1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hiệu quả của một số biện pháp sinh học trong quản lý bọ Hà (Cylas formicarius Fabr.) tại tỉnh Sơn La

7 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 641,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này đã đánh giá hiệu quả của một số biện pháp sinh học trong quản lý Bọ hà tại tỉnh Sơn La. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm sử dụng nấm sinh học cho hiệu quả khá cao. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu.

Trang 1

TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Khoa học Tự nhiên và Công nghệ

1 Đặt vấn đề

Bọ hà khoai lang (Cylas formicarius Fabr.)

là đối tượng gây hại quan trọng nhất trong canh

tác cây khoai lang trên toàn thế giới [1] Bọ hà

cũng là đối tượng gây thiệt hại mạnh đối với sản

xuất khoai lang ở Việt Nam nói chung, tỉnh Sơn

La nói riêng

Trong phòng trừ Bọ hà khoai lang, biện pháp

hóa học vẫn được ưu tiên sử dụng Tuy nhiên,

bên cạnh những tác động xấu đến môi trường

và sức khỏe con người, hiệu quả phòng trừ của

thuốc hóa học đối với Bọ hà thường không cao

do sự gây hại chủ yếu trong củ nằm dưới mặt

đất [4] Nhiều biện pháp an toàn đã được nghiên

cứu và áp dụng nhằm mục đích luân phiên hoặc

thay thế cho thuốc trừ sâu để phòng trừ Bọ hà

khoai lang Trong đó, áp dụng bẫy pheromone

giới tính đã có hiệu quả [2] Theo Nguyen Cong

Hao et al (1996), sử dụng bẫy pheromone giới

tính với mật độ 10 bẫy/ha làm giảm thiệt hại

do Bọ hà gây ra là 20% Theo nghiên cứu của

Jenn-Sheng (1992), tại Đài Loan, giá trị phòng

trừ của bẫy pheromone giới đối với Bọ hà khoai

lang là 56,9%

Sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự động

cũng được đánh giá có hiệu quả phòng trừ Bọ

hà cao Bọ hà đực bị hấp dẫn bởi pheromone giới tính sẽ bay đến bẫy và rời khỏi bẫy khi đã tiếp xúc với nấm Kết quả cho thấy ruộng khoai lang nơi đặt hệ thống lây nhiễm nấm tự động có

tỷ lệ Bọ hà đực chết cao nhất do nhiễm nấm là 96,2% ở thời điểm 21 ngày sau khi xử lý và Bọ

hà cái là 24% (35 ngày sau xử lý) [7]

Trong nghiên cứu này chúng tôi trình bày hiệu quả sử dụng bẫy pheromone giới tính, bẫy lây nhiễm nấm tự động, chế phẩm sinh

học có nguồn gốc nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae phòng trừ Bọ hà hại

khoai lang tại phòng thí nghiệm Trường Đại học Tây Bắc và bản Tây Hưng, xã Muổi Nọi, Huyện Thuận Châu

2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Phòng thí nghiệm Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Tây bắc và bản Tây Hưng,

xã Muổi Nọi, huyên Thuận Châu, tỉnh Sơn La

- Thời gian: Tháng 6/2017 – 10/2018

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Mồi pheromone giới tính chứa hợp chất (Z)-3-dodecenyl-(E)-2-butenoate, sản phẩm của Trường Đại học Cần Thơ

HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP SINH HỌC TRONG QUẢN LÝ

BỌ HÀ (Cylas formicarius Fabr.) TẠI TỈNH SƠN LA

Lê Thị Thảo, Bùi Thị Sửu, Phạm Thị Mai, Trần Đình Toàn, Vũ Thị Nự

Trường Đại học Tây Bắc

Tóm tắt: Nghiên cứu này đã đánh giá hiệu quả của một số biện pháp sinh học trong quản lý Bọ hà tại tỉnh Sơn

La Kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm sử dụng nấm sinh học cho hiệu quả khá cao Độ hữu hiệu của nấm M anisopliae và nấm B bassiana đạt cao nhất sau 23 ngày tiếp xúc lần lượt là 70,5% và 67,0%

Sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự động trong phòng thí nghiệm, độ hữu hiệu của nấm M anisopliae và nấm B bassiana đạt cao nhất tại tuần thức 6 lần lượt là 65,9 và 61,6 % sau khi tiếp xúc Ngoài đồng ruộng sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự động và sử dụng bẫy pheromone giới tính cho hiệu quả tốt với tỷ lệ củ do Bọ hà gây hại lần lượt là 13,8% và 25,2 % so với đối chứng là 47,4 % Chế phẩm sinh học Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae cũng giảm tác hại do Bọ hà gây ra, tỷ lệ củ bị Bọ hà gây ra lần lượt là 14,8% và 15,4 % so với đối chứng

là 36 % Giá trị phòng trừ của hệ thống lây nhiễm nấm tự động trong phòng trừ Bọ hà là cao nhất đạt 71%.

Từ khóa: Bọ hà, bẫy pheromone giới tính, chế phẩm sinh học, hệ thống lây nhiễm tự động

Lê Thị Thảo và nnk (2020)

(20):1 - 7

Trang 2

Chế phẩm sinh học Beauveria bassiana

(Beauveria bassiana), Metarhizium anisopliae

(metarhizium anisopliae) sản phẩm của Viện

Bảo Vệ Thực Vật

Nguồn Bọ hà khoai lang: Củ khoai bị nhiễm

Bọ hà được thu từ các ruộng khoai lang đã thu

hoạch tại xã Muổi Nọi, huyện Thuận Châu, tỉnh

Sơn La đem về phòng thí nghiệm nhân nuôi Sử

dụng Bọ hà trưởng thành sau vũ hóa 10 – 15

ngày tuổi làm thí nghiệm

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm 1: Khảo sát hiệu lực gây chết

của chế phẩm sinh học nấm B bassiana và

nấm M anisopliae đối với trưởng thành Bọ

hà trong phòng thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên

với 3 công thức: công thức 1: chế phẩm nấm M

anisopliae; công thức 2: chế phẩm nấm B bassiana

và công thức 3: đối chứng: gạo (Do gạo là chất

mang của nấm), 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại của

1 công thức là 30 trưởng thành Bọ hà khoai lang

- Cách tiến hành: thả 40 Bọ hà trưởng thành

vào 1 hộp có chứa 20g chế phẩm nấm (công thức

đối chứng là 20g gạo), sau 1 phút gắp riêng từng

cá thể cho vào 30 cốc nhựa nhỏ (01 Bọ hà/cốc)

Trong cốc nhỏ bao gồm một lớp giấy thấm nước

để giữ ẩm, một miếng khoai lang nhỏ để làm thức

ăn và 1 Bọ hà đã tiếp xúc với nấm Sử dụng Bọ hà

trưởng thành sau vũ hóa 10 – 15 ngày tuổi làm thí

nghiệm Các thí nghiệm khác thực hiện tương tự

+ Chỉ tiêu theo dõi: số Bọ hà còn sống và số

Bọ hà chết vào các ngày 3, 7, 11, 15, 19, 23, 27

sau khi nhiễm nấm

Độ hữu hiệu của nấm ký sinh được tính theo

công thức Abbott

Độ hữu hiệu (%) = C-T X 100

C Trong đó: C: số trưởng thành Bọ hà còn sống

ở công thức đối chứng

T: Số trưởng thành Bọ hà còn sống ở công

thức có xử lý nấm

Thí nghiệm 2: Khảo sát hiệu lực gây chết

của hệ thống lây nhiễm nấm tự động đối với

trưởng thành Bọ hà trong phòng thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu

nhiên với 3 công thức: chế phẩm nấm M anisopliae, chế phẩm nấm B bassiana và đối

chứng (gạo), 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại của

1 công thức gồm 1 Bọ hà tiếp xúc với hệ thống lây nhiễm nấm tự động và 30 Bọ hà trưởng thành khỏe mạnh

- Hệ thống lây nhiễm nấm tự động được làm

từ hộp nhựa (20x14cm) được cắt tạo 4 khoảng trống (4x4cm) ở 4 mặt bên Tạo 1 khoảng trống (2x4cm) ở phía dưới mặt bên giúp Bọ hà thoát

ra ngoài dễ dàng Trên nắp có đục lỗ để treo mồi pheromone Đổ 100g chế phẩm nấm hoặc gạo (đối chứng) vào đáy bẫy

- Cách tiến hành: để hệ thống lây nhiễm nấm

tự động gần rổ khoai lang nuôi Bọ hà, đợi Bọ hà đực trưởng thành bay vào tiếp xúc với pheromone

và rơi xuống đáy hộp, sau khi Bọ hà thoát ra ngoài

hệ thống thì dùng kẹp gắp 1 Bọ hà đực cho vào hộp nhựa (14 x 20 cm) chuẩn bị sẵn gồm 30 Bọ

hà khỏe mạnh không bị nhiễm nấm và 1 củ khoai lang sạch Bên dưới đáy hộp nhựa có chứa đất đã được khử trùng và 1 miếng xốp ẩm để duy trì độ

ẩm tự nhiên Sử dung Bọ hà trưởng thành sau vũ hóa 10 – 15 ngày tuổi làm thí nghiệm

- Chỉ tiêu theo dõi: số Bọ hà còn sống và

số Bọ hà chết sau 3 ngày, 5 ngày, 1 tuần, 2 tuần…7 tuần

Độ hữu hiệu của chế phẩm nấm ký sinh được tính theo công thức Abbott

Độ hữu hiệu (%) = C-T X 100

C Trong đó: C: số trưởng thành Bọ hà còn sống

ở công thức đối chứng;

T: số trưởng thành Bọ hà còn sống ở công thức có xử lý nấm

- Thí nghiệm 3: Sử dụng bẫy pheromone giới tính và hệ thống lây nhiễm nấm tự động phòng trừ Bọ hà ngoài đồng ruộng

Thí nghiệm bố trí gồm 3 công thức, mỗi công thức 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 5 bẫy đặt trên diện tích 500 m2 khoai lang

Công thức 1: Sử dụng bẫy pheromone giới tính (5 bẫy/lần nhắc), 3 lần nhắc lại làm tại 3 vườn

Trang 3

- Mật độ đặt bẫy: 1 bẫy/ 100m2, độ cao bẫy

50cm so với mặt đất Bẫy được làm từ hộp

nhựa (20x14cm) được cắt tạo 4 khoảng trống

(4x4cm) ở 4 mặt bên Trên nắp có đục lỗ để

treo mồi pheromone Đổ nước xà phòng (nước

rửa chén và nước pha theo tỷ lệ 1:100) vào đáy

bẫy để giết Bọ hà khi chúng vào bẫy Thay

nước xà phòng trong bẫy định kì 1 tuần/lần

Thay mồi Pheromone giới tính trong bẫy định

kì 1 tháng/lần

Công thức 2: Sử dụng hệ thống lây nhiễm

nấm tự động (5 bẫy/lần nhắc), 3 lần nhắc lại làm

tại 3 vườn

- Mật độ: 1 bẫy/ 100m2, độ cao bẫy 50cm

so với mặt đất Bẫy được làm từ hộp nhựa

(20x14cm) được cắt tạo 4 khoảng trống

(4x4cm) ở 4 mặt bên Tạo 1 khoảng trống (2x4cm) ở phía dưới mặt bên giúp Bọ hà thoát ra ngoài dễ dàng Trên nắp có đục lỗ để treo mồi pheromone Đổ 100g chế phẩm nấm

M anisopliae vào đáy bẫy Nón được treo

trên đỉnh bẫy nhằm hạn chế ảnh hưởng của mưa và nắng đến hiệu quả của pheromone và nấm Thay mồi Pheromone giới tính và nấm trong bẫy định kì 1 tháng/lần Đặt bẫy sau trồng 15 ngày và thu bẫy sau 2 tháng đặt trên đồng ruộng

Công thức 3: Đối chứng (áp dụng biện pháp canh tác của nông dân: vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch tàn dư trước khi trồng, không phòng trừ bằng biện pháp khác)

+ Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ (%) củ bị hại

Hình 1: Hệ thống lây nhiễm tự động

- Thí nghiệm 4: Sử dụng chế phẩm sinh

học phòng trừ Bọ hà ngoài đồng ruộng

Thí nghiệm bố trí gồm 3 công thức, diện tích

mỗi ô thí nghiệm: 100 m2

Công thức 1: sử dụng chế phẩm sinh học

Beauveria bassiana, 3 lần nhắc lại Sử dụng 2

lần/vụ, rải vào đất trước khi trồng 1 ngày và sau

trồng 45 ngày, 2kg/1000 m2/lần

Công thức 2: sử dụng chế phẩm sinh học

Metarhizium anisopliae, 3 lần nhắc lại Sử dụng

2 lần/vụ, rải vào đất trước khi trồng 1 ngày và

sau trồng 45 ngày, 2kg/1000 m2/lần

Công thức 3: đối chứng (theo tập quán người

dân – sử dụng biện pháp canh tác như vệ sinh

đồng ruộng, dọn sạch tàn dư trước khi trồng,

không phòng trừ bằng biện pháp khác) + Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ (%) củ bị hại

- Phương pháp lấy mẫu và đánh giá tỷ lệ

củ bị hại ở thí nghiệm 3 và thí nghiệm 4: lấy

tổng số củ của 10 cây ở giai đoạn thu hoạch (sau trồng 95 ngày) theo đường chéo trong mỗi ô thí nghiệm

* Tính giá trị của biện pháp phòng trừ [8 ]

Giá trị phòng trừ (%) = 100 - ( T x 100)

C Trong đó: T: Tỷ lệ củ bị hại ở công thức thí nghiệm

C: Tỷ lệ củ bị hại ở công thức đối chứng

Trang 4

- Xử lý số liệu: Số liệu ghi nhận được xử lý

bằng phần mềm Excel và phần mềm R

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Khảo sát hiệu lực gây chết của chế phẩm

sinh học B bassiana và M anisopliae đối với

trưởng thành Bọ hà trong phòng thí nghiệm

Ở điều kiện nhiệt độ 290C trong phòng thí

nghiệm, cả 2 nấm M anisopliae và nấm B bassiana

đều có khả năng gây chết Bọ hà khoai lang Sau 3

ngày khi tiếp xúc với nấm hiệu quả của nấm M

anisopliae là 2,2% và nấm B bassiana là 1,1%

không có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% Sau 15 ngày tiếp xúc với nấm hiệu lực

của nấm B bassiana cao hơn so với nấm M anisopliae lần lượt là 35,9% và 17,9 % có sự

khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5%

Độ hữu hiệu của nấm tăng dần về sau đạt cao

nhất vào 23 ngày sau khi tiếp xúc với nấm M anisopliae đạt 70,5% và nấm B bassiana đạt

67,0 % Ở điều kiện nhiệt độ 290C và ẩm độ 69,5% khá phù hợp cho nấm phát triển và làm

Bọ hà chết nhiều (bảng 3.1)

Bảng 3.1 Độ hữu hiệu của nấm M anisopliae và nấm B bassiana đối với trưởng thành Bọ

hà khoai lang trong điều kiện phòng, năm 2018

T=29 0C, RH=69,5%

Công thức

Độ hữu hiệu (%) của nấm M anisopliae và nấm B bassiana vào các

ngày sau khi tiếp xúc

3 ngày 7 ngày 11 ngày 15 ngày 19 ngày 23 ngày 27 ngày

Nấm M anisopliae 2,2 a 6,7 a 13,3 a 17,9 a 43,1 a 67,0 a 66,3 a

Nấm B bassiana 1,1 a 16,7 b 25,6 b 35,9 b 54,6 a 70,5 a 69,7 a

Số liệu được chuyển đổi sang Arcsin trước khi phân tích thống kê Các chữ cái trong cùng một cột khác biệt nhau thì số liệu khác nhau ở độ tin cậy 95%

3.2 Khảo sát hiệu lực gây chết khi sử dụng

hệ thống lây nhiễm nấm tự động đối với trưởng

thành Bọ hà tại phòng thí nghiệm

Ở điều kiện nhiệt độ 30 0C trong phòng thí

nghiệm, khả năng lây nhiễm nấm và gây chết

trưởng thành Bọ hà khoai lang khi sử dụng hệ

thống lây nhiễm nấm tự động cho hiệu quả

Công thức sử dụng nấm B bassiana và nấm M

anisopliae đều cho hiệu quả Công thức sử dụng

nấm M anisopliae có độ hữu hiệu cao hơn so với

công thức sử dụng nấm B bassiana nhưng không

có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% Sau 1 tuần khi tiếp xúc với hệ thống lây nhiễm nấm tự động độ hữu hiệu của nấm tăng

dần ở cả 2 công thức Độ hữu hiệu của nấm M anisopliae và nấm B bassiana đạt cao nhất tại

tuần thứ 6 lần lượt là 65,9 và 61,6 % sau khi tiếp xúc Do Bọ hà nhiễm nấm đã giao phối và lây lan nấm với bọ hà khỏe trong hộp.Sau đó hiệu lực của nấm giảm mạnh do số lượng bọ hà chết

ở tại các công thức nấm giảm và số lượng bọ hà

ở công thức đối chứng tăng (bảng 3.2)

Trang 5

Bảng 3.2 Hiệu lực của nấm M anisopliae và nấm B bassiana trong hệ thống lây nhiễm nấm

tự động đối với quần thể trưởng thành Bọ hà khoai lang ở điều kiện phòng, năm 2018

T=30 0C, RH=71,5%

Công thức Độ hữu hiệu (%) của nấm Ma và nấm Bb vào các ngày sau khi tiếp xúc

3 ngày 5 ngày 1 tuần 2 tuần 3 tuần 4 tuần 5 tuần 6 tuần 7 tuần

Nấm M

anisopliae 0 4,3a 7,5 a 12,9 a 20,4 a 30,8 a 41,8 a 65,9 a 61,7 a Nấm B

bassiana 0 5,4a 10,8 a 16,1 a 21,5 a 28,7 a 38,6 a 61,6 a 55,0 a

Số liệu được chuyển đổi sang Arcsin trước khi phân tích thống kê Các chữ cái trong cùng một cột khác biệt nhau thì số liệu khác nhau ở độ tin cậy 95%

3.3 Hiệu quả và giá trị phòng trừ của biện

pháp sử dụng pheromone giới tính và biện

pháp sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự động

phòng trừ Bọ hà khoai lang

Hiệu quả và giá trị phòng trừ của bẫy pheromone giới tính và hệ thống lây nhiễm nấm

tự động trong phòng trừ Bọ hà được thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.3 Hiệu quả và giá trị phòng trừ của biện pháp pheromone giới tính và biện pháp sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự động phòng trừ Bọ hà khoai lang (năm 2017)

Công thức Tỷ lệ củ bị hại do Bọ hà (%) Giá trị phòng trừ (%)

Các chữ cái trong cùng một cột khác biệt nhau thì số liệu khác nhau ở độ tin cậy 95%

Kết quả so sánh ở độ tin cậy 95% nhận

thấy giữa công thức đối chứng, công thức sử

dụng bẫy pheromone giới tính và công thức

sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự động có

sự khác nhau Tỷ lệ củ bị hại do Bọ hà ở công

thức sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự động

và bẫy pheromone giới tính lần lượt là 13,8%

và 25,2 % thấp hơn rất nhiều so với công thức

đối chứng là 47,4 % Biện pháp sử dụng hệ

thống lây nhiễm nấm tự động và biện pháp

sử dụng bẫy pheromone giới tính cho hiệu

quả tốt trong việc hạn chế gây hại của Bọ hà

Trong đó sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự

động cho hiệu quả tốt hơn so với sử dụng bẫy

pheromone giới tính

Giá trị phòng trừ của hệ thống lây nhiễm

nấm tự động trong phòng trừ Bọ hà là cao nhất đạt 71%, sau đó đến bẫy pheromone giới tính đạt giá trị phòng trừ 51% vào năm 2017

3.4 Hiệu quả của biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học phòng trừ Bọ hà khoai lang

Tại Đài Loan, Kao et al (1998) cho thấy

nấm B bassiana được phân lập từ đất canh tác

bị nhiễm Bọ hà được sử dụng và phòng trừ Bọ

hà khoai lang Thử nghiệm ngoài đồng ruộng

với việc rải nấm B bassiana (109 bào tử/g) ở thời điểm trồng sẽ mang lại hiệu quả phòng trừ

Bọ hà khoai lang

Hiệu quả của biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học phòng trừ Bọ hà khoai lang được thể hiện ở bảng 3.4

Trang 6

Bảng 3.4 Hiệu quả của biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học phòng trừ Bọ hà khoai lang

(năm 2018)

Các chữ cái trong cùng một cột khác biệt nhau thì số liệu khác nhau ở độ tin cậy 95%

Kết quả so sánh ở độ tin cậy 95% nhận thấy

giữa công thức đối chứng và công thức sử dụng

chế phẩm sinh học có sự khác nhau Tỷ lệ củ

bị hại do Bọ hà ở công thức sử dụng chế phẩm

sinh học B bassiana là 14,8% và M anisopliae

là 15,4% thấp hơn so với công thức đối chứng

là 36% Tuy nhiên hiệu quả của 2 loại nấm M

anisopliae và B bassiana lại không có sự khác

nhau Sử dụng chế phẩm sinh học đã giảm thiểu

được số lượng củ bị hại từ đó hạn chế thiệt hại

về năng suất cũng như chất lượng khoai

4 Kết luận

Trong điều kiện phòng thí nghiệm độ

hữu hiệu của nấm M anisopliae và nấm B

bassiana đạt cao nhất lần lượt là 70,5% và

67,0% sau 23 ngày tiếp xúc Sử dụng hệ thống

lây nhiễm nấm tự động độ hữu hiệu của nấm

M anisopliae và nấm B bassiana đạt cao nhất

tại tuần thức 6 lần lượt là 65,9 và 61,6 % sau

khi tiếp xúc

Tỷ lệ củ bị hại ngoài đồng ruộng ở công thức

thí nghiệm sử dụng hệ thống lây nhiễm nấm tự

động và sử dụng bẫy pheromone giới tính lần

lượt là 13,8 % và 25,2 % đều giảm so với đối

chứng lần lượt là 33,6% và 22,2% (Tỷ lệ củ bị

hại ở công thức đối chứng là 47,4%) Tỷ lệ củ

bị hại ở công thức sử dụng chế phẩm sinh học

M anisopliae và B bassiana lần lượt là 15,4%

và 14,8% đều giảm so với đối chứng lần lượt là

20,6% và 21,2% (Tỷ lệ củ bị hại ở công thức đối

chứng là 36%)

Khuyến khích người dân nên sử dụng hệ

thống lây nhiễm nấm tự động, chế phẩm sinh

học và bẫy pheromone giới tính phòng trừ Bọ

hà trong canh tác khoai lang để hạn chế sử dụng

thuốc bảo vệ thực vật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chalfant, R.B (1990) Ecology and management of sweet potato insects Ann

Rev Entomol 35: 157-180

[2] Heath R R., Coffelt J.A., Proshold F I.,

Jansson R K., and Sonnet P E (1991) Sex pheromone of Cylas formicarius: History and implications of chemistry in weevil management in Jansson R K and Raman

K V (eds.) Sweet Potato Pest Management

Oxford & IBH Publishing, New Delhi

pp 79-67 [3] Hwang, J.S and C.C Hung (1992)

Integrated control of sweet potato weevil, Cylas formicarius, with sex pheromone and insecticide In: Proceedings of a

Symposium on Non –agrochemical Control Techniques of Insect and Disease Pests Plant Protection Society of the Republic of China 99.81-94

[4] Jansson, R K (1991) Biological control

of Cylas spp., pp 169–201, in R K

Jansson and K.V Raman (eds.) Sweet Potato Pest Management Oxford & IBH Publishing, New Delhi

[5] Kao, S.S., Y.S Tsai, P.S Yang, B.C Wang, and J Hua, (1998)

User’s guide of commonly occurred entomopathogenicfungi in Taiwan Food

Industry Research and Development Institute, Hsinchu, Taiwan, ROC, 120p [6] Nguyen Cong Hao, Nguyen Cuu Thi Huong Giang, Nguyen Cuu Khoa, and

Nguyen Thanh Son, (1996) Synthesis and application of insect attractants in

Trang 7

Vietnam Resources, Conservation and

Recycling, 18: 59-68

[7] Yasuda, K., (1999) Auto-infection

system for the sweet potato weevil, Cylas

formicarius Fabricius (Coleoptera:

Curculionidae) with entomopathogenic

fungi, Beauveria bassiana, using a

modified sex pheromone trap in the field

Applied Entomology and Zoology, 34:

501-505

[8]https://www.google.com.vn/search?q= WHO%2FCDS%2FWHOPES%2FG

C D P P % 2 F 2 0 0 5 & o q W H O / C D S /

WHOPES/GCDPP/2005.13 Guidelines for laboratory and field testing of mosquito larvicides

EFFECTIVENESS OF SOME BIOLOGICAL MEASURES IN SWEET

POTATO WEEVIL (Cylas formicarius Fabr.) MANAGEMENT

IN SON LA PROVINCE

Le Thi Thao, Bui Thi Suu, Pham Thi Mai, Tran Dinh Toan, Vu Thi Nu

Tay Bac University

Abtract: The research was aimed at evaluating the efficiency of some biological method in

sweet potato weevil (Cylas formicarius Fabr.) management in Son La province The study showed that inlaboratory conditions, the use of bio-pesticides Beauveria bassiana and Metarhizium anisopliae brought relatively positive results The effectiveness of M anisopliae and B bassiana reached highest at 70,5% and 67,0% respectively after 23 days of inoculation In laboratory conditions with auto-infection system, the effectiveness of M anisopliae reached a peak of 65,9% and B bassiana of 61,6 % at 6 weeks after inoculation

In field, the use of auto-infection system and sex pheromone trap had good results at 13,8% and 25,22% respectively compared to 47,4% of the control Bio-pesticides Beauveria bassiana and Metarhizium anisopliae also reduced the harm caused by the sweet potato weevil, with the sweet potato ratio damaged of 14,8% and 15,4 % in comparison with the control of 36% The control value of auto-infection system to sweet potato weevil was highest at 71%

Keywords: Sweet potato weevil, sex pheromone traps, bio- pesticides, auto- infection system

_

Ngày nhận bài: 25/02/2019 Ngày nhận đăng: 22/11/2020

Liên lạc: thaovt@utb.edu.vn

Ngày đăng: 11/06/2021, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm