một số ngành kinh tế cụ thể trong ngắn hạn sử dụng mô hình SMART và GSIM (Francois J
và Hall K H., 2003; Mario H và Valentina I., 2012; …) Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu khác kết hợp cả hướng nghiên cứu thứ nhất và thứ hai, tức là kết hợp mô hình GEM và PEM để vừa đánh giá tác động tổng thể nền kinh tế và tác động trực tiếp đến các ngành sản phẩm cụ thể của Hiệp định tương mại (MUTRAP, 2014; MUTRAP, 2015) Tuy nhiên, do mục tiêu bài nghiên cứu của chúng tôi chỉ đánh giá tác động ngắn hạn của Hiệp định thương mại tự do, cho nên phần này sẽ lược khảo một số nghiên cứu phù hợp theo hướng nghiên cứu thứ hai
Trang 21Francois J và Hall K H (2003) thực hiện phân tích chính sách thương mại toàn cầu ở cấp ngành sử dụng mô hình PEM Bài viết phát triển mô hình mô phỏng toàn cầu (Generic Statistical Information Model- GSIM) để phân tích thay đổi chính sách thương mại toàn cầu Khuôn khổ này sử dụng sự phân biệt sản phẩm quốc gia, và cho phép đánh giá đồng thời các thay đổi về chính sách thương mại, ở cấp độ ngành, trên một toàn cầu, khu vực hoặc quốc gia Kết quả mô hình cho phép đánh giá tác động của Hiệp định thương mại đến phúc lợi về mặt kinh tế các ngành xuất khẩu và nhập khẩu liên quan đến doanh thu ngân sách chính phủ từ nguồn thu thuế quan, thặng dư của nhà sản xuất và thặng dư của người tiêu dùng
Mario H và Valentina I (2012) đánh giá ảnh hưởng của việc tham gia vào EU của Serbia, sử dụng số liệu chi tiết về thương mại và thuế quan từ năm 2005 và mô hình mô phỏng toàn cầu (GSIM) để phân tích các thay đổi chính sách thương mại toàn cầu, khu vực và đơn phương tại Serbia, từ đó đánh giá tác động của tự do hoá thương mại của Serbia sau khi gia nhập EU Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết những thay đổi sau khi tự do hóa thương mại giữa Serbia và EU đem lại những lợi ích về phúc lợi như mong đợi trong các lĩnh vực mà Serbia đã chuyên môn hóa; và khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ EU tăng cao Tuy nhiên, một số tổn thất cũng có thể xảy
ra đối với các ngành mà lâu nay đang được bảo hộ mạnh mẽ chống lại sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài và sự bảo hộ này có thể bị mất đi sau khi gia nhập EU Mặt khác, tự do hoá thương mại sẽ dẫn đến mất đi một khoản thu nhập thuế đáng kể và vì thế ảnh hưởng đến khoản thu ngân sách nhà nước Hơn nữa, giá tiêu dùng giảm có thể làm tăng thặng dư tiêu dùng nhưng mặt khác lại làm giảm sản lượng của các nhà sản xuất trong một số ngành nhất định
Roland R Leudjou (2012) nghiên cứu an ninh lương thực trong khuôn khổ vòng đàm phán Doha của Hiệp định WTO trong Ngành Sữa ở Cameroon bằng phương pháp Mô phỏng Mô hình Toàn cầu (GSIM) Kết quả nghiên cứu như sau: (1) sự cắt giảm thuế đa phương thuộc Hiệp định WTO ở giai đoạn dự thảo vào tháng 12/2008 có khả năng tạo cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm sữa của Cameroon; (2) việc cắt giảm thuế quan này không làm giảm mức độ bảo vệ thuế quan của thị trường nội địa đối với một số sản phẩm nhất định; (3) tuy nhiên tham gia vòng đàm phán Doha sẽ làm giảm
sự linh hoạt của chính phủ trong việc ấn định mức thuế áp dụng cũng như không làm
Trang 22thay đổi các ưu đãi thương mại mà Cameroon đang được hưởng Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy tự do hóa thương mại có thể làm xấu đi sự thịnh vượng của người tiêu dùng Sự sụt giảm phúc lợi của người tiêu dùng là do sự gia tăng trong giá tiêu dùng sản phẩm sữa tại Cameroon gây ra do nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ của thị trường sữa quốc tế dẫn đến sự tăng giá chung của mặt hàng sữa Từ đó dẫn đến xuất khẩu sữa của Cameroon tăng lên và nhập khẩu khẩu sản phẩm này giảm đi đáng kể; sự gia tăng sản xuất trong nước không đủ cung cấp cho thị trường tiêu thụ
Misa Okabe (2015) cho thấy hiệp định ACFTA và AKFTA góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp và tăng tích lũy tư liệu sản xuất ở các nước thành viên mới nổi như Việt Nam hay Campuchia Tuy nhiên, khả năng tận dụng các FTA của Việt Nam còn thấp và những tác động đến kinh tế Việt Nam chưa thực sự rõ ràng Nghiên cứu cũng khuyến cáo rằng, ACFTA và AKFTA có thể khiến Việt Nam tăng nhập khẩu nhiều sản phẩm công nghiệp từ Trung Quốc và Hàn Quốc
Viện nghiên Cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam – VEPR (2015) nghiên cứu tác động của Hiệp định thương mại tự do kiểu mới là TPP và AEC lên toàn bộ nền kinh tế Việt Nam thông qua mô hình cân bằng tổng thể (General Equilibrium Model - GEM) với các mô phỏng các ảnh hưởng của hiệp định qua các kịch bản thương mại Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xem xét tác động ở cấp độ ngành bao gồm các yếu tố thương mại (xuất nhập khẩu), giá cả, sản lượng và phúc lợi kinh tế bằng mô hình cân bằng bán phần GSIM Một số ngành đặc biệt được chọn lựa trong nghiên cứu này trong đó có ngành chăn nuôi vốn được xem là không có lợi thế và có thể chịu nhiều tác động tiêu cực từ các FTA
Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh Phương (2016) đánh giá tác động tiền
kỳ theo cấp độ ngành của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU bằng cách tính toán các chỉ số thương mại như: chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) và chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu (ES) Các chỉ số này được sử dụng không chỉ để mô tả, so sánh mà còn giúp đánh giá thực trạng, xu hướng thương mại giữa Việt Nam và EU, từ
đó giúp đưa ra những đánh giá bước đầu về tác động tiềm tàng của EVFTA đến thương mại giữa hai bên Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2001 đến 2015, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với EU đều gia tăng vững chắc, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam sang EU gia tăng mạnh mẽ và tăng nhanh hơn so với nhập
Trang 23khẩu, góp phần làm tăng nhanh thặng dư thương mại của Việt Nam với EU cũng như đưa Việt Nam chuyển từ trạng thái thâm hụt sang thặng dư thương mại EU vẫn giữ vững là đối tác thương mại lớn, quan trọng của Việt Nam về xuất nhập khẩu mặc dù cả
EU và Việt Nam đều bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và nền kinh tế EU vẫn đang gặp nhiều khó khăn từ tác động của khủng hoảng nợ công Năm 2014-2015, EU là đối tác xuất khẩu lớn thứ hai, đối tác nhập khẩu lớn thứ tư và đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam Hiện nay, với bối cảnh mới, sự thay đổi trong chiến lược phát triển và chính sách thương mại từ phía Việt Nam và EU, việc kết thúc đàm phán EVFTA vào cuối năm 2015, tiềm năng gia tăng thương mại giữa Việt Nam
và EU trong tương lai là rất lớn Phân tích cơ cấu thương mại, hệ số RCA, chỉ số ES của Việt Nam và EU cho thấy thương mại giữa Việt Nam và EU chủ yếu mang tính liên ngành do cơ cấu xuất nhập khẩu, RCA, ES của hai bên khác nhau rõ rệt Bên cạnh
đó, thương mại nội ngành có tiềm năng xảy ra ở mức độ cao trong nhóm ngành máy móc cơ khí, thiết bị điện và điện tử Bài nghiên cứu cũng đề xuất Việt Nam cần thúc đẩy chuyên môn hóa ngành này, mở rộng ngành để khai thác tính kinh tế của quy mô,
từ đó gia tăng cơ hội xuất khẩu
Lê Hồng Hiệp (2015) đánh giá sơ bộ về tác động của Hiệp định thương mại tự
do TPP đến nền kinh tế Việt Nam Kết quả nghiên cứu ước tính Hiệp định này sẽ mang lại tăng trưởng GDP cho Việt Nam ở mức 11% và kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng 28% trong vòng một thập kỷ Các ngành sản xuất xuất khẩu đạt tăng trưởng gồm có: dệt may, thuỷ sản, các sản phẩm nông nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận các thị trường lớn như Mỹ và Nhật, nhưng ngành chăn nuôi, và các sản phẩm sữa, bắp, đậu nành và thức ăn gia súc co nguy cơ đối diện với nhiều tác động tiêu cực Tác giả cho rằng hiệp định này sẽ làm gia tăng dòng vốn đầu tư FDI và thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Theo báo cáo đánh giá tác động của Hiệp định kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đối với nền kinh tế Việt Nam của MUTRAP (2015), hội nhập quốc tế ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng của ngành nông – lâm – ngư nghiệp, trong đó nông nghiệp là phân ngành quan trọng nhất với đóng góp lớn nhất vào GDP, tiếp theo là thủy sản Trong nhiều năm, Việt Nam là nước xuất khẩu ròng các sản phẩm nông – lâm – thủy sản Giá trị xuất khẩu tăng nhanh từ 5,59 tỷ USD vào năm 2004 lên khoảng
Trang 2420,49 tỷ USD vào giai đoạn 2010 -2012; các sản phẩm chính là gạo, hạt điều, cao su, hạt cà phê và thủy sản Thủy sản vẫn có nhiều tiềm năng và lợi thế so sánh, nhưng khả năng cạnh tranh của ngành này trên thị trường quốc tế đã bị thu hẹp do cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn của các nước láng giềng cũng như những quy định nghiêm ngặt hơn về các tiêu chuẩn SPS và vệ sinh an toàn thực phẩm,… Báo cáo này cũng chỉ ra các thách thức cho ngành nông – lâm – thủy sản khi Việt Nam tham gia Hiệp định RCEP như: cạnh tranh giữa các thành viên trong khối sẽ gay gắt hơn, đầu tư vào nông nghiệp sẽ giảm vì môi trường đầu tư không thuận lợi, lợi nhuận thấp và có nhiều rủi
ro, mô hình thương mại chưa được cải thiện đáng kể vì hàng hóa tài nguyên, sơ chế hoặc chế biến thô vẫn chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu, trong khi nhập khẩu một lượng đáng kể yếu tố đầu vào cho sản xuất, một số sản phẩm bị mất lợi thế so sánh theo thời gian nên sẽ đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường quốc tế
Vũ Thanh Hương (2017) nghiên cứu tác động của Hiệp định thương mại Việt Nam - EU ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa giữa hai bên trong giai đoạn 2001 -
2015 Bài viết kết hợp phương pháp tính bằng các chỉ số để đánh giá tác động tiềm tàng của FTA, bao gồm: Chỉ số thương mại, mô hình PEM (cụ thể là mô hình SMART) và mô hình cân bằng tổng thể (CGE) Nghiên cứu chỉ ra rằng: EVFTA sẽ dẫn đến sự gia tăng xuất khẩu của Việt Nam sang EU không đồng đều giữa các nhóm ngành Trong khi đó, gia tăng nhập khẩu của Việt Nam từ EU phân bổ tương đối đồng đều hơn giữa các nhóm ngành xuất khẩu Các nhóm ngành sẽ gia tăng xuất khẩu lớn nhất sang thị trường EU là ngành Giày – dép - mũ và Dệt may Các nhóm ngành có mức gia tăng xuất khẩu sau hai nhóm ngành trên gồm Máy móc thiết bị cơ khí và điện tử; Sản phẩm thực vật; Sản phẩm da và Nguyên liệu dệt may Ngược lại, ba nhóm ngành sẽ gia tăng nhập khẩu lớn nhất từ EU là Phương tiện phụ tùng, thiết bị vận tải; Hoá chất; Thực phẩm chế biến, đồ uống, thuốc lá Nhóm ngành Động vật sống và các sản phẩm từ động vật là nhóm ngành Việt Nam vừa có cơ hội thúc đẩy xuất khẩu nhưng cũng phải chịu áp lực cạnh tranh gia tăng Các cam kết RoO (Ruler of Origin)
sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam sang
EU so với hàng nông nghiệp
Trang 25Hà Công Anh Bảo (2016) nghiên cứu cơ hội và thách thức cho ngành gỗ Việt Nam trong bối cảnh Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) Bài viết đặt ra giả thuyết như sau: Ngành gỗ của Việt Nam chịu sự tác động của EVFTA đến mức nào? và EVFTA sẽ có tác động tích cực để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của ngành gỗ Việt Nam Giả thuyết này sẽ được làm rõ dựa trên phân tích mô hình SMART trên WITS Bài nghiên cứu phân tích mức thuế phải chịu khi Việt Nam xuất khẩu gỗ sang thị trường EU so với các đối thủ khác như Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan và Braxin; kết hợp với phân tích số liệu thương mại xuất nhập khẩu của ngành gỗ Việt Nam sang thị trường EU dựa trên số liệu thứ cấp của Ngân hàng Thế giới, số liệu ban đầu của ITC và bằng cách phỏng vấn các chuyên gia và các nhà xuất khẩu đồ gỗ địa phương vào thị trường EU Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các cơ hội và thách thức đối với ngành gỗ Việt Nam có thể được mô tả như sau: Về cơ hội, sau khi ký Thỏa thuận này, EU sẽ tiến hành một số điều chỉnh tích cực; đặc biệt là
họ sẽ loại bỏ thuế nhằm tạo điều kiện cho ngành gỗ Việt Nam xâm nhập vào thị trường
EU và khi thế giới dần dần loại bỏ thuế, với EVFTA như là một loại hiệp định "hội nhập sâu" mới, Việt Nam có thể dẫn đầu cuộc chơi trong cuộc cạnh tranh đó và trên thị trường châu Âu Ngoài ra, EU sẽ trở thành đối tác quan trọng của Việt Nam cung cấp cho ngành công nghiệp gỗ Việt Nam với cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại do yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng xuất khẩu FTA cũng tạo ra một môi trường pháp lý thân thiện và thuận lợi cho các nhà đầu tư từ EU, do đó giúp tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như số doanh nghiệp gỗ FDI hỗ trợ ngành gỗ Việt Nam để tăng kim ngạch xuất khẩu và góp phần vào GDP của Việt Nam Sự xuất hiện của các doanh nghiệp gỗ FDI và mở cửa thị trường EU-VN cho khách hàng có nhiều cơ hội tiếp cận với sản phẩm chất lượng cao từ EU Ngoài ra còn có những thách thức đối với ngành
gỗ Việt Nam trong đó có những yêu cầu khắt khe và rào cản kỹ thuật của EU Việc thực hiện quy trình sản xuất gỗ theo tiêu chuẩn FLEGT (Forest Law Enforcement Governance and Trade) đòi hỏi sự thay đổi tổng thể trong cơ cấu tổ chức sản xuất và quản lý và thay đổi định hướng xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam Ngoài ra, phải mất nhiều thời gian để các doanh nghiệp và hộ gia đình lâm nghiệp thích nghi và áp dụng các quy tắc mới Bên cạnh đó, ngành gỗ Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức khi cạnh tranh trên thị trường nội địa do sự gia tăng số lượng doanh nghiệp gỗ FDI có thêm hoạt động sản xuất và xuất khẩu hiệu quả; Hơn nữa, họ gặp khó khăn khi cạnh
Trang 26tranh với các nước khác trong thị trường xuất khẩu gỗ của EU như biểu hiện bão hòa sau khi ký FTA hoặc phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu có thể dẫn đến tăng giá
Nguyễn Bình Dương (2016) nghiên cứu tác động và gợi ý chính sách cho Việt Nam khi Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU bắt đầu có hiệu lực Bài viết cho thấy rằng FTA Việt Nam - EU sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên Đối với Việt Nam, việc cắt giảm thuế quan sẽ làm tăng xuất khẩu của Việt Nam sang EU Một
số ngành có mức cắt giảm thuế mạnh nhất từ EU là hàng dệt, giày dép, thực phẩm chế biến (kể cả hải sản) Khu vực dịch vụ cũng sẽ được mở rộng đáng kể sau FTA và điều này có thể góp phần nâng cao hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế Trên cơ sở nghiên cứu này, tác giả khuyến nghị rằng Việt Nam cần có các cơ chế hiệu quả hơn để hỗ trợ kinh doanh, chuẩn bị tốt hơn cho việc thực hiện FTA, cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và hợp tác tốt hơn giữa các doanh nghiệp Việt Nam để có cơ hội hưởng lợi ích từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam Sau khi ký thoả thuận này, FDI từ các nước EU và các đối tác khác vào Việt Nam dự kiến sẽ tăng lên; nhờ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - FTA và các FTA khác mà Việt Nam ký kết, các nhà đầu
tư sẽ thực sự coi Việt Nam là điểm sản xuất để tái xuất sang EU hoặc các đối tác thương mại khác của Việt Nam FTA Việt Nam - EU cũng có thể là một động lực mạnh mẽ để Việt Nam thực hiện cải cách thể chế và tạo môi trường kinh doanh minh bạch Đối với Việt Nam và các nước đang phát triển, tham gia FTA là một cách để thúc đẩy xuất khẩu, nhưng nó sẽ tạo áp lực để cải thiện hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh, đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Ngoài ra, FTA sẽ giúp các nước đang phát triển tăng cường quan hệ chính trị với các đối tác, đặc biệt là các nước lớn Tuy nhiên, nếu nước này thoát khỏi xu thế này, thì nước này có thể phải đối mặt với hiệu quả "chuyển hướng thương mại", do vậy, hội nhập quốc tế là một xu thế không thể đảo ngược được đối với các nước đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam
Liên quan đến đánh giá mức độ thương mại và lợi thế so sánh cấp ngành của các quốc gia, các nhà nghiên cứu sử dụng Chỉ số cường độ giao thương (Trade Intensity Index - TII) và Chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (Revealed Comparative Advantage - RCA) (Jayawickrama & Thangavelu, 2010; Nguyễn, 2013; Ceglowski, 2015; Karaalp, H S và cộng sự, 2012; Nguyễn & Sumalde, 2006; Gorton et al, 2000;
Trang 27Laursen,1998, 2015; và Dalum et al, 1998) Brakman và cộng sự (2013) đo lường sự thay đổi cấu trúc trong lợi thế so sánh thương mại của các nước OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) bằng các công cụ của chỉ số RCA Nhiều tác giả sử dụng RCA để đo lường lợi thế so sánh Điển hình Karaalp, H S., & Yilmaz, N D (2012) phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ trong ngành dệt may trong giai đoạn 1988-2008 bằng cách sử dụng chỉ số lợi thế so sánh của Balassa tại thị trường EU mở rộng Kết quả cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ có lợi thế
so sánh mạnh mẽ và năng lực cạnh tranh trong ngành dệt may trên thị trường EU Tại Việt Nam, Nguyen K Doanh (2013) nghiên cứu về lợi thế so sánh hiển thị của Việt Nam và chuyên môn hóa xuất khẩu bằng chỉ số RCA cho tất cả các ngành xuất khẩu có mã ngành là HS 2 digit Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 80 phần trăm danh mục sản phẩm HS 2 digit có giá trị RCA giảm nhẹ trong suốt giai đoạn 2001-
2009, cho thấy lợi thế cạnh tranh của các ngành này của Việt Nam giảm theo thời gian nhưng không đáng kể (thủy sản, dệt may ) Bên cạnh đó còn những ngành giày dép, rau củ quả có RCA lớn hơn cho thấy ngành này có sự cải thiện lợi thế so sánh Tính trên tổng thể các ngành thì lợi thế so sánh trung bình giảm Tuy nhiên vẫn còn một số ngành có lợi thế so sánh cải thiện Kết hợp với nhau, kết quả nghiên cứu cho thấy cần
có sự đa dạng hóa trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam để cải thiện lợi thế so sánh Điều này được lí giải bằng sự bù đắp những ngành có lợi thế so sánh cao với thấp
Một nghiên cứu khác của Nguyen T Kiet & Sumalde Z.M (2006) đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành nuôi tôm của Việt Nam và thế giới bằng cách ước tính và so sánh chỉ số RCA ngành tôm tại đồng bằng sông Cửu Long bên cạnh đó đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh bao gồm giá xuất khẩu, tỷ giá, năng suất ngành và một số chính sách hỗ trợ của nhà nước; từ đó đề xuất kiến nghị chính sách Kết quả cho thấy rằng các sản phẩm tôm của Việt Nam duy trì vị thế cạnh tranh mạnh
mẽ trên thị trường thế giới từ năm 2001 đến năm 2005, bằng chứng là các chỉ số RCA lớn hơn 1 rất nhiều Cụ thể trong năm 2003, RCA đạt con số cao nhất là 66,34 Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng lớn đến các lợi thế cạnh tranh chính là tỷ giá, và chính sách ổn định tiền lương tối thiểu, ngoài ra điều kiện thuận tiện hóa thương mại là 1 trong các yếu tố chính ảnh hưởng đến luồng xuất khẩu Chính sách được đề xuất là ổn
Trang 28định tỷ giá ở mức phù hợp, ổn định tiền lương và tự do hóa thương mại nhằm tăng cường xuất khẩu mặt hàng này
Bên cạnh chỉ số RCA thì chỉ số cường độ giao thương TII cũng được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến trong việc phân tích mức độ thương mại giữa các quốc gia với nhau Phan, T H., & Jeong, J Y (2012) sử dụng các chỉ số thương mại khác nhau bao gồm cường độ giao thương để phân tích các mô hình và xu hướng trong quan
hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc ở giai đoạn 1993-2010 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cường độ xuất khẩu của Hàn Quốc với Việt Nam là rất cao trong giai đoạn này, mặc dù nó giảm dần theo thời gian Điều này ngụ ý xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam tăng trưởng nhiều và cao hơn so với phần còn lại của thế giới Cường
độ xuất khẩu của Việt Nam với Hàn Quốc biến động xung quanh sự thống nhất, cho thấy tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tương tự với tỷ lệ tăng trưởng của phần còn lại của thế giới Nhìn chung, thương mại song phương giữa Hàn Quốc và Việt Nam ngày càng khốc liệt hơn so với thương mại tương ứng của Hàn Quốc và Việt Nam với các nước khác trong những năm gần đây
Tóm lại, một số nghiên trước đây cho thấy các chỉ số thương mại TII và RCA,
mô hình SMART và GSIM được sử dụng nhiều trong các bài nghiên cứu Kết quả của hai mô hình này đem đến sự đánh giá phù hợp các tác động ảnh hưởng tiêu cực cũng như tích cực đến nền kinh tế Việt Nam khi hiệp định EVFTA bắt đầu có hiệu lực Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy việc thực thi hiệp định EVFTA có khả mang đến cho Việt Nam nhiều lợi ích khi các dòng thuế giữa Việt Nam và EU gần như xóa
bỏ toàn bộ trong vòng 10 năm, điều này kì vọng sẽ mang lại lợi ích cho Việt Nam rất nhiều trong việc gia tăng xuất khẩu hàng hóa trong nước, thúc đẩy các ngành nông nghiệp và công nghiệp phát triển hiệu quả Bên cạnh đó, Hiệp định cũng mang lại bất lợi trong việc giảm nguồn thu ngân sách Chính phủ do việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng nhập khẩu Về khuyến nghị chính sách, các nghiên cứu trên cho rằng mặc dù Việt Nam tham gia nhiều Hiệp định thương mại nhưng vẫn chưa thể tận dụng tốt các lợi thế mà các Hiệp định đem lại
1.2 Tổng quan về Hiệp định thương mại EVFTA
Trang 29Hiện tại Việt Nam đã kết thúc đàm phán FTA với EU, hiệp định này được kí kết tạo ra bước tiến triển quan trọng tăng cường mối quan hệ giữa Việt Nam và EU và
dự kiến có hiệu lực thực thi vào năm 2018 Khi hiệp định này có hiệu lực, ngoài lợi ích, cơ hội cho Việt Nam thì cũng sẽ có những khó khăn, thách thức đặt ra Phần này
sẽ trình bày tổng quan về quá trình ký kết, các nội dung chính và lộ trình cắt giảm thuế quan qui định trong Hiệp định có khả năng ảnh hưởng đến xuất khẩu và nhập khẩu của các ngành sản phẩm quan trọng của Việt Nam
1.2.1 Quá trình đàm phán, ký kết
Hiệp định EVFTA chính thức tuyên bố khởi động đàm phán vào năm 2012, trải qua 14 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ ở cấp Bộ trưởng, cấp Trưởng đoàn và các nhóm kỹ thuật, Việt Nam và EU đã đạt được thỏa thuận nguyên tắc về toàn bộ các nội dung cơ bản của Hiệp định Sau 3 năm đàm phán ký kết, cuối cùng quá trình đàm phán đã chính thức kết thúc vào năm 2015 Với kết quả này, Việt Nam và EU đã đạt được một bước tiến quan trọng trong quá trình tăng cường quan hệ đối tác chính trị toàn diện và sâu sắc giữa Việt Nam và EU, tăng cường hơn nữa mối quan hệ vững chắc và lâu dài, và đặc biệt thúc đẩy phát triển mối quan hệ đầu tư- thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU
1.2.2 Nội dung chính của Hiệp định EVFTA
Nội dung văn bản đầy đủ của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (2016) bao phủ nhiều vấn đề gồm các qui định liên quan đến đầu tư, thương mại trong các lĩnh vực như: lộ trình cắt giảm thuế quan và quy tắc xuất xứ đi kèm; thuận lợi hóa thương mại; mua sắm của chính phủ; thương mại, dịch vụ và đầu tư; phòng vệ thương mại; các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS); hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT); doanh nghiệp nhà nước; sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý); phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực; các vấn đề pháp lý Trong lĩnh vực dịch vụ thương mại và đầu tư, cam kết của Việt Nam và EU là tạo
ra một môi trường đầu tư mở: thực hiện cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi về các thủ tục, tạo các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư và các chính sách tiện lợi cho hoạt động thương mại của doanh nghiệp từ cả hai phía trong các lĩnh vực
Trang 30chuyên môn, dịch vụ tài chính, dịch vụ truyền thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối
Lĩnh vực chính phủ mua: gia nhập EVFTA đã mở ra một bước ngoặt mới cho chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực mua sắm công thông qua các hình thức: đấu thầu trực tuyến, cổng thông tin trực tuyến để đấu thầu… Về mặt tích cực, công tác đấu thầu
sẽ minh bạch hơn, tính cạnh tranh cao hơn, chất lượng hàng hóa tốt hơn, tạo cơ hội cho các nhà thầu Việt Nam vươn ra thị trường mua sắm công rộng lớn của EU Tuy nhiên, một số thách thức, hạn chế cũng phát sinh: nhà đầu tư trong nước sẽ bị cạnh tranh từ các đối thủ EU rất lớn và mất lợi thế ở thị trường sân nhà, các họat động mua sắm công sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán
Về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cam kết về sở hữu trí tuệ bao gồm cam kết về bản quyền, các phát minh, sáng chế liên quan đến dược phẩm và chỉ dẫn địa lý Nói chung, những cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam phù hợp với luật hiện hành Khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ 160 chỉ dẫn địa lý từ EU (bao gồm 28 thành viên) và EU sẽ bảo vệ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam Các chỉ dẫn địa lý Việt Nam này liên quan đến các sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm thực phẩm, tạo điều kiện cho một sản phẩm của Việt Nam phát triển, xây dựng và tự tạo thương hiệu trên thị trường EU, nâng cao chất lượng, nâng cao nhãn hiệu và thương hiệu của sản phẩm Trong số những qui định của Hiệp định, quy định quan trọng nhất và ảnh hưởng mạnh mẽ sâu sắc đến thương mại hai chiều Việt Nam – EU và có thể mang lại cho Việt Nam lợi ích to lớn là qui định về cắt giảm thuế quan Hiện tại, hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam từ EU và hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam của EU đang chịu một khoản thuế nhập khẩu khá cao, nhưng khi Hiệp định EVFTA được thực thi thì hai bên
sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu cho nhau nhanh và tương đối toàn diện Hiệp định EVFTA được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều cơ hội thị trường mới cho hàng hóa thương mại của Việt Nam và EU trong tương lai Theo lộ trình qui định trong Hiệp định, Việt Nam và EU
sẽ cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với gần 100% số dòng thuế và kim ngạch xuất khẩu cho hàng hóa của nhau với lộ trình tối đa 7 năm từ phía EU và tối đa 10 năm từ phía Việt Nam, cụ thể qua hình 1.3 và như sau:
Hình 1.3: Tỉ lệ các dòng thuế được cắt giảm theo năm
Trang 31Nguồn: EVFTA-Sổ tay cho doanh nghiệp và WorldBank (2017)
Về phía EU, ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, với các sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam EU sẽ bãi bỏ thuế nhập khẩu khoảng 85,6% dòng thuế, tương đương với 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU, hay nói cách khác: nếu 85,6% dòng thuế này được xóa bỏ thì 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được miễn giảm thuế Một số sản phẩm được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực như: rau tươi, rau củ quả chế biến, trái cây, nước hoa quả, hoa tươi, túi xách, vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh, mật ong, … Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định
có hiệu lực, EU sẽ bãi bỏ thuế nhập khẩu tập trung vào các sản phẩm chính như: dệt may, giày dép và thủy sản,… ước tính trên 99,2% dòng thuế được bãi bỏ hoàn toàn tính đến thời điểm này Còn lại 0,3% kim ngạch xuất khẩu, EU cam kết cung cấp cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan trong thuế nhập khẩu xuống 0% Điều này sẽ góp phần thúc đẩy mạnh quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam – EU
Về phía Việt Nam, lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu bao gồm xóa bỏ 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch xuất khẩu của EU sang Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực Các dòng thuế chủ yếu là sản phẩm của các ngành như: động vật chăn nuôi, sản phẩm từ động vật, thực vật, các loại hạt, … Sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế được xóa bỏ, tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu của EU sang Việt Nam, chủ yếu cho sản phẩm của các ngành như: thịt động vật, sữa và các sản phẩm từ sữa, các loại rau củ quả, … Sau 10 năm, 98,3% số dòng thuế được xóa bỏ, tương đương 99,8% kim ngạch xuất khẩu của EU sang Việt Nam với các sản phẩm như: bột
100
51.5
8.2 1.7
0 50 100 150
Trang 32giấy, giấy, bìa và các sản phẩm từ giấy, … Khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại gồm các mặt hàng có hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO
Trang 33PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA
VIỆT NAM Phần này sẽ trình bày toàn cảnh thương mại quốc tế của Việt Nam, bao gồm tổng quan về thương mại của Việt Nam với thế giới với các chi tiết về thị trường và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Càng đi sâu vào bức tranh thương mại quốc tế của Việt Nam với thế giới, chi tiết về thương mại giữa Việt Nam và EU càng được mô tả rõ và nhấn mạnh trong phần này nhằm làm rõ vị thế quan trọng của đối tác thương mại EU trong toàn cảnh bức tranh thương mại của Việt Nam
2.1 Tình hình thương mại của Việt Nam và thế giới
Sau 10 năm chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
kể từ khi năm 2007, kim ngạch thương mại của Việt Nam đã có những thay đổi đáng
kể Cụ thể, năm 2016 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 350,7 tỷ USD; cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 2,52 tỷ USD – mức xuất siêu cao nhất từ trước đến nay, đưa cán cân thương mại từ trạng thái thâm hụt chuyển sang thặng dư, xuất khẩu tăng 4,4 lần và nhập khẩu tăng 3,9 lần so với năm 2006
Hình 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa từ năm 2006-2016 (đơn vị: tỷ USD)
(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2017)
Trang 34Tính cả giai đoạn 2006 – 2016, xuất nhập khẩu đạt kim ngạch là 2.211,2 tỷ USD (tăng gấp 5,3 lần so với giai đoạn 1997 – 2006 trước đó) Tuy nhiên, giai đoạn chung này bao gồm cả quá trình thăng trầm của cán cân thương mại của Việt Nam Để thấy rõ hơn sự thăng trầm của cán cân thương mại trong thời gian này, có thể chia giai đoạn chung này làm hai giai đoạn nhỏ:
Từ năm 2006 đến 2012 là giai đoạn thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam
do giá trị nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu Giá trị nhập siêu tăng vọt từ 5,06 tỷ USD năm 2006 lên mức 9,84 tỷ USD năm 2011 Sở dĩ nhập siêu trong giai đoạn này là
do một số nguyên nhân như nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị để phục vụ cho sản xuất tăng cao, khả năng cạnh tranh trong sản xuất để xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước còn yếu Tuy nhiên từ năm 2009 – 2011 nhập siêu của Việt Nam có xu hướng giảm dần mặc dù vẫn còn ở mức cao
Từ năm 2012 đến nay, cán cân thương mại bắt đầu thặng dư ở mức 0,75 tỷ USD vào năm 2012 và tăng đột biến lên đến 2,37 tỷ USD vào năm 2014 Năm 2015, cán cân thương mại lại rơi vào thâm hụt với con số 3,55 tỷ USD chủ yếu là do thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc lấn át thặng dư thương mại giữa Việt Nam và các nước EU và Mỹ Đến năm 2016, cán cân thương mại bất ngờ đổi chiều và đạt thặng dư cao nhất trước đến nay với 2,52 tỷ USD Cán cân thương mại thặng dư trong giai đoạn 2012 – 2014 và năm 2016 là nhờ xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng vọt kết hợp với việc giảm nhập khẩu của các khu vực kinh tế trong nước
2.1.1 Thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam
Thị trường xuất khẩu của Việt Nam (Hình 2.2)
Năm 2016 được xem là một năm đánh dấu cột mốc thặng dư cán cân thương mại của Việt Nam trong suốt 10 năm qua với kim ngạch xuất khẩu đạt 176,63 tỷ USD, tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á với kim ngạch hơn 85,28 tỷ USD, chiếm 48,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả năm Trong đó thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng 12,4%; Nhật Bản chiếm tỷ trọng 8,3% và Hàn Quốc chiếm tỷ trọng 6,5% Đây là ba thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam tại Châu Á
Trang 35Thị trường Châu Mỹ đạt kim ngạch hơn 47,38 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 26,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong đó Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại khu vực này với kim ngạch hơn 38,46 tỷ USD; chiếm tỷ trọng 21,78% Trong khi đó, Châu Âu chiếm tỷ trọng thấp hơn (21,4%) với kim ngạch gần 37,84 tỷ USD; riêng thị trường EU (bao gồm 28 nước) chiếm đến 19,2% với giá trị đạt 33,97 tỷ USD và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam sau Hoa Kỳ Các con
số trên cho thấy, EU là một thị trường xuất khẩu quan trọng và tiềm năng của Việt Nam
Hình 2.2: Top các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2016
(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2016)
Thị trường nhập khẩu của Việt Nam (Hình 2.3)
Tương tự xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam năm 2016 vẫn chủ yếu từ thị trường Châu Á, Châu Mỹ và Châu Âu Hình 3.4 cho thấy kim ngạch nhập khẩu từ Châu Á đạt hơn 140,76 tỷ USD, tăng 4,5% so với năm trước, và chiếm tỷ trọng 80,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước Trong đó, thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc với kim ngạch gần 49,93 tỷ USD, tăng 0,9%, và chiếm tỷ trọng 28,7%; Hàn Quốc đứng thứ 2 đạt kim ngạch 32,03 tỷ USD, tăng 15,9%, chiếm tỷ trọng 18,4% Châu Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam với kim ngạch gần 14,5 tỷ USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước Trong khi đó thị trường EU (28 nước) đạt kim ngạch hơn 11,07 tỷ USD, tăng 6,18%, chiếm tỷ trọng 6,4% trong
Trung Quốc12%
Nhật Bản8%
Hàn Quốc7%
Hoa Kỳ22%
EU19%
Châu Á21%
Châu Mỹ5%
Châu Âu2%
Châu Đại Dương2%
Châu Phi2%
Trang 36tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước Khác với xuất khẩu (thị trường EU lớn thứ hai của Việt Nam đối với xuất khẩu), châu Âu không phải là nhà cung ứng quan trọng đối với các sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam nói chung
Hình 2.3: Top các thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2016
(Nguồn: Tổng cục Hải quan, năm 2016) 2.1.2 Các ngành xuất nhập khẩu chủ lực của Việt Nam
Các ngành hàng xuất khẩu chủ lực (Hình 2.4)
Các nhóm hàng xuất khẩu đóng vai trò chủ lực trong nước vẫn là các nhóm hàng truyền thống Đứng đầu là nhóm dệt may và giày dép (hơn 26,84 tỷ USD, chiếm 29%) chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp trong nước thông qua phương thức sản xuất chủ yếu là gia công Kế tiếp là nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện (gần 34,32 tỷ USD, chiếm 27,1%), đây là nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu từ khu vực doanh nghiệp FDI Tiếp theo là nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (gần 18,96 tỷ USD, chiếm khoảng 15%) Nhóm hàng thủy sản đạt kim ngạch 7,05 tỷ USD, chiếm 5,6% Nhóm hàng cà phê đạt 4,59 tỷ USD chiếm tỷ trọng 2,6% Cụ thể như sau:
Trung Quốc29%
Hàn Quốc18%
Nhật Bản9%
Châu Á25%
EU7%
Châu Mỹ8%
Châu Âu1%
Thị trường khác3%
Trang 37Hình 2.4: Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa năm 2016
(Nguồn: Tổng cục Hải quan, năm 2016) Điện thoại và linh kiện: đạt gần 34,32 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm trước Việt Nam xuất khẩu sản phẩm này trong năm 2016 chủ yếu đến các thị trường lớn trên thế giới như: thị trường EU (28 nước) với kim ngạch đạt gần 11,24 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước; Hoa Kỳ đạt kim ngạch hơn 4,3 tỷ USD, tăng 55,5%; Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đạt kim ngạch 3,83 tỷ USD, giảm 14,5%; thị trường ASEAN đạt gần 2,27 tỷ USD, tăng 6,2%;
Hàng dệt may: đạt hơn 23,84 tỷ USD, tăng 4,6% so với năm trước Thị trường nhập khẩu hàng dệt may từ Việt Nam trong năm 2016 lớn nhất là Hoa Kỳ với kim ngạch hơn 11,45 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; đứng thứ 2 là thị trường EU (28 nước) đạt kim ngạch hơn 3,56 tỷ USD, tăng 2,7%; thị trường Nhật Bản đạt kim ngạch hơn 2,9 tỷ USD, tăng 4,2%;
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: đạt kim ngạch 18,96 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm trước tương đương tăng 3,35 tỷ USD Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong năm với 4,1 tỷ USD, tăng 47,2%; tiếp theo là EU đạt 3,73 tỷ USD, tăng 16,5%; sang Hoa Kỳ đạt 2,89 tỷ USD, tăng 2,05%; sang Hà Lan đạt 1,75 tỷ USD, tăng mạnh 53,5% so với năm trước
Trang 38Giày dép các loại: đạt 13 tỷ USD, tăng 8,3% so với năm trước Xuất khẩu giày dép các loại sang Hoa Kỳ đạt 4,48 tỷ USD tăng gần 10%, sang EU đạt 4,22 tỷ USD tăng 3,51%; sang Trung Quốc đạt 905 triệu USD tăng 20% so với năm 2015
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác: đạt hơn 10,14 tỷ USD, tăng 24,3%
so với cùng kỳ năm trước Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác từ Việt Nam năm
2016 chủ yếu được xuất khẩu sang: Hoa Kỳ với kim ngạch gần 2,13 tỷ USD, tăng 27,2%; Nhật Bản đạt hơn 1,56 tỷ USD, tăng 10,9%; thị trường EU (28 nước) đạt hơn 1,29 tỷ USD, tăng 29,4%;
Hàng thủy sản: đạt 7,05 tỷ USD, tăng 7,4%, tương ứng tăng 484 triệu USD so với năm trước Hàng thủy sản chủ yếu được xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 1,44
tỷ USD, tăng 9,7%; sang EU đạt 1,2 tỷ USD, tăng 3,6%; sang Nhật Bản 1,1
tỷ USD, tăng 6,2%; sang Trung Quốc đạt 685 triệu USD, tăng 53%
Gỗ và sản phẩm gỗ: đạt gần 6,97 tỷ USD, tăng 1,1% so với năm trước Gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu trong năm 2016 chủ yếu sang: thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch gần 2,83 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; thị trường Trung Quốc với kim ngạch hơn 1,02 tỷ USD, tăng 4,7%; thị trường Nhật Bản đạt 981 triệu USD; giảm 5,9%;
Cà phê: đạt 4,59 tỷ USD, tăng 24,7% so với năm trước Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam Cụ thể, xuất sang Đức 275.679 tấn, đạt 493,8 triệu USD (chiếm 15,5% về lượng và chiếm 14,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước); xuất sang Hoa Kỳ 237.195 tấn, thu về gần 450 triệu USD (chiếm 13,3% về lượng và chiếm 13,5% kim ngạch)
Các ngành hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam (Hình 2.5)
Nhóm hàng nhập khẩu đứng đầu là các nhóm hàng hóa trung gian phục vụ cho sản xuất như nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (hơn 28,37 tỷ USD, chiếm 25,6%); tiếp theo là là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 27,87 tỷ USD, chiếm 25,2%); điện thoại các loại và linh kiện (hơn 10,56 tỷ USD, chiếm 9,5%); vải các loại (hơn 10,48 tỷ USD, chiếm 9,5%); …
Trang 39Hình 2.5: Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2016
(Nguồn: Tổng cục Hải quan, năm 2016)
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng khác: đạt hơn 28,37 tỷ USD, tăng 2,9%
so với năm trước, trở thành nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất Các thị trường cung cấp máy móc thiết bị cho Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu gồm: Trung Quốc với kim ngạch gần 9,28 tỷ USD, tăng 2,8% so với năm trước; Hàn Quốc đạt 5,83
tỷ USD, tăng 14,1%; Nhật Bản đạt gần 4,17 tỷ USD, giảm 7,5%;
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: đạt hơn 27,87 tỷ USD, tăng 20,5%
so với năm trước Năm 2016 máy vi tính, sản phẩm điện và linh kiện chủ yếu được nhập khẩu từ: Hàn Quốc với kim ngạch hơn 8,67 tỷ USD, tăng 28,8% so với năm trước; Trung Quốc đạt gần 5,92 tỷ USD, tăng 13,7%; Đài Loan đạt gần 3,16 tỷ USD, tăng 44,1%; Nhật Bản đạt gần 2,81 tỷ USD, tăng 23,7%;
Điện thoại các loại và linh kiện: đạt gần 10,56 tỷ USD, giảm 0,3% so với năm trước Nhóm hàng này trong năm 2016 chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với hơn 6,14 tỷ USD, giảm 11% so với năm trước; Hàn Quốc đạt gần 3,58 tỷ USD, tăng 18,4%;
Nguyên phụ liệu (bao gồm: vải các loại; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy; xơ, sợi dệt cá lại; bông các loại: đạt gần 18,82 tỷ USD, tăng 2,9% so với năm trước Chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với kim ngạch hơn 8,02 tỷ USD, tăng 5,3% so với
Trang 40cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt gần 2,92 tỷ USD, tăng 3%; Đài Loan đạt 2,28 tỷ USD, giảm 2,3%;
Sắt thép các loại: đạt gần 18,37 triệu tấn, trị giá gần 4,81 tỷ USD, tăng 26,7%
về lượng và 13,5% về trị giá so với năm trước Chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với 10,85 triệu tấn, trị giá hơn 4,45 tỷ USD, tăng 14,25% về lượng và 7,1% về trị giá so với năm trước; Nhật Bản đạt gần 2,64 triệu tấn, trị giá gần 1,19 tỷ USD, tăng 2,2% về lượng và 6,4% về trị giá; Hàn Quốc đạt hơn 1,8 triệu tấn, trị giá gần 1,01 tỷ USD, tăng 3,16% về lượng và giảm 3,37% về trị giá;
Xăng dầu các loại: đạt gần 11,86 triệu tấn, trị giá hơn 4,94 tỷ USD, tăng 18%
về lượng, tuy nhiên giảm 7,3% về trị giá so với năm trước Xăng dầu các loại trong năm 2016 chủ yếu được nhập khẩu từ Thái Lan với hơn 1,5 triệu tấn, trị giá 638 triệu USD, giảm 33,5% về lượng và 44,9% về trị giá so với năm trước; Trung Quốc với hơn 1,04 triệu tấn, trị giá 451 triệu USD, giảm 40,3% về lượng và 51% về trị giá;
2.2 Tình hình thương mại giữa Việt Nam và EU
Theo Vụ trường châu Âu (2016), EU vẫn là khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và châu Âu, đạt 74,7% kim ngạch xuất nhập khẩu sang thị trường châu Âu Trong những năm qua, quan hệ thương mại Việt Nam - EU
đã phát triển rất nhanh chóng và hiệu quả Trong vòng 17 năm từ năm 2000 đến năm
2016, kim ngạch thương mại Việt Nam – EU đã tăng hơn 10 lần, từ mức 4,1 tỷ USD năm 2000 lên 45,1 tỷ USD năm 2016; trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào EU tăng
12 lần (từ 2,8 tỷ USD lên 33,9 tỷ USD) và nhập khẩu vào Việt Nam từ EU tăng 8 lần (1,3 tỷ USD lên 11,1 tỷ USD) Cán cân thương mại trong giai đoạn này được cải thiện
từ 1,52 tỷ USD vào năm 2000 lên đến 22,83 tỷ USD vào năm 2016, tăng gấp 14 lần trong 17 năm Chi tiết số liệu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU được thể hiện trong Bảng 1 (Phụ lục)
2.2.1 Ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam sang EU
Từ trước đến nay, các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU chủ yếu là các sản phẩm truyền thống có thế mạnh như: hàng dệt may; giày dép; thủy sản; máy móc thiết bị, linh kiện; cà phê; đồ gỗ, … với giá trị thương mại lớn Cụ thể, trong năm 2016 kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đến từ ngành dệt may (HS 61,