PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là xu hướng tất yếu của các quốc gia đang phát triển, nhằm thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp sang nền kinh tế công nghiệp, hiện đại, năng suất cao. Quá trình đó, đòi hỏi phải thu hồi đất của người dân để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, đô thị hóa. Công tác thu hồi đất, bồi thường đất là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội của người dân bị thu hồi đất nhất là nông dân và người lao động. Huyện Văn Lãng là một huyện vùng cao, biên giới nằm ở phía đông bắc của tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm Thành phố Lạng Sơn 30km, tiếp giáp với huyện Văn Quan, Cao Lộc, Tràng Định, Bình Gia, Bằng Tường (Trung Quốc); trên địa bàn huyện có 04 dân tộc chính đang sinh sống là Kinh, Tày, Nùng và Hoa. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Văn Lãng là 56.741,3ha, chiếm 6,85% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, dân số là 51.288 người (Chi cục Thống kê huyện Văn Lãng (2017), Niên giám thống kê năm 2017). Huyện có hệ thống các chợ biên giới và cửa khẩu với nước Công hòa nhân dân Trung Hoa. Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói chung và địa bàn huyện Văn Lãng nói riêng, trong những năm gần đây các dự án phát triển kinh tế - xã hội đang được các nhà đầu tư triển khai mạnh mẽ đáng chú ý là các dự án trong Khu Kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn địa bàn huyện Văn Lãng như: Dự án đường phi thuế quan, dự án đường phục vụ xuất nhập khẩu từ cửa khẩu Tân Thanh (Việt Nam) với khu kiểm soát Khả Phong (Trung Quốc); dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 4A, dự án Thủy điện Thác Xăng… Trong giai đoạn từ năm 2013 - 2017 toàn huyện đã thu hồi khoảng 210ha cho việc thực hiện các dự án và ảnh hưởng tới hơn trên 3.500 hộ dân, theo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Văn Lãng (2017), Báo cáo tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Văn Lãng giai đoạn 2013-2017. Tuy nhiên, việc quy định về bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cũng như hỗ trợ tái định cư cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh nói chung và huyện nói riêng chưa được chú trọng, toàn bộ được chuyển thành tiền và chi trả cho các hộ dân theo diện tích đất bị thu hồi. Việc thu hồi đất không tốt đã gây ra các hậu quả xấu như: Các hộ nông dân, lao động bị thu hồi đất gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới, hơn nữa một số lao động không biết sử dụng số tiền đền bù đúng mục đích, nên khi tiêu hết tiền đền bù dẫn đến không còn nguồn thu nhập, đời sống khó khăn, thậm chí xa vào con đường phi pháp và các tệ nạn xã hội. Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất là vấn đề bức thiết của hậu công tác giải phóng mặt bằng cần được chính quyền cũng như cơ quan chức năng giải quyết. Làm sao giảm tối đa những tác động không mong muốn đối với người dân, lao động bị thu hồi đất. Vì vậy nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện Văn Lãng tỉnh Lạng Sơn” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau, ví dụ: Hoàng Vũ Quang (2012), Báo cáo nghiên cứu đề tài đánh giá tác động của các chính sách xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, Viện chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông, đã đánh giá được tổng quan cũng như những tác động của chính sách trong xây dựng nông thôn mới của Việt Nam trong đó có các chính sách như đào tạo nghề cho lao động nông thôn… Nguyễn Văn Nhường (2011), Luận án tiến sĩ “Chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” [24]. Đề tài tập trung phân tích những nội dung lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp qua nghiên cứu tình huống ở tỉnh Bắc Ninh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy sự cần thiết phải bảo đảm an sinh xã hội trong đó có tạo việc làm cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất. Sử dụng mô hình SWOT đề tài tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân, từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp. Nguyễn Đình Tuấn (2012), Học viện Chính trị - Hành chính, “Giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Thanh Hoá” [34]. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH. Luận văn cho thấy thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Thanh Hoá, từ đó đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi trong giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị ở tỉnh Thanh Hoá. Nguyễn Hữu Dũng (2000), Chiến lược an toàn việc làm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước/ Tạp chí Lao động và Công đoàn 200, số 228 tr.25. - 2000 đã đưa ra các giải pháp, chính sách giải quyết việc làm trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đỗ Kim Chung (2012), Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam một số vấn đề đặt ra và kiến nghị /Tạp chí Phát triển Kinh tế 2012, số 262 tr.3-10. - 2012 đã rút ra cần lấy nhân dân làm trọng tâm trong chương trình xây dựng nông thôn mới, điều chỉnh cơ chế, chính sách đối với chương trình nông thôn mới hiện nay. Phan Thị Thùy Linh (2012), Giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng, TP. Đà Nẵng, đã đưa ra một số giải pháp trong đạo tào nghề và việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Trần Hồng Quân (2012), Thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động ở huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ hội nhập, Luận văn Thạc sỹ khoa học chính trị, Trường Đại học Vinh, Nghệ An, đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động trong thời kỳ hội nhập trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện của Trần Việt Tiến, Tạp chí Kinh tế phát triển (số 181), 2012. Đã đưa ra định hướng tổng quát về hoàn thiện chính sách việc làm của Việt Nam. Linh Chi (2018), Nhiều giải pháp tạo việc làm cho người lao động, Báo Tuyên Quang, Địa Chỉ: http://www.baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/nguon-nhan-luc/nhieu-giai-phap-tao-viec-lam-cho-nguoi-lao-dong-95432.html, [truy cập ngày 06/02/2018], đã đưa ra một số giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Đánh giá chung: Tuy có nhiều các công trình khoa học đã đề cập đến tạo việc làm cho lao động dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên nghiên cứu về tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn hiện chưa có, do đó đề tài này là cấp thiết. 3. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được khung nghiên cứu về tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện. - Phân tích được thực trạng tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân của điểm yếu trong tổ chức thực thi chính chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. - Đề xuất được giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Tổ chức thực thi các chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Luận văn sử dụng cách tiếp cận theo quá trình tổ chức thực thi chính sách để nghiên cứu các nội dung về tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. - Về không gian: Nghiên cứu tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. - Về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập cho giai đoạn 2013-2017, số liệu sơ cấp thu thập trong giai đoạn tháng 3 đến tháng 5/2018 và giải pháp được đề xuất đến năm 2020.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ
Chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền cấp huyện
dự án đầu tư của chính quyền cấp huyện
1.1.1 Khái niệm việc làm và tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất
Việc làm là trạng thái tương thích giữa sức lao động và các yếu tố cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất và công nghệ để khai thác hiệu quả sức lao động đó.
- Tổ chức Lao động quốc tế (2014) đưa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”
Theo Điều 13, chương II của Bộ Luật Lao Động Việt Nam (2012), mọi hoạt động lao động hợp pháp tạo ra thu nhập đều được công nhận là việc làm.
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
Hoạt động lao động cần phải mang lại lợi ích và tạo ra thu nhập cho người lao động cùng các thành viên trong gia đình, điều này khẳng định tính hữu ích và tiêu chí tạo thu nhập của việc làm (Quốc hội, 2012).
- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm (Quốc hội, 2012)
1.1.1.2 Vai trò của việc làm
- Việc làm có vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội (Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam, 2016)
Việc làm thường xuyên không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho người dân mà còn tạo điều kiện cho họ tiếp cận dễ dàng với khoa học công nghệ hiện đại, từ đó nâng cao khả năng nhận thức và kiến thức của cộng đồng.
Việc tạo ra việc làm cho lao động nông thôn không chỉ giúp cải thiện cơ sở hạ tầng mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thành phố và nông thôn Điều này thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân vùng nông thôn.
Việc làm không chỉ giúp người nông dân cải thiện bản thân mà còn thúc đẩy ý thức và trách nhiệm đối với chính mình và cộng đồng xung quanh thông qua các quy định và nguyên tắc trong công việc.
1.1.1.3 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động
Nguyên nhân của thiếu việc làm là do: Thiếu đối tượng lao động, công cụ lao động hoặc lao động không phù hợp với yêu cầu công việc
Tạo việc làm thực chất là làm cho người lao động phù hợp với yêu cầu công việc, tăng thêm đối tượng và công cụ lao động, cùng với cơ chế phối hợp các yếu tố này Mục tiêu là sáng tạo ra của cải vật chất có ích cho xã hội và đảm bảo hiệu quả trong lao động.
1.1.1.4 Nội dung tạo việc làm cho lao động nông thôn
Theo Báo cáo phát triển Thế giới năm 2013 của Word Bank để giải quyết vấn đề việc làm cần phải có các cơ chế như sau:
Người lao động cần chủ động tham gia vào việc đào tạo và phát triển nghề nghiệp, có thể tự mình tìm kiếm hoặc nhờ vào sự hỗ trợ từ gia đình và các tổ chức xã hội để nâng cao kỹ năng và kiến thức trong lĩnh vực mình chọn (Word bank, 2013).
- Về phía Nhà nước, ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động (Word bank, 2013).
Người sử dụng lao động cần nắm bắt thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc.
1.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nông thôn
Điều kiện tự nhiên của một quốc gia hay khu vực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm đất đai, khí hậu và nguồn nước Những vùng đất màu mỡ và khí hậu thuận lợi thường thu hút lao động và phát triển sản xuất, trong khi các quốc gia thiếu tài nguyên thiên nhiên có thể dựa vào công nghệ hiện đại và quản lý tiên tiến để tạo ra việc làm chất lượng cao Sự khác biệt này cho thấy tầm quan trọng của việc khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có để thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Dân số đóng vai trò quan trọng trong cả sản xuất và tiêu dùng Về mặt tiêu dùng, các yếu tố như quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu của các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất trong xã hội Sự quyết định về sản xuất, bao gồm sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, khi nào, ở đâu và chất lượng sản phẩm, đều phụ thuộc vào số lượng, cơ cấu và chất lượng dân số.
Cơ chế và chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho người lao động Chính phủ và chính quyền địa phương thường xuyên đề ra các chính sách cụ thể nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển sản xuất và cải thiện đời sống Những chính sách này có thể mở rộng hoặc thu hẹp cơ hội việc làm trong các ngành khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự gặp gỡ giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Công tác đào tạo nghề và hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho người lao động lựa chọn ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp Qua đó, người học được khuyến khích chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập, đồng thời hiểu rõ về ngành nghề mình theo đuổi Điều này không chỉ giúp họ gia nhập thị trường lao động một cách hiệu quả mà còn tối ưu hóa tiềm năng lao động của đất nước, góp phần nâng cao năng suất lao động Hơn nữa, công tác đào tạo nghề còn giúp người học có cái nhìn đúng đắn về nghề nghiệp, phù hợp với điều kiện và khả năng của bản thân.
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư
1.1.2.1 Khái niệm về chính sách tạo việc làm cho lao động
Chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất là tập hợp các quan điểm và giải pháp mà Nhà nước áp dụng nhằm hỗ trợ người lao động sau khi đất đai bị thu hồi Mục tiêu chính của chính sách này là giải quyết vấn đề việc làm cho những đối tượng bị ảnh hưởng, đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Chính sách tạo việc làm đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
1.1.2.2 Mục tiêu của chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư
Tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền cấp huyện
để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền cấp huyện
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền cấp huyện
Tổ chức thực thi chính sách là quá trình chuyển đổi các chính sách thành hành động thực tế và đạt được kết quả cụ thể Bộ máy hành chính nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng này.
Tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất là quá trình chuyển đổi các chính sách thành kết quả thực tế thông qua hoạt động của chính quyền cấp huyện Mục tiêu chính của quá trình này là đảm bảo việc làm cho lao động bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư do chính quyền cấp huyện triển khai.
1.2.2 Quá trình tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư của chính quyền cấp huyện Để đưa chính sách vào thực tiễn, các chủ thể thực thi căn cứ vào thẩm quyền của mình ban hành các văn bản, các chương trình để cụ thể hóa mục tiêu và biện pháp của chính sách trên địa bàn
Thứ nhất, về xây dựng và ban hành văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công gồm các hoạt động.
- Nghiên cứu nội dung chính sách để xác định những văn bản, chương trình cần được ban hành hoặc phê duyệt.
Xây dựng kế hoạch soạn thảo và ban hành các văn bản thực thi chính sách là bước quan trọng trong quá trình quản lý Đồng thời, cần lập và phê duyệt các chương trình thực thi chính sách để đảm bảo tính hiệu quả và đồng bộ trong việc triển khai các chính sách đã được đề ra.
Tổ chức triển khai các kế hoạch cần bảo đảm ban hành văn bản và chương trình chất lượng, hợp pháp, đúng thời gian, tiết kiệm và hiệu quả Sau khi các văn bản và chương trình được phê duyệt, các chủ thể thực thi sẽ được giao trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung hoạt động theo chính sách đã đề ra.
- Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản hoặc lập kế hoạch thực hiện chương trình
- Tuyên truyền, phổ biến nội dung văn bản, chương trình
- Tập huấn văn bản, bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng cần thiết để triển khai văn bản, chương trình
- Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực triển khai thi hành văn bản, thực hiện chương trình
- Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản, việc thực hiện chương trình.
Vào thứ ba, các chủ thể thực thi chính sách công sẽ tiến hành sơ kết và tổng kết việc thực hiện văn bản, chương trình theo trình tự từ dưới lên trên Công tác này được thực hiện định kỳ nhằm đánh giá hiệu quả và cải thiện chính sách công.
Các cơ quan được giao thực thi chính sách công cần tiến hành sơ kết và tổng kết việc thi hành văn bản, sau đó báo cáo lên cơ quan cấp cao hơn Báo cáo phải nêu rõ quá trình triển khai, kết quả đạt được, những hạn chế gặp phải, nguyên nhân và đề xuất kiến nghị cho cấp trên.
Dựa trên các báo cáo sơ kết, tổng kết và đánh giá giữa kỳ từ các cơ quan thực thi chính sách, cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng tổng hợp thành báo cáo tổng kết thực thi chính sách Cơ quan này sẽ báo cáo và giải trình kết quả thực thi chính sách trước cơ quan hoạch định và nhân dân.
1.2.2.1 Chuẩn bị triển khai chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất của chính quyền cấp huyện a Xác định bộ máy thực thi chính sách Để tổ chức thực thi chính sách, trước hết cơ quan có thẩm quyền quản lý chính sách phải lựa chọn, xây dựng cơ quan thực thi và giao nhiệm vụ chính thức cho cơ quan này Cơ quan thực thi chính sách cần phải bảo đảm về tư cách pháp nhân, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng, có đủ nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực); có hệ thống báo cáo, thống kê, điều tra, phân tích đánh giá trong quá trình thực thi chính sách; có đội ngũ cán bộ, công chức có kinh nghiệm, kiến thức về tạo việc làm cho lao động được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, được thông qua các chương trình, kế hoạch, đề án tạo việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tạo việc làm cho lao động.
Cơ cấu tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất của chính quyền cấp huyện bao gồm:
Ủy ban nhân dân huyện có nhiệm vụ chỉ đạo và quản lý nhà nước trong việc tạo ra cơ hội việc làm cho lao động tại địa phương.
+ Xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch, đề án tạo việc làm cho lao động hàng năm tại địa phương.
+ Đảm bảo nguồn vốn từ ngân sách địa phương để tổ chức thực hiện chương trình, đề án tạo việc làm cho lao động tại địa phương.
+ Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thực hiện chương trình, đề án tạo việc làm cho lao động tại địa phương.
Theo dõi và đánh giá định kỳ việc thực hiện chương trình tạo việc làm cho lao động tại địa phương, đồng thời báo cáo kết quả cho các sở, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh.
Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực hỗ trợ Ủy ban nhân dân huyện trong việc quản lý nhà nước về tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất Đồng thời, cơ quan này cũng có nhiệm vụ lập các kế hoạch triển khai chính sách liên quan đến lĩnh vực này.
Chương trình tạo việc làm cho lao động theo giai đoạn được phê duyệt bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, nhằm mục tiêu tăng cường cơ hội việc làm, ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động, đặc biệt là những người bị thu hồi đất tại địa phương.
Chương trình tạo việc làm hàng năm bao gồm các đề án và nhiệm vụ cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu lao động tại địa phương, với tiến độ và kết quả dự kiến rõ ràng Đồng thời, cần ban hành các văn bản hướng dẫn để triển khai hiệu quả các đề án này.
Kinh nghiệm của một số địa phương trong tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư và bài học
c Sự đồng tình, ủng hộ của người dân
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của nhân dân trong việc thực thi chính sách: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách, trong khi nhân dân không chỉ là đối tượng thực hiện mà còn là những người hưởng lợi trực tiếp từ những chính sách đó Sự gắn kết giữa chính quyền và nhân dân là yếu tố quyết định cho sự thành công của việc thực thi chính sách.
Một chính sách hiệu quả cần phải đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội, từ đó thu hút sự ủng hộ từ người dân Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp với đời sống và điều kiện của người dân, nó sẽ bị từ chối hoặc không được thực hiện.
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư và bài học cho huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương
Cơ chế chính sách của chính phủ và chính quyền địa phương, cùng với quy định của chủ doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho người lao động Mỗi thời kỳ, chính phủ sẽ đưa ra các chính sách cụ thể nhằm tạo hành lang pháp lý cho sản xuất, cải thiện đời sống và điều chỉnh việc làm trong các ngành khác nhau Chính sách phát triển kinh tế đa thành phần đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến cơ cấu lao động theo ngành và theo vùng.
Theo Bộ luật lao động Việt Nam, người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm Đồng thời, việc giải quyết việc làm và đảm bảo cơ hội việc làm cho mọi người có khả năng lao động là trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội.
Chính sách việc làm có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách xã hội và kinh tế, giúp sử dụng hiệu quả nguồn lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Khi chính sách việc làm được thực hiện tốt, sẽ đảm bảo ổn định chính trị và xã hội; ngược lại, nếu không được giải quyết hiệu quả, sẽ dẫn đến gia tăng thất nghiệp và phát sinh các tệ nạn xã hội Một hệ thống chính sách việc làm đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành, ổn định và phát triển việc làm, từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết việc làm Để đảm bảo an sinh xã hội ổn định và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, cần đặt ra những mục tiêu cụ thể cho các chính sách việc làm.
Để đảm bảo toàn dụng lao động tại các vùng bị thu hồi đất, cần tạo ra việc làm phù hợp cho tất cả nông dân có khả năng và nguyện vọng lao động Mục tiêu này được thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể về số lượng việc làm hàng năm và giảm tỷ lệ thất nghiệp (Quốc hội, 2012).
Chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm của nông dân đang hướng tới việc tăng tỉ trọng việc làm trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, nhằm đảm bảo có việc làm ổn định cho người lao động (Quốc hội, 2012).
Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông dân là mục tiêu quan trọng, giúp họ thoát nghèo và ổn định cuộc sống Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được triển khai, đặc biệt từ khi Nghị định số 22/1998/NĐ-CP có hiệu lực Các chương trình này không chỉ hỗ trợ tài chính cho việc đào tạo nghề mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo thu nhập bình quân đầu người, tri thức và sức khỏe cho người dân.
Tính đến năm 2015, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất, bao gồm Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP và Nghị định 47/2014/NĐ-CP Các Nghị định này quy định rõ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thay thế các quy định trước đó Nhiều địa phương như Hải Dương, Bình Dương, và Đà Nẵng đã triển khai cơ chế chuyển tiền cho các cơ sở dạy nghề nhằm đào tạo miễn phí cho người lao động có đất bị thu hồi, đồng thời hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp nhận dạy nghề cho người lao động trong vùng chuyển đổi.
1.3.1.1 Kinh nghiệm của huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng
Huyện Thủy Nguyên, nằm ở phía Bắc thành phố Hải Phòng, có nền nông nghiệp chiếm hơn 80% và đang đối mặt với tình trạng thiếu việc làm do thu hồi đất nông nghiệp cho các dự án công nghiệp Để giảm áp lực lao động, huyện đang tập trung vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, khôi phục các làng nghề truyền thống, cũng như phát triển các làng nghề mới Mỗi năm, huyện tạo ra hơn một nghìn việc làm mới cho lao động nông thôn bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất.
Huyện uỷ, HĐND và UBND huyện xác định việc tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt là những nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp, là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng của hệ thống chính trị Các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã tích cực tuyên truyền chính sách tạo việc làm, đồng thời vận động và hướng dẫn người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra việc làm.
Huyện đang tập trung phát triển các mô hình tạo việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là việc vận động lập trang trại và thuê mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản dọc các sông Đồng thời, huyện cũng đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, tăng cường chuyển giao kỹ thuật và tổ chức các lớp huấn luyện nhằm nâng cao tay nghề cho người lao động.
1.3.1.2 Kinh nghiệm của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Huyện Yên Phong, Bắc Ninh, nổi bật với khu công nghiệp Yên Phong I rộng 665,2 ha và cụm công nghiệp Đông Thọ 48,76 ha, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, sự phát triển này cũng tạo ra thách thức lớn về việc làm do việc thu hồi đất của người lao động trong quá trình hình thành các khu công nghiệp Để giải quyết vấn đề này, huyện Yên Phong đã đề ra các mục tiêu cụ thể trong giai đoạn tiếp theo.
Từ năm 2011 đến 2016, Yên Phong đã tạo ra 3.000 việc làm mới mỗi năm, với mục tiêu trong 5 năm tới sẽ tạo ra hơn 15.000 việc làm cho lao động Để đạt được những mục tiêu này, Yên Phong đã triển khai một số biện pháp cơ bản.