1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa: Nhận xét kết quả sàng lọc trước sinh hội chứng Down, Patau, Edwards của xét nghiệm NIPT tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019

66 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (10)
    • 1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊ TẬT BẨM SINH VÀ RỐI LOẠN NHIỄM SẮC THỂ (10)
      • 1.1.1. Dị tật bẩm sinh (10)
      • 1.1.2. Rối loạn di truyền (14)
    • 1.2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ SÀNG LỌC TRƯỚC (15)
      • 1.2.1. Triple Test (AFP + βhCG + uE3) (16)
      • 1.2.2. Double Test (PAPP-A + βhCG) (16)
      • 1.2.3. Siêu âm (17)
      • 1.2.4. Các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh (17)
      • 1.2.5. Phương pháp sàng lọc không xâm lấn (Non-Invasive Prenatal genetic (18)
    • 1.3. TỔNG QUAN VỀ HỘI CHỨNG DOWN, EDWARDS VÀ PATAU (19)
      • 1.3.1. Tổng quan về Hội chứng Down (19)
      • 1.3.2. Tổng quan về hội chứng Edwards (21)
      • 1.3.3. Tổng quan về hội chứng Patau (22)
    • 1.4. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG DOWN, EDWARDS VÀ (23)
      • 1.4.1. Các nghiên cứu về bất thường nhiễm sắc thể 13, 18, 21 (23)
      • 1.4.2. Tình hình dị tật bẩm sinh và các nghiên cứu chẩn đoán trisomy 13, (24)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU (26)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
      • 2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (26)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (26)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu (27)
      • 2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu (27)
      • 2.2.4. Các biến số và chỉ số nghiên cứu (27)
      • 2.2.5. Xử lý và phân tích số liệu (28)
      • 2.2.6. Đạo đức trong nghiên cứu (28)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (29)
    • 3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THAI PHỤ ĐÃ LÀM SÀNG LỌC (29)
      • 3.1.2. Tuổi thai ở thời điểm sàng lọc bằng kỹ thuật NIPT (31)
      • 3.1.3. Một số đặc điểm về tiền sử của các thai phụ sàng lọc bằng NIPT (32)
      • 3.1.4. Tỷ lệ sử dụng kỹ thuật sàng lọc trước sinh của thai phụ trước khi thực hiện NIPT (33)
    • 3.2. KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM NIPT (33)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUẢ (38)
    • 4.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THAI PHỤ LÀM SÀNG LỌC TRƯỚC SINH BẰNG KỸ THUẬT NIPT (38)
      • 4.1.1. Một số thông tin chung (38)
      • 4.1.2. Đặc điểm về tiền sử của các thai phụ làm sàng lọc NIPT (42)
    • 4.2. TỶ LỆ HỘI CHỨNG DOWN, PATAU, EDWARDS TRONG CÁC SẢN PHỤ CÓ NGUY CƠ CAO TẠI BỆNH VIỆN PHỤSẢN HÀ NỘI (0)
      • 4.2.1 Tỷ lệ thai nhi mang nguy cơ cao DTBS qua phương pháp sàng lọc bằng NIPT (44)
      • 4.2.2. Mối liên quan giữa một số đặc điểm chung và nguy cơ cao DTBS ở (45)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ................................................................................... 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO (48)
  • PHỤ LỤC (53)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu chính của khóa luận nhằm mô tả đặc điểm chung của thai phụ có nguy cơ cao hội chứng Down, Patau, Edwardstại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019. Xác định tỷ lệ hội chứng Down, Patau, Edwards qua sàng lọc bằng NIPT trong các sản phụ có nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019. Mời các bạn tham khảo!

TỔNG QUAN

ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊ TẬT BẨM SINH VÀ RỐI LOẠN NHIỄM SẮC THỂ

1.1.1.Dị tật bẩm sinh a) Khái niệm

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1996, dị tật bẩm sinh được hiểu là những bất thường về cấu trúc, chức năng hoặc chuyển hóa xảy ra trước sinh, bất kể có được phát hiện tại thời điểm đó hay không.

Tuy có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về DTBS với những nội dung khác nhau nhưng đều thống nhất ở một số diểm chung sau:

- Là sự bất thường về: cấu trúc, chức năng hoặc chuyển hóa

- Thể hiện ở nhiều mức độ

- Những bất thường này thể hiện ngay sau khi mới sinh hay ở những giai đoạn muộn hơn

- Để lại hậu quả về thể chất, tinh thần, sinh lý hoặc chết b) Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ phát sinh dị tật bẩm sinh

Cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân của nhiều trường hợp DTBS Các nhóm nguyên nhân chính hay gặp [5]:

+ Bất thường cấu trúc NST

Đột biến số lượng nhiễm sắc thể (NST) ở người thường có bộ NST 2n = 46 Các dạng đột biến này có thể bao gồm đa bội (3n, 4n, ), lệch bội (2n+1, 2n+2, 2n-1, ) hoặc thể khảm, trong đó một tế bào có thể chứa hai hoặc ba dòng tế bào khác nhau.

• Đột biến cấu trúc NST: bao gồm mất đoạn, chuyển đoạn, đảo đoạn + Rối loạn gen

Biến đổi trong cấu trúc gen, đặc biệt là ở nucleotid, bao gồm các dạng thêm, bớt, đảo và thay thế nucleotid Di truyền đơn gen có các kiểu di truyền trội, lặn và liên kết giới tính, dẫn đến sự biểu hiện khác nhau của các đột biến gen Đôi khi, các đột biến này không được phát hiện ngay do bệnh chưa có biểu hiện rõ ràng.

- Do yếu tố môi trường

Tác động gây dị dạng của các yếu tố môi trường phụ thuộc vào bản chất, liều lượng và thời điểm tác động Các tác nhân gây dị tật bẩm sinh (DTBS) có thể bao gồm thuốc, hóa chất, tác nhân gây viêm nhiễm, yếu tố vật lý và các bệnh lý của người mẹ.

• Quinin: trước đây được dùng để gây sảy thai nhân tạo, có thể gây điếc bẩm sinh

Thalidomid, một loại thuốc chống nôn và an thần, đã bị cấm sử dụng do gây ra các dị tật bẩm sinh nghiêm trọng như dị tật tim, tịt ống ruột và thiếu chi khi sử dụng trong 6 tuần đầu của thai kỳ.

Các thuốc kháng acid folic là những loại thuốc ức chế chuyển hóa, thường được sử dụng trong điều trị ung thư Tuy nhiên, việc sử dụng chúng trong 3 tháng đầu thai kỳ có thể gây ra quái thai cho thai nhi.

Các thuốc an thần chống co giật như phenobarbital, trimetadion và paramethadion có thể gây ra các dị tật như dị tật tim, khe mặt và não nhỏ Ngoài ra, việc sử dụng Diazepam và Benzodiazepines trong ba tháng đầu của thai kỳ có thể dẫn đến khe hở môi và khe hở vòm miệng.

Việc sử dụng thuốc nội tiết, đặc biệt là progesteron tổng hợp, trong điều trị để ngăn ngừa sảy thai có thể dẫn đến hiện tượng nam hóa bộ phận sinh dục ngoài, bao gồm phì đại âm vật và sự sát nhập của các gờ sinh dục.

• Những dược phẩm khác: kháng sinh nhóm aminoglycosids gây điếc bẩm sinh, kali iodua gây bướu cổ và chậm phát triển trí tuệ, tetracyclin ức chế phát triển …[4,14]

• Thủy ngân: gây quái thai, teo tiểu não, cứng cơ và thiểu năng trí tuệ

Chì là một kim loại nặng có khả năng gây nhiễm độc nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của thai phụ Sự tiếp xúc với chì có thể dẫn đến dị tật bẩm sinh ở thai nhi, bao gồm các vấn đề về cơ xương, khe hở miệng và các bất thường trong hệ tim mạch.

Thuốc trừ sâu, diệt cỏ và thuốc làm trụi lá là những hóa chất có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, bao gồm sảy thai, thai chết lưu, chửa trứng, quái thai và các dị tật bẩm sinh.

+ Các tác nhân vật lý

Nhiều nghiên cứu trên người và thực nghiệm trên động vật đã chỉ ra rằng các chất phóng xạ có thể gây ra đột biến, dẫn đến dị dạng bẩm sinh.

Tia Rơngen (tia X) có thể gây ra những tác động nghiêm trọng nếu chiếu liều cao vào khung chậu của người mẹ trong thời gian dài, bao gồm nguy cơ sảy thai, dị tật ống thần kinh và sự chậm phát triển của thai nhi.

• Các tia tử ngoại với cường độ lớn: cũng gây ra các bất thường bẩm sinh

+ Yếu tố gây viêm nhiễm trong quá trình mang thai

• Virus Coxsakie B nhiễm trong 3 tháng đầu gây tật lỗ đái ở lưng dương vật, tinh hoàn lạc chỗ, viêm cơ tim và loạn nhịp tim

Nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh, bao gồm các dị dạng như mắt nhỏ, đục thủy tinh thể bẩm sinh, điếc bẩm sinh, cùng với các dị tật liên quan đến tim, não và mạch máu.

• Các virus cúm, zona và quai bị cũng nghi ngờ gây dị tật nhưng chưa có bằng chứng khoa học chứng minh [20]

• Xoắn khuẩn giang mai gây ra nhiều dị tật bẩm sinh như sứt môi hở vòm miệng, chậm phát triển trí tuệ, điếc và gây xơ hoá gan thận

• Toxoplasma gondi gây ra dị tật não nhỏ và các dị tật ở mắt, tổn thương não

- Các yếu tố nguy cơ

Theo báo cáo của TS Phan Thị Hoan từ Bộ môn Y sinh học - di truyền, Đại học Y Hà Nội, trong số 18.834 trẻ sơ sinh tại bệnh viện Phụ Sản, đã có những phát hiện quan trọng liên quan đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ.

Tại Hà Nội, tỷ số giới tính (nam/nữ) là 1,09, trong khi tỷ số giới tính của 64 trẻ dân tộc thiểu số (DTBS) là 1,06 Trong số 36.978 người được khảo sát ở các vùng đồng bằng sông Hồng, tỷ số giới tính đạt 0,98, cho thấy sự cân bằng giữa nam và nữ Ngược lại, tỷ số giới tính của người DTBS lại cao hơn, đạt 1,21, đặc biệt nhóm DTBS loại đa dị tật có tỷ lệ giới tính lên tới 1,54.

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ SÀNG LỌC TRƯỚC

Sàng lọc trước sinh bao gồm các xét nghiệm sinh hóa máu như Double Test và Triple Test, kết hợp với thông tin siêu âm để đánh giá nguy cơ thai nhi mắc hội chứng Down (T21), Edwards (T18), Patau (T13) và dị tật ống thần kinh Trong khi đó, chẩn đoán trước sinh thực hiện các xét nghiệm trên mẫu dịch ối hoặc sinh thiết gai nhau để khẳng định sự hiện diện của các hội chứng này thông qua kỹ thuật Karyotype hoặc QF-PCR Hiện nay, phương pháp sàng lọc không xâm lấn NIPT (như panorama test, verifi) cho phép phát hiện các bất thường nhiễm sắc thể, bao gồm hội chứng Down, Edwards, Patau, cũng như các bất thường về nhiễm sắc thể giới tính như hội chứng Turner, Klinefelter, Jacobs, và nhiều đột biến vi mất khác, chỉ bằng mẫu máu của thai phụ từ tuần thứ 9 của thai kỳ.

1.2.1 Triple Test (AFP + βhCG + uE3)

Alfa feto - protein (AFP) được sản xuất bởi túi noãn hoàng và gan của thai nhi, được phát hiện bởi Berg Stranol và Cazar vào năm 1956 Nồng độ AFP trong máu mẹ chỉ bằng 1/50.000 so với nồng độ AFP trong máu thai nhi và 1/150 trong nước ối Giá trị bình thường của AFP được xác định trong khoảng 0,7 MoM đến 2,0 MoM Các bất thường nhiễm sắc thể như hội chứng Down, hội chứng Turner và hội chứng Edward thường liên quan đến nồng độ AFP trong máu mẹ giảm xuống dưới 0,7 MoM.

uE3, hay estriol không kết hợp, được tiết ra bởi hoàng thể thai nghén trong giai đoạn đầu của thai kỳ và từ tháng thứ 4 trở đi do hợp bào của gai rau Nồng độ uE3 trong máu mẹ tăng dần, đạt đỉnh vào tháng thứ 9 và giảm khi gần đến thời điểm chuyển dạ Mức uE3 bình thường là 1 MoM, tuy nhiên, nồng độ uE3 giảm xuống dưới 0,5 MoM có thể liên quan đến hội chứng Down và hội chứng Edward.

β-hCG (beta - human chorionic gonadotropin) là một glucoprotein được tiết ra bởi tế bào Langhans của lá nuôi, có thể phát hiện trong nước tiểu và máu của mẹ Việc định lượng β-hCG có thể thực hiện với cả hai dạng toàn phần và tự do Nghiên cứu cho thấy mức β-hCG tăng cao (> 1,7 MoM) trong máu mẹ liên quan đến thai nhi bị hội chứng Down, trong khi mức thấp (< 0,7 MoM) liên quan đến hội chứng Edward.

Một số chất có thể được định lượng để phát hiện nguy cơ thai nhi mắc dị tật bẩm sinh thông qua sự thay đổi bất thường trong máu mẹ, bao gồm PAPP-A, Inhibin A, SP1 và CA125 Cụ thể, PAPP-A giảm trong 3 tháng đầu thai kỳ có liên quan đến hội chứng Down và một số bất thường khác.

Trong ba tháng đầu của thai kỳ, thường từ tuần 11 đến tuần 14, việc sử dụng bộ xét nghiệm đôi bao gồm PAPP-A và hCG (Double test) kết hợp với siêu âm thai để đo độ mờ da gáy (NT) là rất quan trọng.

- Ở 3 tháng giữa (thường từ tuần 15 đến 20) người ta sử dụng test bộ 3 (AFP+ hCG+ uE3) hoặc test bộ 4 (AFP+ hCG+ uE3+ inhibin A)

- Test lồng ghép là kết hợp các test của 3 tháng đầu và 3 tháng giữa (PAPP-A + fbhCG+ NT +AFP + hCG + uE3)

Siêu âm là một kỹ thuật đơn giản và không xâm lấn, cho phép quan sát hình ảnh thai nhi trong bụng mẹ Mặc dù công nghệ siêu âm hiện nay có thể tạo ra hình ảnh 2D, 3D, 4D và 5D, nhưng nó chủ yếu chỉ giúp đánh giá hình thái của thai nhi Điều này có nghĩa là những dị tật không rõ ràng hoặc không biểu hiện tại thời điểm siêu âm có thể không được bác sĩ phát hiện.

1.2.4.Các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh

- Chọc hút dịch ối(AC)

Chọc ối là phương pháp chủ yếu để phát hiện bất thường về cấu trúc NST thai, bệnh chuyển hóa, và xác định giới tính thai, đặc biệt là các bệnh lý liên quan đến NST giới tính như Hemophilia Phương pháp này cũng giúp định lượng AFP trong chẩn đoán các bất thường ống thần kinh và xác định mức độ trưởng thành phổi của thai nhi trong trường hợp cần chấm dứt thai kỳ sớm Tuy nhiên, tai biến thường gặp là sẩy thai và nhiễm trùng ối với tỷ lệ khoảng 0,5 - 1% Thực hiện chọc ối từ tuần thứ 15 đến 18 được coi là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán di truyền tế bào trước sinh với độ chính xác cao từ 99,4% đến 99,8% và tỷ lệ sẩy thai thấp.

- Sinh thiết gai rau(CVS)

Sinh thiết tua rau thai là một kỹ thuật lấy mẫu tế bào từ phần màng đệm bao quanh phôi thai nhằm xét nghiệm và chẩn đoán các bất thường về thai nhi Thủ thuật này có thể được thực hiện sớm từ tuần thứ 12 của thai kỳ, tuy nhiên, tỷ lệ sẩy thai thường gặp cần được lưu ý.

Các tế bào thai được sử dụng trong xét nghiệm di truyền có thể được phân tích ở nhiều mức độ khác nhau, bao gồm phân tích nhiễm sắc thể (NST), phân tích ADN ở mức độ phân tử, hoặc kỹ thuật FISH, tùy thuộc vào mục đích xét nghiệm Kết quả xét nghiệm thường có thể được nhận sau 5-7 ngày.

- Thu mẫu máu qua dây rốn (PUBS)

Thường chỉ sử dụng cho thai đơn và nguy cơ ảnh hưởng tới thai nhi là khoảng 2,0%,đặc biệt là nhiễm trùng và rỉ máu qua dây rốn [22]

1.2.5.Phương pháp sàng lọc không xâm lấn (Non-Invasive Prenatal genetic Testing – NIPT) a) Sự tồn tại của cff-DNA trong máu thai phụ cfDNA (cell-free DNA) có mặt trong huyết tương nguồn gốc từ quá trình tự chết (apoptosis) hoặc hoại tử của tế bào và có kích thước khoảng từ 180- 200bp Việc phát hiện DNA thai nhi lưu hành tự do trong máu mẹ hay cffDNA (cell-free fetal DNA) có nguồn gốc từ lá nuôi phôi (trophoplasts), các nghiên cứu chỉ ra rằng cffDNA có thể khảo sát lần đầu sớm nhất là ở tuần thứ 7 và một số là tuần thứ 5 Lượng cffDNA tăng theo thai kỳ, giảm nhanh sau sinh và hầu như không thể phát hiện được khoảng 2 giờ sau sinh Người ta ước tính rằng cffDNA chiếm khoảng 2-20% DNA tự do tổng số trong máu mẹ (cell-free DNA hay cfDNA).Theo một số bài nghiên cứu, kích thước trung bình của cffDNA35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,1%

- Đứng thứ hai là nhóm tuổi 26-30 tuổi chiếm 28,8%

- Đứng thứ ba là nhóm tuổi 31-35 tuổi chiếm 25,1%

- Thấp hơn là nhóm tuổi 21-25 tuổi chiếm 8,2% và thấp nhất là nhóm tuổi 17-20 tuổi chiếm 0,5%

Biểu đồ 3.1: Phân bố nghề nghiệp các thai phụ (nC7)

Biểu đồ 3.2: Phân bố nơi ở các thai phụ (nC7) Nhận xét:

Nghề nghiệp của các thai phụ chủ yếu tập trung vào công việc văn phòng hành chính và nội trợ, trong đó tỷ lệ nhân viên văn phòng chiếm ưu thế với 38,7%, chỉ thấp hơn một chút so với tỷ lệ các bà mẹ làm công việc nội trợ là 36,8%.

36,8% nhân viên văn phòng nội trợ công nhân, nông dân nhóm công việc khác

24 công việc khác ( buôn bán nhỏ, tiếp thị, sinh viên,…) chiếm 23,1% và thấp nhất là nhóm công việc công nhân, nông dân với tỷ lệ 5,0%

- Nơi ở của các thai phụ: chủ yếu là đến từ khu vực Hà Nội chiếm tỷ lệ cao đến 56,8% trong khi các tỉnh khác tổng chỉ chiếm 43,2%

3.1.2.Tuổi thai ở thời điểm sàng lọc bằng kỹ thuật NIPT

Bảng 3.2: Đặc điểm phân bổ tuổi của thai nhi (nC7)

- Tuổi của thai nhi trung bình tại thời điểm sàng lọc bằng NIPT là 13,85±2,58, tuổi thai lớn nhất là 26 tuần, nhỏ nhất là 10 tuần

- Chiếm đa số đối tượng tham gia ngiên cứu là tuổi thai 11-14 tuần (56,7%)

- Chiếm tỷ lệ cao thứ 2 là nhóm tuổi thai 14-20 tuần (33,2%)

- Chiếm tỷ lệ cao thứ ba là nhóm tuổi thai 10-11 tuần (7,1%) và thấp nhất là nhóm tuổi thai >20 tuần (3,0%)

3.1.3.Một số đặc điểm về tiền sử của các thai phụ sàng lọc bằng NIPT

Bảng 3.3:Một số đặc điểm về tiền sử của các thai phụ (nC7)

Tiền sử Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Không có tiền sử bất thường 226 51,7

Gia đình có người mắc HC

Sảy thai/Thai lưu/ Đình chỉ thai 154 35,2

Mẹ bịbệnh mạn tính( tăng huyết áp, bệnh chuyển hóa,…) 5 1,1

Mẹ mắc bệnh truyền nhiễm trong thời gian mang thai 4 1,0

Mẹ sử dụng các thuốc, hóa chất bất thường khi mang thai 11 2,5

Hút thuốc, tiếp xúc nhiều với khói thuốc 40 9,2

Tiền sử thai phụ nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao nhất là tiền sử đình chỉ thai bất thường, sảy thai hoặc thai lưu chiếm 35,2% Tiếp theo là tiền sử tiếp xúc với khói thuốc hoặc hút thuốc với 9,2% Thứ ba là tiền sử sinh con mắc dị tật bẩm sinh, chiếm 7,1% Các yếu tố khác bao gồm tiền sử sử dụng thuốc hoặc hóa chất bất thường (2,5%), mẹ mắc bệnh mạn tính (1,1%), và mẹ mắc các bệnh nhiễm khuẩn trong thời gian mang thai (0,9%) Cuối cùng, tỷ lệ thấp nhất là tiền sử gia đình có người bị hội chứng Down, chỉ chiếm 0,5%.

3.1.4.Tỷ lệ sử dụng kỹ thuật sàng lọc trước sinh của thai phụ trước khi thực hiện NIPT

Bảng 3.4:Tỷ lệ các xét nghiệm sàng lọc trước sinh thường quy (siêu âm, double test, triple test) được thực hiện ở các thai phụ (nC7)

Xét nghiệm sàng lọc trước sinh Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Siêu âm là test sàng lọc trước sinh được thực hiện nhiều nhất với tỷ lệ 69,3%; kế tiếp là Double test với 28,1% và Triple test chiếm 8,7%.

KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM NIPT

Bảng 3.5: Kết quả xét nghiệm phát hiện di tật trisomy 13, trisomy 18 và trisomy 21 bằng NIPT (nC7)

Nguy cơ cao Nguy cơ thấp n % n %

Nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị dị tật bẩm sinh (DTBS) chiếm tỷ lệ 19,4% với 85 ca, trong khi nhóm có nguy cơ thấp lại chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều, lên đến 80,6%.

Trong nhóm nguy cơ cao, tỷ lệ mang thai mắc bệnh Down chiếm tới 98,8%, trong khi chỉ có 0,2% sản phụ có nguy cơ cao mắc hội chứng T18 và không có sản phụ nào có nguy cơ cao mắc hội chứng T13.

- Trong nhóm nguy cơ thấp : 100,0% kết quả T13 đều thuộc nhóm nguy cơ thấp

Bảng3.6: Nguy cơ DTBS trên thai theo xét nghiệm NIPT so với tuổi của mẹ (nC7)

- Độ tuổi trung bình trong nhóm các sản phụ có nguy cơ cao sinh con dị tật là 32,58 ± 5,25 tuổi, cao nhất là 45 tuổi và thấp nhất là 22 tuổi

- Nhóm tuổi có nguy cơ cao nhất mang thai DTBS là độ tuổi 26-30 tuổi (với tỷ lệ 24,6%)

- Đứng thứ hai về nguy cơ cao thai DTBS là nhóm tuổi mẹ 30-35 tuổi (20,7%)

- Đứng thứ ba là nhóm tuổi mẹ >35 tuổi với 16,7% nguy cơ cao thai nhi bị DTBS

Nhóm tuổi 21-25 đứng thứ tư với tỷ lệ thai có nguy cơ cao bị đái tháo đường thai kỳ (DTBS) là 11,1% Đặc biệt, không có trường hợp nào trong nhóm thai phụ 17-20 tuổi có nguy cơ cao mắc DTBS.

Bảng 3.7: Nguy cơ mang thai dị tật theo xét nghiệm NIPT ở thai phụ theo một số đặc điểm dịch tễ(nC7) Đặc điểm dịch tễ N

Nguy cơ mang thai dị tật theo xét nghiệm NIPT Nguy cơ cao Nguy cơ thấp n % n %

Công việc văn phòng, hành chính 196 32 16,3 164 83,7

Nhóm các công việc khác 101 22 21,8 78 78,2

Về nguy cơ mang thai dị tật theo đặc điểm nghề nghiệp:

- Nhóm thai phụ làm việc nội trợ mang nguy cơ cao mang thai dị tật với 32/196 các bà mẹ làm nội trợ (chiếm 19,9%) và đứng thứ hai

- Nhóm thai phụ làm việc văn phòng hành chính mang nguy cơ cao thứ ba về mang thai dị tật với 16,3%

- Không có bà mẹ nào trong 6 bà mẹ thuộc nhóm công việc nông dân, công nhân thuộc đối tượng nguy cơ cao mang thai dị tật

Các nhóm công việc như buôn bán nhỏ, tiếp thị và sinh viên đang đối mặt với nguy cơ cao nhất về mang thai dị tật, với tỷ lệ 20,6% (39/189 đối tượng).

Về nguy cơ mang thai dị tật theo nơi ở của mẹ:

Mặc dù số lượng các bà mẹ ở Hà Nội nhiều hơn, nhưng tỷ lệ nguy cơ sinh con dị tật tại đây lại thấp hơn, chỉ chiếm 18,5%, so với nhóm các bà mẹ ở các tỉnh khác với nguy cơ cao lên tới 20,6%.

Bảng 3.8: Nguy cơ mang thai dị tật theo kết quả NIPT ở thai phụ theo tuổi thai (nC7)

Nguy cơ mang thai dị tật theo xét nghiệm NIPT Nguy cơ cao Nguy cơ thấp n % n %

- Tuổi thai từ 14-20 tuần là nhóm tuổi thai có nguy cơ cao mang DTBS nhất, chiếm đến 32,4%

- Tuổi thai >20 tuần và 11-14 tuần có tỷ lệ mang thai DTBS nguy cơ cao không chênh lệch nhau đáng kể (tỷ lệ lần lượt là 15,4% và 14,5%)

- Không có thai nhi nào trong độ tuổi 10-11 tuần mang nguy cơ cao DTBS

Bảng3.9: Nguy cơ mang thai dị tật theo xét nghiệm NIPT ở thai phụ theo một số đặc điểm tiền sử(nC7) Đặc điểm tiền sử N

Nguy cơ mang thai dị tật theo xét nghiệm NIPT Nguy cơ cao Nguy cơ thấp n % n %

Gia đình có người mắc HC

Sảy thai/Thai lưu/ Đình chỉ thai… 154 33 21,4 121 78,6

Mẹ bị bệnh mạn tính(tăng huyết áp, bệnh chuyển hóa…) 5 0 0 5 100,0

Mẹ mắc bệnh truyền nhiễm trong thời gian mang thai 4 0 0 4 100,0

Mẹ sử dụng các thuốc, hóa chất bất thường khi mang thai 11 0 0 11 100,0

Hút thuốc, tiếp xúc nhiều với khói thuốc… 40 9 22,5 31 77,5

Trong các đặc điểm về tiền sử:

- Nhóm thai phụ có tiền sử hút thuốc hoặc tiếp xúc nhiều với khói thuốc mang nguy cơ cao nhất về mang thai dị tật với tỷ lệ 22,5%

- Nhóm thai phụ có tiền sử sảy thai/thai lưu/đình chỉ thaicó thai nhi mang nguy cơ dị tật cao thứ hai với 21,4%

- Đứng thứ ba là nhóm các bà mẹ đã từng sinh con DTBS với nguy cơ mang thai dị tật là 9,7%

Nhóm thai phụ có nguy cơ thấp về dị tật thai nhi bao gồm những người sử dụng thuốc hoặc hóa chất bất thường trong thai kỳ, có tiền sử gia đình có người mắc hội chứng Down hoặc dị tật bẩm sinh, và những người mắc các bệnh mạn tính hoặc bệnh truyền nhiễm trong thời gian mang thai.

BÀN LUẬN KẾT QUẢ

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THAI PHỤ LÀM SÀNG LỌC TRƯỚC SINH BẰNG KỸ THUẬT NIPT

4.1.1.Một số thông tin chung a) Về tuổi mẹ Độ tuổi trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu33,01±5,63là độ tuổi khá cao, trong khi thai phụ thấp tuổi nhất là 19 ,cao tuổi nhất lên tới 47 cho thấy đối tượng thực hiện sàng lọc nằm ở nhiều nhóm tuổi khác nhau đặc biệt là các nhóm tuổi mẹ ở mức cao, bằng chứng là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhóm đối tượng nghiên cứu là nhóm tuổi mẹ >35 tuổi với 162 đối tượng tương đương 37,1% Chiếm tỷ lệ đông đảo không kém là nhóm tuổi mẹ 26-30 tuổi với

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm đối tượng mẹ từ 26-30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 126 trường hợp (28,8%), tiếp theo là nhóm tuổi 31-35 với 25,4% (tương đương 115 đối tượng) Ngược lại, nhóm mẹ từ 21-25 tuổi chỉ chiếm 8,2% (36 đối tượng) và nhóm mẹ dưới 20 tuổi thấp nhất với chỉ 2 trường hợp (0,5%) Kết quả này có sự khác biệt so với khảo sát của Bộ Y Tế năm 2013, trong đó phụ nữ độ tuổi 25-29 chiếm tỷ lệ cao nhất với 215 trường hợp (35,4%), theo sau là nhóm 30-34 tuổi với 174 trường hợp (28,7%).

24 với 60 (9,9%) [4] Theo nghiên cứu của Bello ở Ghana, phụ nữ nhóm tuổi 21-

30 chiếm tỷ lệ cao nhất 53,0% Tiếp theo là 31- 40 tuổi với 39,7% Thấp nhất là từ 41-60 chiếm 2% [24]

Theo báo cáo của Nguyễn Thị Thanh Thủy tại bệnh viện Từ Dũ, số lượng sản phụ có nguy cơ cao sinh con bị dị tật bẩm sinh, đặc biệt là hội chứng Down, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi 25-35 Mặc dù tài liệu “Hướng dẫn Sàng lọc trước sinh” của Nguyễn Viết Nhân năm 2010 chỉ ra rằng nhóm tuổi trên 35 có nguy cơ cao nhất về dị tật bẩm sinh, nhưng thực tế cho thấy hầu hết trẻ mắc hội chứng Down lại được sinh ra từ các bà mẹ dưới 35 tuổi.

Nhóm công việc văn phòng, hành chính thường có thời gian làm việc cố định 8 tiếng/ngày, đòi hỏi sự tập trung cao và ít di chuyển, với môi trường làm việc ổn định và ít nguy cơ tiếp xúc với yếu tố độc hại Tuy nhiên, phụ nữ trong nhóm này thường gặp vấn đề sức khỏe như căng thẳng, đau nhức xương khớp và tăng cân do làm việc trí não cường độ cao Ngược lại, nhóm các bà mẹ nội trợ không có công việc theo giờ hành chính, áp lực công việc ở mức trung bình và mức sống phụ thuộc vào gia đình hoặc chồng, với môi trường sống ít thay đổi và ít tiếp xúc với hóa chất độc hại.

Nhóm lao động chân tay, bao gồm nông dân và công nhân, có nguy cơ cao nhất tiếp xúc với hóa chất độc hại Trong khi đó, nhóm nghề nghiệp khác như kinh doanh, sinh viên và tiếp thị ít có đặc điểm riêng biệt, dẫn đến khó khăn trong việc xác định nguy cơ tiếp xúc với các yếu tố gây dị tật thai nhi.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là mức kinh tế của các thai phụ, vì kinh tế ảnh hưởng lớn đến nhiều khía cạnh của cuộc sống, bao gồm cả chất lượng sống và nhận thức về sức khỏe Kỹ thuật sàng lọc NIPT, mặc dù là một công nghệ mới và tiên tiến, nhưng chi phí thực hiện vẫn là một rào cản đối với nhiều người.

Xét nghiệm NIPT (Xét nghiệm tiền sản không xâm lấn) có tỷ lệ phát hiện thai nhi bất thường cao hơn so với các phương pháp sàng lọc và chẩn đoán trước sinh khác Tuy nhiên, cơ chế hoạt động của NIPT khá phức tạp, điều này khiến cho việc truyền đạt thông tin một cách dễ hiểu cho các bà mẹ, đặc biệt là những người chưa cập nhật nhiều kiến thức về sinh sản, trở nên khó khăn.

Các bà mẹ có thu nhập cao và nhận thức tốt về sức khỏe sinh sản có khả năng tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản tiên tiến hơn so với các bà mẹ thu nhập thấp và ít kiến thức Mặc dù nghề nghiệp và tình hình kinh tế ảnh hưởng đến quyết định thực hiện sàng lọc dị tật thai nhi qua NIPT, nhưng không thể coi đây là yếu tố duy nhất quyết định đặc điểm của nhóm nghiên cứu.

NIPT là một phương pháp sàng lọc công nghệ cao với chi phí cao, nên mức độ phổ biến còn hạn chế, thường chỉ có tại các bệnh viện tuyến đầu và trung tâm y tế lớn như bệnh viện Phụ sản Hà Nội, bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, và bệnh viện Vinmec Kỹ thuật này chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh, dẫn đến việc thai phụ khó tiếp cận Theo nghiên cứu, 56,8% thai phụ tham gia đến từ Hà Nội, trong khi 43,2% còn lại đến từ các tỉnh khác như Bắc Ninh, Hải Dương và Bắc Giang Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Hải Long năm 2015, với tỷ lệ 52,1% từ Hà Nội và 47,9% từ các tỉnh khác.

Sàng lọc đúng thời điểm và tuân thủ quy trình sàng lọc là rất quan trọng trong việc phát hiện các dị tật bẩm sinh (DTBS) Điều này không chỉ giúp đưa ra các khuyến cáo phù hợp mà còn góp phần nâng cao chất lượng dân số, giảm tỷ lệ tai biến sản khoa và tỷ lệ tử vong.

Các xét nghiệm trước sinh phổ biến hiện nay bao gồm siêu âm, Double test và Triple test Siêu âm là phương pháp đơn giản, chi phí thấp và dễ tiếp cận, giúp phát hiện dị tật bẩm sinh và theo dõi sự phát triển của thai nhi Trong khi đó, Double test và Triple test cũng dễ thực hiện, với khả năng đánh giá nguy cơ mắc các hội chứng như Down, Edward hoặc Patau, đạt độ nhạy lên đến 90%.

Việc thực hiện siêu âm trong thai kỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công việc, điều kiện kinh tế và nơi sống của thai phụ Tuy nhiên, có ba mốc siêu âm quan trọng mà hầu hết các bác sĩ thai sản khuyến cáo thai phụ nên thực hiện.

Siêu âm hình thái thai nhi trong giai đoạn 11-14 tuần là thời điểm quan trọng khi thai nhi đã phát triển đầy đủ hình hài và các bộ phận cơ thể, cho phép phát hiện những bất thường lớn Mục đích chính của việc siêu âm ở giai đoạn này là chẩn đoán tuổi thai và dự kiến ngày sinh cho sản phụ, đồng thời đo độ mờ da gáy để sàng lọc nguy cơ mắc các bất thường nhiễm sắc thể như hội chứng Down, hội chứng Patau và hội chứng Edward.

Siêu âm hình thái thai nhi trong giai đoạn 18-22 tuần là thời điểm quan trọng khi lượng nước ối nhiều, thai nhi lớn và di động tốt trong buồng tử cung Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quan sát thai nhi từ nhiều góc độ khác nhau, giúp dễ dàng phát hiện các bất thường như sứt môi, hở hàm ếch, và dị tật cột sống cũng như não bộ.

- Siêu âm thai nhi giai đoạn 30-32 tuần nhằm: đánh giá sự phát triển thai, và phát hiện các dị tật xuất hiện muộn như: tắc ruột, não nhẵn…

Theo nghiên cứu, 69,3% thai phụ thực hiện sàng lọc bằng siêu âm trước khi áp dụng kỹ thuật NIPT, và tỷ lệ này tăng lên 73,2% ở giai đoạn thai từ 11 tuần trở lên Tuy nhiên, siêu âm chỉ là phương pháp hỗ trợ cho các kỹ thuật sàng lọc khác trong việc phát hiện dị tật bẩm sinh (DTBS) Chẳng hạn, trong số 437 thai phụ, chỉ có 2 trường hợp có kết quả siêu âm bất thường, nhưng cả hai đều thuộc nhóm nguy cơ thấp.

TỶ LỆ HỘI CHỨNG DOWN, PATAU, EDWARDS TRONG CÁC SẢN PHỤ CÓ NGUY CƠ CAO TẠI BỆNH VIỆN PHỤSẢN HÀ NỘI

Trong nghiên cứu, chỉ có 0,5% thai phụ có người thân bị Down, tương đương với kết quả 0,4% của tác giả Hà Thị Mỹ Dung trước đó Nhóm thai phụ có tiền sử sử dụng thuốc hoặc hóa chất gây nguy cơ dị tật bẩm sinh chiếm 2,5% (11/437 đối tượng) Điều này cho thấy một số ít thai phụ vẫn thiếu kiến thức cơ bản về chăm sóc sức khỏe thai nhi, dẫn đến việc lạm dụng thuốc mà không tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phụ nữ mang thai mắc bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm là khá thấp, lần lượt là 1,1% và 0,9% Các bệnh mạn tính phổ biến bao gồm tăng huyết áp, bệnh tim và bệnh chuyển hóa, với tỷ lệ tương tự như nghiên cứu của tác giả Hà Thị Mỹ Dung Bệnh truyền nhiễm thường gặp trong thai kỳ, đặc biệt là nhiễm virus như cúm và sốt xuất huyết, có thể gây ra dị tật bẩm sinh Điều này phản ánh đặc điểm dịch tễ học tại Việt Nam, nơi có khí hậu nhiệt đới, với sốt xuất huyết là bệnh theo mùa Biện pháp phòng tránh hiệu quả hiện nay là cải thiện môi trường sống cho thai phụ và hạn chế di chuyển đến các khu vực có dịch.

4.2 TỶ LỆ KẾT QUẢ HỘI CHỨNG DOWN, PATAU, EDWARDS QUA SÀNG LỌC BẰNG NIPT TRONG CÁC SẢN PHỤ CÓ NGUY CƠ CAO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

4.2.1.Tỷ lệ thai nhi mang nguy cơ cao DTBS qua phương pháp sàng lọc bằng

Nghiên cứu cho thấy trong số 437 đối tượng được chọn ngẫu nhiên, tỷ lệ thai nguy cơ cao mắc dị tật bẩm sinh đạt 19,4%, tương đương 85/437 trường hợp Kết quả này cao hơn đáng kể so với nghiên cứu trước của tác giả Hoàng Hải Yến và cộng sự.

Năm 2018, tỷ lệ thai nhi có nguy cơ cao mắc hội chứng Down qua xét nghiệm NIPT đạt 1,7%, cho thấy tình hình dị tật bẩm sinh (DTBS) của thai nhi hiện nay đang là một vấn đề đáng lo ngại.

Trong số thai nhi có nguy cơ cao mang dị tật bẩm sinh (DTBS), tỷ lệ thai có nguy cơ cao mắc hội chứng Down chiếm tới 98,8% trong tổng số đối tượng được xét nghiệm sàng lọc bằng NIPT, tương ứng với 19,2% tổng số sản phụ Ngược lại, tỷ lệ thai có nguy cơ mắc hội chứng Edwards rất thấp, chỉ chiếm 0,2% trong số thai nguy cơ cao DTBS, và không phát hiện trường hợp nào có nguy cơ cao mắc hội chứng Patau.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi với 85 đối tượng có thể bị ảnh hưởng bởi cỡ mẫu chưa đủ lớn, dẫn đến việc bỏ sót nhiều trường hợp nguy cơ cao mắc các bệnh Edwards và Patau Do đó, tỷ lệ đưa ra có sự chênh lệch đáng kể so với nghiên cứu trước đó của tác giả Hoàng Hải Yến, trong đó tỷ lệ thai nguy cơ cao mắc hội chứng Down, Edwards, Patau lần lượt là 53,0%, 15,0% và 5,0%.

Tình hình mắc các dị tật bẩm sinh (DTBS) ngày càng phức tạp và khó kiểm soát, với tỷ lệ thai nhi có nguy cơ mắc hội chứng Down và các dị tật khác gia tăng Mặc dù việc hạn chế tỷ lệ mắc là thách thức, nhưng kỹ thuật sàng lọc trước sinh NIPT cho phép phát hiện sớm các DTBS, từ đó giảm thiểu khả năng sinh ra trẻ mang dị tật và giảm gánh nặng cho gia đình cũng như xã hội.

4.2.2 Mối liên quan giữamột số đặc điểm chung và nguy cơ cao DTBS ở thai nhi a) Tuổi của mẹ Độ tuổi trung bình trong nhóm các sản phụ có nguy cơ cao sinh con dị tật là 32,58 ± 5,25 tuổi, cao nhất là 45 tuổi và thấp nhất là 22 tuổi Trong đó: Nhóm tuổi có nguy cơ cao nhất là độ tuổi 26-30 tuổi với tỷ lệ mang thai dị tật lên tới 24,6%, nhóm tuổi nguy cơ cao thứ hai mang thai dị tật là 30-35 tuổi với tỷ lệ nguy cơ là 20,7% Kết quả này tương đồng với kết quả của tác giả Hoàng Thị Thanh Mộc năm 2016 với tỷ lệ thai nguy cơ cao mang dị tật là 26,32% ở độ tuổi 25-29 và 21,33% ở độ tuổi 30-34 [8] Nhóm tuổi mẹ cao (trên 35tuổi) chỉ xếp

39 thứ ba với 16,7% nguy cơ thai nhi bị dị tật và nhóm tuổi nguy cơ thấp sinh con dị tật là độ tuổi

Ngày đăng: 11/06/2021, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lê Nguyên Ngọc và cộng sự (2013), “Phát hiện sớm dị dạng hình thái thai nhibằng siêu âm 3D-4D (3 chiều-4 chiều) tại Bệnh viện Giao thông vận tải 4”,thành phố Hồ Chí Minh, trang 20-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện sớm dị dạng hình thái thai nhibằng siêu âm 3D-4D (3 chiều-4 chiều) tại Bệnh viện Giao thông vận tải 4
Tác giả: Lê Nguyên Ngọc và cộng sự
Năm: 2013
12. Lê Thái Thị Băng Tâm (2019) “Xu hướng kết hôn muộn ở Việt Nam”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng kết hôn muộn ở Việt Nam
14. Nguyễn Danh Cường và cộng sự (2016) “Nghiên cứu kết quả lấy bệnh phẩm thai nhi bằng chọc hút dịch ối tại trung tâm chẩn đoán trước sinh bệnh viện phụ sản Trung Ương”, trung tâm chẩn đoán trước sinh BVPSTW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết quả lấy bệnh phẩm thai nhi bằng chọc hút dịch ối tại trung tâm chẩn đoán trước sinh bệnh viện phụ sản Trung Ương
15. Nguyễn Thị Thanh Thủy và cộng sự (2009), “So sánh các thông số tầm soát trước sinh ở nhóm thai phụ mang thai bình thường và nhóm thai phụ mang thai hội chứng Down”, bệnh viện Từ Dũ, trang 4-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh các thông số tầm soát trước sinh ở nhóm thai phụ mang thai bình thường và nhóm thai phụ mang thai hội chứng Down
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy và cộng sự
Năm: 2009
16. Nguyễn Thị Túy Hà (2015) “Khảo sát kiến thức của phụ nữ độ tuổi từ 15- 49 về dự phòng dị tật bẩm sinh đến khám và chăm soc sức khỏe sinh sản tỉnh Thừa Thiên Huê năm 2015”, Sở Y Tế Tỉnh Thừa Thiên Huế, trang 14-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiến thức của phụ nữ độ tuổi từ 15-49 về dự phòng dị tật bẩm sinh đến khám và chăm soc sức khỏe sinh sản tỉnh Thừa Thiên Huê năm 2015
17. Nguyễn Viết Nhân (2010), “Tài liệu hướng dẫn sàng lọc trước sinh”, Đại họcY Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn sàng lọc trước sinh
Tác giả: Nguyễn Viết Nhân
Năm: 2010
19. Trần Thị Ngọc Bích và cộng sự (2012), “Nghiên cứu tình hình dị tật bẩm sinh tạikhoa sơ sinh bệnh viện Phụ sản Trung Uơng”, Y học thực hành, Bộ Y tế, số 3 (814), trang 130-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình dị tật bẩm sinh tạikhoa sơ sinh bệnh viện Phụ sản Trung Uơng
Tác giả: Trần Thị Ngọc Bích và cộng sự
Năm: 2012
22. Vũ Công Thành và cộng sự (2014), “Nghiên cứu đánh giá giá trị của xétnghiệm sàng lọc trước sinh (Triple test) tại Bệnh viện đa khoa Medlatec”, Hà Nội, trang 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá giá trị của xétnghiệm sàng lọc trước sinh (Triple test) tại Bệnh viện đa khoa Medlatec
Tác giả: Vũ Công Thành và cộng sự
Năm: 2014
23. Vũ Thị Nhung, Đào Mai Anh, “Ứng dụng của cffDNA trong sàng lọc trước sinh không xâm lấn”, Tạp chí Thời sự Y học, Chuyên đề Sức khỏe sinh sản, Tập 17, Số 1, Tháng 1-2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng của cffDNA trong sàng lọc trước sinh không xâm lấn
24. Bello A. I. et al (2013), "Knowledge of pregnant women about birth defects", BMC Pregnancy &amp; Childbirth, pp. 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge of pregnant women about birth defects
Tác giả: Bello A. I. et al
Năm: 2013
26. Gupta, Neerja Agarwal, and Madhulika Kabra (2014), "Diagnosis and management of Down syndrome", The Indian Journal of Pediatrics 81(6), pp 560-567 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnosis and management of Down syndrome
Tác giả: Gupta, Neerja Agarwal, and Madhulika Kabra
Năm: 2014
27. Hartwig, Tanja Schlaikjổr, et al (2017), "Discordant non‐invasive prenatal testing (NIPT)–a systematicreview", Prenatal diagnosis, 37(6), 527-539 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Discordant non‐invasive prenatal testing (NIPT)–a systematicreview
Tác giả: Hartwig, Tanja Schlaikjổr, et al
Năm: 2017
28. Hsu, L. Y., Gertner, M., Leiter, E., &amp; Hirschhorn, K. (1971), “Paternal trisomy 21 mosaicism and Down's syndrome”, American journal of human genetics, 23(6), pp 592 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paternal trisomy 21 mosaicism and Down's syndrome
Tác giả: Hsu, L. Y., Gertner, M., Leiter, E., &amp; Hirschhorn, K
Năm: 1971
29. Lee, Fa-Kung, et al (2015), "First trimester combined test for Down syndrome screening in unselected pregnancies - a report of a 13 -year experience." Taiwanese Journal of Obstetrics and Gynecology, 52(4), pp 523-526 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First trimester combined test for Down syndrome screening in unselected pregnancies - a report of a 13 -year experience
Tác giả: Lee, Fa-Kung, et al
Năm: 2015
30. Norton, Mary E., et al (2015), "Cell-free DNA analysis for noninvasive examination of trisomy", New England Journal of Medicine, 372(17), pp 1589-1597 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cell-free DNA analysis for noninvasive examination of trisomy
Tác giả: Norton, Mary E., et al
Năm: 2015
13. Lưu Thị Hằng (2008), Phát hiện dị dạng thai nhi bằng siêu âm và một số yếu liên quan đến dị dạng tại bệnh viện Phụ Sản Trung Uơng, Luận án Tiến sỹ Y Học, Đại Học Y Hà Nội, trang 24-26 Khác
18. Quách Thị Hoàng Oanh (2016), Ứng dụng NIPT tại Việt Nam – Triển vọng và thách thức, Bác cáo tại Hội nghị Sản Phụ Khoa Việt – Pháp – Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 16 Khác
20. Trịnh Văn Bảo (2004), Dị dạng bẩm sinh, NXB Y học: 22- 51, 87- 98, 115- 117, 139- 177, 220- 231, 279- 286, 291- 304, 307- 312 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w