1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tính giá trị và vai trò của Nho học trong triết lý giáo dục Việt Nam

7 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 389,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử tồn tại của mình, Nho học trải qua quá nhiều thăng trầm, lúc được đề cao đến tận mây xanh, lúc bị vùi dập không thương tiếc. Về chủ quan, có mâu thuẫn trong việc xác định tính giá trị của Nho học có nguồn gốc từ sự đa dạng phức tạp về các biến thể của Nho học.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

TÍNH GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NHO HỌC TRONG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM

Validity and role of Confucianism in Vietnam’s educational philosophy

GS TSKH Trần Ngọc Thêm

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM

TÓM TẮT

Trong lịch sử tồn tại của mình, Nho học trải qua quá nhiều thăng trầm, lúc được đề cao đến tận mây xanh, lúc bị vùi dập không thương tiếc Về chủ quan, có mâu thuẫn trong việc xác định tính giá trị của Nho học có nguồn gốc từ sự đa dạng phức tạp về các biến thể của Nho học Về khách quan, mâu thuẫn này có nguồn gốc từ sự đa dạng các nhu cầu của đối tượng sử dụng Đề cao hay hạ thấp thì cũng đều bắt nguồn từ bản chất hướng đến sự ổn định của Nho học Để phục vụ cho mục tiêu ổn định do loại hình văn hóa quy định, triết lý giáo dục truyền thống nhằm đào tạo ra những người thừa hành mà phẩm chất quan trọng là biết vâng lời chứ không phải là sáng tạo Nho học với chủ trương coi trọng lễ nghĩa thái quá chính là công cụ đắc lực để hiện thực hóa triết lý giáo dục này Muốn thoát khỏi sự trì trệ để phát triển cần chuyển đổi hệ giá trị theo hướng văn hóa thiên về dương tính, thay đổi triết lý giáo dục từ đào tạo người thừa hành sang đào tạo người sáng tạo

Từ khóa: loại hình văn hóa, tính giá trị của Nho học, triết lý giáo dục Việt Nam

ABSTRACT

In its history of existence, Confucianism underwent many vicissitudes, at times praised to the skies, and

at times crushed mercilessly Subjectively, the inconsistencies in determining the value of Confucianism originated from the complex diversity of variants of Confucianism Objectively, this contradiction is derived from the diversity of the needs of the users Promoting or disparaging it also has its root in the stability-oriented nature of Confucianism To serve the objective of stability, shaped by the cultural type, the traditional educational philosophy aims to train people with important qualities of obedience and less creativity Confucianism which advocates excessive respect for hierarchy and morality is an effective tool to realize this educational philosophy It is necessary to convert the value system towards

a positive culture, and change the educational philosophy from training the executive to training the creator

Keywords: cultural type, the value of Confucianism, Vietnam's educational philosophy

1 Nguồn gốc sự mâu thuẫn trong

việc xác định tính giá trị của Nho học

Trong lịch sử tồn tại của mình, Nho

học trải qua quá nhiều thăng trầm, lúc

được đề cao đến tận mây xanh, lúc thì bị

vùi dập không thương tiếc Sự thăng trầm

này không chỉ diễn ra trên trường chính trị,

mà cả trong giới học thuật Cuộc tranh luận về tính giá trị của Nho học (cao hay thấp, tích cực hay tiêu cực) có vẻ như không có hồi kết

Sự mâu thuẫn này có hai nguồn gốc:

Trang 2

chủ quan và khách quan

1.1 Nguồn gốc chủ quan: sự đa dạng

các biến thể của Nho học

1.1.1 Về chủ quan, sự mâu thuẫn

trong việc xác định tính giá trị của Nho học

có nguồn gốc từ chính sự đa dạng phức tạp

về các biến thể của Nho học

Tuy gọi là “Nho học”, nhưng nó

không phải là một hệ thống chặt chẽ có sự

thống nhất cao, mà là một thế giới phức

tạp gồm nhiều tiểu hệ với sự khác biệt

theo thời gian, theo nguồn gốc chủ thể và

theo không gian

1.1.2 Theo thời gian, có ba tiểu hệ lớn

là Khổng Nho, Hán Nho, Tống Nho và một

số tiểu hệ nhỏ như Đường Nho, Minh Nho,

Thanh Nho, v.v Theo nguồn gốc chủ thể,

trong Khổng Nho có sự tham gia của các tư

tưởng văn hóa phương Nam và phương

Bắc, thể hiện qua hai nguyên tắc cơ bản là

nhân trị và chính danh Chính vì chứa đựng

những yếu tố phương Nam khác lạ nặng về

tình cảm như vậy nên lúc Khổng Tử còn

sinh thời, nhiều quân vương muốn gặp gỡ

để nghe ông thuyết trình, nhưng nghe xong

thì đều xa lánh Thời Tần bạo tàn, Khổng

Nho còn bị đàn áp nặng nề Xa lánh và đàn

áp đều do triết lý của Nho gia xa lạ,

phương pháp của Nho gia không phù hợp

Đến Hán Nho, những tư tưởng dân chủ của

văn hóa phương Nam bị loại bỏ, thay vào

đó là sự bổ sung tư tưởng Pháp gia và được

mềm hóa bằng nguyên tắc lễ trị Đến Tống

Nho, có sự bổ sung thêm tư tưởng Phật học

và Đạo học qua cách lý giải của Chu Hy

Nhờ được điều chỉnh thích hợp như vậy mà

Hán Nho, Tống Nho được đề cao Cái Nho

học được đề cao này đã khác xa so với Nho

học tiên Tần (Trần Ngọc Thêm, 1996,

tr.504-515) Từ Nho học và Nho gia, nó đã

được thiêng liêng hóa, được chính quyền

tôn sùng để trở thành Nho giáo – một tôn

giáo theo đúng nghĩa với đầy đủ kinh kệ (Ngũ kinh), giáo chủ (Thánh Khổng Tử), giáo đường (Văn miếu) và đội ngũ tăng lữ hùng hậu (vua quan)

1.1.3 Ngoài ra, theo không gian, tư

tưởng Nho học Trung Quốc khi đi vào Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, đều được biến đổi phù hợp với truyền thống văn hóa và nhu cầu từng giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia, tạo nên các biến thể Việt Nho, Hàn Nho, Nhật Nho Du nhập vào ba quốc gia này, mỗi quốc gia có thể đề cao một khía cạnh khác nhau, tùy theo đặc trưng văn hóa của mình

Do tính đa dạng phức tạp như vậy, cho nên khi xác định tính giá trị của Nho học, không những khó đạt được sự thống nhất

mà còn có thể dẫn đến những quan điểm mâu thuẫn đôi khi trái ngược

1.2 Nguồn gốc khách quan: sự đa dạng các nhu cầu của đối tượng sử dụng Nho học

1.2.1 Về khách quan, sự mâu thuẫn

trong việc xác định tính giá trị của Nho học

có nguồn gốc từ sự đa dạng các nhu cầu của đối tượng sử dụng

Tuy là một thế giới phức tạp gồm nhiều tiểu hệ, nhưng bao trùm lên tất cả, có thể nói Nho học có chung bản chất là

hướng đến sự ổn định Ngay cả khi từ phạm

vi “quốc gia” mở rộng ra “thiên hạ” thì mục tiêu của việc mở rộng vẫn là quốc gia phải được “trị” và thiên hạ phải được “bình” Bởi vậy mà ở trong vùng văn hóa Đông Á, những thời đại nào, những đối

tượng sử dụng nào đã giành được chính

quyền và muốn ổn định, muốn giữ yên ngai

vàng, duy trì sự thống trị thì thường đều đề

cao Nho học Mà trong lịch sử Đông Á thì

loại đối tượng này chiếm đa số

Trang 3

1.2.2 Phủ định Nho học vì lý do khách

quan chỉ có một trường hợp là khi người ta

có nhu cầu phá bỏ sự ổn định truyền thống,

cần làm cách mạng để thay đổi xã hội Ở

Trung Quốc việc này xảy ra hai lần

Lần thứ nhất là cuộc “cách mạng văn

hóa” đầu thế kỷ XX dưới ảnh hưởng của

phong trào “Ngũ Tứ” với lãnh tụ là Lỗ

Tấn Tháng 4/1918, ông công bố tiểu

thuyết “Nhật ký người điên” với câu nói

gây ấn tượng nhất là: “Lịch sử trang nào

cũng có mấy chữ “nhân nghĩa đạo đức”

cầm đọc kỹ mới thấy từ đầu chí cuối, ở

giữa các hàng, là ba chữ ăn thịt người”

Lên án tư tưởng Khổng-Mạnh là lễ giáo

“ăn thịt người” thì đúng là không thể nặng

hơn, nhưng đó là cách lấy văn chương làm

vũ khí, nói quá lên để đạp đổ cái cũ nhằm

kêu gọi quần chúng làm cách mạng; nó

không thể được đánh giá theo kiểu một

công trình khoa học rằng “Những níu kéo,

cản trở của Nho giáo trong xã hội hiện đại

được phân tích, phải nói là, khó có thể sâu

sắc hơn” (Hồ Sĩ Quý, 2009, tr.49)

Lần thứ hai là cuộc “cách mạng văn

hóa” do Mao Trạch Đông cầm đầu, mà một

trong những nội dung cơ bản là “Phê Lâm

đấu Khổng” với lý do Khổng giáo là thế lực

phong kiến bảo thủ, triệt tiêu sự tiến bộ,

khiến dân tộc Trung Hoa rơi vào trì trệ suốt

hai ngàn năm Nằm sâu xa bên trong là mục

tiêu của Mao Trạch Đông muốn giành lại

địa vị bị lung lay sau hàng loạt sai lầm

trong đường lối quản lý đất nước vào cuối

những năm 1950, đầu những năm 1960

2 Vai trò của Nho học, văn hóa và

triết lý giáo dục trong sự phát triển

2.1 Nho học hay là văn hóa?

2.1.1 Trong lịch sử cận hiện đại, Việt

Nam đã hai lần đã bỏ lỡ cơ hội canh tân đất

nước Lần thứ nhất là vào thời nhà Nguyễn,

lần thứ hai là vào đầu thời kỳ Đổi mới gần đây Có ý kiến cho rằng Nho học với tính bảo thủ, hướng đến sự ổn định là nguyên nhân dẫn đến bi kịch hai lần “bỏ lỡ cơ hội” này Chúng tôi cho là không phải Có thể nêu ra ba câu hỏi để phản bác:

Thứ nhất, cùng chịu ảnh hưởng của

Nho học, tại sao trong khi Việt Nam trên một lần bỏ lỡ cơ hội, thì Nhật Bản lại canh tân được sớm thế?

Thứ hai, tại sao ở chính cái nôi của

Nho học, người Trung Quốc cũng đã tiến hành những cải cách mạnh mẽ từ cuối đời Thanh?

Thứ ba, tại sao trên cùng một bán đảo

mà trong khi Hàn Quốc ở phía Nam tiếp tục bảo tồn các di sản Nho học thì đất nước phát triển rực rỡ, nhân dân hạnh phúc; còn Triều Tiên ở phía Bắc từ bỏ Nho học thì lạc hậu, đói nghèo?

2.1.2 Như vậy, do mang bản chất

hướng đến sự ổn định, Nho học có thể góp phần gây nên sự trì trệ, nhưng nó không phải là nguyên nhân chính Trì trệ hay phát

triển, nguyên nhân chính nằm ở loại hình

văn hóa Xét theo không gian, phương Tây

thuộc loại hình văn hóa thiên về dương tính, Đông Nam Á thuộc loại hình văn hóa thiên

về âm tính, còn Đông Bắc Á thuộc loại hình văn hóa trung gian trọng thế tục (khác với Tây Nam Á thuộc loại hình văn hóa trung gian trọng tâm linh) (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.85-90; 2016, tr.103-116) Phương Tây thuộc loại hình văn hóa thiên về dương tính, nên sự thay đổi giá trị trong lịch sử diễn ra khá thường xuyên Từ thế kỷ XV trở lại đây, mọi sự biến động hệ giá trị đều khởi đầu từ phương Tây hoặc là hậu quả của các sự kiện xảy ra ở phương Tây: các cuộc phát kiến lớn về địa lý vào cuối thế kỷ XV; những thành tựu về văn

Trang 4

hóa và khoa học – giáo dục thời Phục

hưng và Khai sáng; các cuộc cách mạng

công nghiệp, cách mạng xã hội và sự hình

thành chủ nghĩa tư bản phương Tây; sự

phát triển của chủ nghĩa thực dân và chủ

nghĩa đế quốc; sự ra đời của phong trào

cộng sản và sự đối đầu giữa hai phe;

những thành tựu về viễn thông và công

nghệ tin học; sự sụp đổ của phe xã hội chủ

nghĩa và quá trình toàn cầu hoá, v.v

Phương Tây thay đổi trước, thay đổi một

cách thành công, và kéo theo sự thay đổi

của phần thế giới còn lại Dễ hiểu là trong

quá trình thay đổi, phần thế giới còn lại sẽ

lấy phương Tây làm hình mẫu

Đông Bắc Á thuộc loại hình văn hóa

trung gian trọng thế tục, nên tuy có biến

động khá mạnh, nhưng nhìn chung là thuận

lợi và nhẹ nhàng Nhật Bản, Hàn Quốc,

Đài Loan chuyển đổi sớm và rất thành

công chính là nhờ tính trung gian trọng thế

tục này Do có phần lớn dân số là người

gốc Hoa nên Singapore thực chất là một

quốc gia Đông Bắc Á ở Đông Nam Á Loại

hình văn hóa chính là khái niệm “cần” và

“đủ” cho việc lý giải sự thành công của

Đông Bắc Á (Trần Ngọc Thêm, 2013,

tr.331-341)

Trong khi đó thì Đông Nam Á, do

mang bản chất âm tính (trái ngược hẳn với

phương Tây), nên hệ giá trị truyền thống có

độ ổn định rất cao Bởi vậy, đến lúc tiếp

xúc giao lưu với phương Tây và hội nhập

quốc tế, đây là nơi hệ giá trị có biến động

mạnh nhất và trong quá trình biến đổi gặp

khó khăn nhiều nhất

2.1.3 Bên cạnh sự khác biệt về loại

hình văn hóa, sự khác biệt về cách thức

quản lý và tổ chức xã hội là nguyên nhân

thứ hai

Văn hóa Việt Nam do âm tính, lấy ổn

định làm đầu nên bất kỳ ai, mỗi khi đạt đến được một thành công nào đó, một sự ổn định nào đó thì đều chỉ muốn “dĩ hòa vi quý” để giữ lấy sự ổn định ấy, không muốn tiếp tục đổi mới để khỏi phải mạo hiểm hy sinh thành quả đã đạt được của mình Đây chính là lý do giải thích vì sao Nguyễn Ánh khi còn phải chống lại Tây Sơn thì hăng hái mở cửa, tích cực hướng

về phương Tây, còn khi có được đất nước trong tay, trở thành Gia Long thì nhanh chóng chuyển sang chính sách ngược lại là

bế quan tỏa cảng, xa lánh phương Tây, trở

về lấy Nho giáo làm chỗ dựa Sự chi phối của cách sống này đã dẫn đến việc Vua Gia Long quyết định sẽ truyền ngôi cho con thứ là Nguyễn Phúc Đảm (Minh Mạng), người ra sức đề cao Nho giáo và ra mặt chống lại phương Tây để giữ ổn định, chứ không phải cho dòng đích là Nguyễn Phúc Mỹ Đường – con trai cả của hoàng tử Cảnh, người chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây Những người có tư tưởng đổi mới, thân phương Tây đều bị thất sủng: bản thân Hoàng tử Cảnh được công bố là chết

vì bệnh đậu mùa, nhưng theo các thừa sai trong triều đình (trong báo cáo về Hội truyền giáo Paris) thì thực chất là ông bị đầu độc; hai Tổng trấn Nguyễn Văn Thành

và Lê Văn Duyệt từng ủng hộ Nguyễn Phúc Mỹ Đường thì một bị bức tử, một bị phá hoại lăng mộ sau khi mất Bản thân Nguyễn Phúc Mỹ Đường bị vu oan là thông dâm với mẹ và hai mẹ con bị trói dìm nước cho đến chết

Triều đình Minh Mạng, sau đó là Tự Đức, với những quan văn mang nặng tư tưởng Tống Nho luôn khăng khăng bài xích mọi ý tưởng Âu hóa và chống đối quyết liệt mọi sáng kiến cải cách Hệ quả

là, những đề xuất cải cách toàn diện, khoa

Trang 5

học và tiến bộ (như của Nguyễn Trường

Tộ) đã không được tiếp thu

2.2 Văn hóa và triết lý giáo dục

2.2.1 Văn hóa Việt Nam trồng lúa

nước mang bản chất trọng âm, hướng đến

ổn định, sinh ra tính cộng đồng làng xã,

nên nền giáo dục Việt Nam truyền thống

có sứ mệnh xây dựng một xã hội ổn định

và mục tiêu đào tạo ra những con người có

những phẩm chất và năng lực đáp ứng nhu

cầu ổn định này

Một xã hội ổn định cần những con

người với phẩm chất hàng đầu phải là

ngoan ngoãn, biết vâng lời – đó là những

con người thừa hành, con người công cụ

Bởi vậy, triết lý giáo dục dân gian Việt

Nam truyền thống có thể tóm gọn trong

bốn chữ cửa miệng mà mọi người Việt

Nam, mọi trường học Việt Nam thường

dùng, là “con ngoan, trò giỏi” Về câu chữ

thì cụm từ “con ngoan, trò giỏi” có thể xem

là rất tốt, nhưng về nghĩa thì “ngoan”

thường được hiểu là biết vâng lời (… Con

cãi cha mẹ trăm đường con hư), “giỏi”

thường được hiểu là học thuộc bài (câu cửa

miệng cha mẹ hỏi con cái khi đang học

hoặc sau khi học thường là “Con đã học

thuộc bài chưa?”) – thành ngữ “con ngoan,

trò giỏi” chính là biểu hiện của một triết lý

giáo dục hướng đến ổn định Triết lý giáo

dục này khuyến khích tâm lý háo danh chứ

không phải là hiếu học, hành động làm

theo người khác chứ không phải là bản lĩnh

để suy nghĩ độc lập, sáng tạo; sinh ra thói

cào bằng, không chấp nhận người giỏi hơn

mình, có tư tưởng tiến bộ hơn mình

2.2.2 Với bản chất văn hóa sẵn có là

ưa ổn định bằng mọi giá, tư tưởng Nho

học hướng đến xây dựng một xã hội ổn

định trở thành công cụ rất thích hợp phục

vụ mục tiêu này Bên cạnh mặt tốt là đề

cao những giá trị nhân bản của con người, Nho học quá coi trọng lễ nghĩa; mà lễ

nghĩa thì trói buộc con người, kiềm chế sự

sáng tạo Không sáng tạo, thì không thể có phát triển

Chữ Lễ đòi hỏi sự phục tùng, cho nên nhiều người nói rất đúng rằng chữ Lễ bắt đầu ở đâu thì tinh thần tự do sáng tạo và lòng tự tin kết thúc ở đó Nhà nghiên cứu triết học Hà Thúc Minh nhận xét rất đúng rằng “Lễ là phục tùng, là nói theo, cho nên không ít học giả cho rằng nền giáo dục chữ

Lễ đào tạo ra đa phần là “nô tài” chứ không phải là “nhân tài” (Hà Thúc Minh, 2014, tr.99) Học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét rằng triết lý của Khổng Tử “rất thích hợp với một quốc gia cần thoát khỏi cảnh hỗn loạn nhu nhược để lập lại trật tự nhưng đối với một quốc gia cần cải tiến hoài để ganh đua trên trường quốc tế thì triết lý đó

là một trở ngại Ưu điểm và nhược điểm của Khổng học ở đó” (Nguyễn Hiến Lê,

1995, tr.230)

3 Triết lý nào cho giáo dục Việt Nam?

3.1 Xã hội Việt Nam cần gì?

Xã hội Việt Nam hiện đại cần thoát khỏi sự trì trệ để phát triển Muốn thoát khỏi

sự trì trệ thì cần thoát khỏi vòng kim cô của văn hóa âm tính, thực hiện sự chuyển đổi hệ

giá trị theo hướng thiên về dương tính Điều

đó có nghĩa là xã hội phải thực sự dân chủ

và hoạt động theo pháp quyền, con người

phải thay chủ nghĩa cộng đồng làng xã bằng

bản lĩnh cá nhân và ý thức công dân (cộng

đồng xã hội) Phải coi trọng sự trung thực hơn là khôn khéo; ý thức trách nhiệm thay cho thói dựa dẫm; tinh thần hợp tác vì việc

chung thay cho bệnh phe nhóm, thói sĩ diện;

tính khoa học và sáng tạo thay cho lối làm

việc đối phó, tùy tiện (Trần Ngọc Thêm,

2016, tr.468-497)

Trang 6

Triết lý giáo dục cần phải thay đổi từ

hướng đến ổn định chuyển sang hướng

đến phát triển, từ đào tạo người thừa hành

(“con ngoan trò giỏi” theo nghĩa “biết vâng

lời” và “học thuộc bài”) sang đào tạo con

người của xã hội hiện đại có bản lĩnh và

sáng tạo

3.2 Vai trò của Nho học trong triết lý

giáo dục Việt Nam mới

3.2.1 Triết lý giáo dục hướng đến sứ

mệnh xây dựng xã hội phát triển và mục

tiêu đào tạo người sáng tạo không phủ

nhận vai trò của tư tưởng Nho học, bởi lẽ

tư tưởng Nho học, như đã nói ở mục 1.1,

rất đa dạng và phong phú Trong đó, triết lý

giáo dục của Khổng Tử vốn mang đầy đủ

tính dân chủ và khai phóng

Khổng Tử cho con được can cha, chứ

không bắt con phải tuyệt đối phục tùng cha

mẹ Ông chủ trương đề cao tự do tư tưởng,

chấp nhận sự khác biệt khi nói: “Người

quân tử hòa hợp mà không nhất thiết phải

cùng quan điểm; kẻ tiểu nhân ngay cả khi

cùng quan điểm mà vẫn không hòa hợp”

(Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng

nhi bất hòa) (Luận ngữ, XIII, 231) Ông

yêu cầu học trò học thì phải suy nghĩ chứ

không được học thuộc lòng: “Học mà

không suy nghĩ thì tăm tối; suy nghĩ mà

không học thì nguy hại” (Học nhi bất tư tắc

võng, tư nhi bất học tắc đãi) (Luận ngữ, II,

15) Ông đòi hỏi ở học trò bản lĩnh và sáng

tạo chứ không phải là sự ngoan ngoãn rập

khuôn: “Ta vén cho một góc rồi mà [kẻ

nào] không tự suy nghĩ tìm ra ba góc kia,

thì ta không dạy cho nữa” (Cử nhất ngung,

bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã)

(Luận Ngữ, VII, 8)

Chỉ có điều những tư tưởng này của Khổng Tử không phù hợp với mục tiêu đào tạo con người biết vâng lời để phục vụ cho văn hóa hướng đến ổn định nên vua các nước cùng thời không ai dùng Khổng Tử, khiến thầy trò ông phải lang thang phiêu bạt khắp nơi như “chó không nhà” (táng gia cẩu, 丧 家 狗) Những tư tưởng khai phóng của Khổng Tử cũng chưa bao giờ được coi trọng, đề cao trong Hán Nho, Tống Nho Chúng thường chỉ được nhắc đến trong các khảo cứu hàn lâm theo kiểu

“khai quật khảo cổ học” Nói đến Nho giáo (Hán Nho, Tống Nho) mà trích dẫn những

tư tưởng này của Khổng Tử (như thường gặp trong không ít sách vở, luận văn, luận án) là một sự nhầm lẫn nghiêm trọng

3.2.2 Bên cạnh mục tiêu tạo nên xã

hội ổn định, Nho học hướng đến xây dựng con người với những phẩm chất nhân bản rất cần cho xã hội hiện đại thiên về vật chất Như thế, việc khai thác và sử dụng tư tưởng Nho học cần đi vào chiều sâu, tùy thuộc vào mục tiêu cụ thể của từng quốc gia, trong từng giai đoạn

Những quốc gia đang trong giai đoạn phát triển quá nhanh, có nguy cơ thiếu ổn định thì có thể đề cao Nho học; còn những quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi

từ ổn định sang phát triển (như Việt Nam) thì việc đề cao Nho học sẽ làm chậm sự phát triển Không nên xem những phong trào văn hóa đại chúng ồn ào kiểu như hiện tượng Vu Đan ở Trung Quốc thời gian 2006-2013 (Yu Dan, 2014; Hải Lan, 2012)

là hình mẫu cho mọi quốc gia

Nghiên cứu được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Quốc gia giai đoạn

2016-2020 trong khuôn khổ Đề tài “Triết lý giáo dục Việt Nam từ truyền thống đến hiện tại”, mã số KHGD/16-20.ĐT.011

Trang 7

Chú thích:

1 Số La-mã là chương, số A-rập sau đó là đoạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hà Thúc Minh (2014) Chữ Lễ và giáo dục thời xưa Tạp chí Khoa học xã hội TP.HCM,

số 6, tr.94-99

Hải Lan (2012) Vu Đan đưa “Luận ngữ”, “Trang Tử” đến thế giới hiện đại Khai thác

từ: vnexpress.net/vu-dan-dua-luan-ngu-trang-tu-den-the-gioi-hien-dai-2390705.html

Hồ Sĩ Quý (2009) Về số phận của Nho giáo Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 8,

tr.48-53

Khổng Tử (2002) Luận ngữ Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê NXB Văn học, 173 trang Nguyễn Hiến Lê (1995) Khổng Tử Hà Nội: NXB Văn hóa - Thông tin, 268 trang

Trần Ngọc Thêm (1996) Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam NXB TP.HCM, 670 trang Trần Ngọc Thêm (2013) Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng TP.HCM: NXB

Văn hóa - Văn nghệ, 675 trang

Trần Ngọc Thêm (2016) Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường

tới tương lai TP.HCM: NXB Văn hóa - Văn nghệ, 589 trang

Yu Dan (2014) 文 明 之 旅 [ 文 明 之 旅 ] 于 丹 话 清 明 (20130401) Khai thác từ: youtube.com/watch?v=a-NAyV_cu8s (CCTV)

Ngày nhận bài: 03/11/2020 Biên tập xong: 15/01/2021 Duyệt đăng: 20/01/2021

Ngày đăng: 11/06/2021, 11:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w