1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng trị nước của các vị vua gia long, minh mệnh, thiệu trị và ý nghĩa lịch sử của nó tt

27 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 691,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đó, đồng thời trên cơ sở thành quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội từ trước đến nay ở trong và ngoài nước về đường lối

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ THỊ LAN

Người phản biện 1: GS.TS Đỗ Quang Hưng

Người phản biện 2: GS.TS Lê Văn Quang

Người phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Minh Hoàn

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở tại Học Viện Khoa học Xã Hội, 477 Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội Vào lúc….…ngày……tháng….năm 2019

Có thể tìm hiểu luận án tại:

Thư viện Khoa học xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Đồng tác giả (2013), “Biện chứng giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần

của nhân dân”, Tạp chí Khoa học Chính trị (Số 2), tr.46 - 51

2 Nguyễn Thị Nguồn (2015), “Tìm hiểu tư tưởng trị nước trong

triết học Trung Quốc cổ đại”, Tạp chí Giáo dục lý luận (Số 227),

tr.37 - 39

3 Nguyễn Thị Nguồn (2018), “Tư tưởng trị nước cơ bản của các

vị vua đầu triều Nguyễn”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội (Số

02/57), tr.34 - 41

4 Nguyễn Thị Nguồn (2018), “Thành tựu và hạn chế trong tư

tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn”, Tạp chí Nhân lực

Khoa học xã hội (Số 12/67), tr.57 - 65

5 Nguyễn Thị Nguồn (2018), “Chính sách giáo dục của các vua

triều Nguyễn, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số”, Tạp chí

Giáo dục và xã hội (Số Đặc biệt, tháng 12/2018), tr.68 - 71.

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử khi bàn về đạo trị nước thì các nhà Nho ở nước ta cũng

đã đề cập đến như quan niệm về dân, vai trò của dân và đạo làm vua, đạo của

bề tôi và mối quan hệ giữa vua - tôi Những quan điểm của các nhà Nho ở nước ta cũng chịu ảnh hưởng từ quan niệm của các nhà Nho ở Trung Quốc Mặc dù những quan niệm này được xây dựng dựa trên những yêu cầu từ thực tiễn của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ Chính vì vậy, những tư tưởng của các nhà Nho Việt Nam cũng góp phần không nhỏ vào trong công cuộc xây dựng đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội phong kiến ở Việt Nam lúc bấy giờ với những ý nghĩa hết sức tích cực

Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tư tưởng chính trị - xã hội của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị Thế nhưng, tư tưởng trị nước vẫn chưa được đề cập, ngay cả khái niệm tư tưởng trị nước cũng chưa được đề cập một cách rõ ràng, có nhà nghiên cứu khi đề cập đến tư tưởng trị nước lại cho rằng đó thực chất là trị quan Quá trình nghiên cứu chúng tôi cho rằng, đề cập đến tư tưởng trị nước là tư tưởng

về đường lối quản lý, xây dựng phát triển đất nước, quản lý bộ máy nhà nước

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đó, đồng thời trên cơ sở thành quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội từ trước đến nay ở trong và ngoài nước về đường lối trị nước của các vị vua đầu

triều Nguyễn, tôi quyết định chọn: “Tư tưởng trị nước của các vị vua Gia

Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và ý nghĩa lịch sử của nó” làm đề tài nghiên

cứu cho luận án tiến sĩ triết học với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam cũng như sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng hiện nay

2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án xuất phát từ quan niệm duy vật biện chứng và quan niệm duy vật về lịch sử của triết học Mác - Lênin, tức là về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội biểu hiện qua sự tác động tích cực của nó đối với tồn tại xã hội và sự tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng: Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp so sánh - đối chiếu…

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích:

Làm rõ những nội dung căn bản trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đầu triều Nguyễn, từ đó nêu những

Trang 5

giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của tư tưởng đó đối với việc xây dựng đường lối chính trị - xã hội nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục đích nói trên, luận án cần tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản

cho sự ra đời tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị

Thứ hai, trình bày nội dung cơ bản trong tư tưởng trị nước của các vị

vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị

Thứ ba, chỉ ra những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử trong tư tưởng

trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Là tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị

*Phạm vi nghiên cứu: Là tư tưởng trị nước qua các tác phẩm của

vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị từ năm 1802 - 1847, các bộ sử, cũng như các công trình nghiên cứu về tư tưởng đó của các học giả trong và ngoài nước từ trước tới nay

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Một là, luận án làm rõ tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long,

Minh Mệnh và Thiệu Trị trong nửa đầu thế kỷ XIX với sự phân tích triết học

về cách thức tổ chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện luật pháp vì mục tiêu căn bản được xác định ngay từ đầu triều đại là nhà nước phong kiến trung ương tập quyền

Hai là, làm rõ những giá trị, hạn chế của các vị vua Gia Long, Minh

Mệnh và Thiệu Trị trong quản lý, điều hành trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và tôn giáo

Ba là, luận án rút ra bài học lịch sử từ những giá trị và hạn chế trong

tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn đối với đời sống chính trị -

xã hội nước ta hiện nay

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4 chương 13 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX

Công trình nghiên cứu rất đồ sộ của tác giả Alexander Barton

Woodside với tên gọi “Việt Nam và hình mẫu Trung Hoa nghiên cứu so sánh

Trang 6

về chính quyền dân sự nhà Nguyễn và nhà Thanh nửa đầu thế kỷ XIX”, bản

dịch tiếng Việt, công trình xuất bản năm 1971, tại Harvard University Press Cambridge, Massachusetts Những nội dung liên quan nhiều nhất đến luận án chủ yếu ở chương II với nội dung là đề cập đến chính quyền dân sự trung ương nhà Nguyễn và nhà Thanh, còn chương IV thì tác giả đề cập đến nền giáo dục và khoa cử thời kỳ nhà Nguyễn ở Việt Nam, và trong chương V được khái quát bằng bức tranh giao thương vào giai đoạn trị vì của nhà Nguyễn đặc biệt là thời kỳ trị vì của vua Minh Mệnh Trong tác phẩm này tác giả tập trung đề cập đến văn hóa Trung Hoa và những hạn chế của nó đối với đời sống chính trị, văn học, xã hội và giáo dục ở Việt Nam Tác giả tập trung nghiên cứu chủ yếu giai đoạn xã hội Việt Nam từ sau năm 1802, giai đoạn mà theo tác giả là thời kỳ “khôi phục” của nhà Nguyễn

Tiến sĩ Huỳnh Công Bá trong tác phẩm “Định chế pháp luật và tố

tụng triều Nguyễn (1802 - 1885”), do Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản vào

năm 2016, cho rằng triều đại nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến ở nước ta, giai đoạn này đất nước thống nhất hơn hai phần ba của thế kỷ Sau khi lên ngôi xây dựng cơ đồ thì triều đình nhà Nguyễn đã tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm của các triều đại đi trước để lại trong việc quản lý đất nước Do đó, dưới sự trị vì của triều đại nhà Nguyễn thì những định chế pháp luật là tương đối hoàn thiện Từ đó, theo tác giả khi nghiên cứu định chế pháp luật Việt Nam ở triều Nguyễn sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan về nền pháp luật được thực thi ở thời kỳ đó cùng những đóng góp và giá trị của nó đối với lịch sử dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay

Nhìn chung các công trình trên đây vẫn còn gây nên những tranh luận trái chiều về công và tội của các vị vua đầu triều Nguyễn, những quan điểm của một số tác giả phủ nhận công lao của thời kỳ này còn có những công trình gần đây nhất thì đã có sự nhìn nhận khách quan về đóng góp của các vị vua đầu triều Nguyễn vào thời kỳ này Có thể nói, khái quát những công trình cơ bản về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội triều Nguyễn vào nửa đầu thế kỷ XIX đã đề cập tới một bức tranh khá rõ nét của thời kỳ này Đồng thời một số tác giả còn chỉ rõ những hạn chế của chính sách mà triều đình nhà Nguyễn đã làm ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển của đất nước vào thời kỳ bấy giờ Từ đó, làm kìm hãm sự phát triển nền kinh tế, xã hội của đất

nước

1.2 Các công trình nghiên cứu về tư tưởng trị nước của vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị

Tác phẩm “Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh” của tác giả

Nguyễn Minh Tường, Nxb Khoa học xã hội, năm 1996 Trong công trình này tác giả đã tập trung nghiên cứu rất sâu về cơ cấu tổ chức, hoạt động của

cơ quan giám sát dưới triều vua Minh Mệnh và đưa ra nhận định vào thời

Trang 7

kỳ này tư tưởng pháp trị được đề cao Đồng thời, những tư tưởng pháp trị này đã được thực hiện hết sức nghiêm minh nhằm tạo điều kiện cho việc hoạt động của bộ máy hành chính hiệu quả, hạn chế tình trạng tham nhũng của đội ngũ quan lại của triều đình Mặc dù vậy tác phẩm lại chưa đi sâu phân tích về các tư tưởng này mà chỉ dừng lại ở việc khái quát tư tưởng chính trị của vua Minh Mệnh mà thôi

Gần đây nhất là bài viết “Tư tưởng trị nước của vua Gia Long” đăng

trên tạp chí KHXHVN, số 1, vào năm 2016 của PGS.TS Lê Thị Lan Theo tác giả, Gia Long là vị vua sáng lập triều Nguyễn Và lần đầu tiên trong lịch

sử dân tộc, triều Nguyễn đã trị vì một đất nước thống nhất, rộng lớn từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau Trong những buổi đầu xây dựng đất nước, triều đại nhà Nguyễn phải đối mặt với vô vàn khó khăn và thử thách, vì thế vua Gia Long đã sử dụng kết hợp tư tưởng của Nho gia và Pháp gia trong việc trị nước Là người rất am hiểu Nho học nhưng cũng là vị tướng lão luyện chinh chiến, ông đã thành công trong việc quản lý đất nước sau nội chiến, đặt nền móng vững chắc cho vương triều nhà Nguyễn, củng cố địa vị thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam Tư tưởng trị quốc của ông là nền tảng cho tư tưởng trị nước của triều Nguyễn

1.3 Các công trình nghiên cứu về giá trị, hạn chế trong tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị

Trong hội thảo về “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch

sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” tại Thanh Hóa vào ngày

18/10/2008, các nhà khoa học chủ yếu nhìn nhận và đánh giá về việc độc tôn Nho giáo của triều đại nhà Nguyễn mang nhiều yếu tố tiêu cực và bất hợp lý Tại đây, các nhà nghiên cứu thống nhất ở việc xem giai đoạn lịch sử đó như bước thụt lùi của cỗ xe lịch sử, đánh giá một chiều của họ đã không đưa ra được những lý giải khách quan cho vấn đề tại sao triều Nguyễn lại chủ trương độc tôn Nho giáo? Chỉ ra được nguyên nhân của sự độc tôn Nho giáo có tác động, ảnh hưởng như thế nào tới các mặt của đời sống xã hội lúc bấy giờ Đây chính là những nội dung hết sức quan trọng của giai đoạn lịch sử của triều Nguyễn

Tác giả Đỗ Bang trong bài viết “Triều Nguyễn: thiết lập tập quyền và

các chế tài điều tiết cực quyền” của trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử, năm

2007 cho rằng khi chế độ trung ương tập quyền đạt đến đỉnh cao thì cực quyền cũng đã đến mức tuyệt đối và trở thành một chế độ quân chủ chuyên chế cực đoan Để duy trì được sự phát triển của mình thì nhà Nguyễn đã phải vận dụng học thuyết trị nước của phương Đông, đề ra các giải pháp về cơ chế quản lý của Nhà nước Tuy nhiên bài viết đã phân tích hết sức sâu sắc việc nhà Nguyễn áp dụng các tư tưởng trị nước của phương Đông nhưng lại chưa

Trang 8

chỉ ra được những giá trị và tác dụng của nó trong việc đề ra bài học đối với những người làm công tác quản lý và đối với xã hội đương thời hiện nay

Theo các nhà khoa học thì khi đề cập đến những công lao và đóng góp của triều đại nhà Nguyễn thì từ trước đến nay do điều kiện khách quan nên quá trình nhận thức của giới nghiên cứu còn thể hiện một cách nhìn nhận chưa đầy

đủ cho nên giới sử học đã đưa ra những đánh giá nhận xét, đánh giá khá nặng

nề, như triều đại “phản động toàn diện”, triều đại “cõng rắn cắn gà nhà” Từ cách nhìn nhận mới mẻ này, có thể thấy các nhà nghiên cứu đã phần nào công nhận những đóng góp không nhỏ đối với đất nước của vua Gia Long (Nguyễn Ánh)

1.4 Khái quát về các kết quả nghiên cứu triều Nguyễn với tư tưởng trị nước của các vị vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết trong luận án

Điểm qua những công trình khoa học của các nhà nghiên cứu thì có thể thấy, có hai cách nhìn nhận cơ bản

Thứ nhất, triều đại đầu nhà Nguyễn không đóng góp gì cho đất nước,

thậm chí bị coi là tác giả của “bức tranh đen tối phủ bóng lên lịch sử nước nhà”, còn ông vua đầu triều Nguyễn là kẻ “cõng rắn cắn gà nhà” Nói tóm lại, đó là quan điểm phủ nhận hoàn toàn công lao đóng góp của triều Nguyễn đối với đất nước

Thứ hai, trái ngược với quan điểm trên là của các nhà khoa học có

cách nhìn mới mẻ, khách quan hơn về công lao đóng góp của triều đại này trong việc xây dựng đường lối trị nước dựa trên sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị, lấy sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và an dân làm mục tiêu căn bản

Những kết quả nghiên cứu của các học giả mà chúng tôi tham khảo trong chương Tổng quan này là cơ sở để chúng tôi tiếp cận triết học tới tư tưởng trị nước của các ông vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ thêm những vấn đề sau đây của luận án:

Một là, luận án sẽ đứng trên quan điểm duy vật lịch sử tiếp tục

nghiên cứu sâu hơn về các vị vua như Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị Đồng thời chỉ ra những yếu tố tác động đến quá trình hình thành tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn và ý nghĩa của nó đối với thời kỳ hiện nay

Hai là, luận án tập trung hệ thống hóa, phân tích, làm rõ những nội

dung cơ bản trong tư tưởng trị nước của Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị

Ba là, luận án đánh giá mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng trị

nước của thời kỳ đầu nhà Nguyễn Đồng thời rút ra những bài học kinh

Trang 9

nghiệm và đưa ra kiến nghị về việc kế thừa những giá trị tích cực trong quá trình xây dựng nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tiểu kết chương 1:

Lịch sử tư tưởng triều Nguyễn nói chung và lịch sử tư tưởng giai đoạn đầu triều Nguyễn nói riêng rất phong phú và đa dạng, theo các nhà nghiên cứu thì đây chính là giai đoạn phức tạp nhất của lịch sử Việt Nam, để lại nhiều dấu ấn, công trình văn hóa lịch sử cho đất nước Tuy nhiên thời kỳ này chúng ta đều biết, giới nghiên cứu, các chuyên gia, các nhà khoa học còn

có rất nhiều những quan điểm khác nhau về công lao đóng góp của các vị vua triều Nguyễn và cả đầu triều Nguyễn

Từ cơ sở này những công trình về một số lĩnh vực khác sẽ là cơ sở để tác giả làm căn cứ khoa học Từ đó, tác giả sẽ tiếp cận nhiều hướng khác nhau để hình thành một cách toàn diện, hệ thống phục vụ cho việc nghiên cứu luận án của mình một cách hoàn chỉnh

Chương 2: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

TRỊ NƯỚC CỦA CÁC VUA ĐẦU TRIỀU NGUYỄN

2.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX

2.1.1 Tình hình chính trị

Giai đoạn đầu thế kỷ XIX được xem là thời kỳ rực rỡ nhất của triều Nguyễn Thắng lợi của vua Gia Long đối với triều đình Tây Sơn đã giúp triều Nguyễn được hưởng thành quả thống nhất toàn bộ bờ cõi, mở rộng đất nước từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau

* Về mặt hành chính - tổ chức:

Sau khi lên ngôi, Gia Long lấy Phú Xuân là quốc đô và cho kiểm tra lại các đơn vị hành chính cũ, phân công cho các quan cai trị Trong đó, vua Gia Long lập 11 trấn thuộc Bắc Bộ thành tổng trấn Bắc Thành đứng đầu là Tổng trấn Nguyễn Văn Thành, 5 trấn Nam Bộ thì hợp thành tổng trấn Gia Định thành với người đứng đầu lần lượt là Nguyễn Văn Nhân (1808 – 1812)

và Lê Văn Duyệt (1812 – 1816) Vua Gia Long cho xây đắp hệ thống đường giao thông từ trung ương tới địa phương và xây dựng các trạm dịch nhằm chuyển đệ văn thư Để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong nước, vào năm 1831 - 1832 vua Minh Mệnh cho bỏ hai tổng trấn, chia cả nước thành

30 tỉnh và phủ Thừa Thiên (trực thuộc trung ương ngày nay) Ngoài ra, ở dưới các tỉnh có phủ, huyện, châu rồi tới tổng, xã Vào năm 1840 khi thống

kê, cả nước có 90 phủ, 20 phân phủ, 379 huyện, 1742 tổng, 18265 xã, thôn, phường, ấp Cách phân chia này được giữ nguyên cho tới cuối thời kỳ nhà Nguyễn

*Về mặt đối nội

Trang 10

Vua Gia Long đã chủ trương đường lối “ngoại Nho, nội Pháp”, để

thi hành chính sách xây dựng nền kinh tế và văn hóa nhằm mang lại cho xã hội sự ổn định, trấn áp các cuộc nổi dậy của các lực lượng chống đối lại triều đình để củng cố sự thống nhất trên toàn lãnh thổ Nguyên nhân hết sức quan trọng là giai đoạn này triều đại mới thành lập, do đó chưa đủ sức khống chế

và kiểm soát lãnh thổ Vì thế, thời kỳ này quyền lực tối cao của nhà vua chỉ thực sự là ở miền Trung

Có thể nói, nhà Nguyễn ý thức rất rõ về việc ngày càng gia tăng mâu thuẫn giữa Nhà nước và nhân dân, cho nên vua Gia Long, Minh Mệnh

đã cho xử tử hoặc cách chức rất nhiều những viên quan lớn trong triều đình tham nhũng để răn đe Tuy nhiên, cũng không vì thế mà ngăn chặn được tình trạng nhũng nhiễu của quan lại địa phương

mà nắm Nay luật lệ chưa định, pháp ty không theo vào đâu được, thực không

phải ý Khâm tuất minh doãn (kính cẩn, thương xót, sáng suốt, tin đúng - TG)

của trẫm Bọn khanh nên hết lòng khảo xét những pháp lệnh điển lệ của triều, tham hợp với điều luật đời Hồng Đức và nước Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc

mà làm thành sách Trẫm sẽ tự sửa chữa để ban hành”[60, tr.807 - 808]

Có thể nói, chính sách của triều đình nhà Nguyễn dù đạt được một số thành tựu nhưng cũng không vì thế mà giúp cho chất lượng của quân đội tăng

Trang 11

lên, mà ở thời kỳ này tinh thần và chất lượng của quân đội càng ngày càng trở nên sa sút không đủ sức chống chọi với họa ngoại xâm

* Về quan hệ ngoại giao

Giai đoạn nhà Nguyễn lên nắm chính quyền đặt trong bối cảnh trên thế giới đang có rất nhiều biến đổi Đó là sự phát triển mạnh mẽ của các nước phương Tây, vì thế dẫn đến sự bành trướng của chúng trong việc tìm kiếm thị trường tới các nước phương Đông Nhiều nước lúc này đã trở thành thuộc địa hoặc lệ thuộc vào các nước tư bản phương Tây Ngay cả Trung Quốc lúc này cũng đang trở thành miếng mồi ngon cho các nước tư bản dòm ngó Còn triều đình nhà Nguyễn trong quan hệ với các nước trong khu vực cũng giống như các triều đại trước đó, nổi lên rõ nét là quan hệ ngoại giao của nhà Nguyễn với một số nước phương Tây như Pháp, Anh và

Mỹ

2.1.2 Tình hình kinh tế

Vào năm Nhâm Tuất 1802, sau khi đánh thắng quân Tây Sơn vua Gia Long (Nguyễn Ánh) đã trở thành người làm chủ đất nước từ Đàng Trong cho tới Đàng Ngoài Khi bước sang trang mới thì triều Nguyễn phải đối mặt với

rất nhiều khó khăn và thách thức đặc biệt là về kinh tế

* Về mặt sản xuất nông nghiệp

Vào nửa đầu thế kỷ XIX, nhân dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, ruộng đất, sản xuất nông nghiệp được coi là nền tảng của xã hội Gia Long lấy chính sách trọng nông làm chính sách kinh tế căn bản để phục hồi nền nông nghiệp đã bị sa sút trong chiến tranh và ổn định đời sống

xã hội Đến thời kỳ vua Minh Mệnh cũng cho đo đạc rất nhiều lần để lập thêm địa bạ ở các xã chưa làm được Việc này được làm đi làm lại rất nhiều

lần nhằm giúp triều đình quản lý được ruộng công trong cả nước

* Về công thương nghiệp

Chính sách về công thương nghiệp của nhà Nguyễn vẫn còn lạc hậu Triều đình nắm trong tay những ngành nghề như đúc súng, đúc tiền, đóng tàu, việc xây dựng các lăng tẩm đền đài cung điện… Triều đình quản lý các công xưởng lớn và bắt các thợ giỏi phải làm trong các công xưởng này Những người lao động làm việc ở các công xưởng thường bị cưỡng bức, công việc hết sức nặng nhọc và vất vả, tiền công được trả cũng rất rẻ mạt, không tương xứng với công sức mà họ bỏ ra

Như vậy, vào nửa đầu thế kỷ XIX, nông - công - thương nghiệp đã có

sự phát triển nhất định, do chính sách kinh tế “trọng nông ức thương” và sự

thiếu kiến thức khoa học tự nhiên và kỹ thuật nên nền kinh tế Việt Nam thời

kỳ này không có sự chuyển biến nhiều

Trang 12

2.1.3 Tình hình văn hóa, tư tưởng

Thời kỳ nhà Nguyễn thì cũng giống như xu thế chung của các thời đại trước, các tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo (Kitô) có tác động rất lớn trong sinh hoạt văn hóa tinh thần, cùng với đời sống tâm linh của người dân ở nước ta Vào cuối thế kỷ XVIII, một số nguyên lý chính của Nho giáo như trung quân đã được đặt lại nhưng không còn cứng nhắc như trước nữa đối với hàng ngũ quan lại, nho sĩ của triều đình Bước sang thế kỷ XIX thì triều đình nhà Nguyễn đã tìm mọi cách để củng cố địa vị độc tôn của Nho giáo như việc nghiêm cấm dân theo đạo Thiên chúa giáo (Kitô), cấm lập nhà thờ, hạn chế nhân dân xây dựng chùa chiền, ngoài ra còn ban “Mười điều huấn dụ” theo gương của nhà Lê để giao cho các làng xã giảng giải cho nhân dân nghe, nội dung học tập và thi cử cũng được củng cố

Tóm lại, vào nửa đầu thế kỷ XIX, có sự phát triển mạnh mẽ của một

số tôn giáo lớn, đặc biệt là Nho giáo Tư tưởng của Nho giáo đã ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống tinh thần của nhân dân

2.1.4 Tình hình xã hội

Giống như các triều đại trước, xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Nguyễn được phân chia thành hai giai cấp đó là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Giai cấp thống trị gồm có vua, quan, địa chủ và thơ lại trong hệ thống chính quyền, những người này chiếm một phần đông đảo, có nhiều đặc quyền đặc lợi trong xã hội Tầng lớp quan chức đều được xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau ở trong xã hội sau đó trở thành đối lập với nhân dân, tình trạng bóc lột, hạch sách nhân dân thường xuyên diễn ra Trong đó cũng có những người liêm khiết, trung thực, quan tâm đến đời sống và sự ổn định xã hội của người dân nghèo Trong xã hội thì giai cấp địa chủ chiếm một phần rất đông đảo, có uy quyền ở các làng xã của các địa phương trong cả nước Mặc dù sự phát triển của chế độ ruộng đất tư của nước ta nhưng cũng không tạo ra những địa chủ lớn có nhiều ruộng đất trong cả nước Vì thế, giai cấp địa chủ của nhà Nguyễn vừa là cơ sở xã hội, còn phải dựa vào lực lượng cường hào trong các làng xã và quyền lực chính trị nhà nước để duy trì sự tồn tại của mình

2.2 Những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng trị nước của các vị vua đầu triều Nguyễn

2.2.1 Lãnh thổ thống nhất

Về mặt đối nội, vua Gia Long thực hiện đường lối “ngoại Nho, nội Pháp” trong việc thi hành chính sách như xây dựng kinh tế, văn hóa để mang lại cho nhân dân một đời sống xã hội ổn định Quyền lực của nhà vua chỉ thực sự có trong việc tập trung thực sự ở các tỉnh Trung Kì, còn ở khu vực Bắc Kì và Nam Kì thì được giao hết cho các quan lại có chức vụ

là tổng trấn điều hành

Trang 13

Đến thời kỳ vua Minh Mệnh lên ngôi, nhằm mục đích quyền lực tập trung hết vào trong tay nhà vua đồng thời củng cố nền hành chính của đất nước nên đã cho bãi bỏ chức vụ tổng trấn, nhà vua đã trực tiếp điều hành đất nước và tiến hành cải cách ở 31 địa phương Cùng với việc kế thừa đường lối trị nước của vua Gia Long, vua Minh Mệnh đã tổ chức xây dựng một trong những thể chế chính trị phong kiến chuyên chế mạnh nhất, thậm chí cực đoan

so với các quốc gia trong khu vực

2.2.2 Học thuyết chính trị Nho giáo

Nhà Nguyễn khi lên ngôi đã lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng cho triều đình của mình, tuy nhiên những quan niệm Nho giáo cũng chỉ mang mục đích chính trị, phù hợp với đường lối cai trị của họ Triều đại nhà Nguyễn cũng rất ủng hộ tư tưởng “mệnh trời” cho rằng vua là thiên tử, con trời, thay trời hành đạo, thay trời để trị vì thiên hạ Việc điều hành, quản lý

xã hội là do ý muốn của chúa trời, vua chỉ có nhiệm vụ thực thi mệnh trời, nhà Nguyễn đã theo mệnh trời để xây dựng nên triều đại và cai trị nhân dân

Có thể nói, tư tưởng “mệnh trời” đã chi phối mạnh mẽ đời sống của nhân dân, là sợi dây vô hình trói buộc, làm tê liệt tinh thần phản kháng của nhân dân đối với những bất công, những luật lệ hà khắc của triều đại nhà Nguyễn với họ

2.2.3 Vai trò xã hội của tầng lớp nho sĩ thời kỳ đầu nhà Nguyễn

Thời kỳ này cơ cấu gồm bốn giai tầng xã hội sĩ, nông, công, thương cũng được phân hóa ngày càng rõ nét Tầng lớp Nho sĩ có vai trò hết sức quan trọng ở thời kỳ này Nhằm mục đích củng cố quyền lực của nhà Nguyễn cho nên triều đình nhà Nguyễn khôi phục lại sự độc tôn của Nho giáo, duy trì đường lối trị nước theo kiểu truyền thống vì vậy việc đổi mới, cải cách của đất nước chưa được thể hiện ở thời kỳ này Sĩ là những người theo học đạo Nho, kể cả những người làm quan hay không làm quan trong xã hội Tầng lớp này có uy tín và ảnh hưởng nhất ở trong xã hội, bởi vì họ chính là rường cột của chế độ phong kiến Được coi là tầng lớp trung gian, là cầu nối giữa vua và người dân Bởi vì uy tín của họ cho nên những quan điểm của họ được nhà vua đặc biệt coi trọng, nếu nắm được họ thì sẽ nắm được nhân dân Bởi

vì, tầng lớp nho sĩ luôn được đề cao, làm rường cột của nhà nước phong kiến,

họ cũng chính là nguồn lực bổ sung cho bộ máy quan liêu Tầng lớp nho sĩ ấy

đã được đào tạo từ một nền giáo dục và chế độ thi cử lấy Nho giáo làm cơ sở

2.3 Đôi nét về tiểu sử của các vị vua đầu triều Nguyễn

Vua Gia Long sinh năm 1762, mất vào năm 1920, trị vì từ năm 1802

đến năm 1820 tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, ông là vị vua đầu tiên của triều đình nhà Nguyễn Ông là người đánh bại nghĩa quân Tây Sơn, khôi phục lại quyền thống trị của họ Nguyễn, thành lập vương triều Nguyễn Vào năm

Ngày đăng: 11/06/2021, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w