1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tài liệu ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ VIỆC QUÁN TRIỆN CÁC ĐẶC ĐIỂM ĐÓ TRONG VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ docx

28 660 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Của Đầu Tư Phát Triển Và Việc Quán Triện Các Đặc Điểm Đó Trong Việc Quản Lý Hoạt Động Đầu Tư
Tác giả Nhóm 9 K4ktdtA
Trường học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế đầu tư
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 219,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+Theo quan điểm của nhà nước: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia.. Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ VIỆC QUÁN TRIỆN CÁC ĐẶC ĐIỂM ĐÓ TRONG VIỆC QUẢN LÝ

HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế Việt Nam kể từ sau khi chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước , đã có những bước tiến đáng kể :thu nhập quốc dân, kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng tăng với tốc độ cao; sản phẩm, hàng hoá trên thị trường ngày càng đa dạng, phong phú; đời sống người dân được nâng cao; …Để có được những kết quả này, vai trò của hoạt động đầu tư là vô cùng quan trọng Đặc biệt khi Việt Nam tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế, việc đẩy mạnh hoạt động đầu tư nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh là yêu cầu cấp thiết Trong những năm gần đây, môi trường, thể chế, chính sách và luật pháp của Nhà nước ngày càng thông thoáng, phù hợp hơn đã và đang khuyến khích tất cả mọi thành phần kinh tế phát triển, khơi dậy sức dân và huy động mọi nguồn vốn cho công cuộc CNH-HĐH đất nước

Làm thế nào để hoạt động đầu tư có hiệu quả? Sự quản lý của Nhà nước và chủ đầu tư là một yếu tố quan trong quyết định trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động đầu tư Đến đây một vấn đề được đặt ra nữa là: làm thế nào để Nhà nước quản lý

có hiệu quả? Vì đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt so với các loại đầu tư khác nên các cơ quan, chủ thể quản lý cần nắm bắt, hiểu rõ được những đặc điểm này và vận dụng chúng vào công tác quản lý thực tiễn Vì vậy chúng tôi làm bài tiểu luận này nhằm tìm hiểu chính về năng lưc cũng như hạn chế trong công tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển ở Việt Nam Từ đó đưa ra một số giải pháp về vấn đề này Dưới đây là nội dung chi tiết:

NỘI DUNG

2.1 Lý thưyết chung về đầu tư phát triển

2.1.1 Đầu tư và đầu tư phát triển. Đầu tư: Quá trình sử dụng nguồn lực nhằm đạt được mục

Trang 3

• Khái niệm đầu tư.

+ Theo quan điểm của doanh nghiệp:

Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh với mục tiêu thu được số vốn lớn hơn số

đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận

+Theo quan điểm của nhà nước:

Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia

Đầu tư là sự hi sinh nguồn lực hiện tại để tiến hành hoạt động nào đó nhằm thu

về kết quả nhất định trong tưng lai lớn hơn nguôn lực bỏ ra

Sơ đồ 1: Chu trình luân truyển vốn trong hoạt động đầu tư

Khái niệm về đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất ( nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản chí tuệ ( chi thức, kỹ năng… ), gia tăng năng lực sản xuất tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển,

Phân loại đầu tư phát triển.

Trong công tác quản lý và kế hoạch hóa các nhà kinh tế phân loại đầu tư theo nhiều cách khác nhau Môi tiêu thức phân loại đáp ứng những nhu cầu quản lý

và nghiên cứu kinh tế khác nhau Nhưng tiêu thức phân loại thường sử dụng là:

- Theo bản chất của các đối tượng đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển

bao gồm:

+ Đầu tư cho các đối tượng vật chất như: Đầu tư cho tài sản vật chất

hoặc tài sản thực như nhà xưởng, máy móc thiết bị…

+ Đầu tư cho đối tượng phi vật chất như: Đầu tư vào tài sản trí tuệ và

nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…

Thu hồi tư SXKD

Thu hồi tư đầu tư

Thu hồi vốn

SXKD Đầu tư

Vốn

Người đầu tư

Ngưởi cho vay

Người thực hiện đầu tư

Người sản xuất kinh doanh

Trang 4

Trong các loại đầu tư trên, đầu tư cho đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết,

cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinh tế,đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn nhân lực là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiên hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao

- Theo phân cấp quản lý: Đầu tư phát triển chia thành đầu tư theo các dự

án quan trọng cấp quốc gia, dự án nhóm A, B, C

Tùy theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án mà phân thành dự án quan trọng cấp quốc gia, dự án nhóm A, B, C, trong đó dự án quan trọng cấp quốc gia do Quốc hội quyết định, dự án nhóm B do Thủ tướng Chính phủ quyết định, dự án nhóm B, C do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định Ngày 29/6/2006 Quốc hội đã thông qua tiêu chí về dự án quan trọng cấp Quốc gia bao gồm: (1) Quy mô vốn đầu tư từ 20 nghìn tỷ đồng trở lên đối với dự án có sử dụng từ 30% vốn nhà nước trở lên (2) Dự án có ảnh hưởng lớn đến môi trường

và tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường như nhà máy điện hạt nhân, dự án sử dụng đất có yêu chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ đầu nguồn từ 200ha trở lên… (3) Dự án phải di dân tái định cư từ 20000 người trở lên ở miền núi, từ 50000 người trở lên ở các vùng khác (4) Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối quốc phòng, an ninh hoặc các di tích lịch sử quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử văn hóa (5) Dự án, công trình đòi hỏi phải

áp dụng cơ chế chính sách đặc biệt, cần được Quốc hội quyết định

- Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư, có thể phân chia các

hoạt động đầu tư thành đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội)… các hoạt động đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau Chẳng hạn đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao; còn đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tâng và các hoạt động đầu tư khác

- Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư, các hoạt động đầu

tư được phân chia thành: đầu tư cơ bản và đầu tư vận hành

+ đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định

+ đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản

xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu đông cho các cơ

sở hiện có, duy trì hoạt động của cơ sở vật chất – kỹ thuật không thuộc các doanh nghiệp

Đầu tư cơ bản quyết định đầu tư vận hành, đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả của đầu tư cơ bản phát huy tác dụng Không cod đầu tư vận hành thì kết quả của đầu tư cơ bản không hoạt động được, ngược lại không có đầu tư cơ

Trang 5

hạn, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư để tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là phức tạp, đòi hỏi số vốn lớn, thu hồi vốn lâu (nếu có thể thu hồi).

Đầu tư vận hành chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư không phức tạp Đầu tư tư vận hành cho các cơ sở sản xuất kinh doanh có thêt thui nhanh sau khi đưa ra các kết quả đầu tư nói chung vào hoạt động

- Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội, có thể phân loại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành

đầy tư thương mại và đầu tư sản xuất

+ Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư

và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, vốn vận động nhanh, độ mạo hiểm thấp do trong thời gian ngắn tính bất định không cao, lại dễ

dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao

+ Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn (5;10;20 năm hoặc lâu hơn), vốn

đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính kỹ thuật của đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tuơng lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định chính trị…) Loại đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu

tư trong tương lai xa; xem xet các biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra

để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi khi hoạt động đầu tư kết thúc

Trong thực tế, trên giác độ điều tiết vĩ mô, nhà nước thông qua các cơ chế chinh sách của mình để làm sao hướng được các nhà đầu tư không chỉ đầu tư vào lĩnh vực thương mại mà cả vào lĩnh vực sản xuất, theo các định hướng và mục tiều

đã dự kiến trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong cả nước

-Theo thời gian thức hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu

tư, có thể phân chia hoạt động đầu tư phát triển thành: Đầu tư ngắn hạn và

đầu tư dài hạn

+ Đầu tư dài hạn là việc đầu tư xây dựng các công trình đòi hỏi thời gian

đầu tư kéo dài, khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lớn lâu Đó là các công trình thuộc lĩnh vực sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ

sở hạ tầng… Đầu tư dài hạn thường chứa đựng những yếu tố khó lường, rủ ro lớn, do đó, cần có những dự báo dài hạn, khoa học

+ Đầu tư ngăn hạn là loại đầu tư tiến hành trong một thời gian

ngắn,thường do những chủ đầu tư it vốn thực hiện, đầu tư vào những hoạt động

Trang 6

nhanh chóng thu hồi vốn Tuy nhiên, rủi ro đối với hình thức đầu tư này cũng rất lớn.

Trên phạm vi nền kinh tế hai loại đầu tư này luôn hòa quyện, hỗ trợ nhau, nhằm đảm bảo tính bền vững, vì mục tiêu phát triển của công cuộc đầu tư

-Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, hoạt động đầu tư có thể phân chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.

+ Đầu tư gián tiếp: trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều

hành quản lý quá trình thức hiện và vận hành các kết quả đầu tư Người có vốn thông qua các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển Đó là việc các chính phủ thông qua các chương trình tài trợ không hoàn lại hoặc cá hoàn lại với lãi suất thấp cho các chính phủ của các nước khác vậy để phát triển kinh tế xã hội; là việc các cá nhân, các tổ chức mua các chứng chỉ có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu…để hưởng lợi tức (gọi là đầu tư tài chính) Đấu tư gián tiếp là phương thức huy động vốn cho đầu tư phát triển

+ Đầu tư trực tiếp: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư, trong đó người

bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Loại đầu tư này tạo những năng lực sản xuất phục vụ mới (cả về lượng và chất) Đây là loại đầu tư để tái sản xuất mở rộng, là biện pháp chủ yếu

để tăng thêm việc làm cho người lao động, là tiền đề để thực hiện đầu tư tài chính vầ đầu tư chuyển dịch cơ cấu Đầu tư trực tiếp được thực hiện bởi người trong nước và cả nước ngoài Do vậy, việc cân đối giữa hai luồng vốn đầu tư ra

và vào và việc coi trọng cả hai luồng vốn này là hết sức cần thiết

Chính sự điều tiết của bản thân thị trường và các chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước sẽ hướng việc sử dụng vốn của các nhà đầu tư theo định hướng của nhà nước, từ đó tạo nên được một cơ cấu đầu tư phục vụ cho việc hình thành

cơ cấu kinh tế hợp lý

- Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia, hoạt động đầu tư chia thành:

Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài

+ Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước: các hoạt động đầu tư được tài trợ

tư nguồn vốn tích lũy của ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư

+ Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài: hoạt đông đầu tư được thực hiện

bằng các nguồn vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp nước ngoài

Cách phân loại này có tác dụng chỉ rõ vai trò từng nguồn vốn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước Trong đó, phải thống nhất quan điểm: vốn trong nước là quyết định, vốn đầu tư nược ngoài là quan trọng

- Theo vùng lãn thổ chia thành đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ,

Trang 7

phân chia này phản ánh tình hình đầu tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hôi ở từng địa phương.Ngoài ra, trong thực tế, để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế người

ta còn phân chia đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mô và theo các tiêu thức khác nữa

Đặc điểm của đầu tư phát triển.

- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói

chung vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi

ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát trỉển khác

Trên phạm vi nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển bao gồm: vốn đầu tư xây dựng

cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.Trong đó, vốn đầu

tư xây dựng cơ bản là quan trọng nhất Đó là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hay là khôi phục năng lực sản xuất của tài sản

cố định trong nền kinh tế Quy mô các dự án đầu tư có lớn hay không thể hiện ở nguồn vốn đầu tư

Mặt khác, các dự án đầu tư cũng cần một số lượng lao động rất lớn, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia

- Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực

hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Do quy mô các

dự án đầu tư thường rất lớn nên thời gian hoàn thành các dự án thường tốn rất nhiều thời gian, có khi tới hàng chục năm như các công trình thuỷ điện, xây dựng cầu đường

Thời gian thực hiện các dự án đầu tư dài kéo theo sự ảnh hưởng đến tiến độ nghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng, do đó có thể làm giảm hiệu quả đầu

tư, thời gian thu hồi vốn chậm.Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro cũng như chi phí đầu tư lại càng lớn, hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu

tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch vốn đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm hạn chế thấp nhất những mặt tiêu cực có thể xảy ra trong thời kỳ đầu tư

- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành

các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình.Các thành quả của hoạt động đầu tư có thể kéo dài hàng chục năm hoặc lâu hơn thế như Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, nhà thờ

Trang 8

và đấu trường La Mã ở Italia trong quá trình vận hành các kết quả của đầu tư phát triển chịu tác động cả hai mặt, tích cực và tiêu cực của nhiêù yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội Do đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác đầu tư là rất lớn, nhất là về công tác dự báo về cung cầu thị trường sản phẩm đầu tư trong tương lai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư đưa vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao mòn vô hình, chú ý đến cả độ trễ thời gian trong đầu tư Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư.

- Đặc điểm thứ tư là các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển

mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng rất

lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Các điều kiện tự nhiên của vùng như khí hậu, đất đai có tác động rất lớn trong việc thi công, khai thác và vận hành các kết quả đầu tư Đối với các công trình xây dựng, điều kiện về địa chất ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong thi công mà cả trong giai đoạn đưa công trình vào sử dụng, nếu nó không ổn định sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất lượng công trình Tình hình phát triển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra quyết định và quy mô vốn đầu tư Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình

độ văn hóa

- Một đặc điểm dễ nhận thấy là hoạt động đầu tư phát triển có độ rủi

ro cao Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh

hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường rất cao, nhiều vấn đề phát sinh ngoài dự kiến buộc các nhà quản lý và chủ đầu tư cần phải có khả năng nhận diện rủi ro cũng như biện pháp khắc phục kịp thời Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả trươc hết cần nhận diện rủi ro Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư,các rủi ro về thời tiết ví dụ như trong quá trình đâu tư gặp phải mưa bão, lũ lụt làm cho các hoạt động thi công công trình đều phải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư Các rủi ro về thị trường như giá cả, cung cầu các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra thay đổi, ví dụ như do thông tin trong sữa Trung Quốc có chất gây bệnh sỏi thận mà cầu về sữa giảm sút nghiêm trọng, hoạt động đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất chế biến sữa của một số doanh nghiệp vì thế cũng bị ngưng trệ Ngoài

ra quá trình đầu tư còn thể gặp rủi ro do điều kiện chính trị xã hội không ổn định Khi đã nhận diện được các rủi ro nhà đầu tư cần xây dựng các biện pháp phòng chống rủi ro phù hợp với từng loại rủi ro nhằm hạn chế thấp nhất tác động tiêu cực của nó đến hoạt động đầu tư

2.1.2 Sự tác động của đặc điểm đầu tư đến công tác quản lý đầu tư.

Trang 9

Tác động ở cấp vĩ mô.

Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật về đầu tư một cách chặt chẽ và

có hệ thống cũng như các văn bản liên quan như luật đất đai, luật đấu thầu Các văn bản này có tác dụng khuyến khích đầu tư, hướng các hoạt động đầu tư theo định hưóng của Nhà nước, khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các lĩnh vực đầu tư phát triển

Nhà nước cần có các chính sách để huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển Các nguồn vốn có thể huy động được bao gồm nguồn vốn ngân sách, vốn

từ dân cư, vốn ODA, FDI, vốn vay thương mại quốc tế Nhà nước cần có các quy định chặt chẽ về phân bổ vốn đầu tư hợp lý theo tiến độ, đầu tư chiều sâu để mang lại hiệu quả cao nhất

Mặt khác, nhà nước cũng cần có các quy định về quy hoạch, tránh tình trạng quy hoạch treo gây thất thoát lãng phí nguồn tài nguyên Cùng với đó là đào tạo nguồn nhân lực một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn lực con người trong hoạt động đâu tư

Ngoài ra, Hệ thống cơ quan chuyên trách về quản lý dự án đầu tư và cán bộ có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu thực tế cũng cần được nhà nước chú trọng xây dựng

Tác động ở cấp vi mô.

Khi nhà nước đã có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu

tư thì các nhà đầu tư cũng cần có các biện pháp để quản lý hoạt động đầu tư ở tầm vi mô một cách có hiệu quả

Trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ các điều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ở địa

phương Nó giúp cho chủ đầu tư có thể khai thác tối đa lợi thế vùng và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư

Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược đầu tư rõ ràng, khoa học

để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải Cần rõ ràng trong

chuẩn bị về vốn đầu tư, tiến trình đầu tư Một điều cũng rất quan trọng đó là cần xác định chính xác sự thay đổi của cung cầu trên thị trường về đầu vào và đẩu ra của dự án, đưa ra được dự báo chính xác trong tương lai để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời

2.2 Thực trạng của hoạt động đầu tư phát triển tại Việt Nam.

Thực tiễn Việt Nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa, bên cạnh việc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế Việt Nam còn đạt đựơc thành tích tăng

Trang 10

trưởng kinh tế cao liên tục (bình quân GDP hàng năm trong giai đoạn

1991_2005 đạt 7.5% năm 2006 8.2%), năm 2007 8.48%, năm 2008 6.23%) Điều đó làm cho khả năng huy động, khai thác và sử dụng các nguồn vốn đầu tư được mở rộng hơn.Tốc độ gia tăng quy mô đầu tư gia tăng đáng kể trung bình tăng hơn 20%/năm)

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 637,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,1% GDP và tăng 22,2% so với năm 2007, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 184,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,9% tổng vốn và giảm 11,4%; khu vực ngoài Nhà nước 263 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,3% và tăng 42,7%; khu vực

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 189,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,8% và tăng 46,9%

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008

Nghìn

tỷ đồng

Cơ cấu (%)

So với cùng kỳ năm trước (%)

TỔNG SỐ 637,3 100,0 122,2

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước

(tổng cục thống kê)

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 100,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 102,8% kế hoạch năm Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý đạt 34,2 nghìn tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch, trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 2881,4 tỷ đồng, bằng 172,9%; Bộ Giao thông Vận tải đạt 6612,6

tỷ đồng, bằng 105,3%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 451,1 tỷ đồng, bằng 102,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 1132,5 tỷ đồng, bằng 101,1%; Bộ Công Thương đạt 237,7 tỷ đồng, bằng 100,3%; Bộ Y tế đạt 932 tỷ đồng, bằng 100%; riêng Bộ Xây dựng chỉ đạt 219,9 tỷ đồng, bằng 62,6%

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính thực hiện 66,7 nghìn tỷ đồng, bằng 102,7% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có

số vốn thực hiện lớn là: thành phố Hồ Chí Minh đạt 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng 112,1% kế hoạch; Hà Nội đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 73,4%; Đà Nẵng đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, bằng 108,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, bằng 104,9%; Nghệ An đạt 1,5 nghìn tỷ đồng, bằng 107,1%; Hải Phòng đạt 1458,5 tỷ

Trang 11

đồng, bằng 103,5%; Bình Dương đạt 1291,8 tỷ đồng, bằng 104,6%; Lâm Đồng đạt 1200,9 tỷ đồng, bằng 152,3%.

Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật và cơ chế chính sách với mục đích khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài mang vốn,công nghệ quản lý hiện đại vào Việt Nam.Cùng với đó là tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài,giữ vững môi trường kinh tế vĩ mô ổn định,giảm chi phí đầu tư,giải quyết những vướng mắc cụ thể cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước Đặc biệt

từ khi Việt Nam là thành viên của tổ chúc thương mại thế giới WTO vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đáng kể.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm

2005 là 78,400 tỷ đồng, năm 2006 là 97,175 tỷ đồng, năm 2007 99,525 là tỷ đồng.Vốn đầu tư nước chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế Nguồn vốn ODA trong thời gian qua đạt thành tựu quan trọng tổng mức ODA các nhà tài trợ cam kết cho nước ta trong giai đoạn 2000-2006 ước tính đạt

31 tỷ USD,trong đó các khoản viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%.Nguồn vốn ODA đã được giải ngan khoảng 15.5 tỷ USD ,chiếm khoảng 50% giá trị ODA cam kết tài trợ,trong đó 80% nguồn vốn đầu tư cho đầu tư phát triển còn lại là chi cho sự nghiệp,tốc độ giải ngân là 11.3%.Hiện nay có 25 nhà tài trợ song phương,14 tổ chức tài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại Việt Nam

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tiếp tục đạt kết quả cao

Trong tháng 12/2008, cả nước có 112 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới với tổng số vốn đăng ký 1254 triệu USD, nâng tổng số dự án cấp phép từ đầu năm đến 19/12/2008 lên 1171 dự án với tổng vốn đăng ký 60,3 tỷ USD, giảm 24,2% về số dự án nhưng gấp 3,2 lần về vốn đăng ký so với năm 2007 Bình quân vốn đăng ký của một dự án năm nay đạt 51,5 triệu USD, tăng 39 triệu USD so với mức bình quân 12,5 triệu USD/dự án của năm 2007 Trong tổng số

dự án được cấp phép mới trong năm 2008, các dự án thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 75,3% về số dự án và 51,7% về vốn đăng ký Nếu tính cả 3,7 tỷ USD vốn đăng ký tăng thêm của 311 dự án được cấp phép từ các năm trước thì năm 2008 cả nước đã thu hút được 64 tỷ USD vốn đăng ký,gấp gần 3 lần năm 2007, đạt mức cao nhất từ trước tới nay Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007 Vốn đầu tư nước ngoài trong các dự án được cấp giấy phép mới năm nay tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 32,6 tỷ USD, chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký; dịch vụ 27,4 tỷ USD, chiếm 45,5%; nông, lâm nghiệp

và thủy sản 252,1 triệu USD, chiếm 0,4%

Năm 2008 cả nước có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án được cấp phép mới, trong đó Ninh Thuận có số vốn đăng ký dẫn đầu với 9,8 tỷ USD, chiếm 16,3% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Bà Rịa-Vũng Tàu 9,3 tỷ USD, chiếm 15,5%; thành phố Hồ Chí Minh 8,9 tỷ USD, chiếm 14,7%; Hà Tĩnh 7,9 tỷ USD,

Trang 12

chiếm 13,1%; Thanh Hóa 6,2 tỷ USD, chiếm 10,3%; Phú Yên 4,3 tỷ USD,

chiếm 7,2%; Hà Nội 3,1 tỷ USD, chiếm 5,1%

Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Ma-lai-xi-a là nhà đầu

tư lớn nhất với 14,9 tỷ USD, chiếm 24,8% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Đài Loan 8,6

tỷ USD, chiếm 14,3%; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, chiếm 12,1%; Xin-ga-po 4,5 tỷ USD, chiếm 7,4%; Bru-nây 4,4 tỷ USD, chiếm 7,3%; Ca-na-đa 4,2 tỷ USD, chiếm 7% Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm trước… năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt

khoảng 65 tỉ USD – mức cao nhất từ trước tới nay Điều này khẳng định, Việt

Nam vẫn là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Chỉ tính riêng 11

tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD, trong đó cấp mới đạt 59

tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp 7 lần về vốn đăng ký

so với cùng kỳ năm 2007; số còn lại là vốn đầu tư tăng thêm của một số dự án

mở rộng sản xuất, kinh doanh Quy mô vốn bình quân đầu tư của một dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớn tăng hơn nhiều

so với năm 2007 (12,2 triệu USD/dự án) Điều này thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư nước ta hiện nay Năm 2008 đã

có 44 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ có đăng ký mức vốn đầu tư trên 1 tỉ USD Ma-lai-xi-a đứng đầu với 49 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỉ USD, chiếm 4,2% về số dự án và 25,5% về vốn đầu tư đăng ký Đài Loan đứng thứ 2 với 127 dự án, vốn đầu tư 8,6 tỉ USD, chiếm 12,8% về số dự án và 14,8% về vốn đầu tư đăng ký Nhật Bản đứng thứ 3 với 95 dự án, vốn đầu tư 7,2 tỉ USD, chiếm 9,4% về số dự án và 12,89% về vốn đầu tư đăng ký Bru-nây đứng thứ 4 với 16 dự án, vốn đầu tư 4,38 tỉ USD, chiếm 7,5% về vốn đầu tư đăng ký Ca-na-đa đứng thứ 5 với 8 dự

án, vốn đầu tư 4,23 tỉ USD, chiếm gần 7,5% về vốn đầu tư đăng ký Kết quả trên cho thấy, các nhà đầu tư từ quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc Châu Á vẫn chiếm

đa số trong tổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam Do vậy, để thu hút được nhiều hơn vốn FDI vào Việt Nam từ các nước có tiềm năng kinh tế thuộc châu Âu và châu Mỹ, việc xây dựng và triển khai chiến lược thu hút vốn FDI từ các quốc gia

và vùng lãnh thổ thuộc các châu lục này càng trở nên cấp thiết và phải được phối hợp đồng thời với việc nhanh chóng đưa các bộ phận đại diện cơ quan xúc tiến đầu tư tại các khu vực trọng điểm đi vào hoạt động theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Bên cạnh ODA và FDI thì một lượng vốn không nhỏ được chuyển vào nước ta

là kiều hối chuyển về hàng năm Lượng kiều hối năm 2006 đạt 4.5 tỷ USD và năm 2007 lên tới 10 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay So với tổng mức ngoại

tệ Việt kiều gửi về nước năm 2006, lượng kiều hối năm 2007 tăng gần 50%

Trang 13

Nguyên nhân là do chính phủ Việt Nam áp dụng các quy chế mới đối với Việt kiều trong các lĩnh vực đầu tư, bất động sản và miễn thị thực nhập cảnh Đặc biệt gần đây quốc hội thông qua điều luật cho Việt kiều mua nhà tại Việt Nam.

Ngoài các nguồn vốn trên thì còn một lượng vốn vay của nước ngoài Tuy nhiên, lượng vốn này không đáng kể, chỉ đạt khoảng 50 nghìn tỷ đồng Lượng trái phiếu chính phủ phát hành ra nước ngoài bằng ngoại tệ khoảng 5.5 nghìn tỷ đồng

2.3 Tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hiện nay.

2.3.1 Công tác quản lý đầu tư ở cấp độ vĩ mô.

Dựa trên việc nắm bắt các đặc điểm của đầu tư phát triển, ở mức độ vĩ mô chính phủ đã có những cơ chế chính sách trong lĩnh vực đầu tư phát triển có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các chủ thể trong nền kinh tế đầu tư Do nguồn vốn đầu tư phát triển rất lớn, đầu

tư phát triển có độ rủi ro cao đòi hỏi ở cấp độ vĩ mô phải xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch dầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn đầu tư, thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm.Cùng với đó phải đưa ra các phương pháp dự báo nhận diện rủi ro cho các doanh nghiệp trong nền kinh

tế

Chính phủ đã ban hành các chính sách phù hợp huy động các nguồn lực cho đầu

tư phát triển, nguồn vốn đầu tư phát triển ngày càng được đa dạng hoá, cơ chế bao cấp trong dầu tư dần được xoá bỏ Cùng với đó đã nâng cao hiệu quả sử dụng và nỗ lực cải thiện môi trường kinh tế chính trị cho đầu tư, củng cố lòng tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển đã có nhiều thay đổi Các văn bản pháp quy trong lĩnh vực đầu tư phát triển luôn được cập nhật, đổi mới, phù hợp theo

hướng phân cấp mạnh hơn trong quản lý đầu tư và xây dựng, đồng thời tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước Nhiều nghị định mới, văn bản luật mới được ban hành thay thế cho những nghị định không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và xu hướng toàn cầu hoá như (luật đất đai, luật tài nguyên, luật đầu tư, luật đấu thầu…)

Cùng với đó, Nhà nước cũng thực hiện đổi mới trong công tác quy hoạch, thực hiện tốt vai trò định hướng đầu tư và là công cụ quản lý của nhà nước Chất lưọng của công tác quy hoạch đã được chú ý, gắn kết với thực tế, bám sát với nhu cầu thị trường, khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương.Kiện toàn và tăng cường năng lực các bộ quản lý dự án đầu tư phát triển Đa dạng hoá các hình thức và mở rộng các lĩnh vực cho đầu tư nước ngoài là một

Trang 14

hướng đi mới mà Bộ kế hoạch và đầu tư đang nghiên cứu để kiến nghị Chính phủ nhằm thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư cho phát triển.

Nhiều giải pháp cải thiện môi trường đầu tư đang được triển khai mạnh mẽ Đối với vốn ODA, những khó khăn sẽ được tập trung tháo gỡ là giải phóng mặt băng, bảo đảm đối ứng trong các dự án, đấu thầu và sử dụng tư vấn, kiện toàn và tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý dự án, cải thiện thủ tục hành chính và haì hoà hoá các thủ tuch đối với các nhà tài trợ Các giải pháp thu hút vốn FDI được chú trọng đẩy mạnh là khâu quy hoạch, nhất là gắn quy hoạch ngành, sản phẩm với quy hoạch vùng, nâng cao chất lượng và tính khả thi của danh mục ưu tiên gọi vốn FDI Liên quan đến giải pháp về cơ chế chính sách vĩ

mô, Chính phủ yêu cầu các ngành chức năng khi soạn thảo, bổ sung, sữa đổi chính sách, luật phấp phải tính đến tác động của chúng tới FDI, bảo đảm tính nhất quán, thông thoáng hơn và áp sát hơn với cac quy định của tổ chức WTO Các cơ chế chính sách ưu đãi về thuế, đất sẽ đặc biệt quan tâm đến các nhà đầu

tư đã có dự án đang hoạt động tại Việt Nam, đồng thời cũng có nhưng quy chế riêng đói với các công ty xuyên quóc

Tuy nhiên trong quản lý công tác đầu tư ở cấp vĩ mô cũng còn một số hạn chế Với một quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn Tuy nhiên thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của Việt Nam thì chưa cao Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: “ Việt Nam, tồn tại một nghịch lý là nước nghèo nhưng không biết tiêu tiền hợp lý, gây lãng phí” Chúng ta chưa quan tâm đầy đủ việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu

tư trong nước cũng như nước ngoài và ODA Đầu tư trong nước là một nguồn lực tốt, thậm chí năm 2006, đầu tư trong nước còn lớn hơn FDI Hầu hết đầu tư trong nước là các DN tư nhân, các cá nhân, do đó, họ có lợi ích thực, thúc đẩy hiệu quả càng cao càng tốt Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn trong nước vẫn còn hạn chế do tác động chung của cac nguôn lực khác: Cơ chế chính sách, vấn đề

cơ sở hạ tầng và cả những ưu đãi lớn dành cho DN nhà nước Đáng ra, tư nhân

có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn rất nhiều Tất nhiên không phủ nhận sự yếu kém của DN tư nhân trong nước, nhưng yếu tố quan trọng chính là môi trường kinh doanh còn quá nhiều nhân tố bất ổn, do chính nhà nước tạo ra Về

cơ sở hạ tầng, nhiều nhà đầu tư nước ngoài mong đầu tư nhưng bản thânViệt Nam lai chưa tạo điều kiện đầy đủ.Hình thức BOT đã được luật hoá nhưng chưa

có hướng dẫn thực sự để DN nước ngoài tham gia Cách đây chưa lâu, Phần Lan

đã mất 5-7 năm để đàm phán để tham gia xây dựng hạ tầng, để đạt được kí kết

Họ phải mất them 2 năm đàm phán về giá cung cấp điện nhưng không có kết quả Cuối cùng nước này đã rút dự án ra khỏi Vệt Nam Chúng ta càn rút ra kinh nghiệm để tránh những sai lầm trong công tác quản lý đầu tư

2.3.2 Tình hình quản lý đầu tư phát triển ở cấp độ vi mô.

Ngày đăng: 13/12/2013, 00:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Chu trình luân truyển vốn trong hoạt động đầu tư - Tài liệu ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ VIỆC QUÁN TRIỆN CÁC ĐẶC ĐIỂM ĐÓ TRONG VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ docx
Sơ đồ 1 Chu trình luân truyển vốn trong hoạt động đầu tư (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w