Luận án phân tích cấu tạo của truyện cười từ góc nhìn hội thoại, xác định cái chốt, nút thắt tạo tiếng cười, ngữ nghĩa và phương thức thể hiện tiếng cười trong truyện cười HĐVN qua các c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG NGỌC DIỆP
CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TIẾNG CƯỜI CỦA TRUYỆN CƯỜI
HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 9220102
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2021
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
Phản biện 3
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường
Địa điểm: Trường Đại học Vinh Thời gian: Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Truyện cười Việt Nam (TCVN) là truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp, được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước Tiếng cười trong truyện cười
được phát ra từ cái đáng cười, tức là cái hài, thuộc phạm trù mỹ học, biểu thị tư
tưởng, tình cảm, thái độ của con người trước những hành vi, hành động trái với tự nhiên, trái với lẽ sống đời thường
1.2 Thuộc dạng khẩu ngữ, truyện cười thường ngắn gọn, có kết cấu khá chặt chẽ, chủ yếu gồm các cặp thoại trao - đáp của nhân vật TCVN có thể chia thành hai giai đoạn: Truyện cười dân gian (TCDG) và truyện cười hiện đại (TCHĐ) TCDG ra đời từ lâu, đã trở thành một bộ phận của văn học dân gian, còn TCHĐ mới xuất hiện gần đây, gắn với thời đại chúng ta đang sống Nếu như TCDG được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và được nghiên cứu khá đầy đủ thì TCHĐ, cho đến nay, vẫn là mảnh đất trống Do đó, rất cần những công trình nghiên cứu nhằm góp phần xác định
vị trí, vai trò và giá trị của truyện cười HĐVN
1.3 So với TCDG, TCHĐ có nhiều điểm khác biệt về cách tổ chức văn bản, cấu tạo văn bản, lời thoại nhân vật, sự tương tác trong các cặp thoại và liên kết giữa các cặp thoại thành điểm chốt, nút thắt để tạo tiếng cười; về sự đa dạng và độc đáo trong việc sử dụng các phương thức gây cười Bên cạnh đó, ngày nay, việc xem xét ý nghĩa của tiếng cười gắn với ngữ cảnh, với quan hệ liên nhân giữa các vai giao tiếp
và đối chiếu với hàm ý mà người nói muốn hướng đến người nghe Hệ quả là, tiếng cười, phương thức gây cười và ý nghĩa của nó trong truyện cười HĐVN vừa đa dạng
về hình thức, vừa thâm trầm, sâu sắc, đậm đà bản sắc dân tộc về nội dung Qua truyện cười HĐVN, những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa được thể hiện đậm nét hơn, rõ ràng hơn
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận án là Cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 42.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và trong nước về truyện cười (TCDG và TCHĐ); xác lập cơ sở lí thuyết của đề tài
- Miêu tả và phân tích đặc điểm cấu tạo của truyện cười HĐVN, chỉ rõ cách tổ chức lời thoại, cặp thoại, cuộc thoại, tham thoại gắn với ngữ cảnh để tạo điểm chốt, nút thắt gây cười trong truyện cười HĐVN
- Tiến hành phân tích, mô tả và lý giải các phương thức thể hiện tiếng cười và hiệu quả của tiếng cười trong truyện cười HĐVN
- Xác định những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt được phản ánh trong truyện cười HĐVN
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cách tạo lập tiếng cười trong truyện cười HĐVN Luận án phân tích cấu tạo của truyện cười từ góc nhìn hội thoại, xác định cái chốt, nút thắt tạo tiếng cười, ngữ nghĩa và phương thức thể hiện tiếng cười trong truyện cười HĐVN qua các cặp thoại trao - đáp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Qua thống kê, truyện cười HĐVN được biên soạn thành sách và truyền miệng khá đa dạng Truyện cười HĐVN được biên soạn thành sách cũng thiếu thống nhất, thiếu chọn lọc về chủ đề, về mục đích, về sự pha trộn truyện nước ngoài, về thời gian của các truyện Vì vậy, chúng tôi tiến hành sàng lọc, chọn lựa 1045 truyện để tìm hiểu cấu tạo, các phương thức thể hiện tiếng cười và đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa Việt của truyện cười HĐVN
3.3 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Nguồn ngữ liệu được sử dụng trong luận án là 1045 truyện cười HĐVN Tư liệu được thu thập từ hai nguồn: 1/ Những truyện cười sưu tầm từ điều tra điền dã, gồm 51 truyện; 2/ Những truyện cười của các tác giả sưu tầm, biên soạn và xuất bản thành sách, gồm 994 truyện
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra điền dã
Chúng tôi tiến hành thu thập ngữ liệu bằng hai cách: 1/ Thực hiện ghi chép trực tiếp các truyện cười kể cho nhau nghe trong cuộc sinh hoạt hàng ngày; 2/ Tham khảo, tuyển chọn những truyện cười hay trong sách vở và trên một số báo
- Phương pháp thống kê
Chúng tôi thực hiện thống kê truyện cười HĐVN từ các sách đã xuất bản Các truyện cười được thống kê, phân loại theo các chủ đề, sau đó tuyển chọn những truyện
Trang 5tiêu biểu
- Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để xem xét đặc điểm cấu tạo TCHĐ; tập trung làm nổi rõ tương tác giữa các cặp thoại, cách liên kết các cặp thoại gắn với ngữ
cảnh để tạo điểm chốt gây cười
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng trong phân tích ngữ liệu, gồm các đơn vị từ lớn đến nhỏ: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại,… để làm sáng tỏ cách thức cấu tạo, các phương thức gây cười và những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười HĐVN
Bên cạnh các phương pháp trên, luận án còn sử dụng các thủ pháp mô hình hoá, thủ pháp so sánh để giải quyết các nhiệm vụ của luận án
5 Đóng góp của luận án
5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án là công trình nghiên cứu truyện cười HĐVN một cách hệ thống dưới góc nhìn lý thuyết hội thoại của Ngữ dụng học Các kết quả của luận án góp phần bổ sung lý thuyết hội thoại và định hướng trong việc tạo lập, tiếp nhận truyện cười ở góc
độ ngôn ngữ học
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu để tham khảo, tư liệu để trích dẫn, dẫn chứng cho việc nghiên cứu, giảng dạy học phần Ngữ dụng học (phần ngôn ngữ hội thoại) ở bậc đại học và phần nghĩa hàm ngôn ở trường phổ thông Từ việc chỉ ra đặc điểm cấu tạo của truyện cười HĐVN, xác lập các phương thức gây cười và ý nghĩa của tiếng cười cùng với những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười HĐVN, luận án bước đầu khẳng định vị trí, vai trò và những giá trị của truyện cười HĐVN trong tiến trình phát triển nền văn hoá của người Việt
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận án
được triển khai thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 2 Cấu tạo của truyện cười hiện đại Việt Nam
Chương 3 Phương thức gây cười của truyện cười hiện đại Việt Nam
Chương 4 Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười hiện đại Việt Nam
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Ở nước ngoài
Từ thế kỉ XIX, đặc biệt, giai đoạn cuối thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu Âu -Mĩ
đã quan tâm đến truyện cười Cuối thế kỉ XX, cùng với sự phát triển về kinh tế, công nghệ, khoa học tự nhiên và xã hội, giao thoa văn hóa…, việc nghiên cứu truyện cười được nhiều tác giả chú ý hơn Năm 1987, Chafe - nhà khoa học hành vi Mỹ, đã công
bố công trình: Hài hước như một cơ chế/ thủ pháp vô hiệu hóa Tác giả cho rằng, khi
nói năng, người nói có thể cấu tạo truyện cười theo dạng “không chịu trách nhiệm về mình” đã vô hiệụ hóa quan hệ giữa mình với người nghe, rằng “tôi không nói như
vậy mà là do anh suy ra” Đến năm 2007, Chafe lại cho ra đời cuốn Tầm quan trọng
của việc thiếu nghiêm túc: cảm giác đằng sau tiếng cười và sự hài hước cũng đã đề
cập đến tính bất thường - cái chốt để tạo nên tiếng cười
Năm 1990, Davies đã công bố cuốn Hài hước thuộc mỗi dân tộc trên toàn thế
giới: phân tích so sánh Trong công trình này, tác giả đi sâu nghiên cứu truyện cười
của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới và nhận thấy, giữa các truyện cười thuộc các dân tộc khác nhau đó, chúng có những đặc điểm chung (về quy tắc cấu tạo, về cái chốt ngữ nghĩa tạo tiếng cười) nhưng vẫn có những điểm khác biệt tùy thuộc vào văn hóa, đặc trưng tư duy, tính biểu trưng của mỗi dân tộc
Từ góc nhìn ngôn ngữ, Ritchie (2004) trong tác phẩm Phân tích ngôn ngữ của
truyện cười đã phân tích phương tiện ngôn ngữ để tạo tiếng cười trong những truyện
cười bằng tiếng Anh, như đồng âm, đa nghĩa, trái nghĩa…
Đặc biệt, các tác giả nghiên cứu VHDG Nga đã đề cập đến truyện cười từ rất sớm, như Prôp (1928, 1970) Vinôgrađôp (1944, 1963), Khrapchenko (1970), Bakhtin (1965), Bêlinxki (1955), Secnưxépxki (1949), Crapxốp (1956), V.Guranních (1961),… Lupxơ đưa ra ý kiến khẳng định “mâu thuẫn giữa cái trọng đại và cái vô nghĩa là cái cơ sở của hài kịch”; còn Phơlorenxơ lại cho “cái hài kịch nằm giữa cái trọng đại có giá trị và cái huênh hoang tự cho là cái có giá trị” Nhà phê bình Nga Bêlinxki cho rằng “hài kịch là hoa của văn minh, là quả của dư luận xã hội đã phát triển” Còn Secnưxépxki thì viết “Khi chế diễu cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó”
1.1.2 Ở trong nước
a Dưới góc nhìn văn học dân gian
Trước cách mạng tháng Tám, những nghiên cứu về truyện cười rất hạn chế
Thời kì này, có thể kể đến bài viết của Đặng Thái Mai Ý nghĩa nhân sinh của truyện
cười nước ta ngày xưa do Tạp chí Tri Tân xuất bản năm 1943
Sau 1954, số tác giả công bố bài viết, giáo trình về truyện cười trong văn học
Trang 7dân gian ngày một nhiều hơn Năm 1958, nhà nghiên cứu văn học dân gian Văn Tân
với Tiếng cười Việt Nam, gồm hai quyển (quyển thượng, 166 trang, quyển hạ 176
trang), thống kê sưu tầm truyện cười và có nói đến giá trị của truyện cười
Năm 1960, Nguyễn Hồng Phong, Trương Chính, Đỗ Thiện, Đặng Việt Thanh,
Hoàng Tuấn Phổ với Truyện cười dân gian Việt Nam cũng đã đi vào sưu tầm tuyển
chọn truyện cười dân gian
Theo thời gian, có thể kể đến các giáo trình văn học dân gian của các nhà
nghiên cứu, như: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1973), Văn học dân gian, phần
“Truyện cười”; Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, phần Truyện cười; Lê Chí Quế - Võ Quang Nhơn - Nguyễn Hùng Vĩ (1990) với Văn học dân gian
Việt Nam và Vũ Ngọc Khánh (1996) với Hành trình vào xứ cười đều gọi là truyện
cười dân gian trong kho tàng truyện cười Việt Nam
Đặc biệt, năm 1996, luận án Cái hài trong truyện cười dân gian, Nguyễn An
Tiêm đã đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống và phân tích sâu sắc
b Dưới góc nhìn ngôn ngữ học
Việc nghiên cứu truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ học xuất hiện muộn hơn
Từ năm 1980, Nguyễn Khắc Viện với bài viết Tiếng cười trong phong cách ngôn ngữ
của Bác qua tác phẩm bằng tiếng Việt đã đi vào phân tích kết cấu câu văn trong văn
bản tiếng Việt do Bác viết và khẳng định, Bác có sử dụng hai biện pháp để gây cười: biện pháp ngôn ngữ học và biện pháp phi ngôn ngữ học
Năm 1987, từ bài viết Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười, Nguyễn
Đức Dân đưa ra kết luận: “Hiện tượng mơ hồ chẳng những được dùng trong những mẩu chuyện cười, những nụ cười ngắn gọn, nó còn được dùng để xây dựng nên những truyện cười”
Đến năm 1998, trong Ngữ dụng học, Nguyễn Đức Dân đã đề cập đến lý thuyết hội thoại Đặc biệt, với cuốn Tiếng cười thế giới, trong phần giới thiệu cuốn sách, tác giả đã sơ
bộ trình bày truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ Ông viết “Mỗi truyện cười đều có ba phần cơ bản: phần chuẩn bị, phần dẫn dắt, phần kết thúc (gây cười)
Năm 1993, Đỗ Hữu Châu với Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng học
đã dành sự quan tâm nhiều hơn đến văn bản văn học, trong đó có truyện cười Từ khi
cuốn Đại cương ngôn ngữ học tiếp cận ngôn ngữ trên bình diện ngữ dụng, từ đó, việc
nghiên cứu lời thoại của nhân vật trong tác phẩm cụ thể, hoặc hội thoại trong cuộc sống hàng ngày thực sự được chú ý
Năm 1999, Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ nghĩa lời hội thoại có đề cập đến ngữ
nghĩa của câu hỏi và phương tiện thể hiện câu hỏi và câu đáp Trong phần ngữ nghĩa của văn bản hội thoại, tác giả có nói đến nghĩa hàm ngôn của văn bản hội thoại và phương thức cấu tạo hàm ngôn và đã trích dẫn các truyện cười để minh họa
Một số luận án, luận văn và bài báo viết về truyện cười; trong số đó, có thể kể
đến luận án Nguyễn Hoàng Yến Hàm ý hội thoại trong truyện cười văn học dân gian
Trang 8Trong công trình này, tác giả đề cập đến tập truyện cười Tiếng cười dân gian Việt
Nam do Trương Chính - Phong Châu công bố năm 2004 Luận văn của Trần Châu
Ngọc (2011) Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội thoại cũng xuất phát từ góc
độ nghiên cứu hội thoại nhưng tác giả đã chọn tư liệu là Truyện cười dân gian Việt
Nam do Trương Chính và Phong Châu (tuyển chọn)
Một số bài viết về truyện cười của một số tác giả đi trước như đã kể ở trên cũng đều dựa trên tư liệu truyện cười dân gian Từ những nghiên cứu của các tác giả trên đây, có thể khẳng định rằng chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu truyện cười HĐVN Do đó, chúng tôi xác định một hướng đi mới, tiếp cận truyện cười hiện đại khác với tác giả đi trước
1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài
1.2.1 Một số vấn đề chung về truyện cười
1.2.1.1 Khái niệm truyện cười
Từ điển dùng cho học sinh nhà trường là cuốn Tiếng Việt phổ thông định nghĩa
“Truyện cười dt truyện dân gian dùng hình thức gây cười để giải trí hoặc để phê
phán nhẹ nhàng (đồng nghĩa với tiếu lâm)”
1.2.1.2 Phân loại truyện cười
a Truyện cười dân gian
Truyện cười dân gian (hay còn gọi là truyện tiếu lâm - Rừng cười) là truyện xuất hiện hay được người dân sử dụng, không có tên tác giả biên soạn, được lưu truyền trong dân gian từ lâu đời, sau đó được các nhà nghiên cứu biên tập hoàn chỉnh in thành sách Theo Nguyễn An Tiêm, truyện cười dân gian có bề dày hàng nghìn năm
b Truyện cười hiện đại Việt Nam
Luận án xác lập những điểm cơ bản của truyện cười HĐVN như sau:
Thứ nhất, truyện cười HĐVN là truyện được sáng tác, ra đời vào thời kì đất
nước đổi mới, đặc biệt, từ năm 2000 về sau Đây là thời kì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước được chú trọng và phát triển nhanh, mạnh Cơ chế thị trường đã có mặt ở mọi nơi, mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội của con người và những mặt trái của nó cùng với những thói hư, tật xấu của con người, của xã hội thời kỳ này đã được phản ánh vào trong truyện cười;
Thứ hai, đi chung trên con đường hiện đại hóa của các thể loại văn học, truyện
cười Việt Nam không thể không bị tác động bởi tính hiện đại của văn học Truyện cười Việt Nam ra đời ở thời kỳ này đã mang dáng dấp khác hẳn so với truyện cười dân gian;
Thứ ba, so với truyện cười dân gian, truyện cười hiện đại được xây dựng ngắn
gọn, nội dung phản ánh mọi mặt của cuộc sống hiện đại, cách thức triển khai chủ yếu
là thông qua lời thoại trao - đáp trực tiếp của nhân vật tham gia hội thoại; mỗi truyện cười như là một cuộc thoại Ngôn ngữ lời thoại, ngữ nghĩa lời thoại của nhân vật đóng vai trò then chốt và là phương thức trực tiếp gây cười Trong khi đó, truyện cười
Trang 9dân gian lại nặng vào lời kể, lời trần thuật, diễn giải của tác giả (hoặc người kể chuyện); truyện thường dài, nhiều nhân vật, nhiều sự kiện, nhiều chi tiết, rườm rà hơn truyện cười hiện đại
Thứ tư, phạm vi, đối tượng, đề tài, chủ đề, không gian, thời gian, của truyện
cười hiện đại cũng được mở rộng hơn, đa dạng hơn so với truyện cười dân gian
Trừ một số truyện cười có tên tác giả công bố trên một số báo hoặc tập san còn hầu hết các truyện cười hiện đại đều khuyết danh, được sáng tác và “xuất bản” bằng miệng, sau đó mới được một số tác giả sưu tầm, biên soạn và in thành sách Nhìn chung, về phương thức sáng tác và lưu truyền, truyện cười hiện đại là sự tiếp nối truyện cười dân gian Vì vậy, để làm tư liệu cho luận án, chúng tôi lựa chọn những truyện cười có tên tác giả sưu tầm, biên soạn và được các nhà xuất bản in thành sách
từ năm 2000 trở lại nay
1.2.1.3 Đặc điểm truyện cười hiện đại
a Chức năng: Tạo ra tiếng cười suy ngẫm
b Cấu tạo: Truyện cười HĐVN có cấu tạo gồm 3 phần: (1) Phần Mở đầu -
Lời tác giả, lời dẫn truyện (phát ngôn trần thuật, kể); (2) Phần thân truyện cơ bản là các cặp thoại trao - đáp của nhân vật; (3) Phần kết truyện: suy ra từ bên ngoài, hoặc
có lời đáp (logic về hình thức cấu tạo)
c Ý nghĩa: Truyện cười luôn có hai kiểu nghĩa: (1) nghĩa trực tiếp (còn gọi là
nghĩa tường minh) và (2) nghĩa suy ý (nghĩa suy luận) Đây là nghĩa không phải từ người hỏi hay từ người trả lời muốn thể hiện mà là nghĩa được suy ra từ người đọc (hay người nghe) Chúng tôi gọi là nghĩa suy ý
d Đích: Giải trí, phê bình, giáo dục, khuyên nhủ, mỉa mai, tố cáo hoặc đả
kích, châm biếm Chúng tôi gọi là nghĩa chủ đích do người kể (thường khuyết danh) muốn thể hiện
1.2.1.4 Những nhân tố chi phối truyện cười
a Một là, ngôn ngữ tác giả
b Hai là, ngôn ngữ hội thoại
c Ba là, ngữ cảnh
d Bốn là, nghĩa và thao tác suy ý trong truyện cười
e Năm là, đích của truyện cười
1.2.2 Một số vấn đề về hội thoại
1.2.2.1 Khái niệm hội thoại và văn bản hội thoại
a Khái niệm hội thoại
Từ năm 1962 trở lại đây, việc nghiên cứu hội thoại gắn với nhiều nội dung như: ngôn ngữ lời nói, ngữ nghĩa của lời được đặt trong ngữ cảnh để hiểu đúng (nghĩa tường minh và hàm ẩn), cách sử dụng các dạng hành động ngữ vi là một mảng đề tài lớn, được nhiều nhà ngữ học trên thế giới quan tâm Các nhà ngữ học Việt Nam, khi bàn về hội thoại cũng cơ bản thống nhất: Hội thoại là hoạt động giao
Trang 10tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người Đó là giao tiếp hai chiều, có sự tác động qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời
b Văn bản hội thoại
Hội thoại thể hiện qua truyện cười đã được hình thức hóa ở dạng văn bản Vì
thế, chúng tôi cho rằng, cần phân biệt văn bản hội thoại (gồm cả truyện cười) với
những văn bản khác như: chính luận, khoa học, báo chí, hành chính - công vụ
1.2.2.2 Các nhân tố chi phối hội thoại
a Vai giao tiếp và cách sử dụng từ xưng hô
Vai giao tiếp là những người tham gia vào quá trình giao tiếp sử dụng ngôn ngữ để tạo ra lời nói Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát ra phát ngôn và tiếp nhận phát ngôn trong quá trình hội thoại Trong hội thoại nói chung và trong truyện cười HĐVN nói riêng, vai giao tiếp thường sử dụng từ xưng hô thể hiện thành cặp tương tác, hô ứng qua từng chủ đề cụ thể
b Các đơn vị hội thoại
Các đơn vị hội thoại tính từ nhỏ đến lớn gồm: hành động nói, tham thoại, cặp thoại (cặp trao đáp), đoạn thoại, cuộc thoại
1.2.3 Một số vấn đề về nghĩa và phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa
1.2.3.1 Một số vấn đề về nghĩa
1.2.3.2 Khái niệm nghĩa và các phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa
a Khái niệm nghĩa
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, nghĩa được hiểu: 1 Sự phản
ánh đối tượng của hiện thực (các hiện tượng, các quan hệ, phẩm chất, quá trình) vào trong nhận thức, trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ việc tạo nên mối liên hệ thường trực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định nhờ đó sự phản ánh hiện thực trong nhận thức được hiện thực hóa Sự phản ánh hiện thực này tham gia trong cấu trúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ với với mặt âm thanh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo nó cho người khác, mà còn cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại và phát triển của nó;
2 Toàn bộ các chức năng của các đơn vị ngôn ngữ; tất cả những điều được các đơn vị
ngôn ngữ này biểu hiện, phản ánh là mặt nội dung của chúng
b Các phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa
Thứ nhất, giai đoạn đầu, từ năm 1962, các tác giả nghiên cứu về từ vựng - ngữ
nghĩa thường đề cập đến 5 nhóm: b1) Từ đa nghĩa; b2) Từ đồng âm; b3) Từ đồng nghĩa; b4) Từ trái nghĩa; b5) Ẩn dụ
Thứ hai, giai đoạn sau, với sự ra đời của lý thuyết hội thoại thuộc Ngữ dụng
học, các nhà nghiên cứu nghĩa đã quan tâm đến nghĩa trong hành chức (từ, ngữ, phát ngôn, văn bản) Đó là nghĩa là nghĩa do suy ý và nghĩa nhờ quy chiếu Từ đó, trên cùng cấu trúc bề mặt như nhau nhưng nghĩa lại khác nhau do gắn với ngữ cảnh, ngôn
Trang 11cảnh Chẳng hạn: khi hai anh em ngồi chơi cờ với nhau, bỗng nhiên, người anh nói
“Mẹ về” Trong ngữ cảnh thứ nhất, người em hiểu nghĩa: Ra nhận quà; còn trong ngữ cảnh thứ hai, người em hiểu Không chơi cờ nữa
Thứ ba, do tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập nên trong giao tiếp nói chung,
truyện cười nói riêng, từ ngữ thường được người dùng vận dụng biến hóa, chuyển đổi linh hoạt làm thay đổi nghĩa, sắc thái nghĩa của từ trong câu, trong văn bản, như: mô phỏng, tách từ (hay trái lại, ghép tiếng của hai từ khác nhau để tạo nên một từ mới), nói lái, nói ngọng, đảo vị trí tiếng, từ, cụm từ… Về phần tạo nghĩa mới này, chúng tôi
sẽ trình bày kỹ ở chương 3
1.2.4 Khái quát về văn bản
1.2.4.1.Khái niệm văn bản
Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Nó vừa là sản phẩm vừa là phương tiện để tổ chức hoạt động giao tiếp Có khi, văn bản được dùng
để chỉ sản phẩm giao tiếp cả ở dạng nói và dạng viết Nó thường bao gồm những chuỗi câu, nhưng cũng có trường hợp chỉ có một câu (ca dao, tục ngữ, châm ngôn, khẩu hiệu…) Văn bản có thể là một tập sách, hoặc một bộ sách nhiều tập Dù dung lượng thế nào thì văn bản cũng là một sản phẩm ngôn ngữ mang tính chỉnh thể
1.2.4.2 Cấu tạo văn bản
Luận án sử dụng cách hiểu của Phan Mậu Cảnh khi nghiên cứu tính hoàn chỉnh của văn bản đã khái quát vấn đề trên hai bình diện: Tính hoàn chỉnh về nội dung của văn bản và tính hoàn chỉnh về hình thức của văn bản a) Về tính nội dung: “Một văn bản hoàn chỉnh khi mà ý đồ của người viết đã được thể hiện trong toàn bộ văn bản, thể hiện qua cách nêu vấn đề, trình bày - giải quyết vấn đề và cuối cùng là qua kết luận rút ra tất cả những điều đã trình bày trong văn bản” b) Về tính hình thức: “Có thể xem mặt hình thức của văn bản là diện mạo bên ngoài thông qua những dấu hiệu
có thể quan sát được bằng trực quan; đó là độ dài ngắn của văn bản, các đoạn, phần, chương, các tiêu đề, mục đề, các kí hiệu đánh số, dấu, kí hiệu… Tất cả các hình thức quan sát được như thế đều góp phần biểu hiện nội dung, thể hiện tính hoàn chỉnh của nội dung”
1.2.4.3 Phân loại văn bản
Về việc phân loại văn bản, luận án sử dụng cách phân loại của Phan Mậu Cảnh:
“Thứ nhất, dựa vào hình thức thể hiện có văn bản nói và văn bản viết Thứ hai, dựa vào cách thức thể hiện hành vi (mục đích) xây dựng văn bản có văn bản tự sự, văn bản miêu
tả, văn bản trữ tình và văn bản lập luận Thứ ba, dựa vào cấu trúc văn bản có văn bản đơn thoại đối lập với văn bản đối thoại và văn bản bình thường đối lập với văn bản đặc biệt Thứ tư, dựa vào phong cách chức năng có văn bản hành chính công vụ, văn bản khoa học, văn bản báo chí, văn bản chính luận, văn bản nghệ thuật”
Trang 12Chương 2 CẤU TẠO TRUYỆN CƯỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 2.1 Khái niệm và đặc điểm của văn bản truyện cười
2.1.1 Khái niệm văn bản truyện cười
Như đã trình bày ở chương 1, mục 1.2.4.1 Khái niệm văn bản, từ đó chúng tôi nhận thấy văn bản truyện cười HĐVN là những truyện đã được sưu tập và xuất bản; xét về mặt hình thức thuộc loại văn bản viết (có nguồn gốc dạng nói được văn bản hóa thành dạng viết); xét về cách thức thể hiện hành vi (mục đích) xây dựng văn bản thuộc loại văn bản tự sự; xét về cấu trúc văn bản thuộc loại văn bản đối thoại, văn bản đặc biệt; xét về phong cách chức năng thuộc loại văn bản nghệ thuật
2.1.2 Đặc điểm của văn bản truyện cười
và nhằm mục đích giải trí, phê phán, giáo dục… và mang đậm dấu ấn văn hóa của người Việt
Tiêu đề của truyện cười thường ngắn gọn, phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của truyện; ngôn ngữ tiêu đề mang tính khẩu ngữ cao và thường được tách chiết, trích lược từ một lời thoại của nhân vật
Trang 13Bảng 2.1 Bảng khảo sát số lƣợng tiếng của tiêu đề Tập truyện truyện Số Số lƣợng tiếng của tiêu đề
đầu, kết thúc hoặc xen kẽ giữa lời thoại của nhân vật, chúng tôi gọi đây là lời tác giả
(2) Truyện chỉ có lời thoại trao - đáp trực tiếp của nhân vật, không có lời dẫn của tác
giả chúng tôi gọi đây là lời hội thoại trực tiếp
Bảng 2.2 Bảng khảo sát lời tác giả và lời hội thoại trực tiếp
Tập truyện lƣợng Số Lời tác giả
Lời hội thoại trực tiếp
Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ %
8 tập truyện cười HĐVN 1045 834 79,8 211 20,2
2.2.2.1 Phần mở đầu
a Lời tác giả: Phần mở đầu có lời dẫn của tác giả thường là một lời giới thiệu
ngắn gọn, đơn giản Đó có thể là một lời trần thuật hoặc lời kể, lời dẫn chuyện Phần
mở đầu có lời tác giả chiếm số lượng lớn (79,8%) trong truyện cười HĐVN
Bảng 2.3 Bảng thống kê lời tác giả ở phần mở đầu
Số lƣợng Phần mở đầu có lời tác giả Tỷ lệ
1045 (truyện) 834 (truyện) 79,8%
b Lời hội thoại trực tiếp: Phần mở đầu của truyện, các nhân vật trực tiếp hội
thoại với nhau bằng cặp thoại trao - đáp, không có lời dẫn, lời giới thiệu hoặc lời kể của tác giả mà chỉ có nhân vật hội thoại Phần mở đầu có lời hội thoại trực tiếp, nhân vật đi thẳng vào cuộc thoại chiếm số lượng ít hơn so với phần mở đầu có lời tác giả
Bảng 2.4 Bảng thống kê lời hội thoại trực tiếp ở phần mở đầu
có lời hội thoại trực tiếp Tỷ lệ %
1045 (truyện) 211 (truyện) 20,2%
2.2.2.2 Phần thân truyện
Phần thân truyện có hai dạng: Một là, có lời tác giả xen kẽ nhằm giải thích,
trần thuật, dẫn dắt trong quá trình hội thoại của các nhân vật (dạng này chiếm số
lượng ít hơn); Hai là, không có có lời tác giả xen kẽ mà chỉ có các cặp thoại trao -
đáp trực tiếp của các nhân vật hội thoại (dạng này chiếm số lượng nhiều hơn)
a) Lời tác giả: Phần thân truyện có lời tác giả xen kẽ nhằm giải thích, trần
thuật, dẫn dắt trong quá trình hội thoại của các nhân vật, có tác dụng như là một yếu
tố tham gia gây cười