1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lựa chọn văn bản nghị luận xã hội để dạy học đọc hiểu ở lớp 9 dựa trên yêu cầu của chương trình ngữ văn 2018

8 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 412,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn bản nghị luận là một trong ba loại văn bản quan trọng được sử dụng trong dạy học đọc hiểu. Bài viết vận dụng một số yêu cầu được nêu ra trong chương trình Ngữ văn 2018 để xây dựng hệ thống văn bản nghị luận xã hội sử dụng trong dạy học đọc hiểu ở lớp 9 đáp ứng định hướng phát triển năng lực cho học sinh.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

LỰA CHỌN VĂN BẢN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐỂ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU

Ở LỚP 9 DỰA TRÊN YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018

Selechương trìnhion of social persuasive texts in teaching reading comprehension

in 9th grade based on the requirements of the 2018 Language arts and Literature

curriculum

ThS Nguyễn Phước Bảo Khôi(1), SV Nguyễn Ngọc Minh Trâm(2),

SV Nguyễn Đắc Kim Phụng(3), SV Lý Trần A Khương(4)

(1),(2),(3),(4)Trường Đại học Sư phạm TP.HCM

TÓM TẮT

Văn bản nghị luận là một trong ba loại văn bản quan trọng được sử dụng trong dạy học đọc hiểu Bài viết vận dụng một số yêu cầu được nêu ra trong chương trình Ngữ văn 2018 để xây dựng hệ thống văn bản nghị luận xã hội sử dụng trong dạy học đọc hiểu ở lớp 9 đáp ứng định hướng phát triển năng lực cho học sinh

Từ khóa: dạy học đọc hiểu, Ngữ văn lớp 9, văn bản nghị luận xã hội

ABSTRACHƯƠNG TRÌNH

Persuasive text is one of three important types of texts used in teaching reading comprehension This article applies some of the requirements represented in 2018 Language arts and Literature Curriculum for the purpose of building the document system of social discourse, which is used in reading comprehension in 9 th grade to reach the competence development orientation for the student

Keywords: teaching reading comprehension, Language arts and Literature 9 th grade, social persuasive texts

1 Cơ sở lựa chọn lựa chọn văn bản

nghị luận xã hội sử dụng trong dạy học

đọc hiểu ở lớp 9 đáp ứng yêu cầu của

chương trình Ngữ văn 2018

Tuy không phải là chương trình đầu

tiên và duy nhất nêu ra tiêu chí lựa chọn

ngữ liệu văn bản song vấn đề này xuất hiện

trong chương trình Ngữ văn 2018 khá cụ

thể, đặt ra nhiều nội dung đáng suy nghĩ

Chương trình tổng thể xác định: “Yêu

cầu cần đạt là kết quả mà học sinh cần đạt

được về phẩm chất và năng lực sau mỗi

cấp học, lớp học ở từng môn học và hoạt

động giáo dục; trong đó, mỗi cấp học, lớp học sau đều có những yêu cầu riêng cao hơn, đồng thời bao gồm những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó” (Bộ

Giáo dục và Đào tạo, 2018, tr.37) Theo đó, yêu cầu cần đạt định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học

về mặt phương pháp.

Chương trình Ngữ văn 2018 được xây

dựng theo hướng mở: “Chương trình chỉ quy

định các yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói và nghe cho mỗi lớp; quy định các kiến thức cơ

Trang 2

bản, cốt lõi về văn học, tiếng Việt và một số

ngữ liệu bắt buộc Việc lựa chọn nội dung

dạy học để biên soạn sách giáo khoa dành

quyền chủ động cho tác giả; việc tổ chức dạy

học, soạn đề thi, kiểm tra đánh giá… dành

quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục và

giáo viên miễn là đáp ứng các yêu cầu cần

đạt được quy định trong chương trình.” (Bộ

Giáo dục và Đào tạo, 2018, tr.91-92)

Do vậy, trong quá trình lựa chọn văn

bản cho việc dạy học đọc hiểu, căn cứ vào

tiêu chí lựa chọn ngữ liệu văn bản và yêu

cầu cần đạt của mỗi lớp là yêu cầu bắt buộc

1.1 Căn cứ vào tiêu chí lựa chọn ngữ

liệu được nêu trong chương trình

Chương trình Ngữ văn 2018 (Bộ Giáo

dục và Đào tạo, 2018, tr.15-16) đã nêu ra

những tiêu chí và yêu cầu sau:

 Phục vụ trực tiếp cho việc phát triển

các phẩm chất và năng lực theo mục tiêu,

yêu cầu cần đạt của chương trình

 Phù hợp với kinh nghiệm, năng lực

nhận thức, đặc điểm tâm – sinh lí của học

sinh ở từng lớp học, cấp học

 Có giá trị đặc sắc về nội dung và

nghệ thuật, tiêu biểu về kiểu văn bản và thể

loại, chuẩn mực và sáng tạo về ngôn ngữ

 Phản ánh được thành tựu về tư tưởng,

văn học, văn hoá dân tộc; thể hiện tinh thần

yêu nước, độc lập dân tộc, ý thức về chủ

quyền quốc gia; có tính nhân văn, giáo dục

lòng nhân ái, khoan dung, tình yêu chân

thiện mĩ, tình yêu thiên nhiên, tinh thần hội

nhập quốc tế, hướng đến những giá trị phổ

quát của nhân loại

 Bảo đảm sự phù hợp của văn bản với yêu cầu phát triển và thời lượng học tập của chương trình Độ khó của các văn bản đọc tăng dần qua từng năm học Thời gian để dạy học một văn bản phải tương thích với độ dài và độ phức tạp của nó để bảo đảm giáo viên có thể giúp học sinh tiếp cận đầy đủ và sâu sắc văn bản, cho học sinh có cơ hội đọc trực tiếp và trọn vẹn những tác phẩm được chọn học

 Bảo đảm kế thừa và phát triển các chương trình môn Ngữ văn đã có

 Căn cứ vào yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp và danh sách các tác phẩm bắt buộc, tác phẩm bắt buộc lựa chọn được quy định, tác giả sách giáo khoa chọn thêm những văn bản phù hợp được khuyến nghị trong hoặc ngoài danh mục gợi ý ở cuối chương trình Giáo viên và học sinh được chọn đọc một số văn bản mở rộng phù hợp với yêu cầu của chương trình và lứa tuổi để thảo luận trong nhóm, trong lớp

Những tiêu chí và yêu cầu này bao hàm luôn cả ba loại văn bản, do đó khi lựa chọn văn bản nghị luận xã hội tất yếu phải cân nhắc đến những điều đã liệt

kê trên

1.2 Căn cứ vào yêu cầu cần đạt về đọc văn bản nghị luận

Với việc dạy đọc văn bản nghị luận ở lớp 9, chương trình Ngữ văn 2018 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018, tr.56-57) nêu ra các

yêu cầu cần đạt sau:

Đọc hiểu

nội dung

˗ Nhận biết và phân tích được luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu

trong văn bản

˗ Phân tích được mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng; vai trò

của luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong việc thể hiện luận đề

˗ Biết nhận xét, đánh giá tính chất đúng và sai của vấn đề đặt ra trong văn bản

Đọc hiểu

hình thức

˗ Nhận biết và đánh giá được cách thuyết phục thường dùng trong quảng cáo

thương mại

Trang 3

˗ Phân biệt được cách trình bày vấn đề khách quan (chỉ đưa thông tin) và cách

trình bày chủ quan (thể hiện tình cảm, quan điểm của người viết)

Liên hệ,

so sánh,

kết nối

˗ Liên hệ được ý tưởng, thông điệp trong văn bản với bối cảnh lịch sử, văn hoá,

xã hội

˗ Hiểu được cùng một vấn đề đặt ra trong văn bản, người đọc có thể tiếp nhận

khác nhau

Đọc mở rộng Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 9 văn bản nghị luận (bao gồm cả văn bản được

hướng dẫn đọc trên mạng internet) có độ dài tương đương với các văn bản đã học

Chương trình môn Ngữ văn đã nêu rõ

nội dung dạy học (gồm: hoạt động đọc,

viết, nói và nghe; kiến thức tiếng Việt và

văn học; ngữ liệu) được xác định dựa trên

các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp Vấn đề

này một lần nữa được nhắc lại trong phần

tiêu chí lựa chọn ngữ liệu Ngữ liệu là một

bộ phận cấu thành của nội dung giáo dục,

để đáp ứng yêu cầu dạy học theo định

hướng mới, tiêu chí hàng đầu của việc lựa

chọn ngữ liệu đó là phục vụ trực tiếp cho

việc phát triển các phẩm chất và năng lực

theo mục tiêu, yêu cầu cần đạt của chương

trình

1.3 Một số căn cứ khác

Quan điểm và kĩ thuật dạy học tích

hợp đã và đang được áp dụng để xây dựng

chương trình, biên soạn sách giáo khoa

Ngữ văn Sự tích hợp nội môn trong môn

Ngữ văn xuất phát từ mối quan hệ mật thiết

và hệ thống giữa kiến thức và kĩ năng của

hai lĩnh vực văn học và ngôn ngữ Nó giúp

cho quá trình hình thành và phát triển năng

lực giao tiếp và năng lực thẩm mĩ của học

sinh diễn ra thuận lợi và hiệu quả hơn Vấn

đề tích hợp nội môn được biểu hiện đầu

tiên ở việc hiện nay các lĩnh vực kiến thức

và kĩ năng có liên quan được tích hợp vào

trong một cuốn sách giáo khoa Ngữ văn

Đồng thời khi gắn với định hướng tích hợp,

theo đó, tri thức trong các văn bản sử dụng

dạy học đọc hiểu có thể được sử dụng như

những ngữ liệu để dạy học viết, nói – nghe

Vì thế, khi đặt ra vấn đề lựa chọn văn bản nghị luận xã hội, yêu cầu cần đạt của việc rèn kĩ năng viết cũng phải được cân nhắc đến Cụ thể là những yêu cầu sau:

 Viết được một bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết; trình bày được giải pháp khả thi và có sức thuyết phục

 Viết được một quảng cáo hoặc tờ rơi về một sản phẩm hay một hoạt động, sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ

(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018, tr.58) Điều này cho thấy văn bản ngữ liệu dạy học đọc hiểu nói chung và văn bản nghị luận xã hội nói riêng ngày nay đang chuyển dần từ trạng thái “đơn trị” (chỉ phục vụ cho việc rèn kĩ năng đọc) sang “đa trị” (chứa đựng tiềm năng khai thác tích

hợp các kĩ năng)

Yêu cầu của chương trình Ngữ văn

2018 cũng đặt ra vấn đề thay đổi trong cấu trúc của bài học Ngữ văn Để phục vụ cho việc rèn kĩ năng đọc độc lập, nhiều khả năng học sinh sẽ đọc nhiều văn bản trong một bài học Các văn bản có thể sẽ được cấu tạo thành một hệ thống phân cấp về

chức năng: từ một đến hai văn bản đọc

mẫu (văn bản học chính thức) và các văn

bản thực hành đọc hiểu (các văn bản đọc

bổ sung với chất lượng được cụ thể hóa

thành hai mức độ thấp hơn và cao hơn văn

bản được học chính thức để phù hợp với

mục đích rèn kĩ năng đọc)

Trang 4

2 Lựa chọn văn bản nghị luận xã

hội sử dụng trong dạy học đọc hiểu ở lớp

9 trên cơ sở vận dụng những yêu cầu đã

nêu trên

2.1 Yêu cầu chung

Dựa trên các vấn đề đã nêu, chúng tôi bước đầu đề xuất một số yêu cầu đối với văn bản nghị luận xã hội sử dụng trong dạy học đọc hiểu ở lớp 9, cụ thể

như sau:

Yêu cầu

về nội dung

Tính vấn đề Vấn đề mang tính thời sự nổi bật và phải có tính giáo dục, có

tư tưởng sâu sắc để học sinh có cơ hội được thể hiện quan điểm cá nhân, nhận biết được tính đúng – sai, phù hợp –

không phù hợp của vấn đề

Mối quan hệ giữa các thành

tố trong văn bản nghị luận xã hội

Luận đề, luận điểm, ý kiến, lí lẽ, bằng chứng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tùy theo các yếu tố chủ quan và khách quan ở giáo viên mà họ có thể chọn lựa các văn bản nghị luận xã hội có các thành tố trên thể hiện rõ ràng, trực tiếp

hay ẩn đi trong đoạn văn, bài văn

Yêu cầu về

hình thức

Cấu trúc Đầy đủ mở bài, thân bài, kết bài và các thành tố như luận

điểm (ý kiến), lí lẽ, bằng chứng Trường hợp văn bản nghị luận xã hội đã được điều chỉnh dung lượng nhưng cần đảm

bảo tính hệ thống và liên kết chặt chẽ

các yêu cầu về mặt hình thức văn bản cũng như trọn vẹn ý nghĩa về mặt nội dung cũng như trình độ đọc hiểu của học

sinh lớp 9

Phương tiện ngôn ngữ

Giáo viên cần lưu ý về khía cạnh từ vựng và cấu trúc cú pháp, đáp ứng theo yêu cầu kiến thức Tiếng Việt của chương trình Ngữ văn 2018

Phương tiện phi ngôn ngữ

Chú ý bổ sung các phương tiện phi ngôn ngữ (bảng biểu, hình ảnh, số liệu, biểu đồ) theo yêu cầu cần đạt của chương

trình Ngữ văn 2018

2.2 Yêu cầu cụ thể được xác định

theo bảng miêu tả độ khó của văn bản

nghị luận xã hội

Khi thiết kế bảng đánh giá độ phức tạp

của văn bản nghị luận xã hội dành cho lớp

9, chúng tôi nghiên cứu thêm hai yêu cầu

cần đạt về đọc hiểu ở hai khối liền kề, tức

lớp 8 và lớp 10 vì theo chương trình Ngữ

văn 2018, năng lực đọc hiểu văn bản nghị

luận xã hội của học sinh lớp 9 được hình

thành ở các lớp dưới, gần nhất là lớp 8

đồng thời nó là tiền đề để phát triển cao

hơn ở bậc trung học phổ thông (gần nhất

tiếp theo là lớp 10)

Để phân hóa độ khó của văn bản nghị

luận xã hội dùng cho dạy học đọc hiểu ở khối lớp 9, nhóm nghiên cứu đã xây dựng

hệ thống tiêu chí được sắp xếp theo trình tự

có mối liên quan với nhau để đáp ứng cho việc mô tả chi tiết theo ba mức độ Các biểu hiện của tiêu chí được trình bày nối tiếp nhau và từng ý của tiêu chí đặt song song nhau, tăng dần theo ba mức độ tạo hành bảng mô tả chi tiết độ phức tạp của văn bản nghị luận xã hội Người lựa chọn dựa trên sự đánh giá của mình về chất lượng của văn bản nghị luận xã hội mà đánh dấ ừ đó, người dạy có cơ sở xác định độ khó của văn bản nghị luận xã hội trên các tiêu chí cụ thể

Trang 5

Tiêu chí/ Mức độ Dễ Trung bình Khó

1 Mối quan hệ

giữa các thành tố

làm nên nội dung

trong văn bản**

a Luận điểm được trình bày tường

minh ở vị trí dễ xác

định trong đoạn/

bài văn 

b Số lượng lí lẽ, dẫn chứng phong

phú; có nêu dẫn

chứng tiêu biểu

được đặt gần vị trí

với luận điểm 

c Luận điểm, lí lẽ, bằng chứng thể hiện

rõ vai trò liên kết

chặt chẽ với luận

đề 

a Luận điểm được trình bày tường minh trong bài viết, nằm trong phạm vi câu, vị trí linh hoạt trong đoạn văn/bài văn 

b Số lượng lí lẽ, dẫn chứng phong phú; có nêu dẫn chứng tiêu biểu, được đặt xa vị trí với luận điểm 

c Luận điểm, lí lẽ, bằng chứng thể hiện vai trò liên kết chặt chẽ với nhau và cả luận đề 

a Các luận điểm được

trình bày hàm ẩn trong bài viết, vị trí

linh hoạt trong đoạn

văn/bài văn 

b Số lượng lí lẽ, dẫn chứng phong phú; lí

lẽ, có một số dẫn

chứng tiêu biểu, có

thể đặt gần hoặc xa

với vị trí của luận điểm 

c Các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng thể hiện

vai trò liên kết chặt

chẽ với nhau, xây dựng nên nội dung chính của văn bản 

2 Tính đa chiều

trong nội dung

văn bản**

Vấn đề trong nội dung văn bản nghị

luận xã hội đơn

giản, gần gũi, chỉ mang tính chất đúng hoặc sai 

Vấn đề trong nội dung văn bản nghị luận xã hội gần gũi, vừa có thể đúng và sai; người viết phân tích ở nhiều khía cạnh, đưa ra kết luận chủ quan 

Vấn đề trong nội dung văn bản nghị luận xã

hội phức tạp, vừa có

thể đúng và sai; người viết phân tích ở nhiều

khía cạnh, đưa ra kết

luận khách quan, có khả năng liên hệ đến các lĩnh vực khác 

3 Tri thức thuộc

lĩnh vực có liên

quan *

a Văn bản bàn luận

có chủ đề gần gũi,

quen thuộc với đời sống học sinh, có

thể liên hệ được đến bối cảnh lịch sử, văn hóa xã hội 

b Không cần liên

hệ đến tri thức các lĩnh vực khác 

a Văn bản bàn luận

có chủ đề đa dạng, có thể liên hệ được đến bối cảnh lịch sử, văn hóa xã hội 

b Cần phải liên hệ đến tri thức của lĩnh vực khác để hiểu thêm nội dung văn bản 

a Văn bản bàn luận

có chủ đề đa dạng,

khai thác ở mức độ chuyên sâu, có thể

liên hệ, đối chiếu đến bối cảnh lịch sử, văn hóa xã hội 

b Cần phải liên hệ tri

thức khoa học hoặc trải nghiệm cá nhân

để hiểu rõ nội dung văn bản 

4 Dạng thức thể

hiện vấn đề nghị

luận *

Bài nghị luận chỉ

nêu vấn đề hoặc chỉ nêu giải pháp

Bài nghị luận nêu vấn

đề và giải pháp (thống nhất hướng đến một

Bài nghị luận nêu vấn

đề và giải pháp (trình

bày nhiều vấn đề, đưa

Trang 6

Tiêu chí/ Mức độ Dễ Trung bình Khó

(chọn 1 trong 2)

cho vấn đề  cách đề xuất) 

Bài quảng cáo (cách thuyết phục thể hiện

thông điệp tường minh) 

ra nhiều giải pháp) 

Bài quảng cáo (cách thuyết phục thể hiện

thông điệp hàm ẩn)

5 Ý kiến, lí lẽ,

bằng chứng nghị

luận trong văn

bản**

Văn bản nghị luận

xã hội thể hiện rõ

ràng, tách bạch giữa

các lý lẽ chủ quan và dẫn chứng khách quan, được xác thực

Văn bản nghị luận xã hội trình bày lồng ghép, đan xen các lý

lẽ chủ quan bên cạnh dẫn chứng khách quan, được xác thực

Văn bản nghị luận xã hội sắp xếp lồng ghép, đan xen giữa luận điểm

với các lí lẽ chủ quan

và dẫn chứng khách quan, chủ quan 

6 Phương tiện phi

ngôn ngữ (hình

ảnh, số liệu, biểu

đồ)**

a Một trong chúng

có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện trong văn bản

nghị luận xã hội;

nếu xuất hiện, nó

chỉ ở mức độ đơn

giản 

b Chúng không có

hoặc có vai trò phụ trong việc thể

hiện nội dung văn bản nghị luận xã hội (chỉ minh họa đơn thuần) 

a Một trong chúng xuất hiện trong văn bản nghị luận xã hội;

ở mức độ chi tiết 

b Chúng có vai trò cần thiết đối với việc thể hiện nội dung văn bản nghị luận xã hội (cần khả năng phân tích) 

a Chúng đều xuất

hiện trong văn bản

nghị luận xã hội ở

mức độ chi tiết 

b Chúng có ý nghĩa

rất quan trọng đối

với việc thể hiện nội

dung, tăng thêm xác

thực cho lập luận

(đòi hỏi khả năng phân tích sâu) 

7 Phương tiện

ngôn ngữ **

a/ Cấp độ từ

- Thành ngữ, điển

tích, điển cố

- Từ Hán Việt, từ

mượn, thuật ngữ,

v.v

b/ Cấp độ câu

- Kiểu câu, phép

liên kết, từ nối

c/ Cấp độ văn bản

- Các biện pháp

tu từ

a Từ ngữ trong văn bản nghị luận xã hội

đều là từ ngữ

thường gặp trong đời sống 

b Yếu tố từ Hán Việt, thành ngữ, điển tích, điển cố

không nhất thiết tất cả đều xuất hiện trong bài; nếu xuất hiện, chỉ ở mức đơn giản; số

a Từ ngữ trong văn bản nghị luận xã hội

đa phần là từ ngữ thông dụng, thường gặp trong đời sống 

b Yếu tố từ Hán Việt, thành ngữ, điển tích, điển cố không nhất thiết tất cả đều xuất hiện đầy đủ trong bài;

nếu xuất hiện chỉ ở mức đơn giản; số lượng nhiều 

a Từ ngữ trong văn bản nghị luận xã hội

ít từ ngữ dễ hiểu 

b Yếu tố từ Hán Việt, thành ngữ, điển tích, điển cố không nhất thiết tất cả đều xuất hiện đầy đủ trong bài; nếu xuất hiện thì ở

mức độ phức tạp, số lượng nhiều (dành

Trang 7

Tiêu chí/ Mức độ Dễ Trung bình Khó

lượng ít 

c Các từ viết tắt cho các tổ chức quốc tế quan trọng

có thể không được nêu hoặc được nêu trong dẫn chứng nhưng có kèm giải thích cụ thể, số

lượng ít 

d Cấu trúc câu đa dạng: câu đơn - câu ghép (đơn giản);

không nhất thiết

đủ các phép liên

kết; từ ngữ dùng để liên kết trong bài

đều thông dụng, số

lượng ít 

e Biện pháp tu từ xuất hiện trong văn bản nghị luận xã hội

là những biện pháp

tu từ đã được học ở các lớp dưới, xuất

hiện ít, ở vị trí rõ

ràng, dễ thấy trong bài 

c Các từ viết tắt cho các tổ chức quốc tế quan trọng, thuật ngữ khoa học được nêu ra trong dẫn chứng, không kèm theo giải thích, số lượng ít 

d Cấu trúc câu đa dạng: câu đơn - câu ghép, có xuất hiện một số kiểu câu ghép phức tạp; không nhất thiết đủ các phép liên kết; từ ngữ dùng để liên kết trong bài đều thông dụng, số lượng nhiều 

e Biện pháp tu từ xuất hiện trong văn bản nghị luận xã hội

là những biện pháp tu

từ đã được học ở các lớp dưới: xuất hiện nhiều loại, rải rác trong bài 

cho văn bản nghị luận

xã hội trung đại) 

c Các từ viết tắt cho các tổ chức quốc tế quan trọng, thuật ngữ khoa học được nêu ra trong dẫn chứng không kèm theo giải

thích, số lượng nhiều

(văn bản nghị luận xã hội dịch từ văn bản gốc là văn bản nước ngoài) 

d Cấu trúc câu đa dạng: câu đơn - câu ghép, có xuất hiện một số kiểu câu ghép,

đa phần là các câu dài, có nhiều vế; có

đủ các phép liên kết;

từ ngữ liên kết có trong bài có thể thông dụng, có thể ít gặp, số lượng nhiều 

e Biện pháp tu từ xuất hiện trong văn bản nghị luận xã hội

là những biện pháp tu

từ đã được học ở các

lớp dưới; xuất hiện

dày đặc trong bài 

Kí hiệu

*: tiêu chí được mô tả định tính

**: tiêu chí được mô tả định tính và định lượng

Từ một số yêu cầu đối với văn bản nghị

luận xã hội sử dụng trong dạy học đọc hiểu

ở lớp 9 cũng như bảng mô tả độ khó văn

bản nghị luận xã hội, chúng tôi đề xuất một

số hệ thống văn bản nghị luận xã hội minh

họa đáp ứng các tiêu chí trên Hệ thống văn

bản mà chúng tôi đề xuất gồm có ba văn

bản: một văn bản đọc mẫu đáp ứng chuẩn

yêu cầu cần đạt lớp 9 của chương trình và

hai văn bản thực hành đọc hiểu được sắp

xếp theo cùng một chủ đề và có độ khó tăng dần từ ngữ liệu 1 đến ngữ liệu 3

Trang 8

Chủ đề Mức độ VĂN BẢN

Tinh thần yêu

nước

1 Yêu thương người lính (Thanh Thảo)

2 Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

Bảo vệ môi

trường

1 Cuộc chiến “trộm” nhựa: thử thách sống xanh (Thu Trang)

2 Giảm thiểu rác thải nhựa (nhiều tác giả)

3 Nghĩ lại về Trái đất (Dương Xuân Thảo)

2 Ai cũng cần lắng nghe (Minh Niệm)

3 Đó cũng là khi ta lạc mất nhau rồi (Phạm Lữ Ân)

Việc sắp xếp các đơn vị nội dung dạy

học theo một trật tự phù hợp với mức độ và

quá trình nhận thức của học sinh cần được

quan tâm đúng mức Muốn vậy, mỗi bài

học/ văn bản phải được xếp đặt một cách

có mục đích và phải tạo thành một mối liên

kết chặt chẽ với nhau Bảng mô tả trên vừa

có thể được sử dụng để sắp xếp văn bản

nghị luận xã hội trong sách giáo khoa Ngữ

văn của chương trình Ngữ văn 2018 vừa là

một gợi ý vận dụng vấn đề độ khó của văn

bản phục vụ cho việc dạy học đọc hiểu

theo đặc trưng thể loại

Vấn đề xây dựng được các nguyên tắc, tiêu chí một cách rõ ràng, có tính khả thi, xác định một quy trình chặt chẽ để lựa chọn được hệ thống văn bản tốt nhất phục vụ cho quá trình dạy học đọc hiểu

và kiểm tra đánh giá là rất quan trọng

Do vậy, việc tìm hiểu về độ khó của văn bản cũng như mối quan hệ giữa vấn đề này với mục đích sử dụng văn bản, trên

cả hai phương diện lí luận và thực tiễn,

đã và đang chứng tỏ là một hướng nghiên cứu đầy tiềm năng và cần được tiếp tục lâu dài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Arizona Department of Education (2013) Text Complexity Analysis Worksheet Guidance

Document ADE: High Academic Standards for Student

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017) Đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật xây dựng ma trận

đề và biên soạn câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn Tài liệu tập huấn cán bộ

quản lí và giáo viên trung học phổ thông

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018) Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Hà Nội: NXB

Giáo dục Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018) Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn Hà Nội:

NXB Giáo dục Việt Nam

The Australian Department of Education (2016) Australian curriculum, Assessment and Reporting authority <www.australiancurriculum.edu.au>, phiên bản 8.4, access on: 17/02/2020

Ngày nhận bài: 26/6/2020 Biên tập xong: 15/02/2021 Duyệt đăng: 20/02/2021

Ngày đăng: 11/06/2021, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w