1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại việt nam

179 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 725,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với truyện cười dân gian, truyện cười hiện đại có nhiều điểm khác biệt về cách tổ chức văn bản, về cấu tạo văn bản, về lời thoại của các nhân vật, về sự tươngtác trong các cặp thoại v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS TS ĐỖ THỊ KIM LIÊN

2 TS NGUYỄN HOÀI NGUYÊN

NGHỆ AN - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận án này chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Hoàng Ngọc Diệp

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

QUY ƯỚC VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận án 4

6 Cấu trúc của luận án 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Ở nước ngoài 5

1.1.2 Ở trong nước 8

1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài 13

1.2.1 Một số vấn đề chung về truyện cười liên quan đến nội dung nghiên cứu 13

1.2.2 Một số vấn đề về hội thoại 21

1.2.3 Một số vấn đề về nghĩa và phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa .28

1.2.4 Khái quát về văn bản 40

1.3 Tiểu kết chương 1 42

Chương 2 CẤU TẠO TRUYỆN CƯỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 44

2.1 Khái niệm và đặc điểm của văn bản truyện cười 44

2.1.1 Khái niệm văn bản truyện cười 44

2.1.2 Đặc điểm của văn bản truyện cười 44

2.2 Bố cục của truyện cười hiện đại Việt Nam 45

2.2.1 Tiêu đề 45

2.2.2 Các phần của truyện 46

2.2.3 Mối quan hệ giữa tiêu đề và các phần của truyện 55

2.3 Đặc điểm lời thoại nhân vật và các đơn vị hội thoại của truyện cười hiện đại Việt Nam 57

Trang 5

2.3.1 Đặc điểm lời thoại nhân vật của truyện cười hiện đại Việt Nam 57

2.3.2 Đặc điểm các đơn vị hội thoại của truyện cười hiện đại Việt Nam 64

2.3.3 Các dạng hội thoại của văn bản truyện cười hiện đại Việt nam 73

2.4 Tiểu kết chương 2 79

Chương 3 PHƯƠNG THỨC GÂY CƯỜI CỦA TRUYỆN CƯỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 81

3.1 Khái niệm phương thức và phương thức tạo nghĩa gây cười 81

3.1.1 Khái niệm phương thức 81

3.1.2 Phương thức tạo nghĩa gây cười 81

3.2 Thống kê và phân tích, mô tả các phương thức tạo nghĩa gây cười trong truyện cười hiện đại Việt Nam 82

3.2.1 Thống kê định lượng 82

3.2.2 Phân tích, mô tả các phương thức tạo nghĩa gây cười trong truyện cười hiện đại Việt Nam 84 3.3 Tiểu kết chương 3 114

Chương 4 ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ TRONG TRUYỆN CƯỜI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 116

4.1 Khái niệm văn hóa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hoá 116

4.1.1 Khái niệm văn hóa 116

4.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 117

4.2 Biểu hiện đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười hiện đại Việt Nam 120

4.2.1 Tính “trạng” hóm hỉnh 120

4.2.2 Tính trí tuệ, uyên bác 128

4.2.3 Tính mềm mại, uyển chuyển 136

4.2.4 Tính châm biếm sâu sắc 142

4.3 Tiểu kết chương 4 147

KẾT LUẬN 148

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

TƯ LIỆU TRUYỆN CƯỜI TRÍCH DẪN 163

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 6

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

HĐVN : Hiện đại Việt Nam

HSSV : Học sinh, sinh viên

TCDG : Truyện cười dân gian

TCHĐ : Truyện cười hiện đại

TCHĐVN : Truyện cười hiện đại Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân biệt văn bản hội thoại với những văn bản khác 23

Bảng 2.1 Bảng khảo sát số lượng tiếng của tiêu đề 46

Bảng 2.2 Bảng khảo sát lời tác giả và lời hội thoại trực tiếp 47

Bảng 2.3 Bảng thống kê lời tác giả ở phần mở đầu 48

Bảng 2.4 Bảng thống kê lời hội thoại trực tiếp ở phần mở đầu 49

Bảng 2.5 Bảng khảo sát phần thân truyện có lời tác giả 50

Bảng 2.6 Bảng khảo sát phần thân truyện có lời hội thoại trực tiếp 52

Bảng 2.7 Bảng khảo sát phần kết thúc truyện có lời tác giả 54

Bảng 2.8 Bảng khảo sát phần kết thúc có lời hội thoại trực tiếp 55

Bảng 2.9 Sơ đồ mô hình truyện cười HĐVN 56

Bảng 2.10 Bảng khảo sát số lượng lời thoại nhân vật 57

Bảng 2.11 Bảng khảo sát số lượng tiếng (âm tiết) trong lời thoại nhân vật 58

Bảng 2.12 Bảng khảo sát lời thoại sử dụng lớp từ, ngữ mang phong cách sinh hoạt tự nhiên hàng ngày và lời thoại sử dụng thành ngữ, tục ngữ, thơ, ca dao 61 Bảng 2.13 Bảng khảo sát số lượng lời trao - đáp và các dạng trao - đáp 64

Bảng 2.14 Bảng tổng hợp số lượng cặp thoại có lời thoại trao trần thuật - đáp trần thuật 66 Bảng 2.15 Bảng tổng hợp số lượng cặp thoại có lời thoại trao hỏi - đáp trần thuật 67

Bảng 2.16 Bảng tổng hợp số lượng cặp thoại có lời thoại trao hỏi - đáp hỏi lại 68

Bảng 2.17 Bảng khảo sát số lượng cuộc thoại 69

Bảng 2.18 Bảng khảo sát cuộc thoại có một cặp thoại trao - đáp 70

Bảng 2.19 Bảng khảo sát cuộc thoại có hai cặp trao - đáp 71

Bảng 2.20 Bảng khảo sát cuộc thoại có ba cặp thoại trao - đáp trở lên 72

Bảng 2.21 Bảng khảo sát cuộc thoại dạng song thoại 75

Bảng 2.22 Bảng khảo sát cuộc thoại dạng tam thoại 76

Bảng 2.23 Bảng khảo sát cuộc thoại dạng đa thoại 79

Bảng 3.1 Bảng thống kê các phương thức tạo nghĩa gây cười 82

Bảng 3.2 Bảng thống kê các phương thức tạo nghĩa gây cười trong 8 tập truyện .83

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Truyện cười Việt Nam (còn gọi là truyện tiếu lâm) là một lĩnh vực truyện

kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằngnhững danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng,truyện trạng, giai thoại hài hước Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vôthức phát ra do phản ứng của cơ thể một cách đơn thuần Trong khi, tiếng cười tâm lý

xã hội biểu thị thái độ, bộc lộ tư tưởng, tình cảm con người Thông thường, tiếng cườitâm lý xã hội có hai loại: tiếng cười tán thưởng và tiếng cười phê phán Tuy vậy, sautất cả, giá trị của nó là phủ nhận cái xấu, cái ti tiện, đáng phê phán, nhằm hướng conngười đến một mục đích sống tốt đẹp hơn, nhân bản hơn Vì thế, các dân tộc trên thếgiới, trong đó có Việt Nam, thời nào cũng có tiếng cười, truyện cười với ý nghĩa giáodục sâu sắc

1.2 Truyện cười là một thể loại truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng và phứctạp nhưng cũng hết sức hấp dẫn, thú vị Tiếng cười trong truyện cười được phát ra từ

cái đáng cười, tức là cái hài, thuộc phạm trù mỹ học, biểu thị tư tưởng, tình cảm, thái

độ của con người trước những sự việc, những hành vi, những cách ứng xử trái tựnhiên, trái với lẽ sống, bất thường Thuộc dạng khẩu ngữ, truyện cười thường ngắngọn, có kết cấu khá chặt chẽ, chủ yếu bao gồm các cặp thoại trao đáp của các nhân vật.Theo thời gian, những truyện cười đặc sắc được lưu truyền và phổ biến thường đượcmột số tác giả sưu tầm, biên soạn và xuất bản thành sách Đối với truyện cười ViệtNam, có thể chia thành hai giai đoạn: truyện cười dân gian và truyện cười hiện đại.Truyện cười dân gian ra đời từ lâu, được công nhận là một thể loại truyện kể và là một

bộ phận của văn học dân gian Còn truyện cười hiện đại mới xuất hiện gần đây, gắnvới thời đại chúng ta đang sống Nếu như truyện cười dân gian được đưa vào giảngdạy trong nhà trường và được nghiên cứu khá đầy đủ thì truyện cười hiện đại, cho đếnnay, vẫn là mảnh đất trống; do đó, rất cần những công trình nghiên cứu góp phần xácđịnh vị trí, vai trò và giá trị của truyện cười HĐVN

1.3 So với truyện cười dân gian, truyện cười hiện đại có nhiều điểm khác biệt

về cách tổ chức văn bản, về cấu tạo văn bản, về lời thoại của các nhân vật, về sự tươngtác trong các cặp thoại và liên kết các giữa các cặp thoại thành điểm chốt, nút thắt đểtạo tiếng cười, về sự đa dạng và độc đáo trong việc sử dụng các phương thức gây cười,

…Bên cạnh đó, ngày nay việc xem xét ý nghĩa của tiếng cười luôn gắn với ngữ cảnh,với quan hệ liên nhân giữa các vai giao tiếp và đối chiếu với hàm ý mà người nói

Trang 9

muốn hướng đến người nghe,… Hệ quả là tiếng cười, phương thức gây cười và ýnghĩa của nó trong truyện cười HĐVN vừa đa dạng hình thức nhưng cũng rất thâmtrầm, sâu sắc, đậm đà bản sắc dân tộc Qua truyện cười HĐVN, những nét đặc trưngngôn ngữ - văn hóa được thể hiện đậm nét hơn, rỏ ràng hơn.

Từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận án là “Cấu tạo và phương thức thể hiện tiếng cười của truyện cười hiện đại Việt Nam”.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, chỉ ra cơ chế cấu tạo, các phương thức gây cười hấp dẫn, sinh độngtác động đến người nghe (người tiếp nhận) của truyện cười HĐVN Thông qua đó,luận án giúp người nghe biết cách tiếp nhận và tạo lập truyện cười một cách có vănhóa, có giá trị giáo dục; góp phần xác định vị trí, vai trò và giá trị của truyện cười hiệnđại trong nguồn mạch phát triển nền văn hoá của người Việt; góp phần vào nghiên cứungôn ngữ văn bản và ngôn ngữ hội thoại của nhân vật dưới góc nhìn ngữ dụng học

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hướng đến thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:

- Tổng quan tình hình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và trong nước

về truyện cười (TCDG và TCHĐ); thực hiện xác lập cơ sở lí thuyết của đề tài

- Miêu tả và phân tích đặc điểm cấu tạo của truyện cười HĐVN, chỉ rõ cách tổchức lời thoại, cặp thoại, cuộc thoại, tham thoại gắn với ngữ cảnh để tạo ra điểm chốt,nút thắt gây cười trong truyện cười HĐVN

- Tiến hành phân tích, mô tả và lý giải các phương thức thể hiện tiếng cười và hiệu quả của tiếng cười trong truyện cười HĐVN

- Bước đầu xác định những nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt được phản ánh trong truyện cười HĐVN

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là truyện cười HĐVN - cách tạo lập tiếngcười trong truyện cười Luận án xác định, phân tích cấu tạo của truyện cười từ gócnhìn hội thoại, xác định cái chốt, nút thắt tạo tiếng cười, ngữ nghĩa và phương thức thểhiện tiếng cười trong truyện cười HĐVN qua các cặp thoại trao - đáp

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiện nay, qua thống kê, truyện cười HĐVN có tác phẩm và truyền miệng khá

đa dạng Ngay trong cùng một tập cũng thiếu thống nhất, thiếu chọn lọc về chủ đề, vềmục đích, về sự pha trộn truyện nước ngoài, về thời gian của các truyện Vì vậy, luận

Trang 10

án chúng tôi đã có sàng lọc,

truyện để tìm hiểu cấu tạo

cười và đặc trưng ngôn ngữ

chọn lựa chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu với tư liệu 1045của truyện cười HĐVN, các phương thức thể hiện tiếng

- văn hóa Việt của truyện cười HĐVN

3.3 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu được sử dụng trong luận án là 1045 truyện cười hiện đại Tưliệu được thu thập từ hai nguồn: 1/ Những truyện cười sưu tầm từ điều tra điền dã,gồm 51 truyện (xem Phụ lục); 2/ Những truyện cười của các tác giả sưu tầm, biện soạn

và đã xuất bản thành sách, gồm 994 truyện; chúng tôi chọn từ:

- Đức Anh (2014), Truyện cười Học sinh, sinh viên, tập 1, Nxb Văn hóa thông

tin, H

- Đức Anh (2014), Truyện cười Học sinh, sinh viên, tập 2, Nxb Văn hóa thông

tin, H

- Đức Anh (2012), 101 truyện cười nghề nghiệp, Nxb Hồng Đức, H.

- Việt Hùng (2014), Vợ chồng cùng cười, Nxb Văn hóa thông tin, H.

- Thu Hương (2012), 330 truyện cười đặc sắc, Nxb Văn hóa thông tin, H.

- Phương Lan (2012), Truyện cười giao thông, Nxb Thời đại, H.

- Cát Linh (2012), Truyện cười pháp luật, Nxb Thời đại, H.

Những truyện cười nước ngoài chúng tôi dùng để trích dẫn và so sánh với truyện cười HĐVN được chọn từ:

- Vân Anh (2017), Truyện cười thế giới, tập 1 & 2, Nxb Dân trí, H.

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai nội dung của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu chính dưới đây:

- Phương pháp điều tra điền dã

Chúng tôi tiến hành thu thập ngữ liệu bằng hai cách: 1/ Thực hiện ghi chép trựctiếp các truyện cười kể cho nhau nghe trong cuộc sinh hoạt hàng ngày; 2/ Tham khảo,tuyển chọn những truyện cười hay trong sách vở và trên một số báo

- Phương pháp thống kê

Cùng với phương pháp điều tra điền dã, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống

kê truyện cười HĐVN từ các sách đã được xuất bản, phát hành Các truyện cười đượcthống kê phân loại theo các chủ đề, sau đó tuyển chọn những truyện cười tiêu biểu

Trang 11

- Phương pháp phân tích diễn ngôn

Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng trong phân tích ngữ liệu, gồmcác đơn vị từ lớn đến nhỏ: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại,… để làm sáng

tỏ cách thức cấu tạo, các phương thức gây cười và những nét đặc trưng ngôn ngữ - vănhoá trong truyện cười HĐVN

Bên cạnh các phương pháp trên, luận án còn sử dụng các thủ pháp mô hình hoá,thủ pháp so sánh để giải quyết các nhiệm vụ của luận án

5 Đóng góp của luận án

5.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án là công trình nghiên cứu truyện cười HĐVN một cách hệ thống dưới góc

nhìn lý thuyết hội thoại của Ngữ dụng học Các kết quả của luận án góp phần bổ sung

lý thuyết hội thoại và định hướng trong việc tạo lập, tiếp nhận truyện cười ở góc độngôn ngữ học

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án là tài liệu để tham khảo, tư liệu để trích dẫn, dẫn chứng cho việc nghiêncứu, giảng dạy học phần ngữ dụng học (phần ngôn ngữ hội thoại) ở bậc đại học vàphần nghĩa hàm ngôn ở trường phổ thông Từ việc chỉ ra đặc điểm cấu tạo của truyệncười HĐVN, xác lập các phương thức gây cười và ý nghĩa của tiếng cười cùng vớinhững nét đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá Việt trong truyện cười HĐVN, luận án bướcđầu khẳng định vị trí, vai trò và những giá trị của truyện cười HĐVN trong tiến trìnhphát triển nền văn hoá của người Việt

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận án

được triển khai thành 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề

tài Chương 2 Cấu tạo của truyện cười hiện đại Việt Nam

Chương 3 Phương thức gây cười của truyện cười hiện đại Việt Nam

Chương 4 Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong truyện cười hiện đại Việt Nam

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Ở nước ngoài

Các nhà nghiên cứu ở Âu - Mỹ đã quan tâm đến truyện cười từ cuối thế kỉ XIX

và phát triển vào giai đoạn cuối thế kỉ XX Từ thế kỉ XIX, một số nhà mỹ học có nhiềucông lao trong việc chỉ ra thủ pháp tạo xung đột - yếu tố cơ bản tạo nên cái hài, như:Emanuen Căng (1724 - 1804) đã khẳng định: “Cái hài nằm ở mâu thuẫn giữa cái nhỏnhen và cái cao thượng”

Sang thế kỉ XX, ngay từ năm 1951, tác giả D H Monro trong cuốn Argument

of laughter (Lập luận của tiếng cười), Nxb Đại học Men buốc [178] đã quan tâm đến

lập luận để tạo tiếng cười trong lời nói Người phương Tây chú ý đến nền kinh tế buônbán hàng hóa từ rất sớm nên họ đã chú trọng đến cách diễn đạt tạo lập luận cho cólogic, hệ thống Từ đó, họ đã quan tâm đến lập luận trong việc tạo ra tiếng cười

Cuối thế kỉ XX, với sự phát triển về kinh tế, công nghệ, khoa học tự nhiên và xãhội, giao thoa văn hóa…, việc nghiên cứu truyện cười được nhiều tác giả quan tâm

hơn Năm 1987, W Chafe, nhà khoa học hành vi Mỹ, đã công bố công trình Humor as

a disabling mechanism (Hài hước như một cơ chế/ thủ pháp vô hiệu hóa) [151,

tr.16-25] Tác giả cho rằng khi nói năng, người nói có thể cấu tạo truyện cười theo dạng

“không chịu trách nhiệm về mình” đã vô hiệụ hóa quan hệ giữa mình với người nghe,rằng “tôi không nói như vậy mà là do anh suy ra” Theo mạch phát triển về hướng này,

năm 2007, tác giả W Chafe (2007) lại cho ra đời cuốn The importance of not being

earnest: The feeling behind laughter and humor (Tầm quan trọng của việc thiếu

nghiêm túc: cảm giác đằng sau tiếng cười và sự hài hước) [152] cũng đã đề cập đếntính bất thường - cái chốt để tạo nên tiếng cười

Năm 1990, tác giả C Davies đã công bố cuốn Ethnic humor around the world:

A comparative analysis (Hài hước thuộc mỗi dân tộc trên toàn thế giới: phân tích so

sánh) do nhà xuất bản Đại học Indiana phát hành [155] Trong công trình này, tác giả

đi sâu nghiên cứu truyện cười của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới và nhận thấy,giữa các truyện cười thuộc các dân tộc khác nhau đó, chúng có những đặc điểm chung(về quy tắc cấu tạo, về cái chốt ngữ nghĩa tạo tiếng cười) nhưng vẫn có những đặcđiểm riêng, khác biệt tùy thuộc vào văn hóa, đặc trưng tư duy, tính biểu trưng của mỗidân tộc Có những truyện cười, khi đọc lên, người đọc cười và khẳng định đây không

Trang 13

phải là truyện cười xuất xứ từ Việt Nam, vì qui chiếu với văn hóa Việt thì chúng không diễn ra như vậy Ví dụ:

Một người đàn bà ngồi trên một chiếc ghế đá ở công viên và một con chó thân dài nằm đối diện với chiếc ghé Một người đàn ông tiến đến và ngồi xuống ghế

Người đàn ông: - Chó nhà bà có cắn không nhỉ?

(Man) (- Does your dog bit?)

Người đàn bà: - Không, chó của tôi không cắn

(Người đàn ông với tay âu yếm con chó Con chó ngoạm vào tay người đànông)

Người đàn ông: - Thế mà bà bảo chó của bà không cắn?

(Man) (Woman! Hey! You said your dog doesn‟t bit.)

Người đàn bà: - Nó không cắn đâu Nhưng đây không phải là chó nhà tôi

(Woman) (He doesn‟t bit But that‟s not my dog)

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến truyện cười dưới những gócnhìn khác nhau, đó là: ngữ nghĩa, cấu trúc, quan hệ đa chiều

Từ góc nhìn ngữ nghĩa, chuyên khảo của tác giả V Raskin (1985) với tên gọi

Semantic mechanisms of humor (Cơ chế tạo nghĩa của sự hài hước) [182] Ở chuyên

khảo này, tác giả đã đề cập đến các cơ chế tạo nghĩa của truyện cười như hàm ý, nóiquá hay nói ngược Tiếp đó, năm 2001, tác giả S Coulson công bố tác phẩm nổi tiếng

Semantic leaps: Frame-shifting and conceptual blending in meaning construction

(Bước chuyển về ngữ nghĩa: Sự chuyển đổi và pha trộn nghĩa trong việc tạo nghĩa), doNhà xuất bản Đại học Cambridge phát hành [154] Hai tác giả này đã nhận ra sựchuyển đổi về nghĩa trong truyện cười là bước nhảy vọt quan trọng, có giá trị, bởi vì sựchuyển nghĩa nhờ đặt trong tình huống giao tiếp này mới tạo nên tiếng cười đối vớingười đọc

Từ góc nhìn cấu trúc (hay mô hình của văn bản truyện cười), chúng ta gặp công

trình của hai tác giả W Ruch và F J Hehl (1998), A two-mode model of humor

appreciation: Its relation to aesthetic appreciation and simplicity-complexity of personality (Mô hình hai phương diện của sự đánh giá hài hước: mối quan hệ của nó

với sự đánh giá về mặt thẩm mỹ và sự đơn giản - phức tạp của tính cách) [185, 142] Trong công trình này, hai tác giả trên đã nói đến những khám phá về đặc điểmtính cách nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật thông qua cảm xúc hài hước

tr.109-Từ góc nhìn quan hệ đa chiều, E Oring (1992) với cuốn Jokes and their

relations (Tiếng cười và những mối quan hệ của chúng), do Nhà xuất bản Đại học

Trang 14

Kentucky phát hành [180]; tác giả đã bàn về mối quan hệ giữa truyện cười với tâm lýcon người trong xã hội, để qua đó rút ra sự mỉa mai, diễu nhại, sự chê bai qua tiếngcười một cách thâm thúy, sâu cay Cũng theo hướng tiếp cận này, đó là công trình của

C Davies (1998), Jokes and their relation to society (Truyện cười và mối quan hệ của

chúng với xã hội) [156, tr.16]

Từ góc nhìn chung về ngôn ngữ, G Richie (2004) trong tác phẩm The linguistic

analysis of jokes (Phân tích ngôn ngữ của truyện cười), London [183], khác với những

tác giả đi trước, tác giả đã phân tích phương tiện ngôn ngữ để tạo tiếng cười trongnhững truyện cười bằng tiếng Anh, như đồng âm, đa nghĩa, trái nghĩa…

Đặc biệt, các tác giả nghiên cứu văn học dân gian Nga đã đề cập đến truyệncười từ rất sớm, như V IA Prôp (1928, 1970) V.V Vinôgrađôp (1944, 1963), M.V.Khrapchenko (1970), M.M Bakhtin (1965), Bêlinxki (1955), Secnưxépxki (1949),N.I Crapxốp (1956), V.Guranních (1961),…

Tác giả R Lupxơ đưa ra ý kiến khẳng định “mâu thuẫn giữa cái trọng đại và cái

vô nghĩa là cái cơ sở của hài kịch”; còn tác giả Phờlorenxơ lại cho “cái hài kịch nằmgiữa cái trọng đại có giá trị và cái huênh hoang tự cho là cái có giá trị” /Dẫn theo ĐỗVăn Khang [51, tr.62]/ Nhà phê bình Nga Bêlinxki cho rằng “hài kịch là hoa của vănminh, là quả của dư luận xã hội đã phát triển” Còn Secnưxépxki thì viết “Khi chế diễucái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó” /Dẫn theo Nguyễn An Tiêm, [116, tr.19]/ Nhưvậy, ý kiến của cả hai nhà văn Nga đều khẳng định vai trò, tác dụng hết sức quan trọngcủa truyện cười trong xã hội phát triển Xét cho cùng, truyện cười được xây dựng dựatrên lời của ít nhất là hai nhân vật, tạo nên câu hỏi để người nghe hồi đáp lại lời củanhân vật trao; hai nhân vật này tồn tại trong cuộc sống hàng ngày, nhưng đi vào tácphẩm lại do người xây dựng tạo nên Ngay đối với văn bản nghệ thuật cũng luôn dùngđến nghệ thuật hỏi đáp Bêlinxki đưa ra kết luận quan trọng: "Tác phẩm nghệ thuật sẽchết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đauhay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câuhỏi đó” /Dẫn theo Nguyễn An Tiêm [116, tr.88]/,…

Nhà văn G.Gogol thì khẳng định vai trò của tiếng cười trong xã hội: “Không!Tiếng cười có ý nghĩa sâu sắc hơn người ta lầm tưởng Đây không phải là tiếng cườinảy sinh do một sự bực dọc nhất thời, do tính chất nóng nảy và bệnh hoạn, cũng khôngphải là tiếng cười tiêu khiển, nhàn tản, mua vui của một hạng người nào đó Đấy làtiếng cười vỗ cánh bay hoàn toàn xuất phát từ bản chất trong sáng của con người Vỗcánh bay, vì nó là ngọn nguồn vĩnh viễn phong phú của tiếng cười, vì tiếng cười này đisâu vào đối tượng, buộc những gì lẽ ra thường chỉ lướt nhanh phải hiện lên một cách

rõ rệt, và nếu không có sức mạnh thâm nhập của nó thì những mặt tầm thường và trống

Trang 15

rỗng của cuộc sống sẽ không làm con người khiếp sợ đến thế” /Dẫn theo Đỗ VănKhang, [51, tr.21]/ Nhà văn Banzắc cũng cho rằng: “Cười là tinh thần của lòng cămthù Cái hài đã xâm nhập vào mặt trái của cuộc sống, phát hiện những gì còn mập mờ

để vạch mặt chỉ tên phanh phui nó” /nt [51, tr.22]/

1.1.2 Ở trong nước

Ở Việt Nam, có thể chia ra hai hướng chính: Nghiên cứu truyện cười dưới góc nhìn văn học dân gian và dưới góc nhìn ngôn ngữ học

a Dưới góc nhìn văn học dân gian

Trước cách mạng tháng Tám, những nghiên cứu về chuyện cười rất hạn chế.Trong thời kì này có thể kể đến bài viết của Đặng Thái Mai “Ý nghĩa nhân sinh của

truyện cười nước ta ngày xưa” do Tạp chí Tri Tân xuất bản năm 1943 [72] Đây là bài

viết về vai trò của truyện cười chứ chưa hề quan tâm đến các phương diện khác củatruyện cười, như thi pháp, cấu tạo, ý nghĩa, phương thức thể hiện văn bản truyệncười… Sau hòa bình 1954, số lượng tác giả công bố bài viết, giáo trình về truyện cườitrong văn học dân gian ngày một nhiều hơn theo thời gian Năm 1958 có thể kể đến

nhà nghiên cứu văn học dân gian là Văn Tân với Tiếng cười Việt Nam, gồm hai quyển

(quyển thượng, 166 trang, quyển hạ 176 trang) đi vào thống kê sưu tầm truyện cười Ở

tập I, phần Lời mở đầu, tác giả có nói đến giá trị của truyện cười, chủ yếu là phê phán

thói hư tật xấu, như tính keo kiệt, tính tham ăn, tính khoác lác… [100, tr.13]

Năm 1960, nhóm tác giả Nguyễn Hồng Phong, Trương Chính, Đỗ Thiện, Đặng

Việt Thanh, Hoàng Tuấn Phổ công bố cuốn Truyện cười dân gian Việt Nam cũng đã đi

vào sưu tầm tuyển chọn truyện cười dân gian [91] Theo thời gian, có thể kể đến giáotrình văn học dân gian của các nhà nghiên cứu, như: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên

(1973), Văn học dân gian, phần “Truyện cười”, tập 2 [55, tr.187-198], Hoàng Tiến Tựu

(1990), Văn học dân gian Việt Nam, phần Truyện cười [129], nhóm ba tác giả Lê Chí

Quế - Võ Quang Nhơn - Nguyễn Hùng Vĩ (1990) [93] và Vũ Ngọc Khánh (1996) [54]đều gọi là truyện cười dân gian trong kho tàng truyện cười Việt Nam

Đặc biệt, năm 1996, với đề tài luận án tiến sĩ Cái hài trong truyện cười dân

gian, Nguyễn An Tiêm đã đi sâu nghiên cứu truyện cười một cách đầy đủ, hệ thống và

phân tích sâu sắc [116] Chính tác giả đã khẳng định “Truyện cười văn học dân gianxuất hiện từ rất sớm, có tuổi hàng nghìn năm Cho đến nay, nó vẫn tươi rói giá trị, vẫngóp phần giải trí lành mạnh và bồi dưỡng phẩm chất lạc quan cho dân tộc, góp phầnkhông nhỏ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” [116, tr.5] Trong nội dung luận

án, tác giả đi sâu 6 vấn đề chính về truyện cười: (1) Thi pháp thể hiện cái hài trongtruyện cười dân gian, gồm cái xấu tưởng là đẹp; cái xấu cố tỏ là đẹp; (2) Kết thúc bất

Trang 16

ngờ; (3) Sử dụng yếu tố tục; (4) Phóng đại sự việc; (5) Tạo nên cái máy móc; (6) Sửdụng ngôn ngữ Có thể khẳng định, với luận án này, Nguyễn An Tiêm là tác giả đầutiên chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ (đồng âm khác nghĩa, phép đối, phép nói lái, sửdụng từ ngữ lạ) để tạo tiếng cười dân gian Tuy nhiên, ở phần ngôn ngữ, tác giả chỉdành cho chúng số trang viết rất hạn chế [116, tr.88 - 94] Cho đến năm 2015, luận án

được in thành sách (có bổ sung và chỉnh sửa) với tên gọi Cái hài trong truyện cười

dân gian người Việt [117] đã khiến người đọc chú ý nhiều hơn đến truyện cười dân

gian

Năm 1994, Phan Thị Đào và Phan Trọng Hòa viết chung bài “Vấn đề gây cườibằng phương pháp lôgic qua một số truyện cười dân gian Việt Nam” đi vào phân tíchlôgic của truyện cười Hai tác giả cho rằng truyện cười không diễn ra theo lôgic củanhận thức thông thường mà phá vỡ tính khách quan, tính lịch sự của người Việt, vănhóa Việt, cách ứng xử của người Việt Chính những chỗ phá vỡ quy tắc bình thường,người ta bất ngờ và khi lí giải được thì bật lên tiếng cười [30, tr.70-84]

b Dưới góc nhìn ngôn ngữ học

Có thể nói, việc nghiên cứu truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ học xuất hiệnmuộn hơn Từ năm 1980, Nguyễn Khắc Viện với bài viết “Tiếng cười trong phongcách ngôn ngữ của Bác qua tác phẩm bằng tiếng Việt” [132] đã đi vào phân tích kếtcấu câu văn trong văn bản tiếng Việt do Bác viết (vì bên cạnh văn bản viết bằng tiếngViệt, Bác còn viết văn bản bằng tiếng Hán, tiếng Pháp) và đã rút ra kết quả sau: trongvăn bản tiếng Việt, Bác có sử dụng hai biện pháp để gây cười: biện pháp ngôn ngữ học

và biện pháp phi ngôn ngữ học Biện pháp ngôn ngữ học là biện pháp đặc thù nhằmkhai thác những đặc điểm riêng của ngôn ngữ để gây cười Bác đã dùng các biện phápngôn ngữ học chính sau: chơi chữ, tương phản… và các biện pháp phi ngôn ngữ họclà: lựa chọn, sắp xếp các chi tiết [132, tr.6] Đây là công trình khởi đầu cho việc nghiêncứu truyện cười từ cách sử dụng ngôn từ tạo thành văn bản

Năm 1987, từ bài viết “Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười”, tác giảNguyễn Đức Dân đưa ra kết luận: “Hiện tượng mơ hồ chẳng những được dùng trongnhững mẩu chuyện cười, những nụ cười ngắn gọn, nó còn được dùng để xây dựng nênnhững truyện cười Những truyện cười của các tác giả Việt Nam thường dựa trênnhững hiện tượng mơ hồ về từ ngữ” [26] Như vậy, dù tác giả chưa đi sâu nghiên cứu

lý thuyết về truyện cười nhưng đã nhận ra “cái chốt” để tạo tiếng cười

Sau này, năm 1998, Nguyễn Đức Dân với Ngữ dụng học [27] đã có đề cập đến

lý thuyết hội thoại Đặc biệt, với cuốn Tiếng cười thế giới, trong phần giới thiệu cuốn

sách, tác giả đã đề cập sơ bộ đến truyện cười dưới góc nhìn ngôn ngữ Ông viết “Mỗitruyện cười đều có ba phần cơ bản: phần chuẩn bị, phần dẫn dắt, phần kết thúc (gâycười) Ở phần chuẩn bị, độc giả được đưa vào tình huống A Ở phần dẫn dắt, người

Trang 17

dẫn chuyện làm cho người đọc thấy sự phát triển bình thường, hợp các quy luật pháttriển khách quan, khiến độc giả dự đoán rằng nếu xảy ra sự kiện A thì theo quy luật sẽ

có sự kiện B - là kết quả của A Nhưng ở phần kết thúc, tác giả bất ngờ cho sự kiệnxảy ra là C, chứ không phải là B Hai sự kiện C và B càng khác nhau, càng ngoài sựchờ đợi, dự đoán thì tiếng cười càng giòn giã, thoải mái” [25, tr.20] Theo chúng tôi, ýkiến của Nguyễn Đức Dân đã chú trọng đến cả hai mặt hình thức và ngữ nghĩa củachỉnh thể văn bản truyện cười Rất tiếc, tác giả đề cập đến những truyện cười của thếgiới chứ không phải là truyện cười Việt Nam

Năm 1993, Đỗ Hữu Châu với cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng

học [17] đã dành sự quan tâm nhiều hơn đến văn bản văn học, trong đó có cả truyện

cười Từ khi cuốn Đại cương ngôn ngữ học tiếp cận ngôn ngữ trên bình diện ngữ

dụng, trong đó có giới thiệu lý thuyết hội thoại thì từ đó, việc nghiên cứu lời thoại củanhân vật trong tác phẩm cụ thể, hoặc hội thoại trong cuộc sống hàng ngày như: muabán ở chợ, nhà trường, sân bay, bệnh viện, giao thông,… hoặc đối sánh lời thoại hainhân vật thuộc tác phẩm văn học trong tiếng Việt - tiếng Nga, tiếng Việt - tiếng Anh,tiếng Việt - tiếng Nhật, tiếng Việt - tiếng Trung,… thực sự được chú ý Trong giáotrình, một số ví dụ truyện cười với các ý nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn, tiền giảđịnh, nghĩa suy ý… đã được tác giả giới thiệu, như:

Sp1- Cậu có biết Thắng ở đâu không? Sp2- Có chiếc xe DD dựng

trước phòng cái Thủy đấy [17, tr.682].

Câu hỏi của Sp1 có nghĩa tường minh là hỏi Thắng đang ở đâu Câu đáp của

Sp2, nếu xét theo nghĩa tường minh thì chúng không tương hợp Nhưng xét nghĩa hàm

ẩn thì chúng lại cho phép (nghĩa là Thắng đang ở phòng Thủy; Thắng đang bận

việc…) Như vậy, câu trả lời hồi đáp bị “vênh” nhưng tâm thức người Việt lại chấp

nhận, vì ở đó, chúng tạo ra sự mới mẻ lí thú để tạo tiếng cười hài hước Tuy số lượngkhông nhiều nhưng những chuyện cười đó đã mở ra một hướng đi mới trong nghiêncứu cho thế hệ tiếp sau đi sâu nghiên cứu hội thoại giữa hai nhân vật tạo mâu thuẫn đểbật tiếng cười

Năm 1999, tác giả Nguyễn Thiện Giáp với Dụng học Việt ngữ [36] cũng đã chú ý

đến lý thuyết hội thoại Trong giáo trình của mình, tác giả đã chọn tiếng Việt làm đốitượng chính để đi sâu nghiên cứu và mô tả Trong lý thuyết hội thoại, tác giả đã dành sựquan tâm nhiều đến dạng song thoại trong đó có tham thoại chứa hành động hỏi - đáp

Cũng năm 1999, Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ nghĩa lời hội thoại có đề cập đến

ngữ nghĩa của câu hỏi và phương tiện thể hiện câu hỏi và câu đáp [62, tr.83] Trongphần ngữ nghĩa của văn bản hội thoại, tác giả có nói đến nghĩa hàm ngôn của văn bản

Trang 18

hội thoại và phương thức cấu tạo hàm ngôn qua các truyện cười [62, tr.217- tr.251] Từphương diện lý thuyết, tác giả đã trích dẫn các truyện cười để minh họa Chẳng hạn:

Ai sợ vợ nhất

Sư cụ ngồi đàm đạo với mấy người khác, có người hỏi rằng:

- Trong đám ta đây, ai là người sợ vợ nhất?

- Tôi đây sợ vợ nhất Mọi người lấy làm lạ hỏi: Sư cụ có vợ đâu mà sợ?

- Tôi sợ vợ đến nỗi không dám lấy vợ nữa

(Nguyễn Văn Cừ, Phan Trọng Thưởng, Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam, tr.72).

Những ví dụ về truyện cười của tác giả chỉ để minh họa cho nghĩa hàm ngônqua lời thoại nhân vật chứ không phải đích trọng tâm nghiên cứu truyện cười

Bên cạnh đó, chúng ta còn bắt gặp một số luận án, luận văn và bài báo viết về

truyện cười; trong số đó, cỏ thể kể đến luận án TS của Nguyễn Hoàng Yến Hàm ý hội

thoại trong truyện cười văn học dân gian [139] Trong công trình này, tác giả đề cập

đến tập truyện cười Tiếng cười dân gian Việt Nam do Trương Chính - Phong Châu

công bố năm 2004 Trên cơ sở tư liệu đã được biên tập thành sách, tác giả đi sâunghiên cứu hai vấn đề chủ yếu: a) Các nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự với hàm ýtrong truyện cười Ở phần này, tác giả đề cập đến các phương châm hội thoại với hàm

ý hội thoại, gồm: phương châm về về lượng, về chất, về quan hệ, về cách thức theođịnh hướng của Paul H Grice Cũng ở phần này, tác giả luận án còn đề cập đến phép

lịch sự với “thể diện dương tính” và “thể diện âm tính” từ cuốn Some Universal in

language usage do hai tác giả cùng viết là P Brown & S.C Levinson [139] Trên cơ

sở định hướng lý thuyết đó, tác giả luận án đã thống kê số lượng truyện theo lịch sự

âm tính và dương tính cùng một số ví dụ minh họa từ truyện cười dân gian [139,

tr.3-46]; b) Phần nội dung thứ hai mà luận án đề cập là Lập luận và chỉ thị với hàm ý trong

truyện cười Từ kết quả trình bày khái niệm lập luận, phân tích lập luận tạo hàm ý

trong mỗi truyện, tác giả luận án đã trình bày khái niệm chỉ thị (deixis/ indexicality)

trong truyện cười Theo tác giả, chỉ thị là phạm trù ngôn ngữ trong dụng học, liên kết

các đặc trưng ngữ pháp của một số từ ngữ có tác dụng nối một phát ngôn với một tìnhhuống cụ thể [139, tr.82], chúng gồm chỉ thị nhân xưng, chỉ thị không gian, chỉ thị thờigian, chỉ thị xã hội Với những cơ sở lý thuyết này, tác giả đã đi sâu mô tả sự liên kếttạo lập luận trong truyện cười dân gian Việt Nam Trên cơ sở tiền đề lí thuyết của một

số khái niệm: Hàm ngôn trong quan hệ với hiển ngôn, Hàm ý hội thoại, TGĐ; Phéplịch sự, Quy chiếu và Lập luận, tác giả luận án đã đề cập đến hai vấn đề chính củatruyện cười dân gian là: a) Các nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự với hàm ý trongtruyện cười; b) Lập luận và chỉ thị với hàm ý trong truyện cười (gồm 2 tiểu mục: lậpluận với hàm ý trong truyện cười; Chỉ thị với hàm ý trong truyện cười) [139, tr.111-

Trang 19

136] Theo chúng tôi, đây là luận án lý thú nghiên cứu truyện cười dưới góc nhìn ngữdụng học Tuy vậy, tư liệu trong đề tài của Hoàng Yến cũng giống những bài viết ngônngữ khác của tác giả và những đồng nghiệp đi trước vẫn chọn là truyện cười dân gianViệt Nam.

Ngoài ra, Nguyễn Hoàng Yến còn có bài báo “Nhận diện hàm ý hội thoại trong

các truyện cười dân gian: Khoe của và Hai chiếc áo” [141] cũng đã chú ý đến nghĩa

-hàm ý - trong phạm vi hai truyện truyện cười dân gian điển hình, đó là -hàm ý hội thoạiliên quan đến việc cung cấp thừa tin, bên cạnh những tiểu nhóm khác, như hàm ý hộithoại liên quan đến việc lạc đề; hàm ý hội thoại liên quan đến nói ra ngoài đề,…

Đề tài của Trần Châu Ngọc (2011) Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội

thoại [78] cũng xuất phát từ góc độ nghiên cứu hội thoại nhưng tác giả luận văn đã

chọn lựa tư liệu để khảo sát là Truyện cười dân gian Việt Nam do hai tác giả Trương

Chính và Phong Châu (tuyển chọn, giới thiệu) Các đơn vị hội thoại khi trao - đápđược chú ý trên các mặt sau: a) Đặc điểm của hành động (hay còn gọi là hành vi ngônngữ) được sử dụng theo cách nói trực tiếp và cách nói gián tiếp; b) Đặc điểm của thamthoại trao và tham thoại đáp dựa trên các truyện cười có thể là hành động hỏi hoặckhông phải là hành động hỏi Phần lớn những truyện cười được tác giả trích dẫn minhhọa nhằm chứng minh cho quan điểm lý thuyết của mình đều có liên quan đến truyệncười dân gian Trong truyện, nhân vật có thể sử dụng hành động nghi vấn hay không

sử dụng hành động nghi vấn Chẳng hạn, trong truyện sau, nhân vật không sử dụnghành động hỏi (hay nghi vấn, theo Searle.J.R, thuộc tiểu nhóm điều khiển - directives -

như các động từ ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép) mà chủ yếu là sử dụng hành động nói, còn hành động trả lời (thuộc tiểu nhóm hành động trình bày - expositifs - gồm các động từ: phủ định hay khẳng định, trả lời, phản bác, nhượng bộ, dẫn ví dụ, báo cáo).

Ví dụ:

“Một anh tính hay nịnh kẻ quyền quý Một hôm đến nhà ông quan nọ nói nịnh:

- Hôm qua con nằm chiêm bao thấy ngài sống một ngàn năm, mừng quá, sang

báo tin ngài rõ Ông quan nghe xong có vẻ buồn nói:

- Sách nói chiêm bao thấy sống là chết, thấy chết là sống, vì người ta thức là

thuộc “dương” mà ngủ thì thuộc “âm”, âm dương trái nhau, anh chiêm bao như thế thì

tôi khó lòng toàn vẹn được Anh kia nghe, sợ quá, vội nói chữa:

- Bẩm ông, đúng như thế đấy ạ! Con nói lộn, chứ thực ra là thấy thầy chết một

ngàn năm cơ ạ [22, tr.158]

Bên cạnh đó, một số bài viết về truyện cười của một số tác giả đi trước [55],[84], [91], [92] cũng đều dựa trên tư liệu truyện cười dân gian Từ thực tiễn nghiên cứucủa các tác giả trên đây, có thể khẳng định chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu truyện

Trang 20

cười HĐVN Do đó, chúng tôi tự xác định một hướng đi mới, tiếp cận truyện cười hiệnđại khác với tác giả đi trước Ví dụ:

Thử lòng chàng rể

Một bà hỏi chàng rể tương lai:

Sp1: - Nếu tôi và con gái cùng đang bị chết đuối thì anh cứu ai?

Sp2: - Dạ, cháu sẽ cứu bác trước rồi sau đó xin cùng chết với con gái bác

[IV, tr.23].Trong truyện cười trên có tham thoại trao là lời của bà mẹ cô gái (Sp1) hỏitrước Lời đáp của chàng trai (Sp2) chứa tham thoại trả lời đứng sau, có sự liên kết vớitham thoại hỏi Tham thoại của Sp2 (chàng trai) chứa đựng một nghịch lý và một kếtquả bất ngờ là cứu bà mẹ (Sp1) khỏi chết đuối nhưng anh ta lại xin chết cùng cô gáicon bà ta; từ đó, người đọc suy ra điều anh ta muốn nói không phải nằm trên bề mặtcâu chữ Cách gây cười bằng lối nói ngược cũng là ý nghĩa của nó cần phải đượcnghiên cứu thấu đáo

1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài

1.2.1 Một số vấn đề chung về truyện cười liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.2.1.1 Khái niệm truyện cười

Truyện cười dân gian có từ xa xưa, khi con người sống thành cộng đồng, có nhucầu giao tiếp, bộc lộ thái độ vui đùa hay chê bai, mỉa mai, phê phán hàm ẩn hay tạo lậpquan hệ đa chiều,… Mặc dù truyện cười được kể cho nhau nghe, nhưng khái niệmtruyện cười được định nghĩa như thế nào lại là một vấn đề chưa thống nhất Về thuậtngữ, truyện cười dân gian (Jokes of folklore; folklore' Jokes; humor) trong tiếng Việttrước đây còn được gọi là chuyện tiếu lâm (rừng cười) Hiện nay, các nhà nghiên cứudân gian chia ra hai dạng: truyện cười và truyện trạng Trong truyện trạng lại chia ra batiểu nhóm: trạng Quỳnh, trạng Lợn và truyện “Ba Thi” Nhưng tác giả Nguyễn An

Tiêm [116] lại xếp vào một nhóm chung là truyện cười dân gian Như vậy, ý kiến của

các nhà nghiên cứu sau này thống nhất ở việc xem truyện cười dân gian là một dạng

riêng, được khẳng định, có vị trí quan trọng bởi vì bốn lí do như sau: Một là, trong văn

học dân gian, truyện cười có một vị trí nhất định bên cạnh các thể loại khác (thầnthoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao…) đồ sộ về số lượng, sâu sắc

về ý nghĩa, đa dạng về sắc thái, phong phú về thủ pháp nghệ thuật,… Trong sự thốngnhất biện chứng giữa nội dung và hình thức, truyện cười dân gian đã tồn tại và khẳngđịnh một cách vững chắc đặc trưng của một thể loại riêng nằm trong cái chung nhưngchưa được thừa nhận là một bộ phận của nền văn hóa chính thống của cả dòng văn học

dân gian người Việt Hai là, trong xã hội cũ, do hệ ý thức phong kiến chi phối, cáí hài

Trang 21

bị xếp vào loại thấp kém, vì quan niệm chính thống cho rằng nó là tầm thường, dungtục, rằng cái tài hài hước là cái tài vô hậu Truyện cười dân gian chưa bao giờ đươc

thừa nhận là một bộ phận của nền văn hóa chính thống Ba là, sau cách mạng tháng

Tám, nhất là từ sau năm 1954, ở miền Bắc, truyện cười dân gian bắt đầu được chú ýnghiên cứu với cách nhìn và thái độ đúng đắn, khoa học hơn nhưng sự đầu tư nghiêncứu vẫn chưa thỏa đáng so với số lượng và chất lượng của thể loại này Do đó, nhữngphân tích đánh giá, nhận định về truyện cười dân gian vẫn còn tản mạn và thiếu tính hệ

thống Bốn là, trong chương trình giảng dạy của các trường đại học và cao đẳng, văn

học dân gian là một phần không thể thiếu và chiếm một vị trí quan trọng Kết quảnghiên cứu của chuyên luận này sẽ giúp các nhà giáo, các nhà nghiên cứu có thêm tưliệu giảng dạy, nghiên cứu tốt hơn Với bạn đọc khác, tập sách này sẽ là một tài liệutham khảo bổ ích [117, tr.10]

Một số từ điển khác bỏ qua khái niệm truyện cười Sau đó, năm 2002, theo từ

điển dùng cho học sinh nhà trường là cuốn Tiếng Việt phổ thông thì truyện cười được định nghĩa như sau: “Truyện cười dt truyện dân gian dùng hình thức gây cười để giải

trí hoặc để phê phán nhẹ nhàng (đồng nghĩa với tiếu lâm)” [133, tr.972]

Tư liệu của luận án là truyện cười HĐVN, chúng tôi lựa chọn những truyện cười

có tên tác giả sưu tầm, biên soạn và được các nhà xuất bản in thành sách từ năm 2000trở lại nay

1.2.1.2 Phân loại truyện cười

a Truyện cười dân gian

Truyện cười dân gian (hay còn gọi là “ truyện tiếu lâm”; nói tắt là “tiếu lâm”với nghĩa gốc “rừng cười”) là truyện xuất hiện hay được người dân sử dụng không cótên tác giả biên soạn, được lưu truyền trong dân gian từ lâu đời, sau đó được các nhànghiên cứu biên tập hoàn chỉnh in thành sách Theo Nguyễn An Tiêm, truyện cười dângian có bề dày hàng nghìn năm Cho đến nay, nó vẫn còn nguyên giá trị lành mạnh vàbồi dưỡng phẩm chất lạc quan cho dân tộc, góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn bảnsắc văn hóa dân tộc Tuy vậy trong xã hội cũ, nó chưa được nhân dân định danh mộtcách khái quát Trước con mắt của nhà nho, nó được gọi là tiếu lâm [22, tr.496] Cuối

thế kỉ XIX đầu XX, Trương Vĩnh Kí gọi là chuyện khôi hài, còn Huỳnh Tịnh Của gọi

là chuyện giải buồn, Năm 1916 Trần Văn Tý gọi là Khôi hài thú vị Năm 1925, Lạc Sinh gọi là Tân tiếu lâm, đến năm 1949, Đồ Nam cho ra đời cuốn Tiếu lâm Việt Nam.

Cho đến năm 1957 Nguyễn Hồng Phong vẫn sử dụng tên gọi cho cuốn sách do mình

viết là Tiếu lâm Việt Nam Từ năm 1960 trở về sau, tên gọi Truyện cười dân gian Việt

Nam chính thức được ra đời và nhiều tác giả biên soạn giáo trình đã sử dụng phổ biến

Trang 22

như: Vũ Ngọc Khánh [53], [54], nhóm nhiều tác giả Bùi Văn Nguyên, Nguyễn NgọcCôn, Nguyễn Nghĩa Dân, Lý Hữu Tấn, Hoàng Tiến Tựu [84], Nguyễn Hồng Phong,Trương Chính, Đỗ Thiện, Đặng Việt Thanh, Hoàng Tuấn Phổ [91], Lê Chí Quế, VõQuang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ [93],

b Truyện cười hiện đại Việt Nam

Truyện cười HĐVN được chúng tôi xác lập ở những điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, theo chúng tôi, truyện cười HĐVN là truyện được sáng tác, ra đời

vào thời kì đất nước đổi mới, đặc biệt là từ năm 2000 trở về sau Đây là thời kì sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước được chú trọng và phát triển nhanh,mạnh Cơ chế thị trường đã có mặt ở mọi nơi, mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xãhội của con người và những mặt trái của nó cùng với những thói hư, tật xấu của conngười, của xã hội thời kỳ này đã được phản ánh vào trong truyện cười;

Thứ hai, đi chung trên con đường hiện đại hóa của các thể loại văn học, truyện cười

Việt Nam không thể không bị tác động bởi tính hiện đại của văn học Truyện cười Việt

Nam ra đời ở thời kỳ này đã mang dáng dấp khác hẳn so với truyện cười dân gian; Thứ

ba, so với truyện cười dân gian, truyện cười hiện đại được xây dựng ngắn gọn, nội

dung phản ánh mọi mặt của cuộc sống hiện đại, cách thức triển khai chủ yếu

là thông qua lời thoại trao - đáp trực tiếp của nhân vật tham gia hội thoại, mỗi truyệncười như là một cuộc thoại Ngôn ngữ lời thoại, ngữ nghĩa lời thoại của nhân vật đóngvai trò then chốt và là phương tiện, công cụ, phương thức để trực tiếp gây cười Trongkhi đó, truyện cười dân gian lại nặng vào lời kể, lời trần thuật, diễn giải của tác giả(hoặc người kể chuyện); truyện thường dài, nhiều nhân vật, nhiều sự kiện, nhiều chitiết, rườm rà hơn truyện cười hiện đại

Thứ tư, phạm vi, đối tượng, đề tài, chủ đề, không gian, thời gian của truyện

cười hiện đại cũng được mở rộng hơn, đa dạng hơn so với truyện cười dân gian

Trừ một số truyện cười có tên tác giả công bố trên một số báo hoặc tập san cònhầu hết các truyện cười hiện đại đều khuyết danh, được sáng tác và “xuất bản” bằngmiệng, sau đó mới được một số tác giả sưu tầm, biên soạn và in thành sách Nhìnchung, về phương thức sáng tác và lưu truyền, truyện cười hiện đại là sự tiếp nốitruyện cười dân gian Vì vậy, để làm tư liệu cho luận án, chúng tôi lựa chọn nhữngtruyện cười có tên tác giả sưu tầm, biên soạn và được các nhà xuất bản in thành sách từnăm 2000 trở lại nay

1.2.1.3 Đặc điểm truyện cười hiện đại

Bước đầu tìm hiểu truyện cười HĐVN qua tư liệu thống kê, chúng tôi rút ra một

số đặc điểm như sau:

a Chức năng: Tạo ra tiếng cười suy ngẫm.

Trang 23

b Cấu tạo: Truyện cười HĐVN có cấu tạo gồm 3 phần: (1) Phần Mở đầu - Lời tác giả, lời dẫn truyện (phát ngôn trần thuật, kể); (2) Phần thân truyện cơ bản là các cặp thoại trao - đáp của nhân vật; (3) Phần kết truyện: suy ra từ bên ngoài, hoặc có lời

đáp (logic về hình thức cấu tạo)

c Ý nghĩa: Truyện cười luôn có hai kiểu nghĩa: (1) nghĩa trực tiếp (còn gọi là

nghĩa tường minh) và (2) nghĩa suy ý (nghĩa suy luận) Đây là nghĩa không phải từngười hỏi hay từ người trả lời muốn thể hiện mà là nghĩa được suy ra từ người đọc(hay người nghe) Chúng tôi gọi là nghĩa suy ý

d Đích: Giải trí, phê bình, giáo dục, khuyên nhủ, mỉa mai, tố cáo hoặc đả kích,

châm biếm Chúng tôi gọi là nghĩa chủ đích do người kể (thường khuyết danh) muốnthể hiện

1.2.1.4 Những nhân tố chi phối truyện cười

Vê nhân tố chi phối truyện cười, có thể kể đến những nhân tố chủ yếu sau: ngônngữ tác giả (lời trần thuật - người kể) và ngôn ngữ hội thoại; ngữ cảnh; nghĩa và thaotác suy ý; đích hướng đến người tiếp nhận Sau đây, chúng tôi trình bày những nộidung cụ thể:

a Một là, ngôn ngữ tác giả

Trong Những vấn đề thi pháp của truyện, Nguyễn Thái Hòa khẳng định những

nhân tố liên quan đến truyện gồm: lời kể, lời thoại, thời gian - không gian, giọng văn.Tác giả nhấn mạnh: “Truyện là văn bản chiếu vật diễn tiến trong thời gian tự nó màngười kể chuyện đã lựa chọn cho nó” [48, tr.179] Khái niệm người kể chuyện được

thể hiện bằng phương tiện ngôn ngữ (qua các phát ngôn) trong truyện chính là lời tác

giả (ngôn ngữ tác giả) Ở dạng văn bản văn học, cần phân biệt ngôn ngữ tác giả (hay

ngôn ngữ trần thuật) với ngôn ngữ hội thoại Ngôn ngữ trần thuật (Narrative discurse)

được một số tác giả nước ngoài gọi bằng một số tên gọi khác nhau Chẳng hạn: theoJemer Phelan (1996) “Narrative as Rhetoric” (tự sự như là một biện pháp tu từ); theoMark Curie (1990) “ Post modern Narrative Theory” (Lý luận tự sự của hậu hiện đại);theo David Herman (1999) đó là “Narratologies” (Tân tự sự)…Ở Việt Nam, một sốnhà nghiên cứu cũng gọi bằng tên như “tự sự”, “tự sự học”: “Thời gian nghệ thuậttrong văn bản tự sự” (Lê Thị Tuyết Hạnh, 2003); Tự sự học: một số vấn đề lịch sử và

lý luận (Trần Đình Sử, 2003) [97]

Có thể thấy, ngôn ngữ tác giả (hay ngôn ngữ trần thuật) là ngôn ngữ dùng đểtrần thuật lại một sự kiện cụ thể nào đó, để thể hiện những quan điểm, đánh giá, nhậnxét, miêu tả của người trần thuật về đối tượng mà mình đề cập đến Ngôn ngữ tác giảchính là ngôn ngữ của người kể chuyện [97, tr.59]

Trang 24

b Hai là, ngôn ngữ hội thoại

Theo Nguyễn Đức Dân, ngôn ngữ hội thoại tiếp cận theo hướng ngữ dụng họcđược hiểu như sau: “Trong giao tiếp hai chiều bên này nói bên kia nghe và phản hồitrở lại Lúc đó, vai giao tiếp của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bênnói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bảnnhất là hội thoại” [27, tr.76] Chúng tôi sử dụng cách hiểu ngôn ngữ hội thoại nàytrong luận án

Phân biệt hai dạng ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ hội thoại giữa hai nhân vật cóluân phiên đổi ngôi sẽ giúp chúng ta hiểu đúng nghĩa của lời nhân vật Ví dụ:

Tình ngay lí gian

Một người nông dân vừa uống từng hớp rượu lớn vừa kể với bạn:

Sp1: - Tôi có một nỗi oan không thể nào thanh minh được Giờ đây cô vợ tôicoi tôi như một kẻ bệnh hoạn, súc sinh Một kẻ khốn nạn nhất mà cô ấy từnggặp

Sp2: - Sao anh nặng lời thế! Hãy kể đầu đuôi cho tôi nghe nào?

Sp1: - Chả là thế này, hôm ấy tôi đang vắt sữa cho con bò cái to nhất, tự dưng

nó cứ quật cái đuôi lung tung làm đổ thùng sữa mấy lần Sp2: - Chỉ vì đổ tý sữa

mà vợ anh ?

Sp1: - Ồ không! Lúc đó tôi không có sợi dây nào, thế là tôi bèn cởi thắt lưng ra

và buộc đuôi con bò lên nóc chuồng Do không còn thắt lưng, cái quần của tôi tụt xuống thì đúng lúc vợ tôi bước vào Tôi không thể nào giải thích nổi Sp2: -Cũng khó thật !!! [VIII]

Trong truyện cười trên, câu mở đầu văn bản “Một người nông dân vừa uống

từng hớp rượu lớn vừa kể với bạn” là ngôn ngữ tác giả, thông qua lời kể của nhân vật

kể về chuyện của mình Còn các cặp trao đáp Sp1 (Speaker - người trao) và Sp2(Speaker - người đáp) là lời nhân vật - ngôn ngữ hội thoại

c Ba là, ngữ cảnh

Theo D Sperber và D Wilson (1986) trong Relevance: Communication and

Cognition (Mối quan hệ: giao tiếp và tri nhận) cho rằng, ngữ cảnh được tạo dựng trong

quá trình những người đối thoại cố gắng đạt đến sự thuyết giải tương hợp tối ưu Ngữcảnh không chỉ là điều mà người đối thoại đã nói ra trong hội thoại, hay là những phátngôn liên quan đến tình huống hội thoại, mà còn là toàn bộ những kiến thức mà nhữngngười đối thoại sử dụng trong hội thoại nhằm phục vụ cho mục đích tương tác [191,tr.673] Còn J Dancygier (1998) cũng đồng tình với hướng này, tác giả nhận xét “quan

Trang 25

điểm trên đây (của D Sperber và D Wilson) về ngữ cảnh có hiệu quả lớn khi lý giảicác quan hệ phức tạp về mặt ngữ dụng giữa mệnh đề điều kiện và mệnh đề chính trongcác câu điều kiện thuộc ngôn ngữ tự nhiên.” /Dẫn theo Nguyễn Khánh Hà [40, tr.17]/.

Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ và các cộng sự (1999), khi dùng ngôn ngữ đểgiao tiếp, người ta thường nói ra những câu, những phát ngôn, chứ không phải lànhững từ rời rạc Tại đó, các từ kết hợp với nhau theo những quy tắc và chuẩn mực củangôn ngữ Cũng trong câu hoặc phát ngôn cụ thể, người ta mới biết được rằng: Tạitrường hợp, hoàn cảnh cụ thể này, từ có nghĩa gì (tức là nó bộc lộ nghĩa nào trong số

các nghĩa của nó) Ví dụ, khi ta nghe thấy chỉ một từ "chắc" trong tiếng Việt thôi, thì

không thể biết được người nói muốn nói gì tới nghĩa nào đó của từ này Thế nhưng,

từng nghĩa một của từ “chắc” sẽ xuất hiện rất rõ ràng, nếu ta nghe thấy nó trong các phát ngôn, những chuỗi từ đại loại như sau: lúa đã chắc hạt; nhà xây rất chắc; lời nói

chắc như đinh đóng cột; ông này chắc đã có con lớn…Và từ đó, các tác giả đưa ra

định nghĩa về ngữ cảnh như sau: “Ngữ cảnh của một từ là chuỗi từ kết hợp với nó

hoặc bao xung quanh nó, đủ để làm cho nó được cụ thể hoá và hoàn toàn xác định về nghĩa.” Và định nghĩa này cho thấy rằng ngữ cảnh có thể tối thiểu là một từ, tối đa là

một chuỗi lớn hơn, có khả năng ứng với một câu, một phát ngôn… [21, tr.178]

Trần Thị Thìn trong luận án với tên gọi “Câu nghi vấn tiếng Việt - một kiểu câu

nghi vấn dùng để hỏi” cũng xem ngữ cảnh theo hướng hẹp: “Ngữ cảnh là tổng thể nói chung những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói” [112, tr.29].

Theo cách hiểu cả rộng và hẹp, G.Cook (1999) trong Discourse and Literature,

Shanghai: Shanghai Foreign Language Education Press (Diễn ngôn và văn học) cho:

“Ngữ cảnh bao gồm ngữ cảnh giao tiếp rộng và ngữ cảnh giao tiếp hẹp Ngữ cảnh giao

tiếp rộng là những hiểu biết về thế giới vật lý, sinh lý, tâm lý xã hội, văn hóa, tôn giáo,

lịch sử, các ngành khoa học nghệ thuật của các nhân vật giao tiếp Chúng tạo nên cáikhông gian, thời gian đang diễn ra cuộc thoại Chúng cho phép các nhân vật trao đổi

thông tin ăn khớp với nhau Ngữ cảnh giao tiếp hẹp gồm toàn bộ không gian, thời gian

cụ thể, cho phép một phát ngôn cụ thể được nói ra Ngữ cảnh giao tiếp rộng và ngữcảnh giao tiếp hẹp luôn đi liền và gắn bó với nhau Ngữ cảnh giao tiếp hẹp như lànhững mảnh cắt của thời gian, hay của đời sống hiện thực, được nối kết với nhau thànhngữ cảnh giao tiếp rộng” /Dẫn theo Nguyễn Khánh Hà, [40, tr.24]/

Như vậy, có ba cách hiểu ngữ cảnh rộng, ngữ cảnh cảnh hẹp và cả rộng lẫn hẹp.Chúng tôi chấp nhận hướng hiểu ngữ cảnh bao gồm cả rộng và hẹp để đi vào xem xétnghĩa truyện cười HĐVN

Trang 26

Có thể nói, ngữ cảnh có vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến nghĩa của lờinhân vật trong câu, đoạn văn, văn bản, mặc dù ngữ cảnh không thể hiện cụ thể qua từngữ Hiểu đúng lời nhân vật, bên cạnh nghĩa của từ ngữ còn nhờ ngữ cảnh Chẳng hạn:

Sao mày không chào tao

Một người bạn đến thăm bạn mình nhưng cả hai vợ chồng anh bạn đều đi vắng,chỉ có một thằng bé chừng 4 - 5 tuổi đang nhảy cò cò ở sân Thấy thằng bé không chàomình, người bạn nói to:

- Sao mày không chào tao?

Thằng bé nghe người lạ hỏi vậy liền khoanh tay, đáp lễ phép:

- Mày chào tao ạ! [I, tr.235]

Ngữ cảnh trên giúp chúng ta hiểu đúng bản chất đứa bé không phải hỗn láo mà

là bắt chước, nhại lại cách dùng từ xưng hô của người lớn một cách máy móc nên đãtạo ra tiếng cười Trong truyện cười trên, không phải em bé dùng sai cấu tạo thamthoại mà là sử dụng từ xưng hô chưa đúng vị trí trong ngữ cảnh

d Bốn là, nghĩa và thao tác suy ý trong truyện cười

Khi bàn về nghĩa của câu, hay nghĩa của phát ngôn hành chức trong văn bản,các nhà ngữ dụng học thường nói đến sự đối lập nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn,như: Hoàng Phê (1975) [86] [Đỗ Hữu Châu (1993, 2003) [17], [19], Lê Đông [32], LêXuân Thại [102], Cao Xuân Hạo [42] Theo đó, nghĩa tường minh là nghĩa trực tiếp docác yếu tố từ ngữ đem lại [62], còn nghĩa hàm ẩn là nghĩa có được nhờ thao tác suy ý,hay còn gọi là nghĩa ngoài câu chữ [62] Nghĩa hàm ẩn được chia ra hai tiểu nhóm:Tiền giả định và hàm ngôn Tiền giả định khác với hàm ngôn ở chỗ nó không phụthuộc ngữ cảnh, nó có trước khi nói ra phát ngôn trên bề mặt, nó không mang nghĩathông báo Trái lại, hàm ngôn là ý nghĩa phụ thuộc ngữ cảnh, có sau khi nói ra phátngôn trên bề mặt, nó mang nghĩa thông báo Như vậy, hàm ngôn là nghĩa được các nhànghiên cứu quan tâm, vì hàm ngôn là “những hiểu biết có thể suy ra từ nghĩa tườngminh và tiền giả định, đây là ý nghĩa đích thực mà người nói muốn hướng đến ngườinghe” [62, tr.252]

Trong bài viết “Các nhân tố dụng học trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ (trên cơ

sở ngữ nghĩa của các tính từ đơn âm tiết tiếng Việt)”, Đỗ Hữu Châu là người mở đầucho cách tiếp cận theo hướng ngữ dụng để xem xét mặt ngữ nghĩa của từ Ông đã chia

ra các nhóm để khảo sát Ông viết “Chúng tôi cho rằng ý nghĩa từ vựng của các từ thực

có chức năng miêu tả (function descriptive) - không kể nghĩa liên hội (senceconnotative) là một cấu trúc của những nhân tố phản ánh những thuộc tính cấu thành

Trang 27

sự vật, hiện tượng khách quan (mà sau này chúng tôi gọi là thuộc tính bản thể(ontologicques) hoặc các nét nghĩa miêu tả) và những nhân tố dụng học Sự phân biệtnày chưa được chú ý trong truyền thống ngữ nghĩa học từ vựng [20, tr.168].

Hoàng Phê cho rằng cần phân biệt “ý” và “nghĩa”, vì “nghĩa” là nội dung ngữ nghĩa của từ, ngữ, câu, chỉ làm chức năng định danh, còn “ý” là hiện tượng ngữ nghĩa

khi từ và câu trở thành lời, dùng trong lời nói, thực hiện chức năng thông báo - giaotiếp [86, tr.29] Như vậy, từ những năm 1975, Hoàng Phê đã quan tâm đến ngôn ngữ

hội thoại, lời nói Hoàng Phê viết về vai trò của “ý” như sau: “Ý phức tạp hơn mà cũng phong phú hơn nghĩa Nội dung của ý có thể là những điều không diễn đạt trực tiếp mà

là diễn đạt gián tiếp, người nói gợi ra cho người nghe từ một điều diễn đạt trực tiếp nàysuy ra mà tự hiểu lấy những gì thật ra người nói muốn nói Điều diễn đạt gián tiếp đóthường gọi là hàm ý, ngụ ý” Như vậy, năm 1975, Hoàng Phê đã nêu rõ “ý” chính làhàm ngôn (cách gọi của các nhà ngữ dụng) [86]

Nguyễn Hoàng Yến nghiên cứu Hàm ý hội thoại trong truyện cười dân gian Việt

Nam cũng đã quan tâm đến nghĩa hàm ngôn biểu hiện trong lời, tác giả viết: “Phần nghĩa

được diễn đạt bằng câu chữ ít được nhắc đến, trong tiếng Việt thường gọi đó là phần nghĩahiển ngôn Hàm ngôn được quan tâm bởi đằng sau tên gọi đó, qua nhiều năm, người taphát hiện ra được những vấn đề khác nhau một cách thú vị, và cũng nhờ đó, các thuật ngữtrong phạm vi này ngày càng trở nên phân minh” [139, tr.11] Tìm hiểu 1045 truyện cườiHĐVN, chúng tôi nhận thấy, đa phần nghĩa của truyện cười có được (để gây cười) đều lànghĩa nhờ suy ý, hay còn gọi là nghĩa hàm ngôn Chẳng hạn:

Nói thẳng có phải hơn không

Chuyện trò mãi với người yêu bên gốc cây, cô gái muốn được ăn chút gì cho đỡđói, bèn gợi ý:

- Anh yêu! kiến bò trong bụng em đây này!

- Chết chửa Chàng trai hốt hoảng Thôi ta lại ghế đá ngồi vậy, ở đây chắc có

tổ kiến Ngồi ghế đá một lúc nàng lại nói:

- Em muốn… ấm bụng một chút!

- Ôi! Anh sơ ý quá để em bị gió lạnh…

- Anh chẳng hiểu gì cả Em hoa cả mắt rồi!

- À, chắc em không quen với ánh đèn cao áp ấy Vừa nói chàng trai vừa kéo cô gái vào bóng tối

Đến nước này, cô gái đánh liều:

- Anh ạ! Em nhạt mồm nhạt miệng lắm, chỉ muốn…

Chưa nghe hết câu, chàng trai như đã hiểu ý vội kéo nàng vào lòng hôn tới tấp

[IV, tr.52]

Trang 28

Ta thấy, cuộc thoại trên tất cả những lời của cô gái đều mang nghĩa hàm ngôn,

với ý “muốn được ăn chút gì cho đỡ đói” nhưng vì tế nhị nên đã sử dụng lời nói hàm ngôn Còn chàng trai không hiểu được hàm ý của cô gái, cứ nghĩ “kiến bò trong

bụng” là do ngồi gần tổ kiến, "ấm bụng" là do gió thổi lạnh, "hoa mắt” là do đèn cao áp,

"nhạt mồm nhạt miệng” là nàng muốn " " nên chàng đã đáp lại bằng những lời hiển

ngôn Điều đó, làm cuộc hội thoại vận động cho tới khi chàng trai tự ngộ nhận "như đã

hiểu ý" và kết thúc bằng hành động "kéo vội nàng vào lòng hôn tới tấp" Hành động nhầm

lẫn kiểu "như đã hiểu ý" này đã làm cho người đọc, người nghe phải bật cười.

e Năm là, đích của truyện cười

Bên cạnh hình thức cấu tạo, ý nghĩa của văn bản truyện cười Việt Nam hiện đại,thì mỗi truyện cười đều có mục đích riêng Tính hướng đích này làm cho truyện cười

có giá trị khái quát vượt lên tiếng cười thường tình Nói như nhà văn, nhà nghiên cứuGogol: “Không! Tiếng cười có ý nghĩa sâu sắc hơn người ta lầm tưởng Đây khôngphải là tiếng cười nảy sinh do một sự bực dọc nhất thời, do tính chất nóng nảy và bệnhhoạn, cũng không phải là tiếng cười tiêu khiển, nhàn tản, mua vui của một hạng ngườinào đó Đấy là tiếng cười vỗ cánh bay hoàn toàn xuất phát từ bản chất trong sáng củacon người Vỗ cánh bay, vì nó là ngọn nguồn vĩnh viễn phong phú của tiếng cười, vìtiếng cười này đi sâu vào đối tượng, buộc những gì lẽ ra thường chỉ lướt nhanh phảihiện lên một cách rõ rêt, và nếu không có sức mạnh thâm nhập của nó thì những mặttầm thường và trống rỗng của cuộc sống sẽ không làm con người khiếp sợ đến thế”/Dẫn theo Đỗ Văn Khang, [51, tr.124]

Thật vậy, đích mà truyện cười nói chung và truyện cười Việt Nam hiện đại nóiriêng là vì con người có lương tri trong xã hội Từ ý nghĩa nhờ suy ý, truyện cườinhắm đến nhiều đích khác nhau, có khi đồng thời cả hai đích, như nhà ngôn ngữ W.Ruch và F.J Hehl (1998) nhận xét: “Truyện cười Hướng đến đích - một mô hình haiphương diện của sự đánh giá hài hước đó là sự đánh giá về mặt thẩm mỹ cả sự đơngiản lẫn sự phức tạp của tính cách” [185, tr.109] Sợi chỉ xuyên suốt thời gian mà bất

cứ thời đại nào cũng cần đến là tiếng cười cất lên để từ chối cái xấu, đê tiện, đề cao cáicao cả, cái tốt, hành động vì tương lai tươi sáng

1.2.2 Một số vấn đề về hội thoại

1.2.2.1 Khái niệm hội thoại và văn bản hội

thoại a Khái niệm hội thoại

Khoảng từ năm 1962 trở lại đây, việc nghiên cứu hội thoại gắn với nhều nộidung như: ngôn ngữ lời nói, ngữ nghĩa của lời được đặt trong ngữ cảnh để hiểu đúng(nghĩa tường minh và hàm ẩn), cách sử dụng các dạng hành động ngữ vi là một

Trang 29

mảng đề tài lớn, được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm, như N.Chomsky (1962) [153], J.L Austin (1962) [42], G Yule (1969) [196], O Ducrot(1972) [198], A K.Orechioni (1986) [200]

Đáng chú ý là những tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: J.R Searle (1975),

Indirect Speech Acts [188], H P Grice (1975), Logic and Conversation [163], T A.

Dijk (1984), Dialogue and Cognition [157], J L Mey (1993), Pragmatic An

introduction [177], A.Weỉbzbicka (1987), English Act Verbers [194], F Armengaud

(1985), Pragmatics [143], H.E Hartruyện cười H & C Brown (1995), Vocabulary,

Semantics and Language Education [164], F R Palmer (1996), Semantics (2nd ed)

[181],

Khi bàn về vấn đề hội thoại, Đỗ Hữu Châu tuy không đưa ra định nghĩa nhưngông đã khẳng định: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản thường xuyên, phổ biếncủa sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều đượcgiải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này” [14, tr.276]

Hồ Lê thì viết “Phát ngôn hội thoại là kết quả của một hành vi phát ngôn đượckích thích bởi một sự kiện hiện thực (kể cả hội thoại hoặc một xung đột tâm lý củangười phát ngôn), có liên quan đến những người có khả năng trực tiếp tham gia hộithoại, nó có tác động vào anh ta khiến anh ta phải dùng lời để tác động lại và hướng lờinói của mình vào những người có khả năng tham gia trực tiếp hội thoại ấy, trên cơ sởcủa một kiến thức về cấu trúc câu và về cách xử lí mối quan hệ giữa phát ngôn và ngữhuống và của một dự cảm về hiệu quả của lời nói ấy đối với người thụ ngôn hội thoạitrực tiếp” [66, tr.180] Nguyễn Đức Dân (1998) cho rằng “Trong giao tiếp hai chiều,bên này nói, bên kia nghe và phản ứng trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bênnghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt độnggiao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất là hội thoại” [27, tr.76]

Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất,căn bản nhất của con người Đó là giao tiếp hai chiều, có sự tác động qua lại giữangười nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời” [36, tr.64]

Theo Đỗ Thị Kim Liên “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữthành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa

họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến mộtđích nhất định” [62, tr.18] Tác giả cũng nói đến các quy tắc hội thoại là những quy tắcbất thành văn nhưng được xã hội chấp nhận và những người tham gia hội thoại phảituân theo khi thực hiện các vận động hội thoại để cuộc thoại diễn ra như mong muốn

Trang 30

b Văn bản hội thoại

Hội thoại thể hiện qua truyện cười đã được hình thức hóa ở dạng văn bản Vì thế, chúng tôi cho rằng cần phân biệt văn bản hội thoại (gồm cả truyện cười) với

những văn bản khác, như: chính luận, khoa học, báo chí, hành chính - công vụ, thểhiện ở những điểm sau: (1) Mục đích, mỗi thể loại (chính luận, khoa học, báo chí,…)khác nhau thì gắn với những mục đích riêng, khác nhau; (2) Trọng điểm thông báo,

văn bản hội thoại thường thể hiện ở trọng tâm qua phương tiện từ để hỏi (ai, gì, nào,

sao, vì sao, bao giờ…), còn các văn bản khác thì không; (3) Tính liên kết về hình thức

cấu tạo, mỗi loại văn bản có phương tiện liên kết riêng nhưng văn bản hội thoại thường

có sự tỉnh lược nhờ ngữ cảnh để tạo nên sự ngắn gọn, dễ hiểu với người tiếp nhận; (4).Tính liên kết và thống nhất về nội dung ngữ nghĩa, văn bản hội thoại cũng như các vănbản khác đều có sự liên kết về ngữ nghĩa nhưng ở văn bản hội thoại, trong một sốtrường hợp, có thể không liên kết về nội dung nghĩa tường minh mà là ngầm ẩn nằm ởbên ngoài câu chữ (tạo sự bất ngờ); (5) Tính dụng học, đối với các văn bản viết khác(chính luận, khoa học, báo chí, hành chính - công vụ) được thể hiện thường gắn với ý

đồ người viết: diễn thuyết, thuyết phục, chứng minh… nhưng chúng không có sự phảnhồi trực tiếp của vai giao tiếp - hồi đáp - như văn bản hội thoại, trái lại, văn bản hộithoại luôn có sự hồi đáp trực tiếp [xem 62, tr.24 - 30] Chúng tôi thể hiện sự khác biệtgiữa văn bản hội thoại với các văn bản khác qua bảng 1.1 sau đây:

Bảng 1.1 Phân biệt văn bản hội thoại với những văn bản khác

Văn bản khác Văn bản Văn bản (chính luận, khoa

chính - công vụ)

-4 Tính liên kết và thống nhất về nội dung ngữ nghĩa + +

-5 Tính dụng học (liên quan đến tính tình thái) + +

1.2.2.2 Các nhân tố chi phối hội thoại

a Vai giao tiếp và cách sử dụng từ xưng hô

Nhân vật đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong hội thoại Để có đượchội thoại thì phải có ít nhất là hai nhân vật trở lên với hai tư cách: chủ thể đánh giá chủ

Trang 31

quan hành vi giao tiếp cụ thể để lựa chọn phương tiện ngôn ngữ tương ứng và chủ thểchủ động gây nên hoặc tiếp nhận hành vi giao tiếp với những thái độ khác nhau.

Vai giao tiếp là những người tham gia vào quá trình giao tiếp sử dụng ngôn ngữ

để tạo ra lời nói Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối vớichính sự phát ra phát ngôn và tiếp nhận phát ngôn trong quá trình hội thoại Trong mộtcuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp được chia thành hai phía tương ứng với hai vai:vai phát (kí hiệu là Sp1- Speaker 1) và vai nhận (kí hiệu là Sp2 - Speaker 2) Hai vainày thường luân chuyển cho nhau, khi Sp1 nói xong thì Sp2 trả lời và khi trả lời đếnlượt mình, Sp2 lại trở thành Sp1, hai vai cứ luân phiên như vậy cho đến khi kết thúc.Vai nói và vai nghe trong một cuộc giao tiếp đôi khi không đơn giản

Theo Hữu Đạt, “Trong hoạt động giao tiếp hằng ngày bao giờ cũng có ngườinói và người nghe Như vậy, bất cứ người nào khi tham gia giao tiếp cũng phải ở mộttrong hai cương vị đó Mỗi cương vị như vậy người ta gọi là vai giao tiếp” [31, tr.116]

Trong hội thoại nói chung và trong truyện cười HĐVN nói riêng, vai giao tiếpthường sử dụng từ xưng hô thể hiện thành cặp tương tác, hô ứng thông qua chủ đề donhà sưu tầm hay người kể chuyện thuật lại, như: chủ đề về học sinh - sinh viên thì cặp

từ xưng hô được dùng, như: cả hai cùng dùng tên riêng với nhau, hoặc tớ, mình/cậu; giữa thầy giáo - sinh viên thì dùng cặp xưng hô thầy, cô, tôi /em, trò; chủ đề về người lính thì dùng cặp từ xưng hô theo thứ bậc, chức vụ cá nhân: tôi/ thủ trưởng, đại đội

trưởng, đại đội phó, tiểu đội trưởng, đồng chí; chủ đề về vợ chồng trong gia đình thì

thường dùng cặp từ xưng hô liên quan đến tuổi tác, tình cảm giữa hai người hiện tại:

anh/ em; tôi/ mình, vợ; ông/ bà; chủ đề về giao thông vận tải, thì thường dùng cặp từ

xưng hô liên quan đến chức vụ của người giám sát giao thông tôi/đồng chí, anh, chị,

cô, bác, cụ, bà, cháu; chủ đề về y tế lại thường dùng từ xưng hô liên quan đến người

khám bệnh và bệnh nhân: tôi, con cháu, bệnh nhân/bác sỹ, y sỹ, y tá, hộ lý, cô, chủ đề

về pháp luật lại thường dùng cặp từ liên quan đến người nắm quyền lực khi xử án, xét

xử với người vi phạm, tội phạm, người mắc lỗi: tôi, chúng tôi/ông thanh tra, ông

chánh án, ông, quan tòa.

b Các đơn vị hội thoại

Các đơn vị hội thoại tính từ nhỏ đến lớn gồm: hành động nói, tham thoại, cặpthoại (cặp trao đáp), đoạn thoại, cuộc thoại

b1 Hành động ngôn ngữ

Hành động ngôn ngữ (Speech act) được Đỗ Hữu Châu gọi là hành vi ngôn ngữ

là một loại hành động đặc biệt có phương tiện sử dụng là ngôn ngữ [14, tr.88] Xét

Trang 32

trong hội thoại, thì các hành động ngôn ngữ có thể chia thành hai nhóm: những hànhđộng có hiệu lực ở lời (Illocutionary act) và những hành động xuyên lời(Perlocutionary act) Hành động có hiệu lực ở lời có nghĩa là nó có hiệu lực làm thayđổi quyền lực và trách nhiệm của người hội thoại Ví dụ, khi thực hiện một hành động

có hiệu lực ở lời là hỏi, thì hiệu lực của nó là sẽ gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương đương với nó ở người nhận: là hành động trả lời Đây là cặp thoại chứa hành động mà

chúng ta thường gặp và đi sâu phân tích trong truyện cười Còn hành động xuyên lời làhành động gây hiệu lực không đồng nhất ở những người nghe khác nhau nên chúng tôikhông đi sâu

b2 Tham thoại

Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hộithoại vào một cặp thoại nhất định” [17, tr.316] Đồng thời, ông phân biệt cặp thoại vàlượt lời ở chỗ: “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc

bắt đầu đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt

lời” [17, tr.205] và “Một lượt lời có thể nhiều tham thoại”.

Ví dụ: Áo bác có…

Sp1: Này, bác Văn, bác…

Sp2: Sao, anh có chuyện gì cần nói ngay với tôi à, đứng đây có tiện không, tôi

có làm phiền anh không?

Sp1: Áo bác có… có con rết đang bò…

Một lượt lời của của Sp1 bị chia tách thành hai tham thoại, do bị cắt ngang bởingười nghe Sp2, chúng tạo nên tiếng cười, vì người nghe hỏi lại quá dài khi cần thiếtphải hành động là hất con rết đi chứ không phải nói dài

b3 Cặp thoại

Cũng theo tác giả Đỗ Hữu Châu, cặp thoại hay cặp trao - đáp (exchange) là đơn

vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên” [17, tr.320] Còn Đỗ

Thị Kim Liên cho rằng: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, cũng tức là cặp

thoại kế cận, gồm hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp.” [62, tr.231] Theo NguyễnĐức Dân, “hai lượt lời liên quan trực tiếp với nhau và đứng kề nhau tạo nên một cặpthoại.” [27, tr.70]

b4 Đoạn thoại

Đoạn thoại là do một số cặp thoại liên kết với nhau có chung một đề tài và mộtđích hướng đến Một cuộc thoại có thể bao gồm nhiều đoạn thoại Đối với những cuộc

Trang 33

thoại có tính nghi thức và chuẩn mực thì mỗi cuộc thoại thông thường có trên ba đoạnthoại: đoạn thoại mở đầu (mở thoại), đoạn thoại thân cuộc thoại (thân thoại), đoạnthoại kết thúc (kết thoại) Đoạn mở thoại thường có tính công thức với mục đích tạolập là cơ bản Ở phần thân thoại, có thể một hoặc bao gồm nhiều đoạn thoại có sựthống nhất về chủ đề, nội dung Đoạn kết thoại nhằm mục đích kết luận một vấn đềnào đó hoặc là tổng kết cuộc thoại Xét về mặt hình thức, đoạn mở và kết thoại tươngđối ổn định và dễ nhận biết hơn các đoạn thoại ở phần thân thoại.

b5 Cuộc thoại: Theo Đỗ Hữu Châu, “Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất,

bao trùm nhất được xác định theo các tiêu chí về:

- Nhân vật hội thoại

- Thời gian và địa điểm hội thoại

- Chủ đề hội thoại

- Các dấu hiệu định ranh giới như: mở đầu, kết thúc

Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật

có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian có thểthay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứtquãng Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại có thể là: Đoạn mở thoại, Thân cuộcthoại, Đoạn thoại kết thúc” [17, tr.299] Ví dụ:

Bệnh đãng trí

Một người đi gặp bác sĩ để khám sức khỏe định kỳ Ông bác sĩ hỏi:

Sp1: - Sức khỏe của ông vẫn bình thường chứ?

Sp2: - Nói thật với bác sĩ là tôi dường như bị mắc bệnh đãng trí thì phải Tôikhông bao giờ chắc chắn được là mình đã đậu xe ở đâu, hoặc đã trả lời thưchưa, tôi luôn tự hỏi mình đang đi đến đâu và sẽ làm gì khi đến nơi đó Vì thế,tôi rất cần sự giúp đỡ của ông, bác sĩ ạ

Ông bác sĩ trầm ngâm một lát rồi nhẹ nhàng bảo:

Sp1: - Anh đã sẵn sàng chữa bệnh từ hôm nay rồi chứ?

Sp2: - Thưa vâng

Sp1: - Thế thì ông trả tiền khám bệnh cho tôi trước đi!!! [ III, tr.33]

Các đơn vị từ lớn đến nhỏ của cuộc thoại - Truyện cười Bệnh đãng trí gồm có: (i) Cuộc thoại (gồm tiêu đề Bệnh đãng trí mang tính chủ hướng và ba đoạn

thoại chính

(ii) Đoạn thoại, gồm 3 đoạn:

- Mở thoại (Một người… hỏi)

Trang 34

- Thân thoại: gồm hai cặp thoại (lời nhân vật Sp1, Sp2 xuất hiện hai lần) Trong

mỗi cặp thoại (trong truyện cười trên có 2 cặp thoại) lại có 2 tham thoại, đó là thamthoại trao (chứa hành đông hỏi) và tham thoại đáp chứa hành động hồi đáp - trả lờihướng đến tham thoại trao, chúng thường ngắn gọn)

- Kết thoại: chỉ có 1 tham thoại chứa HĐ cầu khiến của Bác sĩ (Thế thì ông trả

tiền khám bệnh cho tôi trước đi!) là “câu chốt” để gây cười xét trong sự liên kết với

những cặp thoại đi trước.

(iii) Cặp thoại: gồm hai cặp thoại (nằm ở phần thân thoại)

(iiii) Tham thoại: gồm lời của các vai giao tiếp Sp1, Sp2 (4 tham thoại cho 2 lần

nói của mỗi cá nhân)

(iiiii) Hành động: Bốn tham thoại chứa bốn HĐ, trong số đó có hai HĐ hỏi (không chứa động từ ngữ vi hỏi) nhưng có TTTT chứ kèm dấu chấm hỏi cuối tham

thoại) và hai HĐ giải trình hồi đáp, hướng đến trọng tâm thông báo ở HĐ hỏi

1.2.2.3 Cặp thoại trao - đáp chứa hành động hỏi ở tham thoại trao và hành động tương tác ở tham thoại hồi đáp trong hội thoại

Lâu nay, cùng với sự ra đời của ngữ pháp chức năng và dụng học, nhiều nhànghiên cứu quan tâm đến câu hỏi - câu đáp (hay phát ngôn hỏi, phát ngôn đáp), trong

số đó có thể kể đến Lê Đông với luận án Tiến sỹ (1996) chỉ nghiên cứu sâu về phát

ngôn hỏi dưới tiêu đề Ngữ nghĩa - ngữ dụng phát ngôn hỏi chính danh [34] Cùng đó,

tác giả có một số bài viết về câu hỏi - câu đáp trong giao tiếp, như: “Câu trả lời và câuđáp của câu hỏi” [32, tr.23] và “Vai trò của TGĐ trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụngcủa câu hỏi” [33, tr.41] Tiếp sau, một số luận văn, luận án đã đi vào nghiên cứu hànhđộng hỏi và trả lời trong truyện ngắn và tiểu thuyết

Văn Thị Nga (2009) đã thực hiện đề tài So sánh - đối chiếu biểu thức ngữ vi thể

hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn trước 1945 và sau 1975 [74].

Đối tượng của đề tài này gồm 356 HĐ hỏi trực tiếp và gián tiếp qua lời thoại của nữnhân vật trong một số truyện ngắn của các tác giả Việt Nam Ngoài việc xác lập căn cứ

từ lời thoại, nội dung và hình thức, tác giả còn đưa ra hai tiêu chí như: (1) HĐ hỏiđược thể hiện qua lời đối thoại trực tiếp của nhân vật nữ và các nhân vật khác trong tácphẩm, và (2) HĐ hỏi được tái hiện trong suy nghĩ, hồi tưởng của nhân vật Loại HĐhỏi tái hiện trong suy nghĩ hồi tưởng này chỉ được thể hiện trong tác phẩm văn học.Kết quả đề tài đã rút ra được: a) Những điểm giống nhau: Các nhân vật nữ sử dụng HĐhỏi như một phương tiện để thực hiện mục đích, chiến lược giao tiếp của mình Nhómnhân vật nữ là những người nông dân vẫn giữ được nét thẳng thắn, thuần phác, ít vòng

vo, và thể hiện tình yêu thương nồng hậu; b) Những điểm khác nhau: Vị trí, vai trò củangười phụ nữ; cách dùng từ xưng hô; nội dung của lời nhân vật nữ…

Trang 35

Đàm Thị Ngọc Ngà (2016) trong luận án tiến sỹ Cặp thoại hỏi - trả lời, cầu

khiến - hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ [76] đã nghiên cứu cấu tạo và ngữ nghĩa cặp

thoại hỏi - trả lời của các cặp đôi nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ, đó là: Hỏi - trảlời về nhận thức, thái độ, tình cảm của đối tượng; Hỏi - trả lời về thông tin đời tư củađối tượng; Hỏi - trả lời về nội dung công việc của đối tượng; Hỏi - trả lời về tư tưởng,quan điểm của đối tượng Đồng thời, từ bình diện ngữ nghĩa, tác giả đã chỉ rõ vai tròcặp thoại hỏi - trả lời trong kịch Lưu Quang Vũ, gồm: góp phần tạo nên cao trào, làmgia tăng tính kịch cho tác phẩm; tạo nên tính chất “mở” cho tác phẩm; nội dung ngữnghĩa của lời đáp luôn hướng đến người đọc vẻ đẹp hoàn mỹ; gián tiếp thể hiện thái

độ, quan điểm của nhà văn - hướng đến cái thiện, cái cao cả

Như vậy, việc đi vào nghiên cứu luận án, luận văn, bài viết của các tác giả vềcâu hỏi hay phát ngôn hỏi đứng độc lập hoặc chúng xuất hiện trong cặp thoại tương táchỏi - đáp (hỏi trực tiếp hay gián tiếp) trên đây là có đóng góp nhưng chưa có tác giảnào đề cập đến cặp thoại hỏi - đáp, trao - đáp trong truyện cười HĐVN Đó cũng là cơ

sở để chúng tôi đi sâu tìm hiểu các dạng cặp thoại trao - đáp như là một cách thức cấutạo và đặc trưng hội thoại của truyện cười HĐVN

1.2.3 Một số vấn đề về nghĩa và phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa

1.2.3.1 Một số vấn đề về nghĩa

Điểm qua một số công trình nghiên cứu về nghĩa học, chúng tôi nhận thấy cónhiều tác giả nước ngoài quan tâm đến lĩnh vực này, như: C.D.Fillmore - D T

Langendoen (1971), Studies in Linguistics Semantics [159], Paul H Grice, (1975),

Syntax and Semantics [163], F.R Palmer (1981), Semantics [181], J.R.Hurford - B.

Heasley (1984), Semantics - a Course Book [166], Paul.H Grice (1981), Studies in the

way of words [162], J Lyons (1996), Linguistics Semantics [175], Asher R.E The Ensyclopedia of Language and Lingustics (First edition), Publisher of Elsevier Social

Science [143]

Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nghĩa như: Giáo trình Việt

ngữ [Đỗ Hữu Châu (1962),12]; Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng [Đỗ Hữu Châu (1998),

15]; Từ vựng học tiếng Việt [Nguyễn Thiện Giáp (19 (194)86; 2002), 37]; Từ vựng học

tiếng Việt hiện đại [Nguyễn Văn Tu (1968), 125], Tiếng Việt Mấy vấn đề Ngữ âm Ngữ pháp - Ngữ nghĩa [Cao Xuân Hạo (2006), 43], Cơ sở ngôn ngữ học [Mai Ngọc

-chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2009), 21], [38], “Phân tích ngữ nghĩa”

[Hoàng Phê (1975), 86], “Tín hiệu và biểu trưng” [Hoảng Tuệ (1977), Văn nghệ, số 1,

Trang 36

tr.7], “Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây cười” [Nguyễn Đức Dân (1987), 26],

Ngữ nghĩa học [Lê Quang Thiêm (2017), 110], Từ trái nghĩa tiếng Việt [Phạm Văn

Lam (2019) 61] Các công trình trên đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghĩa

học như: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở thị, nghĩa liên tưởng, nghĩa biểu trưng, các hiện tượng

đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, mơ hồ về nghĩa, nghĩa tường minh, nghĩa câu mô phỏng, câu kéo theo…

Bàn về nghĩa, giai đoạn đầu, các nhà từ vựng học chủ yếu nghiên cứu nghĩatrong phạm vi từ (khác các nhà ngữ pháp lại quan tâm đến nghĩa trong câu): NguyễnVăn Tu (1968) [125], Đỗ Hữu Châu (1962) [12], Trương Văn Chình (1962) [23],Nguyễn Thiện Giáp (1986) [37],

Giai đoạn sau, khi ngôn ngữ học phát triển, chính Đỗ Hữu Châu (1982) đã rút ra

những nhận xét có tính định hướng “Ngữ nghĩa học hiện đại có những đặc trưng sau:

a) Những đơn vị mang nghĩa - đối tượng của ngữ nghĩa học - được mở rộng đến cả những đơn vị cấu trúc trên từ, đến các phát ngôn, đơn vị của giao tiếp, đến các yếu tố

kèm ngôn ngữ (Paralinguistique) và cả các hành vi ngôn ngữ; b) Nếu như ngữ nghĩa học truyền thống chỉ quan tâm tới ý nghĩa tường minh thì các ý nghĩa hàm ẩn đang

được ngữ nghĩa học hiện đại chú ý một cách đặc biệt” [20, tập 1, tr.141] (Bản gốc Ngôn ngữ, số 3, tr.18-23).

Còn tác giả Lê Quang Thiêm (2017) cho rằng “Trong đời sống hàng ngày,

chúng ta thường gặp các từ nghĩa, ý nghĩa Nội dung của các từ này thường là khó xác định… Về đại thể, phạm vi ngôn ngữ học quan tâm là giải thích, là trả lời câu hỏi: từ

có nghĩa là gì? Câu có nghĩa là gì? Nếu liệt kê cho đầy đủ thì đó là: Các hình thức ngôn ngữ, các biểu thức ngôn ngữ, các văn bản, diễn ngôn… có nghĩa gì?” [110,

tr.54] Và tác giả khẳng định: “Nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại

trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể, đa dạng khác, đặc biệt trong lời nói, trong văn bản diễn ngôn?” [110, tr.11] Cách quan niệm về nghĩa này đã mở

rộng so với thời kì trước khi ngữ dụng học ra đời chỉ xem xét nghĩa của từ ngữ, câumột cách cố định, tách rời ngữ cảnh, người sử dụng muốn nói gì, đích cần hướng đến.Tác giả đề xuất các tầng chức năng tương ứng ngữ nghĩa gồm: “a Tầng chức năng -ngữ nghĩa trí tuệ; b Tầng chức năng - ngữ nghĩa phản ánh, miêu tả… ; c Tầng chứcnăng - ngữ nghĩa tương tác; d Tầng chức năng - ngữ nghĩa biểu cảm văn hóa” [110,tr.99-100]

Theo tác giả, chức năng không phải là nghĩa mà là cơ sở, là biểu hiện của nghĩa,nói một cách cụ thể: “Nghĩa là cái được tổng hợp từ một chuỗi, một loại lớp chức

Trang 37

năng Nghĩa cũng không phải là cách dùng mà là sự tổng hợp từ cách dùng Nghĩa gắnvới hoạt động chức năng, nghĩa có mối liên hệ bản chất với giao tiếp, tư duy, hoạtđộng có ý thức của con người Nghĩa có mối liên hệ bản chất với giao tiếp, tư duy vàchức năng của các loại đơn vị, yếu tố, biểu thức của ngôn ngữ trong cấu tạo cũng nhưtrong hoạt động của chúng thể hiện ở các loại hình phong cách chức năng ngôn ngữ đadạng khác nhau mà trước đây dưới góc nhìn tu từ học và nay là ngữ dụng học chú ýkhám phá” [110, tr.100].

1.2.3.2 Khái niệm nghĩa và các phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa

a Khái niệm nghĩa

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, nghĩa được hiểu: 1 Sự phản

ánh đối tượng của hiện thực (các hiện tượng, các quan hệ, phẩm chất, quá trình) vàotrong nhận thức, trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ việc tạo nên mối liên hệthường trực, liên tục với môt chuỗi âm thanh nhất định nhờ đó sự phản ánh hiện thựctrong nhận thức được hiện thực hóa Sự phản ánh hiện thực này tham gia trong cấutrúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ với với mặt âm thanhnhư là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo nó cho ngườikhác, mà còn cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại và phát triển của nó;

2 Toàn bộ các chức năng của các đơn vị ngôn ngữ; tất cả những điều được các đơn vị

ngôn ngữ này biểu hiện, phản ánh là mặt nội dung của chúng Ví dụ: Nghĩa chuyển;

nghĩa số lượng; nghĩa nguyện nhân.

Nghĩa của từ không phải là một thực thể độc lập với ngôn ngữ trong đó nó tồntại, mà chỉ là một khái niệm về sự vật khách quan được phản ánh vào trong ngôn ngữ.Mặt được biểu đạt, tức nghĩa của từ được xác định bởi bởi những mối quan hệ củachúng với những từ khác trong hệ thống Nói cách khác nghĩa của từ là một tập hợpcác nét nghĩa khu biệt (còn gọi là nét nghĩa hay nghĩa vị) Đó là những tiêu chí màtiếng nói giữ lại để nhận biết một loại đối tượng nào đó trong những vật thể của hiệnthực Như vậy, nghĩa của một từ là một cấu trúc có thê phân xuất xuất ra những yếu tốcấu tạo nhỏ nhất, giống như các nét nghĩa khu biệt trong âm vị học Ví dụ: Nghĩa của

từ “anh” trong tiếng Việt gồm các nghĩa vị “đàn ông”, “sinh trước”, “trong quan hệ giađình với người cùng thế hệ” v.v…[135, tr.143]

Theo Đại từ điển tiếng Việt, khái niệm nghĩa được hiểu: dt 1 Nội dung diễn

đạt của một kí hiệu: nghĩa của từ - nghĩa của câu 2 Cái nội dung tạo nên có giá trị:

Tiếng hát làm cho cuộc sống thêm có nghĩa [136 , tr.1112]

Như vậy, cả hai ý kiến trên đều gặp nhau về khái niệm nghĩa, đó là: Nghĩa làmặt thứ hai (mặt nội dung) của tín hiệu ngôn ngữ (hay của từ)

Trang 38

Giai đoạn sau này, khi ngữ dụng học ra đời và phát triển, các nhà nghiên cứu đã

mở rộng việc hiểu khái niệm nghĩa sang cả cấp độ văn bản, như: Lê Đông (1996) [34],Nguyễn Đức Dân (1993) [25], Diệp Quang Ban (2003) [5]; Diệp Quang Ban (2009)[6], Nguyễn Thiện Giáp (2000) [36], Lê Quang Thiêm (2017) [110]

b Các phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện nghĩa

Thứ nhất, giai đoạn đầu, từ năm 1962, các tác giả nghiên cứu về Từ vựng - ngữ

nghĩa thường đề cập đến 5 nhóm:

b1) Từ đa nghĩa (Polysemy)

Đỗ Hữu Châu (1962) trong Giáo trình Việt ngữ cho rằng: “Từ trong trạng thái

tự nhiên của nó, thường gắn liền với nhiều thuộc tính khái quát của đối tượng hay củahiện tượng làm cơ sở cho đa nghĩa tính của từ, bởi vì một vài thuộc tính của sự vật nàycũng là thuộc tính chung của một số sự vật khác” [12, tr.28] /dẫn theo Nguyễn Như Ý,

135, tr.84/ Đây là kết quả của sự phát triển xã hội, kéo theo ngôn ngữ trong sử dụngcũng phát triển và thay đổi theo, trong đó nảy sinh từ đa nghĩa: đa nghĩa là kết quả củaquá trình chuyển nghĩa

Theo Nguyễn Thiện Giáp (1986), đa nghĩa là “kết quả của các quá trình chuyểnnghĩa mà thực chất chuyển nghĩa là quá trình biểu trưng hóa của tín hiệu, một quá trìnhvốn có nguồn gốc tâm lý của nó trong đời sống xã hội và được ghi lại một cách tế nhị,độc đáo trong ngôn ngữ” [37, tr.176] Hiện tượng nhiều nghĩa (đa nghĩa) xảy ra với cả

ý nghĩa biểu vật, biểu niệm và biểu thái

Phạm Văn Lam (2019) cho: “Quan hệ đa nghĩa là quan hệ giữa nội bộ các cáiđược biểu hiện với nhau trong cùng một hình thức kí hiệu, cùng một cái biểu hiện Cáccấu trúc ngữ nghĩa của các cái được biểu hiện trong một cái biểu hiện đa nghĩa có tínhđồng hình, khi cái biểu hiện đa nghĩa này chưa bị chuyển phạm trù ngữ pháp Vì tínhđồng hình trong cấu trúc ngữ nghĩa của các cái được biểu hiện trong cùng một cái biểuhiện, quan hệ đa nghĩa được xem là một trong những biểu hiện có tính lí do quan trọngnhất đi ra ngoài quy luật võ đoán của ngôn ngữ tự nhiên Trong nội bộ quan hệ đanghĩa, người ta tiếp tục nhận diện nhiều loại quan hệ ngữ nghĩa khác nhau giữa nhữngcái được biểu hiện, như quan hệ phái sinh, quan hệ thứ bậc,…Quan hệ đa nghĩa cùng

với quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa và bao thuộc là những quan hệ được chú ý nhiều

nhất so với các quan hệ khác trong bất kì ngôn ngữ nào ” [61, tr.63]

Diệp Quang Ban lại cho “Cái tình thế trong đó một yếu tố từ vựng đơn lẻ có

nhiều hơn một nghĩa, như ăn (1 “tự đưa vào cơ thể thức nuôi sống” và 2 “gắn dính

chặt vào nhau”…) [8, tr.182] Trong Từ đa nghĩa từ vựng trong tiếng Việt hiện đại, tác

giả Phan Thị Nguyệt Hoa (2012) nói rõ “Từ đa nghĩa là từ có hai nghĩa trở lên, giữa

Trang 39

chúng có mối quan hệ phái sinh ngữ nghĩa, nghĩa là giữa chúng có thể nhận ra mốiquan hệ chuyển nghĩa theo quy luật nào đó như ẩn dụ, hoán dụ, mở rộng hoặc thu hẹpnghĩa” [37, tr.68].

Từ những định nghĩa về từ đa nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy từ đa nghĩa cóđặc điểm: 1 Từ đa nghĩa có từ hai nghĩa trở lên; 2 Giữa các nghĩa đó có quan hệ pháisinh (ẩn dụ, hoán dụ, mở rộng nghĩa hay thu hẹp nghĩa)

b2) Từ đồng âm (Homonymy)

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, từ đồng âm trong tiếng Việt lànhững từ phát âm giống nhau hay cấu tạo âm thanh giống nhau, nhưng ý nghĩa hoặcđồng thời cả ý nghĩa và từ loại hoàn toàn khác nhau Theo Đỗ Hữu Châu (1981), ông

lại gọi từ đồng âm là đơn vị đồng âm “những đơn vị đồng âm là những đơn vị giốngnhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về ý nghĩa [16, tr.212] Tác giả Diệp

Quang Ban, trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, lại định nghĩa: “đồng âm (và đồng

tự) (homonymy) là hai yếu tố từ vựng giống nhau về chữ viết (đồng tự) và phát âm(đồng âm) nhưng có ý nghĩa khác nhau nhận ra được trong cảnh huống sử dụng” [8,

tr.215] Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt, tuy không định

nghĩa nhưng cho rằng: “Đồng âm là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ nhưngtrong từng ngôn ngữ cụ thể có những đặc điểm riêng, tùy theo cơ cấu nội bộ của ngônngữ ấy” [37, tr.192-193]

b3) Từ đồng nghĩa (Synnonymous)

Trong Đỗ Hữu Châu tuyển tập, phần Các bình diện của từ tiếng Việt, khi bàn về

từ đồng nghĩa, tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra hai hướng định nghĩa: Hướng 1, Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hay gần giống nhau; Hướng 2, Từ đồng nghĩa

là những từ thay thế được cho nhau trong những ngôn cảnh giống nhau mà ý chungcủa ngôn cảnh không thay đổi [20, tr.604 ] Theo tác giả, mỗi hướng trên đều có nhữnghạn chế riêng (…) mà cần dựa vào: 1/Đồng nghĩa trước hết là một hiện tượng có phạm

vi rộng khắp trong toàn bộ từ vựng, chứ không chỉ bó hẹp trong những nhóm với một

số có hạn những từ nhất định Nói khác đi, đồng nghĩa trước hết là quan hệ ngữ nghĩagiữa các từ trong toàn bộ từ vựng chứ không phải trước hết là giữa những từ nào đấy

Đó là quan hệ giữa các từ ít nhất có chung một nét nghĩa Cũng có thể nói: quan hệđồng nghĩa bắt đầu xuất hiện khi bắt đầu xuất hiện một nét nghĩa đồng nhất giữa cáctừ; 2/ Do chỗ các từ có chung nét nghĩa đồng nhất đều đã được đưa về từng trườngnghĩa dọc cho nên hiện tượng đồng nghĩa chỉ xuất hiện trong từng trường nghĩa một.[tr.607]

Trang 40

Nguyễn Thiện Giáp, sau khi nêu định nghĩa từ đồng nghĩa của nhà ngôn ngữhọc đại cương Reformatxki A.A “…hai từ cùng gọi tên một sự vật nhưng tương quanvới sự vật đó với những khái niệm khác nhau, chính vì vậy mà qua cách gọi tên bộc lộ

ra nhiều thuộc tính khác nhau của sự vật đó”, tác giả chọn định nghĩa của Budagov.P.A về từ đồng nghĩa như sau: “Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa nhưngkhác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm” [37, 214 - tr.216]

Khi bàn về từ đồng nghĩa, tác giả Hoàng Trọng Canh lại dẫn ý kiến củaReformatxki A A như sau: “Hai từ cùng gọi tên một sự vật nhưng tương quan với sự vật

đó qua những khái niệm khác nhau và chính vì vậy, qua cách gọi tên bộc lộ nhiều thuộc

tính khác nhau của sự vật đó” [Dẫn theo Hoàng Trọng Canh, Giáo trình từ vựng tiếng Việt (2020), Nxb Đại học Vinh, tr.198] Từ đó tác giả cho rằng “ý tưởng sâu sắc này cho thấy hiện tượng đồng nghĩa không chỉ xét về mặt nghĩa mà cả mặt định danh.” Ví dụ: bao

diêm/ hộp quẹt; bánh đa/ bánh khô/ bánh tráng; mít mật/ mít ướt… [tr.199].

b4) Từ trái nghĩa (Antonym)

Theo Nguyễn Văn Tu, “Từ trái nghĩa tiếng Việt thường xuyên dùng với nhautrong một câu hoặc một tục ngữ, ca dao hoặc trong một thành ngữ, thậm chí cũng dùng

để tạo ra một từ ghép” [125, tr.110] Cách quan niệm này quan tâm đến việc sử dụng

từ trái nghĩa trong giao tiếp nhưng chỉ do một vai nói thể hiện

Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (được biên tập thành Đỗ

Hữu Châu tuyển tập, tập 1, cho “Từ trái nghĩa là những từ đối lập, trái ngược nhau về

nghĩa.” [20, tr.621]

Nguyễn Thiện Giáp (1986) trong Từ vựng học tiếng Việt, Mục V.Cơ cấu ngữ

nghĩa của từ vựng tiếng Việt cho rằng “Từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm,

đối lập về ý nghĩa biểu hiện khái niệm tương phản về logic nhưng tương liên lẫnnhau.” [37, tr.214]

Đại từ điển tiếng Việt không nói đến từ trái nghĩa mà cho “trái nghĩa là có nghĩa

trái ngược nhau” [136, tr.1624) Dương Kì Đức thì viết “Trái nghĩa là đối lập bêntrong một bản chất (thuộc cùng một bản chất), được phản ánh trong ý thức của ngườibản ngữ và được thể hiện trong chuẩn mực dùng từ có nghĩa biểu niệm đối lập nhauhiện trong cùng ý thức của một người bản ngữ và được thể hiện trong chuẩn mực dùng

từ; từ trái nghĩa là từ có nghĩa biểu niệm đối lập nhau” [35, tr.22].

Còn Phạm Văn Lam trong Từ trái nghĩa tiếng Việt thì cho: “Những đơn vị từ

vựng có nghĩa đối lập nhau có thể được quy thành những đơn vị từ vựng trái nghĩa.”[61, tr.133]

Ngày đăng: 11/06/2021, 15:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Vân Anh (2009), “Hiện tượng chơi chữ đồng âm trong truyện tiếu lâm Việt Nam”, trong Ngữ học trẻ 2008, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, H. 399-402 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng chơi chữ đồng âm trong truyện tiếu lâm Việt Nam”, trong "Ngữ học trẻ 2008
Tác giả: Phan Thị Vân Anh
Năm: 2009
2. Lại Nguyên Ân (2003), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
3. Bakhtin. M. (1993) (Phạm Vĩnh Cư dịch), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Trường viết văn Nguyễn Du, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Nhà XB: NxbTrường viết văn Nguyễn Du
4. Diệp Quang Ban (2003), “Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện”, Ngôn ngữ, số 10, 68-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2003
5. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp. Văn bản. Mạch lạc. Liên kết. Đoạn văn, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp. Văn bản. Mạch lạc. Liên kết. Đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2003
6. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục Việt Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
7. Diệp Quang Ban (2017), Phân tích diễn ngôn với ngôn ngữ văn chương, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn với ngôn ngữ văn chương
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đạihọc Quốc gia
Năm: 2017
8. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo), Nxb Giáo dục Việt Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành văn bản
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
10. Nguyễn Huy Cẩn (chủ biên), (2005), Việt ngữ học dưới ánh sáng các lý thuyết hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt ngữ học dưới ánh sáng các lý thuyết hiện đại
Tác giả: Nguyễn Huy Cẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
11. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng-Từ ghép- Đoản ngữ), Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng-Từ ghép- Đoản ngữ)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NxbĐH và THCN
Năm: 1975
12. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Từ hội học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
13. Đỗ Hữu Châu (1990), “Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học”, Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1990
14. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
15. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
16. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Đỗ Hữu Châu (1993), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
18. Đỗ Hữu Châu (2000), “Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ”, Ngôn ngữ, số 10, 1-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2000
19. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, Nxb Đại học sư phạm, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2003
20. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tâp, tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tâp
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w