1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Luật Tài chính: Phân tích các đặc trưng của thuế và liên hệ với thực tiễn. Từ những đặc trưng của thuế, so sánh thuế với lệ phí. Chứng minh thuế môn bài (trước đây) có bản chất là lệ phí (theo Luật Phí và lệ phí hiện hành)

14 40 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 33,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử, là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế xã hội khác. Sự xuất hiện , phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế xã hội ấy. Ở Việt Nam, cùng với quá trình phát triển của đời sống kinh tế xã hội, hệ thống pháp luật thuế được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Pháp luật thuế có hệ thống quy phạm phức tạp, chi tiết, thường xuyên được sửa đổi, thay thế, bổ sung để đáp ứng yêu cầu của nhà nước và phù hợp với đời sống thực tiễn. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số nhầm lẫn giữa các khái niệm, thuật ngữ pháp luật cơ bản. Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, bài tiểu luận lựa chọn đề tài số 8 : “Phân tích các đặc trưng của thuế và liên hệ với thực tiễn. Từ những đặc trưng của thuế, so sánh thuế với lệ phí. Chứng minh thuế môn bài (trước đây) có bản chất là lệ phí (theo Luật Phí và lệ phí hiện hành)”. 

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I/ Phân tích các đặc trưng của thuế và liên hệ với thực tiễn 2

1 Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách 2

2 Thuế gắn với yếu tố quyền lực 3

3 Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp 3

II/ So sánh thuế với lệ phí 4

1 Sự giống nhau 4

2 Sự khác nhau 4

III/ Chứng minh thuế môn bài (trước đây) có bản chất là lệ phí (theo Luật Phí và lệ phí hiện hành) .6

1 Nội dung cơ bản về thuế môn bài 6

2 Thuế môn bài có bản chất là lệ phí 7

3 Lệ phí môn bài 8

KẾT LUẬN 10

PHỤ LỤC 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

MỞ ĐẦU

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử, là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế - xã hội khác Sự xuất hiện , phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế xã hội ấy Ở Việt Nam, cùng với quá trình phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật thuế được hình thành và ngày càng hoàn thiện Pháp luật thuế có hệ thống quy phạm phức tạp, chi tiết, thường xuyên được sửa đổi, thay thế, bổ sung để đáp ứng yêu cầu của nhà nước và phù hợp với đời sống thực tiễn Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số nhầm lẫn giữa các khái niệm, thuật ngữ pháp luật cơ bản Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, bài tiểu

luận lựa chọn đề tài số 8 : “Phân tích các đặc trưng của thuế và liên hệ với thực tiễn Từ những đặc trưng của thuế, so sánh thuế với lệ phí Chứng minh thuế môn bài (trước đây) có bản chất

là lệ phí (theo Luật Phí và lệ phí hiện hành)”

Trang 3

NỘI DUNG I/ Phân tích các đặc trưng của thuế và liên hệ với thực tiễn

Về định nghĩa, thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định Nhìn chung, thuế luôn mang những đặc trưng nhất định sau:

1 Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách

Đặc tính bắt buộc của thuế là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt thuế với các khoản thu trên cơ sở tự nguyện hình thành nên ngân sách nhà nước Điều này có ý nghĩa pháp

lý quan trọng khi ban hành pháp luật về thuế và chi phối phương pháp thực hiện thu thuế của các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Tính bắt buộc của thuế thể hiện dưới hai khía cạnh sau:

Đối với người nộp thuế:

Đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn tránh hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp nhận Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế

Đối với cơ quan thu thuế:

Khi thay mặt nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đối xử đối với người nộp thuế Điều này được thể hiện rõ ràng trong khoản 1, Điều 8, Luật Quản lý thuế năm 2006 về trách

nhiệm của cơ quan quản lý thuế: “Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật”, lấy

pháp luật làm căn cứ duy nhất để thực hiện, không được quyền lựa chọn đối tượng chịu thuế, căn

cứ tính thuế…

Tính bắt buộc của thuế có mối quan hệ mặt thiết với tính không hoàn trả Do thuế không

có tính hoàn trả, về lý thuyết, khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vi chuyển giao một khối lượng tài sản cho nhà nước và chắc chắn sẽ không nhận lại được chúng trong tương lai Vì

Trang 4

vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, cần thiết phải sử dụng biện pháp bắt buộc như là một thuộc tính cơ bản của thuế

2 Thuế gắn với yếu tố quyền lực

Tính quyền lực của thuế xuất phát bởi lí do xuất hiện các khoản thu về thuế của nhà nước Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Thuế là biện pháp chủ yếu của nhà nước để điều tiết hoặc can thiệp vào nền kinh tế Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế Các yếu tố như đối tượng nộp thuế, thuế suất… được quy định trước và mang tính ổn định trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước

Tại Việt Nam, thuế do Quốc hội lập ra dưới hình thức là một đạo luật – hình thức văn bản

có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập pháp đặt ra Ngoài ra, thuế còn được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 200, Bộ luật

Hình sự 2015, sửa đổi 2017: “1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng

đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251,

253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì

bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

…” Qua đó, nhà nước đã gián tiếp đảm bảo tính ổn định trong việc xác đinh nguồn thu nhập tài

chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế

3 Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp

Thuế không phải là một khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía nhà nước Bất kì tổ chức, cá nhân nào khi đủ điều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được những lợi ích công cộng nào

Sự không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi

Trang 5

thu thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Kết quả của việc

sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công - những lợi ích không thể xác định chính xác theo giá trị vật chất Tuy nhiên, kết quả các những sản phẩm do nhà nước sử dụng các khoản thu từ thuế lại được thụ hưởng bởi chính những đối tượng nộp thuế, đó là sự bình yên xã hội, sự phát triển và thịnh vượng, chế độ phúc lợi công cộng… Nói cách khác, người nộp thuế được hoàn trả một cách gián tiếp những khoản tiền nộp cho nhà nước

II/ So sánh thuế với lệ phí

1 Sự giống nhau

Thuế và lệ phí có một số điểm tương đồng sau:

 Thuế và lệ phí đều là nguồn thu chủ yếu, thường xuyên của ngân sách nhà nước

 Thuế và lệ phí đều gắn với quyền lực nhà nước, mang tính chất pháp lý cao

 Thuế và lệ phí đều là những công cụ phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của nhà nước, góp phần thực hiện công bằng xã hội

2 Sự khác nhau

Định nghĩa

Khoản thu nộp mang tính bắt buộc

mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định

Khoản thu được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí

Trang 6

Cơ sở pháp lý

Được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật có hiệu lực pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành là Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự ban hành chặt chẽ (Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết)

Được điều chỉnh bởi những văn bản dưới luật (Nghị định, Quyết định), do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

có thẩm quyền ban hành

Tính đối giá

Không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp

Mang tính đối giá rõ ràng và hoàn trả trực tiếp

Tính bắt buộc

Mang tính bắt buộc đối với cả người nộp thuế và cơ quan thu thuế

Chỉ bắt buộc khi chủ thể nộp lệ phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ

do Nhà nước cung cấp

Chủ thể nộp

Tổ chức, cá nhân thuộc diện nộp thuế

Tổ chức, cá nhân thụ hưởng dịch

vụ, hàng hóa hoặc công việc quản

lý hành chính

Chủ thể thu

Cơ quan thuế, cơ quan hải quan, Uỷ ban nhân dân,

Cơ quan, đơn vị cung cấp các dịch

vụ gắn với chức năng quản lý nhà nước

Trang 7

Vai trò

Thuế là khoản thu chủ yếu, quan trọng, chiếm trên 90% các khoản thu cho Ngân sách nhà nước Thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia

Lệ phí là khoản thu phụ, không đáng kể, được đặt ra để giúp nhà nước thu hồi lại một phần các chi phí đã bỏ ra cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng cho

xã hội

Phạm vi

áp dụng

Không có giới hạn, không có sự khác biệt giữa các đối tượng, các vùng lãnh thổ

Mang tính địa phương, địa bàn rõ ràng

III/ Chứng minh thuế môn bài (trước đây) có bản chất là lệ phí (theo Luật Phí và lệ phí hiện hành)

1 Nội dung cơ bản về thuế môn bài

Về định nghĩa, thuế môn bài là một sắc thuế trực thu và thường là định ngạch đánh vào giấy phép kinh doanh (môn bài) của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh Thuế môn bài được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh sửa đổi một số điều về thuế Công thương nghiệp của Hội đồng nhà nước ngày 26 tháng 2 năm 1983 Cụ thể, Điều 1 của pháp lệnh này sửa đổi Điều 3 của Điều

lệ thuế công thương nghiệp ban hành theo Nghị quyết số 200 NQ/TVQH ngày 18 tháng 1 năm

1966 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

“Thuế công thương nghiệp nói trong Điều lệ này gồm có thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức doanh nghiệp, thuế buôn chuyến và thuế môn bài.

Các tổ chức và cá nhân kinh doanh thường xuyên thì nộp thuế doanh nghiệp và thuế lợi tức doanh nghiệp.

Trang 8

Các tổ chức và các nhân buôn từng chuyến hàng thì nộp thuế buôn chuyến.

Các tổ chức và cá nhân kinh doanh thường xuyên hoặc buôn từng chuyến hàng đều phải nộp thuế môn bài.”

Đối tượng nộp thuế môn bài ban đầu là tất cả các hợp tác xã, tổ chức hợp tác và hộ riêng

lẻ sản xuất tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, làm nghề vận tải, nghề kiến trúc, kinh doanh ngành phục vụ, ngành ăn uống, ngành thương nghiệp và kinh doanh nông nghiệp mà điều lệ thuế nông nghiệp hiện hành quy định không phải nộp thuế nông nghiệp Sau đó, Hội đồng Nhà nước ban hành Quyết định số 473/NQ-HĐNN về thuế môn bài và thuế sát sinh quy định đối tượng nộp thuế môn bài bao gồm cả tổ chức kinh tế quốc doanh

2 Thuế môn bài có bản chất là lệ phí

Sự so sánh giữa thuế và lệ phí đã cho chúng ta cái nhìn rõ ràng hơn về những điểm khác biệt cốt lõi giữa hai khoản thu này Cũng từ đó, chúng ta nhận thấy thuế môn bài mang một sô đặc điểm cơ bản sau, khiến loại thuế này có bản chất giống với lệ phí:

Tính đối giá:

Đặc điểm này của thuế môn bài được thể hiện là tổ chức, cá nhân phải trả một khoản tiền, khi nhận được sự phục vụ của Nhà nước Về bản chất, khoản thu từ thuế môn bài chính là khoản tiền nhằm bù đắp lại một phần chi phí, để Nhà nước tiến hành cung cấp dịch vụ công , không nhằm mục đích lợi nhuận Theo đó, thuế môn bài về bản chất là một phần giá của dịch vụ quản

lý, kiểm kê, kiểm soát số lượng cơ sở có hoạt động kinh doanh trong năm của Nhà nước Vì vậy, thuế môn bài có tính đối giá

Tính hoàn trả trực tiếp:

Tính hoàn trả trực tiếp của thuế môn bài được thể hiện là sau khi nộp thuế thì tổ chức, cá nhân sẽ được Nhà nước phục vụ, hay nói khác là một bên trả tiền còn một bên cung cấp dịch vụ Đây là quan hệ song vụ, mà việc nộp thuế môn bài là nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân với Nhà nước, còn nghĩa vụ của Nhà nước là cung cấp dịch vụ vụ quản lý, kiểm kê, kiểm soát số lượng cơ

sở có hoạt động kinh doanh trong năm Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế môn bài

là sự bù đắp chi phí quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, đem lại lợi ích trực tiếp cho

tổ chức, cá nhân - sự bảo đảm quyền kinh doanh của các chủ thể Vì vậy, thuế môn bài có tính hoàn trả trực tiếp

Trang 9

Những phân tích trên đã chứng minh thuế môn bài mang tính đối giá và tính hoàn trả trực tiếp Đây chính là những đặc điểm cơ bản của lệ phí, phân biệt rõ ràng với thuế Do đó, nhận định thuế môn bài có bản chất là lệ phí hoàn toàn có cơ sở và chính xác

3 Lệ phí môn bài

Trên thực tế, Luật phí và lệ phí đã được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua và

có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 Danh mục các loại phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí đã bao gồm lệ phí môn bài thay cho thuế môn bài hiện nay Bên cạnh đó, Nghị định 139/2016/NĐ – CP cũng được ban hành quy định về lệ phí môn bài Việc chuyển tên gọi như trên hoàn toàn phù hợp với định hướng chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020: Thuế, phí, lệ phí là nguồn thu cho ngân sách nhà nước, được Nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng của mình Việc đảm bảo những nguồn thu này có ý nghĩa sống còn đối với mỗi quốc gia Đặc biệt, phù hợp với các quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 nhằm tập trung kịp thời đầy đủ nguồn thu từ phí, lệ phí vào ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, xác định lệ phí môn bài là khoản thu để tiếp tục tăng cường phân cấp cho chính quyền địa phương trong việc thu, quản lý, sử dụng nguồn thu này một cách hiệu quả và hợp lý Việc chuyển thuế môn bài thành lệ phí môn bài không những phù hợp với chiến lược cải cách thuế mà còn tạo ra tính đồng bộ, thống nhất cho hệ thống pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quản lý thu ngân sách nhà nước

Đối tượng nộp lệ phí môn bài vẫn bao gồm:

 Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;

 Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;

 Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;

 Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;

 Tổ chức khác hoạt động sản xuất, kinh doanh;

 Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của các tổ chức này (nếu có);

 Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh

Tuy nhiên, Điều 3 Nghị định số 139/2016/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các đối tượng được miễn lệ phí môn bài với phạm vi rộng hơn các đối tượng được miễn Thuế môn bài trước đây Cụ thể như sau:

“Các trường hợp được miễn lệ phí môn bài, gồm:

Trang 10

1 Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống.

2 Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh không thường xuyên; không có địa điểm cố định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

3 Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất muối.

4 Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.

5 Điểm bưu điện văn hóa xã; cơ quan báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử).

6 Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã hoạt động dịch vụ

kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp.

7 Quỹ tín dụng nhân dân xã; hợp tác xã chuyên kinh doanh dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp; chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã và của doanh nghiệp tư nhân kinh doanh tại địa bàn miền núi Địa bàn miền núi được xác định theo quy định của Ủy ban Dân tộc”.

Ngày đăng: 11/06/2021, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w