Trí thức yêu nước Nam Kỳ đã có những đóng góp tích cực trong cuộc vận động Đông Du và Duy Tân, làm cho Phong trào Đông Du ở Nam Kỳ diễn ra mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào công cuộc thực sản hưng nghiệp, chấn dân khí, nâng cao dân trí, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở Nam Kỳ.
Trang 1ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY
Email: tcdhsg@sgu.edu.vn; Website: http://sj.sgu.edu.vn
ĐÓNG GÓP CỦA TRÍ THỨC YÊU NƯỚC TRONG PHONG TRÀO ĐÔNG DU VÀ DUY TÂN Ở NAM KỲ THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XX
The contribution of patriotic scholars in the Journey to the East and the Modernization movements in the South in the first decade of the 20th century
TS Trần Thị Ánh
Trường Đại học Sài Gòn
TÓM TẮT
Đầu thế kỷ XX, qua làn sóng Tân thư, Tân văn, trí thức yêu nước Nam Kỳ đã mạnh dạn tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, khởi xướng, lãnh đạo phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp với nhiều hình thức phong phú Trí thức yêu nước Nam Kỳ đã có những đóng góp tích cực trong cuộc vận động Đông Du và Duy Tân, làm cho Phong trào Đông Du ở Nam Kỳ diễn ra mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào công cuộc thực sản hưng nghiệp, chấn dân khí, nâng cao dân trí, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở Nam Kỳ
Từ khóa: Duy Tân, Đông Du, Minh Tân, tư tưởng dân chủ tư sản, trí thức Nam Kỳ
ABSTRACT
At the beginning of the twentieth century, through movements such as Tân thư (contemporary publications), Tân văn (contemporary literature), patriotic scholars of the Cochinchina had proactively
absorbed the Western bourgeois democracy ideology, initiated and led the movement to fight against French colonialism with various means and avenues of action Patriotic scholars in the South had positively contributed to the Đông Du (Journey to the East) and Duy Tân (Modernization) movements, helping the Đông Du movement reach a strong level of activity, playing an important part in farming production and career building, uplifting the people’s morale, improving the people’s knowledge, having a positive impact on the economic, cultural and social development in Cochinchina
Keywords: Duy Tân (Modernization), Đông Du (Journey to the East), Minh Tân, Western bourgeois
democracy ideology, Cochinchinese scholars
1 Đặt vấn đề
Trong tiến trình lịch sử, trí thức Việt
Nam nói chung, trí thức Nam Kỳ nói riêng
luôn có vai trò quan trọng trong sự nghiệp
kiến thiết và xây dựng đất nước Họ là lực
lượng tiên phong, khởi xướng, tổ chức,
lãnh đạo các phong trào chính trị, văn hóa
Mang trong mình sự khoáng đạt của
văn hóa Nam Bộ, trí thức yêu nước Nam
Kỳ luôn nhạy bén, chủ động tiếp thu tư tưởng cứu nước mới, tiếp thu và truyền bá những yếu tố văn hóa tích cực, tiến bộ, thực hiện hoài bão đưa dân tộc tiến cùng thời đại Phong trào Minh Tân (Minh đức Tân dân) diễn ra ở Nam Kỳ nhằm hưởng ứng Phong trào Đông Du và Duy Tân, Email: tranthianh73@yahoo.com
Trang 2trong đó có những đóng góp quan trọng
của đội ngũ trí thức yêu nước trên vùng
đất này
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Đội ngũ trí thức yêu nước ở Nam
Kỳ đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX,
dưới ảnh hưởng của chính sách cai trị của
thực dân Pháp và sự du nhập làn sóng tư
tưởng tiến bộ từ bên ngoài vào Việt Nam,
nền văn hóa cổ truyền Việt Nam đã có sự
tiếp xúc mạnh mẽ với văn hóa phương Tây
Nhận thức và tư tưởng của giới trí thức
cũng có những chuyển biến lớn Trước ảnh
hưởng của làn sóng văn minh mới, một bộ
phận sĩ phu tuy xuất thân từ “cửa Khổng
sân Trình”, tinh thông Hán học, nhưng vốn
đã chứng kiến sự thất bại của ý thức hệ
Nho giáo trong nhiệm vụ giải phóng dân
tộc, đã mạnh dạn tiếp thu những tư tưởng
mới tiến bộ, bước lên vũ đài chính trị, tiếp
tục giữ vai trò tiên phong trong phong trào
yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược
Tiêu biểu cho thế hệ sĩ phu cấp tiến ở Nam
Kỳ giai đoạn này, phải kể đến Đặng Thúc
Liêng, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An
Khương, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn Quang
Diêu, v.v
Bên cạnh lực lượng trí thức Nho học
tiến bộ, bộ phận trí thức tân học ở Nam Kỳ
cũng dần hình thành và ngày càng phát
triển đông đảo Đó là kết quả của quá trình
chính quyền Pháp đầu tư phát triển nền
giáo dục Tây học, thay thế cho nền giáo
dục truyền thống ở đây nhằm mục đích đào
tạo một lực lượng lớn trí thức phục vụ cho
công cuộc cai trị lâu dài của người Pháp
Sau khi chiếm Lục tỉnh Nam Kỳ,
ngoài việc bỏ hẳn kỳ thi Hương1, chính
quyền Pháp cho mở một số trường học, đẩy
mạnh truyền bá chữ Quốc ngữ và chữ Pháp
nhằm loại bỏ chữ Hán cũng như ảnh hưởng
của các trí thức nho học yêu nước trong nhân dân Trong hơn 20 năm đầu xâm chiếm Nam Kỳ, ngoài việc thành lập một
số trường tiểu học để dạy chữ Quốc ngữ và Toán cho học sinh, Pháp đã cho mở một số trường thông ngôn đào tạo những người làm công tác thông dịch, phiên dịch như Collège d’Adran còn gọi là Trường Bá Đa Lộc (1861); Trường An Nam còn gọi là Trường Thông ngôn (Collège Annamite hay Collège des interprètes, 1862) Đào tạo giáo viên và công chức có Trường Sư phạm thuộc địa (École Normale Coloniale, 1871) Trường Hậu bổ (Collège des Stagiaires, 1873) đào tạo nhân viên hành chính cho chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam
Kỳ (tham gia giảng dạy tại trường này có một số trí thức như Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký) Chasseloup Laubat2 là trường trung học được xây dựng sớm nhất (1874), dạy học cho cả con em người Pháp, con em viên chức làm việc cho Pháp và con em một số gia đình người Việt, quy tụ được nhiều học sinh ưu tú của đất Nam Kỳ thời đó như Cao Triều Phát, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Chương, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Hưởng, Lưu Văn Lang, Phạm Quang Lễ3, v.v Một số trường như Trường
Bá Đa Lộc, Trường tư thục Lasan Taberd4
cũng đã đào tạo được nhiều trí thức tân học, bổ sung vào lực lượng công chức người bản xứ trong bộ máy cai trị của Pháp
Sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách giáo dục, cùng với hai cuộc cải cách giáo dục ở Đông Dương dưới thời Toàn quyền Paul Beau và Albert Sarraut vào các năm
1906 và 1917, nền giáo dục tân học ở Nam
Kỳ đã có những bước phát triển mới Đặc biệt, sau cải cách giáo dục lần thứ hai (1917), nền giáo dục Nho học bị xóa bỏ, thay vào đó là hai hệ thống trường Pháp và
Trang 3trường Pháp - Việt (gồm các bậc: tiểu học,
trung học, cao đẳng hay đại học và các
trường thực nghiệp) Ở bậc cao đẳng và đại
học, Trường Đại học Đông Dương và
nhiều trường cao đẳng được xây dựng như
Cao đẳng Sư phạm, Công chính, Thương
mại, Thú y, Canh nông… với số lượng sinh
viên ngày càng tăng, đào tạo được một đội
ngũ trí thức tân học với trình độ cao và số
lượng ngày càng đông đảo
Đầu tư phát triển nền giáo dục thực
dân từ rất sớm ở Nam Kỳ, người Pháp
muốn hướng đến mục tiêu xóa bỏ hoàn
toàn Nho học, đào tạo đội ngũ thông ngôn,
quan cai trị thuộc địa và chuyên viên lành
nghề làm tay sai phục vụ cho chính sách
cai trị và bóc lột lâu dài của chính quyền
thực dân, đồng thời truyền bá văn minh
phương Tây, phục vụ đắc lực cho chính
sách đồng hóa của chính quyền thực dân
đối với thuộc địa Tuy nhiên, trong số
những trí thức tân học được đào tạo từ nhà
trường thực dân, có người ra làm việc cho
Pháp, nhưng cũng có không ít thanh niên
trí thức tuy học ở trường Tây hoặc sang
Tây du học (theo diện tự do hoặc theo học
bổng của chính phủ Pháp) trở về, với tinh
thần yêu nước đã tham gia tích cực vào
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Điều
này rõ ràng trái với chủ ý của người Pháp
khi đầu tư phát triển giáo dục ở Nam Kỳ
nói riêng và Việt Nam nói chung
Tuy vẫn nhất quán với chính sách
đồng hóa, ngu dân, nhưng chương trình
giáo dục của nhà trường thực dân ít nhiều
thể hiện mặt tích cực trong việc rèn luyện
cho học sinh ý thức học tập và kỷ luật,
khả năng tư duy khoa học, thói quen suy
nghĩ và hành động một cách độc lập, chủ
động, sáng tạo Cùng với đó, việc tiếp cận
khoa học, kỹ nghệ của phương Tây được
đưa vào Việt Nam qua hai cuộc khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp, đã trở thành
cơ sở và là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những thay đổi trong nhận thức, tư tưởng của các thế hệ thanh niên trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX Từ đây, lớp thanh niên trí thức đương thời đã
có được nhận thức và so sánh về sức mạnh cũng như ưu thế của kỹ thuật và văn minh phương Tây so với văn minh nông nghiệp Á Đông Thức thời, tiếp nhận cái mới, nhưng tỉnh táo trước âm mưu và thủ đoạn của Pháp, nhiều trí thức Nam Kỳ vốn trưởng thành từ nhà trường thực dân, cùng với đội ngũ sĩ phu cấp tiến mạnh dạn tiếp thu những tư tưởng cách mạng tiến bộ, tích cực tham gia vào cuộc vận động cứu nước, trở thành lực lượng đóng vai trò quan trọng trong phong trào dân tộc dân chủ ở Nam Kỳ trong những thập niên đầu của thế kỷ XX với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, sôi nổi, mới
mẻ và tích cực
Đầu thế kỷ XX, trong lúc giới trí thức đương thời trăn trở với câu hỏi nguyên nhân mất nước và con đường cứu nước,
qua một số sách báo như Tân thư, Tân văn được du nhập chủ yếu từ Trung Hoa,
những trào lưu tư tưởng tiến bộ của phong trào cách mạng từ bên ngoài dội mạnh vào Việt Nam, tác động to lớn đến sự chuyển biến trong nhận thức và tư tưởng của trí thức trong nước Trước hết, phải kể đến ánh sáng của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp (1789) và các thuyết về “nhân đạo”,
“dân quyền” của giai cấp tư sản Pháp với các đại biểu tiến bộ như Montesquieu, Rousseau, Voltaire, v.v Tiếp đến là làn sóng “Châu Á thức tỉnh” với cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản (1868), cuộc vận động duy tân ở Trung Quốc (1898), cuộc vận động cách mạng của Tôn Trung Sơn, đỉnh cao là Cách mạng Tân Hợi (1911), v.v
Trang 4Tư tưởng tự do dân chủ và tư tưởng
đấu tranh sinh tồn là hai nội dung cơ bản
được thể hiện rất rõ trong Tân thư và Tân
văn Các nhà Nho yêu nước như Phan Bội
Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can,
Nguyễn Quyền, Trần Quý Cáp, Huỳnh
Thúc Kháng… là những sĩ phu đầu tiên đã
tìm thấy sự liên quan giữa hai nội dung này
với hai nhiệm vụ chống phong kiến và
chống đế quốc ở Việt Nam lúc bấy giờ
Trong Bức thư bí mật gửi Kỳ Ngoại Hầu
Cường Để, Huỳnh Thúc Kháng đã đánh giá
rất cao ảnh hưởng của Tân thư, Tân văn
đối với sĩ phu đương thời khi đi tìm câu trả
lời cho con đường cứu nước mới: “Được
đọc loại sách báo nói trên như trong buồng
tối, chợt thấy tia sáng lọt vào, những học
thuyết mới “cạnh tranh sinh tồn”, “nhân
quyền tự do” gần chiếm cả cái chủ đích
môn học khoa cử ngày trước, mà một tiếng
sét nổ đùng, có sức kích thích mạnh
nhất…” (Huỳnh Thúc Kháng, 1957, tr.36)
Làn sóng Tân thư, Tân văn, cùng với
tiếng dội của phong trào “Châu Á thức
tỉnh” đã đem lại sự chuyển biến trong nhận
thức chính trị và những quan niệm mới mẻ
cho một bộ phận sĩ phu thức thời Việt Nam
đầu thế kỷ XX Khi tiếng súng Cần Vương
chấm dứt, giữa lúc các sĩ phu yêu nước
không khỏi bùi ngùi chứng kiến sự bất lực
của khuynh hướng cứu nước theo lập
trường phong kiến, thì Tân thư, Tân văn
được truyền bá vào Việt Nam “như là một
hồi chuông tỉnh mộng, một ánh sáng soi
đường” (Chương Thâu, 2007, tr.198) cho
các Nho sĩ yêu nước đương thời Với lòng
yêu nước, thức thời và sự nhạy bén trước
thời cuộc, các sĩ phu như Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh
Thúc Kháng… đã hồ hởi đón nhận tư
tưởng cứu nước mới, mạnh dạn vượt qua
rào cản của hệ tư tưởng phong kiến, học
tập Trung Quốc và Nhật Bản, khởi xướng con đường cứu nước mới để tìm con đường
đi mới cho dân tộc Phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân ở Bắc
Kỳ, Trung Kỳ và Minh Tân ở Nam Kỳ diễn
ra đầu thế kỷ XX vừa là sự tiếp nối những hoài bão canh tân của các sĩ phu lớp trước (như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch ) chưa thành hiện thực, vừa là kết quả của sự tiếp thu những tư tưởng mới
mẻ, tiến bộ qua Tân thư và Tân văn Riêng
trí thức yêu nước Nam Kỳ, trong đó có trí thức tân học như Trần Chánh Chiếu và một
số sĩ phu cấp tiến như Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến… là lớp trí thức sớm tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, hưởng ứng tích cực và có những đóng góp quan trọng trong phong trào Đông Du và Duy Tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
2.2 Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng xu hướng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh
2.2.1 Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng phong trào Đông Du
Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu cùng các sĩ phu yêu nước khởi xướng nhằm vận động đưa thanh niên yêu nước Việt Nam du học nước ngoài, đặc biệt sang Nhật Bản để học hỏi tấm gương tự cường của nước Nhật, dựa vào Nhật để mưu cầu thoát khỏi ách thống trị của thực dân Để
có tiền của chi dùng cho phong trào Đông
Du, theo gợi ý của Tiểu La Nguyễn Thành
- một yếu nhân của Duy Tân Hội ở Quảng Nam, Phan Bội Châu đã chú ý đến các nhà hào phú Nam Kỳ hào sảng, giàu lòng yêu nước, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp chung Năm 1903, Phan Bội Châu đã thực hiện chuyến Nam hành để vận động cho Đông Du, tiếp xúc trực tiếp với các nhân sĩ Nam Kỳ như Đặng Thúc Liêng, Nguyễn
Trang 5Thần Hiến, Bùi Chi Nhuận… bước đầu xác
lập mối quan hệ với thành phần trí thức,
điền chủ giàu có ở Nam Kỳ Đây là sự kiện
có ý nghĩa rất lớn đối với phong trào Đông
Du và cuộc vận động Duy Tân sau này
Phong trào Đông Du bắt đầu ở Bắc và
Trung Kỳ vào tháng 7/1905 Dưới tác động
của Ai cáo Nam Kỳ phụ lão cùng với nhiều
tài liệu tuyên truyền khác của Phan Bội
Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để5 gửi từ
nước ngoài về và được Trần Chánh Chiếu
phổ biến, đến năm 1907 phong trào lan
rộng đến Nam Kỳ Dưới hình thức của
cuộc vận động Minh Tân, các chí sĩ đầu
tiên tham gia phong trào như Trần Chánh
Chiếu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần
Hiến, Đặng Thúc Liêng, Huỳnh Đình
Điển “đều nhờ có tài, có của, có gan nên
phong trào nảy nở rất mau” (Nguyễn Văn
Hầu, 1974, tr.32), đã đóng góp một phần
gia sản rất lớn, thành lập nhiều cơ sở kinh
tài, cung cấp tiền của cho thanh niên sang
Nhật du học cũng như các hoạt động bí mật
của phong trào Phan Bội Châu đã ghi nhận
đóng góp của Nam Kỳ cho Đông Du: “anh
em Nam Kỳ giúp nhiều lắm” và “hậu viện
trông về Nam Kỳ cũng là thực sự” (Phan
Bội Châu, 1973, tr.34, 104)
Sau chuyến sang Hương Cảng hội đàm
với Phan Bội Châu và gặp Kỳ Ngoại Hầu
Cường Để ở Nhật Bản trở về (khoảng sau
tháng 4/1907), Trần Chánh Chiếu bắt đầu
vận động cho Đông Du Ngoài việc cho
con là Trần Chánh Tiết (còn gọi là Jules
Tiết) sang Nhật Bản học tập, Trần Chánh
Chiếu còn viết sách báo cổ súy công khai
cho cuộc Minh Tân Trong đó, có nhiều bài
viết đăng trên hai tờ báo Nông Cổ Mín
Đàm và Lục Tỉnh Tân Văn trong giai đoạn
ông làm chủ bút, kêu gọi các nhà hào phú,
điền chủ hùn hạp thành lập các cơ sở kinh
doanh công thương nghiệp, để huy động tài
chính cho thanh niên đi du học Bên cạnh việc thành lập Minh Tân Hội, Trần Chánh Chiếu còn đầu tư lập Nam Trung khách sạn6, vừa kinh doanh phòng nghỉ, vừa có nhà hàng bán cơm, rượu, có cả ban đón tiếp, hướng dẫn thanh niên xuất dương du học Minh Tân khách sạn gồm các dịch vụ nhà hàng, kinh doanh phòng nghỉ, các cửa hiệu bán các mặt hàng cao cấp trong nước hoặc nhập từ nước ngoài, cũng là trụ sở hội họp của Hội Minh Tân Nam Kỳ Minh Tân Công nghệ7 sản xuất diêm, xà bông nhằm cạnh tranh với sản phẩm của Hoa kiều Những cơ sở kinh tài trên vừa là nơi kinh doanh, là nơi tập hợp các đồng chí và các
du học sinh, đồng thời cũng là nơi phân phát tài liệu cách mạng tuyên truyền cho phong trào Cuộc Minh Tân trong đó có hoạt động vận động tài chính, đưa thanh niên ưu tú đi du học do Trần Chánh Chiếu khởi xướng đã lôi cuốn rất nhiều trí thức yêu nước đương thời ở khắp các tỉnh Nam
Kỳ tham gia, đóng góp nhiều công sức và tiền của cho phong trào
Ngoài việc cho Trần Chánh Chiếu mượn trụ sở lập Minh Tân khách sạn, Huỳnh Đình Điển còn là người đầu tiên xuất vốn xây dựng Nam Kỳ khách sạn, tham gia thành lập Nam Kỳ Minh Tân Công Nghệ nhằm cạnh tranh với tư bản Pháp và Hoa kiều Nguyễn An Khương cũng bỏ vốn lập Chiêu Nam Lầu, giao cho người chị ruột là Nguyễn Thị Xuyên trông nom Đây là cơ sở kinh tài đồng thời cũng
là nơi tập kết đưa rước thanh niên sang Nhật du học
Nguyễn Thần Hiến cũng cho người con trai duy nhất là Nguyễn Như Bích sang Nhật du học, tích cực vận động thành lập Khuyến du học hội để vận động và tài trợ cho Đông Du Ông đã góp một số tiền khá lớn vào quỹ du học sinh8, kết hợp hoạt
Trang 6động cùng với các cơ sở yêu nước của các
trí thức Nam Kỳ như Đặng Thúc Liêng (Sa
Đéc), Trần Chánh Chiếu (Sài Gòn),
Nguyễn Quang Diêu (Đồng Tháp), Bùi Chi
Nhuận (Long An), v.v Nguyễn Thần Hiến
còn sang tận Nhật Bản để thăm nom việc
học hành của du học sinh và đưa nhiều du
học sinh mới sang nhập học Chí sĩ Nguyễn
Quang Diêu hoạt động tích cực trong
Khuyến du học hội của Nguyễn Thần Hiến,
được rất nhiều người hưởng ứng Có thể
thấy rõ, những cuộc xuất dương cầu học ở
Nam Kỳ vốn diễn ra từ trước, khi hưởng
ứng Đông Du đã được gắn với mục tiêu
cứu nước
Không nằm ngoài dự đoán của Phan
Bội Châu và Tiểu La Nguyễn Thành, hoạt
động tích cực và đóng góp to lớn của trí
thức Nam Kỳ đã góp phần làm cho phong
trào Đông Du diễn ra sôi nổi Nam Kỳ là
nơi có nguồn lực kinh tế lớn nhất nước, có
nhiều nhà hằng sản, hằng tâm, là chỗ dựa
kinh tài rất lớn và chủ yếu cho cuộc Đông
Du Theo ước tính của Phan Bội Châu, học
phí huy động ở Nam Kỳ dồi dào hơn
những nơi khác, còn số học sinh du học
trên cả nước trong các năm 1907-1908
“ước có 200 người: Nam Kỳ ước hơn 100
người, Trung Kỳ ước 50 người, Bắc Kỳ
ước hơn 40 người” (Phan Bội Châu, 1973,
tr.104) Đây là một kết quả khá ấn tượng,
bởi gần hai năm sau khi bùng nổ ở Bắc và
Trung Kỳ, Phong trào Đông Du mới lan
đến Nam Kỳ, trong khi đó, tài chính huy
động được từ Nam Kỳ cũng như số lượng
du học sinh ở đây là cao nhất nước (số học
sinh du học ở Nam Kỳ hơn cả số học sinh
du học ở Bắc và Trung Kỳ cộng lại) Qua
nhận định của Phan Bội Châu và các con
số nêu trên, có thể nhận thấy, phong trào
Đông Du ở Nam Kỳ diễn ra rất sôi nổi,
thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả ở Bắc và
Trung Kỳ
Do sự cấu kết Nhật - Pháp, Phong trào Đông Du tan rã vào tháng 10/1908 Mặc dù vậy, tác động của Phong trào Đông Du là rất lớn và lâu dài Trong quá trình vận động tài chính cho Đông Du, nhiều công ty công thương nghiệp, hội buôn ra đời với nhiều chủ nhân là trí thức yêu nước, sau khi Phong trào thất bại vẫn tiếp tục được khuếch trương, góp phần làm cho đời sống kinh tế, xã hội Nam Kỳ có những chuyển biến mới Phong trào Đông Du đã trở thành một chất xúc tác, góp phần đẩy mạnh phong trào xuất dương cầu học vốn đã xuất hiện từ trước ở Nam Kỳ Những trí thức trẻ
từ Nam Kỳ đã mạnh dạn bước ra khỏi phạm vi châu Á, đến châu Âu và nhiều nơi khác trên thế giới, tìm kiếm con đường cứu nước mới để giải phóng dân tộc
2.2.2 Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng Phong trào Duy Tân
Tiếp nối tư tưởng canh tân của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cùng một số sĩ phu cấp tiến khởi xướng cũng chủ trương canh tân đất nước, chống chế độ phong kiến, vận động xây dựng một nền học mới theo kiểu phương Tây, thực hiện lối sống mới văn minh hiện đại, dân chủ, truyền bá chữ Quốc ngữ, phát triển kinh tế công thương nghiệp dân tộc, làm cho đất nước phú cường và dân chủ trong khuôn khổ chế độ thuộc địa
Cũng như Phan Bội Châu, năm 1905, Phan Châu Trinh thực hiện Nam du để tuyên truyền chủ trương duy tân nhưng phải dừng chân ở Phan Thiết vì bị bệnh Mặc dù vậy, từ cuối năm 1906 đến đầu năm 1907, phong trào từ Trung Kỳ cũng đã lan vào tận Nam Kỳ Minh Tân Hội đã tổ
Trang 7chức nhiều hoạt động hưởng ứng Duy Tân
như viết báo tuyên truyền, hô hào thực hiện
nếp sống mới, kêu gọi nhân dân bài trừ hủ
tục, bỏ tệ cờ bạc, nghiện hút, cổ động sử
dụng chữ Quốc ngữ; kêu gọi mở các cơ sở
công thương nghiệp để phát triển kinh tế và
cũng để đóng góp tài chính cho Đông Du
Đến đây, cuộc Minh Tân do Trần Chánh
Chiếu cùng với các trí thức yêu nước Nam
Kỳ lãnh đạo đã kết hợp thực hiện được tư
tưởng và mục đích của cả hai phong trào:
Đông Du và Duy Tân
Sau khi sang Trung Quốc, Nhật Bản
gặp Phan Bội Châu và Cường Để trở về,
Trần Chánh Chiếu vừa bắt tay vào cuộc
vận động Đông Du, vừa thực hiện tuyên
truyền tư tưởng mới để góp phần canh tân
đất nước Hai tác phẩm Hương Cảng nhơn
vật và Quảng Đông tỉnh thành phong cảnh
của Trần Chánh Chiếu đã được ông cho in
và phổ biến công khai, chỉ ra những công
việc phải làm theo gương Duy Tân của
Trung Quốc, bao gồm phát triển trường
dạy học, phát triển công nghệ trong nước
và mở mang trường quân sự dạy thủy quân,
lục quân (Sơn Nam, 2009, tr.45)
Sử dụng báo chí làm phương tiện cổ
súy cho Minh Tân là phương thức đặc biệt
và hiệu quả, góp phần làm cho cuộc vận
động Duy Tân và Đông Du lan tỏa rộng
khắp, nhất là trong giới trí thức và nhân
dân thành thị Để khuyến khích nhân dân
sử dụng chữ Quốc ngữ, ngay trang đầu tiên
của tờ Nông Cổ Mín Đàm, số 264 (ngày
6/10/1906), Trần Chánh Chiếu đã cho đăng
tin mở cuộc thi sáng tác truyện bằng chữ
Quốc ngữ với tên gọi “Quốc âm thí cuộc”,
hướng dẫn người dự thi “đặt ra một truyện
tùy theo nhơn vật, phong tục trong xứ,
dường như truyện có thiệt vậy… tốt khen
xấu chê, phải có cang thường, luân lý,
nhơn duyên, thiện ác, không đặng dùng
việc dị đoan…” (Nông Cổ Mín Đàm, số
264, ngày 6/10/1906) Cuộc thi vừa có tác dụng cổ động và phổ biến việc sử dụng chữ Quốc ngữ, vừa mang tính nhân văn và kêu gọi bài trừ hủ tục trong nhân dân
Bên cạnh việc cổ vũ nhân dân sống theo lối mới để bắt kịp đà tiến hóa của xã hội, các trí thức Nam Kỳ vẫn luôn ý thức giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Ngoài việc kinh doanh khách sạn tài trợ cho Đông Du, Huỳnh Đình Điển còn đưa lên sân khấu của khách sạn Minh Tân loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử, tiền thân của bộ môn nghệ thuật sân khấu cải lương sau này Huỳnh Đình Điển và Trần Chánh Chiếu cũng sử dụng khách sạn này làm trụ
sở tổ chức các buổi diễn thuyết với các đề tài tiến bộ, tân dân (Nhiều tác giả, 2007, tr.46), kêu gọi nhân dân sửa đổi phong tục, học tập để phát triển dân trí, vừa tiếp thu học tập văn minh Âu Tây vừa giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, tiến tới tự lực tự cường, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp
Một chủ trương nữa của Minh Tân Hội nhằm hiện thực hóa phong trào cải cách kinh tế, văn hóa - tư tưởng ở Nam Kỳ là kêu gọi hùn vốn lập hội buôn, phát triển công thương nghiệp để cạnh tranh với tư bản nước ngoài (tư bản Pháp, Hoa, Ấn), giúp giới làm ăn người Việt khẳng định khả năng kinh doanh và vị thế trong các
hoạt động kinh tế Trên Lục Tỉnh Tân Văn
số 46 (ngày 4/10/1908), đăng quảng cáo Minh Tân Khách Sạn “có bán trà ngon, nước mắm Phú Quốc đựng ve, chiếu, sáp, savon và tạp hóa…” (Sơn Nam, 2009, tr.187), Chiêu Nam Lầu do Nguyễn An Khương thành lập tại số 49 đường Kinh Lấp, Sài Gòn kinh doanh dịch vụ nhà hàng khách sạn nhằm cạnh tranh với các cơ sở Hoa Kiều: “… hễ khi nào muốn đến tiệm
Trang 8Tiên lầu mà thết đãi anh em xin ráng mà
nhớ đến Chiêu Nam Lầu của đồng bào là
Nguyễn An Khương… tốn tiền mà giúp
đồng bào làm nên việc thì đồng bạc ấy còn
ở bên nước ta, chẳng là hữu ích hơn gởi
cho chúng nó đem về Tàu cất nhà sắm
ruộng hay sao?” (Sơn Nam, 2009, tr.196)
Ngoài ra, Lục Tỉnh Tân Văn còn đăng tin
quảng cáo, kêu gọi hùn hạp thành lập nhiều
cơ sở công thương nghiệp khác như Công
ty Nhà in, Mỹ Tho Minh Tân túc mễ tổng
cuộc, Nam Hòa công ty, Y Dược công
ty.v.v Có thể nói, tính đến thời điểm trước
khi Hội Minh Tân ra đời, chưa bao giờ
hoạt động công thương nghiệp ở Nam Kỳ
lại diễn ra sôi nổi và phong phú đến như
vậy Rõ ràng, Trần Chánh Chiếu và các trí
thức Nam Kỳ có vai trò quan trọng trong
việc khuếch trương và làm cho phong trào
chấn dân khí, nâng cao dân trí và thực sản
hưng nghiệp lan tỏa, đi vào hiện thực ở
khắp các tỉnh Nam Kỳ
Dưới ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ
tư sản phương Tây và Phong trào châu Á
thức tỉnh, trí thức yêu nước Nam Kỳ cũng
như đội ngũ trí thức yêu nước trên phạm vi
cả nước đã nhận ra rằng, những hạn chế,
yếu kém của đất nước về kinh tế, về trình
độ dân trí là một trong những nguyên nhân
dẫn đến mất tự do, dân chủ và sự thất bại
trong cuộc đấu tranh giải phóng giống nòi
Với lòng yêu nước nhiệt thành, sự nhạy
bén và thức thời, họ nhận thấy phải phú
quốc, cường binh, thực sản hưng nghiệp để
có được sức mạnh đương đầu với kẻ thù
Mặc dù diễn ra sôi nổi và tích cực,
nhưng Minh Tân ở Nam Kỳ có kết cục
cùng chung số phận với Phong trào Đông
Du và Phong trào Duy Tân ở Bắc Kỳ và
Trung Kỳ Như đã nói ở trên, năm 1908,
Nhật - Pháp cấu kết đàn áp, phong trào
Đông Du thất bại Trong khi đó, vào tháng
10/1908, Trần Chánh Chiếu và một số nhân sĩ Minh Tân khác bị Pháp bắt, các cơ
sở kinh tài và cơ quan báo chí của phong trào đều bị cấm hoạt động Phong trào
Minh Tân đến đây coi như bị dập tắt
3 Kết luận
Nam Kỳ là vùng đất sớm chịu ách cai trị, bình định, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và cũng sớm tiếp cận nền văn minh phương Tây Trí thức tân học ở Nam
Kỳ lại ra đời sớm hơn so với Bắc và Trung
Kỳ Đây chính là những nhân tố tạo nên nét khác biệt về thành phần lãnh đạo, đặc điểm của phong trào yêu nước ở Nam Kỳ so với những vùng miền khác trên phạm vi cả nước Nếu như giới sĩ phu cấp tiến là lực lượng lựa chọn, quyết định khuynh hướng dân chủ tư sản để tiếp tục con đường cứu nước qua hai cuộc vận động Đông Du và Duy Tân ở Bắc và Trung Kỳ; thì ở Nam
Kỳ, sự kết hợp giữa hai thế hệ trí thức nho học cấp tiến và trí thức tân học trong Phong trào Minh Tân đã tạo nên một “gạch nối giữa hai thế kỷ”, cho thấy một sự tiếp nối và “chuyển giao thế hệ” rất đặc biệt trong phong trào yêu nước thập niên đầu thế kỷ XX trên vùng đất này Điều đó chứng tỏ bước tiến vượt bậc trong nhận thức tư tưởng của thế hệ sĩ phu cấp tiến khi tiếp nhận những giá trị tiến bộ của thời đại
- văn minh phương Tây và tư tưởng dân chủ tư sản, tìm ra một hướng đi mới cho dân tộc, đồng thời thể hiện vai trò quyết định của trí thức tân học đối với khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào yêu nước ở Nam Kỳ cho đến trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930)
Phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ mang những sắc thái rất riêng mà Đông Du và Duy Tân ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ không có Minh Tân cùng lúc thực hiện cả hai nhiệm vụ: Đông Du và Duy Tân với những hình
Trang 9thức mới mẻ, đặc biệt là tinh thần thực sản
hưng nghiệp rất đậm nét ở Nam Kỳ Rõ
ràng, với sự tham gia, đóng góp của trí
thức yêu nước Nam Kỳ, cùng với điều kiện
kinh tế nổi trội của vùng đất này đã góp
phần làm cho phong trào Đông Du ở Nam
Kỳ diễn ra mạnh mẽ nhất so với các địa
phương khác trên cả nước
Đông Du và Duy Tân thất bại, nhưng
dư âm của hai phong trào này với tên gọi
Minh Tân vẫn kéo dài với sự phát triển
của các cơ sở kinh tài, ảnh hưởng sâu
rộng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
kinh tế và văn hóa xã hội ở Nam Kỳ, góp
phần dẫn đến sự hình thành tầng lớp tư sản dân tộc ở giai đoạn sau Những cuộc xuất dương cầu học của thanh niên trí thức Nam Kỳ vẫn tiếp diễn, đến những chân trời rộng lớn hơn, khả dĩ hơn trong nhiệm
vụ tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc
Cuộc Minh Tân ở Nam Kỳ cũng đã tạo
ra một môi trường chính trị thuận lợi cho
sự đón nhận khuynh hướng cứu nước mới,
do Nguyễn Ái Quốc thông qua các học trò của Người truyền bá vào Việt Nam từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX: khuynh hướng cách mạng vô sản
Chú thích
1
Từ năm 1813 đến năm 1864, có tất cả 20 khoa thi Hương được tổ chức ở Nam Kỳ, trong đó
có 19 khoa thi được tổ chức ở trường thi Gia Định Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định, trường thi này phải đóng cửa, nhà Nguyễn cho mở tiếp một khoa thi ở trường thi An Giang vào năm 1864 và đây cũng là khoa thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (Cao Xuân Dục, 1993, tr.80-90)
2
Nay là Trường Lê Quý Đôn, tọa lạc tại số 110 đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
sư và làm việc tại Pháp, Đức Sau chuyến đi Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1946), Phạm Quang Lễ theo Bác về nước tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến và được Bác đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa
5
Tháng 5/1904, Duy Tân hội được thành lập với mục đích “khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập”, nhiệm vụ trước mắt là khuếch trương thế lực về người và tài chính, chuẩn bị cho cuộc bạo động và ra ngoài cầu viện (Phan Bội Châu, 1973, tr.37-38) Mặc dù
Kỳ Ngoại Hầu Cường Để được bầu làm Hội chủ, nhưng Phan Bội Châu chính là linh hồn của Duy Tân hội và Phong trào Đông Du Những trí thức Nam Kỳ như Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Thần Hiến, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Trần Chánh Chiếu… chịu ảnh hưởng rất lớn tư tưởng của Phan Bội Châu
trương ngày 15/11/1907
7
Gilbert Chiếu chủ trương Nam Kỳ Minh Tân Công Nghệ là công ty “hùn ngân bổn vô hạn”, bắt đầu thu tiền kỳ thứ nhất vào tháng 2/1908 Nhiều trí thức Nam Kỳ cũng đã tham gia hùn hạp thành lập công ty như Nguyễn Viên Kiều, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn Thành Út… (Sơn Nam, 2009, tr.180-210)
Trang 108 Trong thời gian từ 1908-1909, tổng số tiền Nguyễn Thần Hiến bỏ vào Khuyến du học hội là 20.000 đồng Đông Dương, tương đương nửa triệu đồng năm 1960 (Nguyễn Văn Hầu, 1974, tr.33)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phan Bội Châu (1973) Phan Bội Châu niên biểu (Hồi kí của Phan Bội Châu) Nhóm
nghiên cứu Sử - Địa xuất bản
Cao Xuân Dục (Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm dịch, Cao Tự Thanh hiệu đính và
giới thiệu, 1993) Quốc triều hương khoa lục NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Trần Văn Giàu (1975) Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám Tập II Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội
Nguyễn Văn Hầu (1974) Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu - Một lãnh tụ trọng yếu trong Phong trào Đông Du miền Nam Hương Sen tái bản
Huỳnh Thúc Kháng (1957) Bức thư bí mật của cụ Huỳnh Thúc Kháng trả lời cụ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để NXB Anh Minh.
Sơn Nam (2009) Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam Miền Nam đầu thế kỷ XX - Thiên Địa Hội & Cuộc Minh Tân NXB Trẻ
Nhiều tác giả (2007) Phong trào Đông Du ở miền Nam Tạp chí Xưa & Nay NXB Văn
hoá Sài Gòn
Nông Cổ Mín Đàm Số 264 (ra ngày 6/10/1906) Phông Sưu tập tư liệu - Trung tâm Lưu
trữ Quốc gia II
Chương Thâu (2007) Góp phần tìm hiểu Nho giáo - nho sĩ - trí thức Việt Nam trước năm
1945 Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin - Viện Văn hóa
Phạm Phúc Vĩnh (2017) Phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ (đầu thế kỷ XX) NXB Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài: 15/5/2020 Biên tập xong: 15/01/2021 Duyệt đăng: 20/01/2021