1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của c mác ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay

33 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của c mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 169,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công thức chung của tư bản thương nghiệp: mà họ đã bóc lột từ sức lao động làm thuê cho các nhà tư bản thương nghiệp để hàng hóa của mình được lưu thông.. Lúc này họ cũng đã có thêm mộ

Trang 1

Tiểu luận

Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác Ý nghĩa của nó đối

với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay

Trang 2

Phần 1: LỜI MỞ ĐẦU

Trong mọi nền kinh tế, sự gia tăng tư bản và giá trị thặng dư luôn là quan tâmhàng đầu của các nhà tư bản, để đi đến những mục tiêu đó, thì tuần hoàn vàchu chuyển tư bản chính là những định hướng cơ bản mà nền kinh tế phải dựavào Lựa chọn đề tài “ Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác Ýnghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay ’’ làdựa trên một số lý do sau:

-Thứ nhất, tuần hoàn và chu chyển là điều kiện để tư bản lớn lên và đồng thờitạo ra giá trị thặng dư nhờ đó mà nền kinh tế mới phát triển được

-Thứ hai, tuần hoàn và chu chuyển giống như một con đường mà bất kỳ mộtnhà tư bản nào muốn tồn tại và phát triển thì buộc phải đi Vì chỉ khi hiểuđược bản chất, những điều kiện và các yếu tố liên quan đến quá trình lưuthông thì người ta mới có thể tham gia vào quá trình sản xuất và tạo ra giá trịthặng dư

-Thứ ba, ngày nay nền kinh tế chịu nhiều yếu tố tác động về mọi mặt Vì vậy,việc bám sát vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển có thể giúp cho các nhà tưbản có thể phát triển dây truyền sản xuất, định hướng và hoạch định chiếnlược một cách đúng đắn và phù hợp hơn Nhờ đó mới có thể đứng vững vàtạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển

-Thứ tư, từ việc lấy ví dụ thực tế về vấn đề huy động và sử dụng vốn của nước

ta hiện nay trong những năm gần đây sẽ góp phần hiểu rõ hơn về ý nghĩa lýluận tuần hoàn và chu chuyển tuần hoàn của C.Mác Thêm vào đó đây là mộtvấn đề rất nhạy cảm hiện nay vì để thực hiện điều này thì đòi hỏi sự nhạy bén

và sự đúng đắn cao độ nếu không sẽ rất dễ dẫn đến những hậu quả khônlường Từ những kết quả trong thực tế cho thấy: Nếu sử dụng hợp lý nó sẽ gópphần không nhỏ đến sự phát triển chung của nền kinh tế Ngược lại, nếu

Trang 3

không biết cách khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn có thể dẫn đếnnhững sai lần ngiêm trọng gây thất thoát nguồn tài chính quý báu đồng thờicũng ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác .

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu về tuần hoàn và chu chuyển tư bản là một yếu tốcần thiết cho tiền đề phát triển của nền sản suất nói riêng và nền kinh tế nóichung, điều này góp phần làm cho mọi người hiểu rõ hơn một phần nào đó vềquá trình lưu thông của tư bản và giá trị thặng dư

Bài thảo luận dựa vào phương pháp tìm hiểu, thống kê, phân tích số liệutrong thực tế, cùng với phân tích những luận điểm trong giáo trình nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số sách tham khảo khác.Trong bài làm còn có nhiều sai sót rất mong có sự đóng góp thêm của tất cảcác bạn và cô giáo

Trang 4

Phần 2: Cơ sở lý thuyết 1.TIỀN VÀ SỰ CHUYỂN HÓA CỦA TIỀN THÀNH TƯ BẢN.

1.1 Sự ra đời của tiền

Khi nền kinh tế thị trường phát triển, con người có nhu cầu trao đổi hànghóa với nhau Lúc đầu người ta trao đổi một cách rất ngẫu nhiên với nhaubằng các vật ngang giá, nhưng càng về sau, khi lực lượng sản xuất và phâncông lao động phát triển cao, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mởrộng, hàng hóa vô cùng nhiều về số lượng, phong phú, đa dạng về chủng loạimẫu mã Lúc này để trao đổi hàng hóa thì xuất hiện rất nhiều vật ngang giáchung làm cho sự trao đổi giữa các địa phương, các vùng miền trở nên hết sứckhó khăn dẫn đến đòi hỏi một khách quan là cần phải có một vật ngang giáchung nhất Và khi vật ngang giá chung nhất này xuất hiện, chiếm vị trí độctôn, là vật để đánh giá mọi mức độ giá trị của các vật khác thì vật ngang giá

đó được coi là tiền

Đã có nhiều loại tiền trên khắp thế giới nhưng về sau được cố định lại ở haikim loại quý là bạc, vàng và cuối cùng là vàng Sở dĩ bạc và vàng đóng vai tròtiền tệ là do những ưu điểm của nó như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ,không hư hỏng, với một lượng nhỏ nhưng chứa đựng giá trị lớn

Về bản chất, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giớihàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thểhiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hànghóa

1.2 Công thức chung của tư bản

Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hìnhthức biểu hiện đầu tiên của tư bản Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hìnhthái một số tiền nhất định Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản Tiền chỉ

Trang 5

biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng đểbóc lột lao động của người khác.

Tiền được coi là tư bản vận động theo công thức: T H T ( tiền hàng tiền), tức là sự chuyển hóa của tiền thành hàng hóa, rồi hàng hóa lại chuyểnhóa ngược lại thành tiền

-Nhìn vào công thức chung của tư bản ta thấy có hai sự vận động, do hai giaiđoạn đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hainhân tố vật chất đối diện nhau là tiền và hàng tạo thành, hai người có quan hệkinh tế với nhau là người mua và người bán

Lưu thông của tư bản bắt đầu từ việc mua (T - H) và kết thúc bằng việc bán(H - T) Trong đó tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc của quátrình, hàng hóa chỉ đóng vai trò trung gian; tiền ở đây không được chi ra dứtkhoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về

Mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơnthế nữa là giá trị tăng thêm Vì vậy nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra thì

vô nghĩa Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vậnđộng đầy đủ của tư bản là T - H - T’, trong đó T’= T + ΔT Số tiền trội hơn soT Số tiền trội hơn sovới số tiền ứng ra gọi là giá trị thặng dư Số tiền ban đầu đã chuyển hóa thành

tư bản

Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư Mục đính lưu thông tư bản là sựlớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không cógiới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn

1.3 Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.

Khi đưa tiền vào lưu thông, số tiền trở về tay người chủ sau khi kết thúcquá trình lưu thông tăng thêm một giá trị là T Vậy có phải do lưu thông đãlàm tăng thêm lượng tiền đó hay không?

Trang 6

Trong lưu thông ta xét 2 trường hợp trao đổi ngang giá và trao đổi khôngngang giá:

Nếu hàng hoá trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giátrị còn tổng số giá trị cũng như phần thuộc về mỗi bên trao đổi thì trước saucũng không thay đổi Về mặt giá trị sử dụng hai bên cùng có lợi còn về mặtgiá trị thì cả hai bên cùng không có lợi Như vậy trao đổi ngang giá thì không

ai thu được lợi từ lưu thông một lượng giá trị lớn đã bỏ ra

Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, nếu người bán bán hàng hóavới một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị của hàng hóa đó như vậy người bán

có được giá trị thặng dư Nhưng bù lại người mua lại bị mất đi một lượng giátrị đó Ngược lại, nếu người bán bán hàng hóa của anh ta với một lượng giá trịnhỏ hơn lượng giá trị thực của hàng hóa đó thì anh ta bị mất đi một lượng giátrị thặng dư và người mua của anh sẽ có được lượng giá trị thặng dư đó Trongmột vài trường hợp thì đây có thể coi là cách làm dầu lên của một số người, và

họ có được giá trị thặng dư thật trong lưu thông Những người giàu có lên kia

là do họ cướp đoạt giá trị thặng dư đó trên tay của người khác chứ không phải

họ tạo thêm ra từ sự bóc lột sức lao động của riêng ai Nhưng những ngườinày là quá ít, quá nhỏ bé trong xã hội, không thể đại diện cho một tầng lớpnào trong xã hội Hơn thế nữa nếu xét trên một tổng thể toàn thế giới thì lượnggiá trị thặng dư không thay đổi

Do đó dù khi trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không tạo

ra giá trị thặng dư Lưu thông hàng hoá không tạo ra giá trị thặng dư

Như vậy, liệu giá trị thặng dư có phát sinh ngoài lưu thông được không?Thực tế người sản xuất hàng hoá không thể biến tiền của mình thành tư bảnnếu không tiếp xúc với lưu thông

“Vậy tư bản không thể xuất hiện trong lưu thông và cũng không thể xuấthiện ở bên ngoài lưu thông nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời

Trang 7

không phải trong lưu thông” Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tưbản.

1.4 Các công thức của tư bản

- Công thức chung của tư bản công nghiệp:

Trong công thức chung của tư bản công nghiệp, cũng như công thức chungcủa tư bản, điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là tiền Mục đích của các nhà

tư bản công nghiệp ở đây là dùng tiền để mua hàng hóa gồm tư liệu sản xuất

và sức lao động rồi nhờ sức lao động mà họ mua để, làm thay đổi tư liệu sảnxuất làm ra một hàng hóa khác Và bán với một số tiền T’ lớn hơn số tiền đãmua vào ban đầu để lấy giá trị thặng dư

- Công thức chung của tư bản thương nghiệp:

mà họ đã bóc lột từ sức lao động làm thuê cho các nhà tư bản thương nghiệp

để hàng hóa của mình được lưu thông

Vậy lượng tiền hay giá trị thặng dư mà nhà tư bản thương nghiệp có đượccũng là giá trị thặng dư bóc lột được từ sức lao động của công nhân làm thuê

- Công thức chung của tư bản cho vay:

Trang 8

Các nhà tư bản cho vay dùng tiền của mình để cho người khác vay với một lãixuất họ cho là hợp lí rồi sau một thời gian họ sẽ thu lại được một khoản tiềnkhác lớn hơn khoản tiền họ bỏ ra Lúc này họ cũng đã có thêm một lượng giátrị thặng dư mới từ lượng tư bản mà họ đã bỏ ra.

Về bản chất, các nhà tư bản công nghiệp là người vay tiền của các nhà tư bảncho vay để lấy vốn đầu tư, sản xuất, có thể là mua thêm tư liệu sản xuất và sứclao động để tạo thêm ra giá trị thặng dư cho họ Các nhà tư bản công nghiệpnày muốn có thêm vốn để có thể có thêm nhiều giá trị thặng dư hơn thì họphải nhường một lượng tư bản nhất định cho tư bản cho vay Nói cách khác tưbản cho vay có được lượng giá trị thặng dư là nhờ sự bóc lột sức lao động củacác lao động làm thuê Lượng giá trị thặng dư đó thực chất là được bóc lột từcác công nhân lao động mà nhà tư bản công nghiệp đã thuê về

- Công thức chung của tư bản ngân hàng:

T - Ngân hàng - T’

Nhà tư bản ngân hàng là một nhà tư bản đặc biệt, họ là những người kinhdoanh một mặt hàng đặc biệt đó là tiền Tiền được họ bỏ ra thực hiện hai hoạtđộng đồng thời cùng xảy ra trong một lúc là cho các nhà tư bản công nghiệphay các nhà tư bản khác vay như một nhà tư bản cho vay, và đồng thời họcũng đi vay tiền của bất kì ai kể cả là các nhà tư bản hay các côngnhân, miễn là họ có tiền và sau một thời gian sẽ trả lại với một lượng lớnhơn Tư bản ngân hàng hoạt động theo kiểu vừa cho vay có lãi xuất vừa đi vay

có lãi xuất, và họ thu được giá trị thặng dư nhờ lãi xuất họ cho vay lớn hơn lãixuất họ đi vay

Các nhà tư bản khác tìm đến vay tiền của tư bản ngân hàng là để có thêm vốn

để sản xuất kinh doanh, họ cũng sẵn sàng nhường một phần giá trị thặng dư

mà mình kiếm được cho tư bản ngân hàng Những người có tiền khác cho nhà

tư bản ngân hàng vay cũng là để lấy một lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản

Trang 9

ngân hàng nhận được từ tư bản sản xuất Nhà tư bản ngân hàng nhận đượckhoản giá trị thặng dư lớn hơn khoản giá trị thặng dư mà họ phải trả chongười có tiền cho họ vay và họ vẫn có lãi.

- Công thức chung của tư bản kinh doanh ruộng đất:

T - Ruộng đất - T’

Nhà tư bản ruộng đất có ruộng đất và họ cho một nhà tư bản công nghiệp nào

đó thuê trong một thời gian để họ có điều kiện sản xuất, có thêm được giá trịthặng dư Nhưng bù lại, nhà tư bản công nghiệp đó phải nhượng lại một phầngiá trị thặng dư mà mình sản xuất ra được kiếm được từ việc bóc lột côngnhân làm thuê cho nhà tư bản kinh doanh ruộng đất Vậy suy cho cùng thìlượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản ruộng đất có cũng là lượng giá trị thặng

dư mà các lao động làm thuê bị bóc lột Nhà tư bản kinh doanh ruộng đất lúcnày trở thành người gián tiếp bóc lột các lao động làm thuê

2.TUẦN HOÀN CỦA TƯ BẢN

Tư bản công nghiệp trong quá trình tuần hoàn đều vận động theo côngthức:

Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giaiđoạn sản xuất

- Giai đoạn thứ nhất- giai đoạn lưu thông

Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất, để mua tư liệu sảnxuất và sức lao động

Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:

Trang 10

Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giaiđoạn này là mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệthành tư bản sản xuất.

- Giai đoạn thứ hai- giai đoạn sản xuất

Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản sản xuất (TBSX),

có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động

để sản xuất ra hàng hóa mà trong đó giá trị của nó có giá trị thặng dư Trongcác giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyếtđịnh nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bảnhàng hóa

- Giai đoạn thứ 3- giai đoạn lưu thông

H’- T’

Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chứcnăng là thực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra Trong giaiđoạn này, nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng Hànghóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền

Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bảntiền tệ đến đây mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện,tư bản quay trởlại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó, nhưng với số lượng lớn hơn trước

Sức lao động

Tư liệu sản xuất

Trang 11

Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuầnhoàn: tư bản ứng ra dưới hình thái tiền tệ và rồi đến khi quay trở về cũng dướihình thái tiền có kèm theo giá trị thặng dư Quá trình đó tiếp tục được lặp đilặp lại không ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản

Tư bản vận động qua 3 giai đoạn, qua mỗi giai đoạn tư bản tồn tại dướimột hình thức và làm trên một chức năng nhất định ở giai đoạn một tư bảntồn tại dưới hình thức tư bản tiền tệ mà chức năng của nó là mua hàng hoá Cụthể hơn chính là mua tư liệu sản xuất và sức lao động ở giai đoạn hai, tư bảntồn tại dưới hình thức tư bản sản xuất mà chức năng của nó là sản xuất ra giátrị thặng dư Cụ thể hơn ở giai đoạn này nhà tư bản sử dụng sức lao động tácđộng lên tư liệu sản xuất để tạo nên sản phẩm Lao động của công nhân làmthuê sẽ tạo ra một lượng sản phẩm mà nhà tư bản không phải trả bằng vậtngang giá đó là giá trị thặng dư ở giai đoạn ba tư bản tồn tại dưới hình thức tưbản hàng hoá chức năng của nó là thực hiện giá trị và giá trị thặng dư ở giaiđoạn này nhà tư bản đem hàng hoá ra thị trường bán, trong hàng hoá côngnhân làm thêm Nhà tư bản đem về giá trị bán được lớn hơn lượng giá trị bỏ raban đầu

Từ quá trình vận động của nhà tư bản ta rút ra định nghĩa về sự tuần hoàncủa tư bản

Tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giaiđoạn, lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau

để rồi lại quay về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư

Vậy quá trình tuần hoàn của tư bản là sự thống nhất giữa lưu thông vàsản xuất, nó bao hàm cả hai Trong những khâu, những giai đoạn nhất định nóthực hiện một chức năng nhất định Giai đoạn I và giai đoạn III sự vận độngcủa tuần hoàn diễn ra trong lưu thông ở hai giai đoạn này nó thực hiện chức

Trang 12

năng mua các yếu tố sản xuất và bán hàng hoá có chứa đựng cả giá trị thặng

Giai đoạn II diễn ra trong sản xuất, thực hiện chức năng sản xuất giá trị

và giá trị thặng dư Giai đoạn II mang tính chất quyết định và chỉ trong giaiđoạn này mới sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Nhưng cũng không vì vậy

mà ta phủ nhận vai trò của lưu thông vì nếu không có lưu thông việc sản xuấthàng hoá sẽ bị đình trệ, chúng ta không thể nào tái sản xuất tư bản chủ nghĩa

do đó tư bản cũng không tồn tại được

Tư bản chỉ có thể tuần hoàn một cách bình thường trong điều kiện cácgiai đoạn phải kế tiếp nhau liên tục, không ngừng Nếu mà gián đoạn ở đâu thì

sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tuần hoàn của tư bản Mặt khác tư bảncũng chỉ tuần hoàn một cách bình thường nếu tất cả tư bản của các nhà tư bảnphải tồn tại ở ba hình thức: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá,

và một bộ phận thứ ba là tư bản hàng hoá phải biến thành tư bản tiển tệ.Không chỉ từng tư bản cá biệt mới thế mà điều này đòi hỏi tất cả các tư bảntrong xã hội cũng phải thế Các tư bản không ngừng vận động, không ngừngtrút bỏ hình thức này để mang hình thức khác, thông qua quá trình vận độngnày tư bản lớn lên

3.CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN

Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới

và lặp đi lặp lại, chứ không phải là một quá trình cô lập riêng lẻ thì gọi là chuchuyển của tư bản Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khácnhau tùy theo thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của hàng hóa

Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi tư bản

ứng ra dưới một hình thức nhất định (tiền tệ, sản xuất, hàng hoá) cho đến khi

nó trở về tay nhà tư bản do cùng dưới hình thức như thế nhưng có thêm giá trị

Trang 13

thặng dư Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thờigian lưu thông.

Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất

Thời gian sản xuất gồm thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động vàthời gian dự trữ sản xuất Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tácđộng của nhiều yếu tố như :

- Tính chất của ngành sản xuất, như ngành đóng tài thời gain sản xuấtnhất định phải dài hơn ngành dệt vải, dệt thảm trơn ngắn hơn dệt thảmtrang trí hoa văn

- Quy mô hoặc chất lượng sản phẩm, như xây dựng một xí nghiệp mấtthời gian dài hơn xây dựng một nhà ở thông thường

- Thời gian vật sản xuất chịu tác động của quá trình tự nhiên dài hayngắn

- Năng suất lao động

- Dự trữ sản xuất đủ hay thiếu

- V.v…

Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông.

Trong thời gian lưu thông , tư bản không làm chức năng sản xuất , do đókhông sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư Thờigian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa Thời gian lưuthông dài hay ngắn là do các nhân thố sau đây quy định: thị trường xa haygần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của ngành giao thôngvận tải

Thời gian chu chuyển của tư bản càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho giátrị thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn

Số vòng chu chuyển

Trang 14

Các tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì sốlần chu chuyển trong 1 đơn vị thời gian (1 năm) không giống nhau, nói cáchkhác, tôc độ chu chuyển của chúng khác nhau.

Tốc độ chu chuyển của tư bản đo bằng số lần (vòng) chu chuyển cảu tư bảntrong một năm

Ta có công thức tính tốc độ chu chuyển của tư bản như sau:

n= TGn/TGa

Trong đó:

n: Số lần chu chuyển cảu tư bản trong 1 năm

TGn: Thời gian trong năm

TGa: Thời gian chu chuyển của một tư bản nhất định

Như vậy, tốc độ chu chuyển cảu tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian chuchuyển cảu tư bản Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thờigian san xuất va thời gian lưu thông của nó

Lực lượng sản xuất phát triển, kỹ thuật tiến bộ, những tiến bộ về mặt tổchức sản xuất, việc áp dụng những thành tựu của hóa học, sinh học hiện đạivào sản xuất, phương tiện vận tải và bưu điện phát triển, tổ chức mậu dịchđược cải tiển… cho phép rút nagwns thời gian chu chuyển ảu tư bản, dô đó,tăng tốc độ chu chuyển của tư bản

4 TƯ BẢN CỐ ĐỊNH VÀ TƯ BẢN LƯU ĐỘNG

Các bộ phận khác nhau cảu tư bản sản xuất không chu chuyển một cáchgiống nhau Sở dĩ như vậy là vì mỗi bộ phận tư bản dịch chuyển giá trị của nóvào sản phẩm theo những cách thức khác nhau Căn cứ vào tính chất chuchuyển khác nhau, người ta chia tư bản sản xuất thành hai bộ phận: tư bản cốđịnh va tư bản lưu động

Tư bản cố định là một bộ phận của tư bản sản xuất đồng thời là bộ phận

chủ yếu của tư bản bất biến (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) tham gia toàn

Trang 15

bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần vàosản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó trong quátrình sản xuất.

Tư bản cố định được sủ dụng lâu dài trong nhiêu chu kỳ sản xuất và nó bịhao mòn dần trong quá trình sản xuất Có 2 loại hao mòn là hao mòn hữu hình

Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng đểtăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lêntránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vôhình gây ra Nhờ đó mà có điệu kiện đổi mới thiết bị nhanh

Tư bản lưu động là một bộ phận cảu tư bản sản xuất, gồm một phần tư

bản bất biến ( nguyên liệu, vật liệu, vật liệu phụ…) và tư bản khả biến (sức laođộng) được tiêu dùng hoàn toàn trong chu kỳ sản xuất và giá trị của nó đượcchuyển toàn bộ vào sản phẩm trong quá trình sản xuất

Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định Việc tăng tốc độchu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng Một mặt, tốc độ chuchuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được

Trang 16

sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước: mặt khác do tốc độchu chuyển của tư bản lựu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dưtrong năm tăng lên.

Căn cứ để phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động

là phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản trongquá trình sản xuất

Ngày đăng: 11/06/2021, 19:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w