Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Quảng Ninh là tỉnh có thảm thực vật phong phú và đa dạng như: Ba kích, Trà hoa vàng, Hồi, Quế, Trầu một lá, Bình vôi, Bá bệnh, Kim ngân hoa, Nhân t
Trang 1THÁI NGUYÊN – 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN TRUNG VỸ
PHÁT TRIỂN CHUỖI SẢN PHẨM DƯỢC LIỆU TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 9.34.04.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
- Đại học Thái Nguyên
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quảng Ninh là tỉnh có thảm thực vật phong phú và đa dạng như: Ba kích, Trà hoa vàng, Hồi, Quế, Trầu một lá, Bình vôi, Bá bệnh, Kim ngân hoa, Nhân trần, Ý dĩ… nhưng việc phát triển sản xuất dược liệu ở Quảng Ninh còn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh với nhiều lý
do khác nhau: Việc khai thác tài nguyên cây thuốc còn mang tính tự phát, chưa quan tâm đến tái sinh, bảo tồn dẫn đến nhiều cây thuốc đứng trước nguy cơ cạn kiệt; dược liệu chủ yếu chỉ dừng lại ở khâu nguyên liệu tươi, thô, chưa quan tâm nhiều đến việc sơ chế, chế biến tinh, tạo ra các sản phẩm khác nhau, nhằm gia tăng giá trị của chúng Các sản phẩm thuốc, thực phẩm chức năng sản xuất trên địa bàn tỉnh còn ít, dạng bào chế còn đơn giản, giá trị gia tăng chưa cao và chưa sản xuất được mỹ phẩm có nguồn gốc từ dược liệu, là những sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng hiện nay Với tiềm năng thế mạnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tự nhiên, Quảng Ninh có thể phát triển cây dược liệu để trở thành một trong những nguồn thu quan trọng, nhằm khai thác thế mạnh về tự nhiên và một số cây dược liệu có tính đặc sản,
để phát triển thành một trung tâm dược liệu lớn của Việt Nam Đây sẽ là bước đột phá mới,
góp phần đẩy nhanh mục tiêu chuyển đổi phương thức phát triển của tỉnh từ “nâu” sang
“xanh” Để góp phần thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao GTGT
và phát triển bền vững cho tỉnh Quảng Ninh, việc phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm trong ngành dược liệu, nhằm tạo ra sản phẩm dược liệu hàng hóa tập trung, chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động, nhất là nông dân có vai trò quan trọng Với lý do đó, NCS đã chọn nghiên cứu đề tài Luận án:
“Phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh
- Xác định quan điểm, mục tiêu và giải pháp nhằm phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác nhân tham
gia chuỗi giá trị dược liệu (Nông dân, HTX, doanh nghiệp, thương lái), các nhà quản lý và các chính sách liên quan đến sự phát triển của chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tập trung khảo sát trên 8
huyện thị, thành phố của tỉnh là các địa phương có trồng dược liệu và khai thác dược liệu tự nhiên
- Về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2013 – 2017; Số liệu sơ cấp được thu
thập năm 2017
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu thực trạng phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng
Ninh Trong đó, tập trung phân tích sâu về hiệu quả chuỗi giá trị dược liệu Trà hoa vàng và Ba kích là 2 loại dược liệu đã được tỉnh xác định trong danh mục các sản phẩm dược liệu trọng yếu
trong danh mục sản phẩm thuộc Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” đã được UBND tỉnh phê duyệt
4 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất: Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chuỗi sản phẩm, chuỗi
giá trị dược liệu, qua đó, cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn về phát triển sản xuất dược
liệu theo chuỗi Thứ hai: Những đánh giá khách quan và khoa học về thực trạng phát triển
chuỗi, cũng như công tác quản lý chuỗi giá trị dược liệu Cùng với hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu, NCS sử dụng làm căn cứ cho việc
đề xuất các giải pháp khả thi góp phần quản lý và phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh
Quảng Ninh Thứ ba: Phát triển chuỗi giá trị dược liệu, là một trong những vấn đề hiện nay
có rất ít các nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị dược liệu, NCS hy vọng có những đóng góp mới trong phương pháp phân tích chuỗi giá trị đối với cây dược liệu cụ thể, để có thêm tài liệu
tham khảo cần thiết cho những nghiên cứu tiếp theo Thứ tư: Kết quả nghiên cứu của luận
án là cơ sở khoa học giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý các chương trình dự án phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển sản xuất dược liệu nói riêng theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao thu nhập của người dân trên địa bàn
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ CHUỖI
SẢN PHẨM DƯỢC LIỆU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị ở nước ngoài
Đến nay, trên thế giới, đã có nhiều cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị khác nhau, theo Kaplinsky và Morris (2001) thì không có cách tiếp cận nào là “chuẩn nhất” Về cơ bản, phương pháp phân tích cụ thể phụ thuộc vào câu hỏi nghiên cứu và đặc điểm của sản phẩm nghiên cứu
*) Một số kết quả nghiên cứu mang tính lý luận, cung cấp những kiến thức cần thiết và
kỹ năng trong phân tích chuỗi: Raphael Kaplinsky & Mike Morris (2006) “Cẩm nang nghiên
cứu chuỗi giá trị” Hellin J, and M Meijer, (2006), “Hướng dẫn phân tích chuỗi giá trị”, FAO,
Kaplinsky, R and M, Morris, (2000), “ Cẩm nang nghiên cứu chuỗi giá trị”; GTZ (2007) xuất bản cuốn “Cẩm nang giá trị, phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị” Da SLĐva, C and H
De Sousa FLĐho (2007), “Hướng dẫn đánh giá nhanh thực hiện chuỗi nông sản ở các nước
Trang 5đang phát triển”; FAO (2007); “Quản lý chuỗi cung ứng nông - công nghiệp: Các khái niệm
và vận dụng”; Bernet T, G Thiele., and T Zschocke (2006), “Phương pháp cùng tham gia trong tiếp cận chuỗi thị trường (PMCA) – hướng dẫn sử dụng
*) Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản cụ thể: FAO (2004) cũng có nghiên cứu
về “Chuỗi giá trị quả xoài ở Kenya” ; Gooch và cộng sự (2009), đã sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá: “Thị thường và quản lý chất lượng nho tươi, táo tươi và chế biến và
nhiều hoa quả khác của vùng Ontario, Canada” Hosni and Lancon (2011), đã tìm hiểu:
“Chuỗi giá trị táo của Syris trên thị trường nước ngoài”; Phương pháp tiếp cận của UNIDO
(2009), trong “Phân tích và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp”; Báo cáo của ADB (2005) và FAO (2008) về “Chuỗi giá trị ngành khoai tây” ; Eaton và Shepherd (2001), đã có một nghiên cứu về: “Chuỗi giá trị ngành Chè tại Kenya và Cacao tại Indonesia”
*) Một số kết quả nghiên cứu về quản lý chuỗi: Gereffi G, J Humphrey and T
Sturrgeon (2005), “Quản lý chuỗi giá trị toàn cầu”; Hagelaar, G.J.L.F and Van der Vorst, J.G.A.J., (2002) “Quản lý chuỗi cung ứng môi trường: sử dụng đánh giá vòng đời để cấu trúc
chuỗi cung ứng”; Chopra SunLĐ và Pter Meindl (2001), “ Quản lý chuỗi cung ứng: Chiến lược, kế hoạch và vận hành”
*) Một số cách tiếp cận nghiên cứu khác về chuỗi: Phương pháp tiếp cận của GTZ (2009), trong “Phát triển chuỗi giá trị, công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp”; Phương pháp tiếp cận của M4P (2008), dự án “Làm cho giá trị lao động của của người nghèo tốt hơn” Gudmundsson, E.; Asche, F.; Nielsen, M (2006), “ Phân phối doanh thu thông qua chuỗi giá
trị hải sản”,
1.1.2 Tổng quan công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị ở trong nước
- Các nghiên cứu về chuỗi giá trị theo nghĩa rộng: NCS tổng hợp được 14 nghiên cứu khác nhau, các nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu chuỗi giá trị nông sản, hải sản
và một số chuỗi giá trị với những hàng hóa cụ thể: Bưởi, chè, cà phê, bò, cá cơm
- Nghiên cứu về chuỗi theo nghĩa hẹp: Phạm Quốc Trị (2015), “Điều tra thực trạng doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi GTGT các mặt hàng nông nghiệp chủ lực và đề xuất giải pháp phát triển”
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về cây dược liệu và chuỗi giá trị dược liệu
- Các nghiên cứu về dược liệu: Nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu đề cập đến các kiến thức dân gian về các cây thuốc và công dụng trong điều trị bệnh Các nghiên cứu ở trong nước: Tác giải tổng hợp được 13 công trình nghiên cứu về dược liệu trong nước, các công trình này đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nhau: Bảo tồn nguồn gen, công dụng của các loài dược liệu trong chữa bệnh, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với tri thức truyền thống, ứng dụng công nghệ trong nhân giống
- Các nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu ở nước ngoài: Tác giả tổng hợp được 6 công trình nghiên cứu, các công trình này đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành có chất lượng và đáng tin cậy
- Tổng quan nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu ở trong nước: Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về lĩnh vực dược liệu chưa nhiều Tác giả chỉ tìm thấy được 2 công trình
Trang 6nghiên cứu đó là luận văn thạc sỹ kinh tế của Ngô Văn Nam (2010) với đề tài: “Nghiên cứu chuỗi giá trị của sản phẩm cây dược liệu làm thuốc tắm tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”, và công trình nghiên cứu của nhóm tác giải : Huỳnh Bảo Tuân, Hồ Phượng Hoàng, Trần Thị Cảm, Nguyễn Ngọc Kiều Chinh (2013) với đề tài: “Nghiên cứu chuỗi giá trị dược liệu - cây Diệp Hạ Châu”, được đăng trên tạp chí phát triển KH&CN thành phố HCM
1.3 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị, dược liệu và chuỗi giá trị dược liệu
1.3.1 Đối với các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị: Nhìn chung các công
trình nghiên cứu về chuỗi giá trị mà nghiên cứu sinh trình bày ở trên thể hiện trên một số khía cạnh cụ thể: Thứ nhất, một số nghiên cứu về chuỗi mang tính lý thuyết, Thứ hai, một
số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu chuỗi giá trị tổng thể về một ngành hàng nào đó Thứ ba, một số nghiên cứu đi sâu phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cụ thể; Thứ tư, một số nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị cho những cây trồng vật nuôi cụ thể
1.3.2 Đối với các công trình nghiên cứu về cây dược liệu : Các nghiên cứu về cây dược
liệu ở nước ngoài hầu hết đề cập tới công dụng và xu thế sử dụng cây dược liệu làm thuốc chữa bệnh Các nghiên cứu về cây dược liệu ở trong nước tập trung nhiều vào việc điều tra khảo sát, bảo tồn và công dụng của dược liệu trong điều trị và sản xuất thuốc chữa bệnh
1.3.3 Đối với các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu: Nghiên cứu về
chuỗi giá trị dược liệu ở nước ngoài, các tác giả tập trung phân tích cấu trúc chuỗi giá trị, mô tả các tác nhân trong chuỗi giá trị, vai trò của các trung gian khác nhau, phương pháp thu mua, chi phí sản xuất và giá cả của cây thuốc thực vật, nhằm làm tăng nguồn cung cấp cây thuốc cho ngành công nghiệp dược phẩm, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn gen Nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu ở trong nước chưa nhiều, NCS tổng hợp được kết quả hai nghiên cứu, một nghiên cứu về chuỗi cây dược liệu làm thuốc tắm tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai; và một nghiên cứu về chuỗi dược liệu diệp hạ châu của nhóm tác giả thuộc đại học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, các nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả các hoạt động của chuỗi giá trị, chưa nghiên cứu đánh giá sâu sắc về hiệu quả cũng như các nhân tố tác động đến phát triển của chuỗi
1.4 Xác định khoảng trống trong nghiên cứu
Nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu ở trong nước còn quá ít, chưa bao quát được hết các loại dược liệu, đồng thời cũng chưa đi sâu phân tích hiệu quả của các tác nhân tham gia chuỗi cũng như việc phân tích đánh giá sâu đến các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị dược liệu và mức độ tác động của các nhân tố đó đến hoạt động của chuỗi giá trị dược liệu
cụ thể NCS nhận thấy, các nghiên cứu trong và ngoài nước, nhất là các nghiên cứu trong nước còn quá ít những nghiên cứu phân tích về chuỗi giá trị dược liệu cụ thể cũng như phân tích chuỗi giá trị ngành dược liệu Hầu hết các nghiên cứu mà NCS tổng hợp được đều tập trung nghiên cứu chuỗi giá trị giá trị nông sản hoặc chuỗi ngành hàng nông sản nói chung, chưa có nghiên cứu nào về chuỗi giá trị cây Trà Hoa vàng và Ba kích cũng như nghiên cứu về phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tại Quảng Ninh dưới góc độ quản lý kinh tế
Trang 7Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ
CÂY DƯỢC LIỆU
2.1 Một số vấn đề lý luận về phát triển chuỗi giá trị dược liệu
2.1.1 Lý luận về dược liệu:
2.1.2 Lý luận về chuỗi và phát triển chuỗi: Chuỗi là một hoạt động kinh doanh có
quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cho một sản phẩm, đến sơ chế, vận chuyển, tiếp thị đến việc cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng Nói đến chuỗi thường hình thành hai khái niệm Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng Chuỗi được hiểu theo nghĩa rộng
và hẹp Trong nghiên cứu này, NCS tập trung hướng nghiên cứu vào phát triển chuỗi giá trị theo nghĩa rộng Các tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét đến các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả các mối liên kết nganh, dọc cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và kết nối với người tiêu dùng cuối cùng
Từ các khái niệm trên, NCS đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị cây dược liệu theo nghĩa rộng là một chuỗi các hoạt động khép kín từ sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ dược liệu
và các sản phẩm từ dược liệu gồm nhiều người tham gia khác nhau cùng thực hiện: Người sản xuất, người thu mua, người chế biến và người tiêu thụ
Khái niệm phát triển chuỗi giá trị dược liệu: Phát triển chuỗi giá trị dược liệu được
hiểu là một quá trình làm thay đổi cả về số lượng và chất lượng các hoạt động liên quan đến phát triển sản xuất dược liệu theo chuỗi giá trị Trong đó, sự tăng thêm về qui mô được coi
là việc hình thành những chuỗi giá trị mới (chuỗi giá trị cây Quê, cây Hồi, cây sả, cây cà gai leo, cây thìa canh ), sự biến đổi về chất của phát triển là việc nâng cấp chuỗi giá trị hiện có (chuỗi giá trị cây Ba kích, cây Trà hoa vàng)
2.1.1.2 Sơ đồ chuỗi giá trị
Hình 2 1 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành trồng trọt
Thu gom Vận chuyển
Làm sạch Đóng gói Tem mác Bao bì
Bán sỉ Bán lẻ
Người thu gom
Nhà sơ chế, chế biến
Người bán sỉ Người bán lẻ
Đầu vào Sản xuất Thu gom Chế biến Tiếp thị Tiêu dùng
Trong nước
Xuất khẩu
Chính quyền địa phương, Sở ban ngành liên quan, dự án, Ngân hàng
Các trường, viện, học viện
Trang 82.1.2.3 Các tác nhân trong chuỗi giá trị: - “Người sản xuất”; “Người thu gom”; “Người
chế biến”; “Người tiêu thụ”
2.1.2.4 Ý nghĩa và lợi ích của phân tích chuỗi giá trị
* Phân tích chuỗi giá trị giúp nhận dạng lợi thế cạnh tranh; * Phân tích chuỗi giá trị nhằm cải tiến hoạt động của các tác nhân tham gia * Phân tích chuỗi giá trị tạo cơ hội đánh giá lại năng lực của các tác nhân tham gia: * Phân tích chuỗi giá trị tạo sự phân phối thu nhập hợp lý
2.1.3 Nội dung phát triển chuỗi giá trị
2.1.3.1 Lập bản đồ chuỗi giá trị
2.1.3.2 Lượng hoá và mô tả chi tiết các chuỗi giá trị
2.1.3.3 Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị
2.1.3.4 Nâng cấp chuỗi giá trị
2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển chuỗi giá trị dược liệu
2.2.1.Kinh nghiệm phát triển dược liệu theo chuỗi giá trị của một số địa phương trong nước
(1) Kinh nghiệm phát triển dược liệu ở Yên Bái: (2) Kinh nghiệm phát triển dược liệu của
Hà Giang: (3) Kinh nghiệm phát triển dược liệu của Lào Cai: (4) Kinh nghiệm phát triển dược liệu của Đà Lạt
2.2.2 Bài học vận dụng cho phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh
Một là, xác định rõ được những loại dược liệu trọng yếu trong hàng nghìn loại dược liệu khác nhau ở các địa phương (Quảng Ninh đã xác định được 6 loại dược liệu trọng yếu) Hai là,
muốn phát triển sản xuất dược liệu theo chuỗi giá trị nhất thiết phải liên doanh, liên kết trực tiếp
với các doanh nghiệp Ba là, Chính quyền địa phương các cấp chủ động ban hành những cơ chế chính sách để thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp vào chuỗi giá trị dược liệu Bốn là, chú trọng phát triển cây dược liệu thành hàng hóa, gắn với phát triển du lịch Năm là, liên kết và ứng
dụng các chuỗi công nghệ thích hợp trong sản xuất và chế biến để tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao Thứ sáu, tăng cường liên kết “Bốn nhà” (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh
nghiệp - Nhà nông) và “nhiều nhà”
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Cơ sở lý luận về phát triển chuỗi giá trị sản phẩm, các nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu trước đây đã giải quyết những vấn đề gì, những bài học kinh nghiệm và vấn đề rút ra đối với nghiên cứu đề tài luận án là gì? (2) Thực trạng phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh như thế nào? (3) Những nhân tố nào tác động tới sự phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh? (4) Chính sách, giải pháp nào để phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025?
3.2 Quy trình nghiên cứu của luận án: Được thiết kế để trả lời những câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra ở mục 3.1 (xem phụ lục 1 luận án)
3.3 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích
3.3.1 Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận có sự tham gia; Tiếp cận hệ thống; Tiếp cận thể chế
- chính sách; Tiếp cận phân tích kinh tế; Tiếp cận phát triển.
Trang 93.3.2 Khung phân tích đề tài
Hình 3 1 Khung phân tích của luận án
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
3.4 Phương pháp thu thập thông tin
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phương pháp điều tra thực địa:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đối tượng điều tra: Các tác nhân tham gia vào
chuỗi giá trị dược liệu: Người sản xuất (hộ nông dân, HTX và doanh nghiệp); Người thu gom (cá thể, HTX, doanh nghiệp); Người chế biến (Cá thể, HTX, doanh nghiệp); Người tiêu thụ (cá nhân, HTX, doanh nghiệp) và các cơ quan quản lý sản xuất dược liệu
+ Số lượng mẫu điều tra: Thống kê về các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh
dược liệu tại 8 địa điểm nghiên cứu là 720, NCS không điều tra toàn bộ mà chỉ điều tra chọn mẫu trong tổng thể đó Sử dụng công thức chọn mẫu của Slovin:
n = N/( 1+N.e2) Trong đó: n: Số mẫu cần điều tra; N: Tổng thể chung là 720; e: Sai số cho phép (chọn e=5%)
Nghiên cứu này, số lượng mẫu được chọn điều tra là 257 mẫu gồm cả hộ nông dân và doanh nghiệp, trong đó hộ nông dân là chủ yếu, mỗi điểm chọn 30 hộ (có 240 hộ) và 17 doanh nghiệp và HTX do số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dược liệu còn ít, tại các điểm khảo sát, NCS điều tra toàn bộ các doanh nghiệp và HTX có trên địa bàn
+ Địa điểm điều tra: Tiến hành khảo sát vùng trồng dược liệu của tỉnh gồm: Đông Triều,
Uông Bí, Hoành Bồ, Tiên Yên, Đầm Hà, Ba Chẽ, Bình Liêu và TP Cẩm Phả
+ Nội dung phiếu điều tra (bảng hỏi) gồm hai phần: Phần I: Thông tin chung về đối tượng
điều tra; Phần II: Nội dung khảo sát về sản xuất dược liệu, phiếu được thiết kế theo các đối tượng (nhà nông, doanh nghiệp); Khảo sát về chi phí sản xuất, giá bán sản phẩm, sự hỗ trợ của doanh nghiệp, của nhà nước
3.5 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
3.5.1 Phương pháp xử lý thông tin
Đối với thông tin thứ cấp: NCS tiến hành phân loại, tổng hợp và sắp xếp các thông tin thu
thập được theo từng nhóm cụ thể, phù hợp với nội dung và thời gian nghiên cứu
Đối với thông tin sơ cấp: NCS sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp, xử lý số liệu Các
kết quả thu được là các giá trị bình quân, tỷ lệ phần trăm và các thông số thống kê cần thiết khác phục vụ cho phân tích của luận án
Phân tích HQKT của các tác nhân trong chuỗi
Phát triển chuỗi giá trị dược liệu
Đánh giá kết quả
Đề xuất Giải pháp
Trang 103.5.2 Phương pháp phân tích thông tin
- Phương pháp số tuyệt đối: - Phương pháp số tương đối;- Phương pháp số bình quân: - Phương pháp phân tích SWOT:
Bảng 3.2: Mô hình phân tích ma trận SWOT
Điểm mạnh
(S)
SO: Giải pháp công kích (tận
dụng điểm mạnh để đeo đuổi cơ hội)
ST: Giải pháp thích ứng (tận dụng điểm
mạnh để hạn chế những đe dọa có thể xảy ra)
Điểm yếu (W)
WO: Giải pháp điều chỉnh (tận
dụng cơ hội để khắc phục điểm yếu)
WT: Giải pháp phòng thủ (khắc phục điểm
yếu và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra)
3.6 Chỉ tiêu phân tích phân tích
3.6.1 Chỉ tiêu phản ánh kết quả của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị dược liệu
Giá trị sản xuất (GO) của từng tác nhân được tính bằng lượng sản phẩm nhân với đơn giá Trong nghiên cứu, NCS tính toán cho 02 sản phẩm trọng yếu là Ba kích và Trà hoa vàng
GO cũng chính là doanh thu đối với người sản xuất: GO = Qi* Pi
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm loại i; Pi là giá bán bình quân sản phẩm loại i
Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm trong chuỗi giá trị IC = Cj
Trong đó: Cj là các khoản chi phí thứ j trong một mắt xích của chuỗi
Giá trị tăng thêm (VA): Là giá trị mới tạo ra của sản phẩm khi đi qua mỗi mắt xích trong chuỗi giá trị hay chính là phần giá trị mỗi tác nhân tạo ra trong một chu kỳ của hoạt động kinh tế do họ đảm trách, nó là hiệu số giữa tổng giá trị sản xuất tạo ra của mỗi đơn vị của tác nhân trong chuỗi giá trị và chi phí vật chất bỏ ra để sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm của mỗi tác nhân trong chuỗi giá trị : VA = GO - IC
Chi phí lao động (LĐ): Là chi phí lao động mà các tác nhân phải thuê, đơn giá lao động được tính theo giá ngày công thực tế tại địa bàn nghiên cứu năm 2017 Đơn giá một ngày công lao động giản đơn bình quân là 200.000 đồng/ngày-người
Tổng chi phí TC: là toàn bộ chi phí vật chất và chi phí lao động mà người sản xuất dược liệu phải bỏ ra (IC + LĐ)
3.6.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của các tác nhân tham gia chuỗi
- Tỷ suất (GO/TC): Chỉ tiêu này nhằm đánh giá xem mỗi đồng chi phí bỏ ra tạo ra được bao nhiêu giá trị kể cả chi phí về lao động
- Tỷ suất (VA/TC): Chỉ tiêu này nhằm biết được một đồng chi phí sản xuất tạo ra được bao nhiêu GTGT
- Tỷ suất (GO/LĐ): Chỉ tiêu này cho biết giá trị một ngày công lao động tạo ra được bao nhiêu giá trị sản xuất
- Tỷ suất (VA/LĐ): Chỉ tiêu này cho biết giá trị một ngày công lao động tạo ra được bao nhiêu GTGT
- Tỷ suất (VA/IC): Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng chi phí vật chất bỏ ra thu được bao nhiêu GTGT
3.6.3 Chỉ tiêu phản ánh sự phát triển chuỗi
- Chỉ tiêu phản ánh sự phát triển chuỗi theo chiều rộng: Phát triển theo chiều rộng tức
là mở rộng chuỗi giá trị về quy mô: Trong nghiên cứu này, ngoài hai chuỗi giá trị sản phẩm trọng yếu là Ba kích và Trà hoa vàng NCS nghiên cứu phát triển chuỗi theo chiều rộng
Trang 11bằng cách xây dựng thêm một số chuỗi giá trị dược liệu mới: Quế, hồi, thìa canh, cà gai leo (xem phần giải pháp)
- Chỉ tiêu phát triển chuỗi theo chiều sâu: Phát triển chuỗi giá trị dược liệu hiện tại với việc gia tăng gia trị của sản phẩm, hoặc sản xuất ra nhiều sản phẩm trong chuỗi giá trị bằng việc đầu tư thêm về khoa học công nghệ Với quan điểm đó, NCS nghiên cứu phát triển chuỗi theo chiều sâu bằng các giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị dược liệu hiện có là Ba kích và Trà hoa vàng
Chương 4: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ CÂY TRỊ DƯỢC LIỆU
TỈNH QUẢNG NINH
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên: Địa hình, khí hậu; thủy văn, đất đai thổ nhưỡng
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Bảng 4 1 Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh (2013-2017); ĐVT: Tỷ đồng
Trang 124.2 Vị trí, vai trò ngành sản xuất dược liệu trong sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
4.2.1 Vị trí của ngành sản xuất dược liệu trong sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
4.2.2 Vai trò ngành dược liệu trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
4.3 Thực trạng phát triển sản xuất dược liệu tỉnh Quảng Ninh giai đoạn (2013-2017)
4.3.1 Tình hình trồng dược liệu tỉnh Quảng Ninh (2013-2017)
Quảng Ninh có 14 tổ chức kinh tế tham gia trồng 35 loài cây dược liệu Trong đó các doanh nghiệp trồng 14 loài, các hộ gia đình trồng 21 loài dược liệu Có nhiều loại dược liệu được trồng nhưng chủ yếu là Hồi và Quế, chiếm tới 95%, các dược liệu khác chỉ chiếm 5%, có hai loại dược liệu được tỉnh xếp là dược liệu trọng yếu là Ba kích chỉ có 160 ha và Trà hoa vàng là 9,5 ha
và chủ yếu được phân bổ tại huyện Ba Chẽ Giai đoạn 2015-2017, huyện Ba Chẽ đã hỗ trợ hơn 1,1 tỷ đồng cho 174 hộ tham gia vào các dự án trồng cây Trà hoa vàng tập trung Nhờ đó, Ba Chẽ trở thành địa phương có diện tích trồng Trà hoa vàng lớn nhất tỉnh với hơn 140ha, Trong đó, diện
tích đã cho thu hoạch hoa là 50ha, thu hoạch lá trà trên 60ha (xem Phụ lục 3 luận án)
4.3.2 Tình hình tổ chức sản xuất dược liệu tỉnh Quảng Ninh (2013-2017)
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay tổ chức sản xuất dược liệu theo 2 hình thức: (i) Sản xuất sơ cấp: Có 14 tổ chức kinh tế tham gia hoạt động sản xuất sơ cấp, trồng 35 loài cây dược liệu Trong đó các doanh nghiệp trồng 14 loài, các hộ gia đình trồng 21 loài dược liệu (ii) Sản xuất thứ cấp: Có 18 tổ chức kinh tế tham gia hoạt động sản xuất thứ cấp tạo ra các nhóm sản phẩm như: Dược liệu đóng gói, dạng cao thuốc, dạng tinh dầu, dạng trà túi lọc và dạng viên
4.3.3 Tình hình chế biến và phân phối tiếp thị sản phẩm dược liệu tỉnh Quảng Ninh (2013-2017)
4.3.3.1 Tình hình chế biến dược liệu: Dược liệu trồng và thu hái tự nhiên phần lớn
được sơ chế tại chỗ bằng các thiết bị thủ công, mức gia tăng giá trị thấp, sản phẩm không có tiêu chuẩn chất lượng cụ thể Một số ít cơ sở áp dụng máy móc, thiết bị trong sơ chế, chế biến dược liệu, tạo ra các sản phẩm từ dược liệu có mức gia tăng giá trị cao như: Trà hoa vàng (túi lọc), cao Ba kích, trà Chùm ngây, trà Nụ vối (trà thô, trà túi lọc)…Chương trình (OCOP) đã thành lập hoặc hỗ trợ nhiều tổ chức kinh tế ứng dụng công nghệ để sản xuất một
số sản phẩm từ thảo dược và tham gia chuỗi giá trị sản xuất dược liệu trên địa bàn tỉnh, như: (1) Công ty TNHH Nuôi trồng, sản xuất và chế biến dược liệu Đông Bắc chế biến ra: Trà túi lọc Giảo cổ lam, Trà túi lọc Diệp hạ châu, Cao mềm Giảo cổ lam, viên giải độc gan Đông Bắc, Viên tiểu đường Đông Bắc, (2) HTX Dược liệu xanh Đông Triều: Cao Ba kích, Cao Trà hoa vàng, (3) Công ty Nam Dược Y Võ: Cao Thiên Đông, Cao lạc tiên, dầu xoa bóp Long thiên huyết,…(4) Hợp tác xã Thảo dược Yên Tử: Dầu xoa bóp Trầu tiên Yên Tử, (5) Công ty cổ phần DTFopro: Trà túi lọc Trà hoa vàng, hoa Trà hoa vàng; (6) Công ty cổ phần
kinh doanh lâm sản Đạp Thanh: Trà hoa vàng xấy khô, Lá trà hoa vàng dạng túi lọc (xem
Phụ lục 4 luận án)
4.3.3.2 Tình hình phân phối, tiếp thị sản phẩm dược liệu: Hoạt động phân phối, tiếp
thị dược liệu và sản phẩm dược liệu tại các địa phương còn hạn chế Dược liệu thô chủ yếu
Trang 13được bán “cắt lô” cho các đầu mối thu gom địa phương (hoặc nơi khác đến) thường với giá trị thấp Các sản phẩm từ dược liệu chủ yếu được bán tại chỗ (cơ sở sản xuất), khách hàng đến mua tận nơi hoặc gọi điện đặt hàng Trên địa bàn tỉnh có một số Công ty phân phối dược liệu và sản phẩm từ dược liệu nhưng phần lớn nhập sản phẩm từ nơi khác về phân phối, tiếp thị tại Quảng Ninh Nhiều sản phẩm từ dược liệu của các địa phương dần được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh dần biết đến: Viên giải độc gan, trà Giảo cổ lam, trà Chùm ngây, Trà hoa vàng
4.4 Phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh
4.4.1 Bản đồ chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh: Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại
Quảng Ninh, NCS tập trung phân tích Chuỗi giá trị dược liệu là Trà hoa vàng và Ba kích, gồm: (1) Hoạt động trồng và thu hái, (2) Hoạt động thu gom nguyên liệu; (3) Hoạt động chế biến; (4) Hoạt động phân phối sản phẩm, được mô tả như sau:
Thu gom Vận chuyển Phân loại
Làm sạch Sấy khô Nấu cao, ngâm rượu (Ba kích) Đóng gói Tem mác,Bao bì
Bán buôn Bán lẻ
Người thu gom nhỏ, người thu gom lớn (Đại lý)
Nhà sơ chế, chế biến: Cơ
sở CB nhỏ,
Hộ gia đình,
DN
Người bán buôn Người bán lẻ
Hình 4.2 Bản đồ Chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: Tác giả nghiên cứu tổng hợp)
4.4.2 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị dược liệu điển hình tỉnh Quảng Ninh
4.4.2.1 Phân tích kinh tế chuỗi sản phẩm Ba kích tại tỉnh Quảng Ninh
a Hiệu quả kinh tế của Người sản xuất:
Tổng giá trị sản xuất (hay tổng doanh thu) thu được trên 1 ha sau 05 năm là 1.512.000.000 đồng Như vậy, tính bình quân 01 năm người trồng ba kích thu được là 302.400.000 đồng/ha, cao hơn so với trồng những cây trồng khác (theo phỏng vấn một số hộ tại huyện Ba Chẽ) Để làm rõ hơn hiệu quả của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị Ba kích, tính toán cụ thể các chỉ tiêu ở bảng 4.2
Đầu vào Sản xuất Thu gom Chế biến Tiếp thị Tiêu dùng
Trong nước
Xuất khẩu tiểu ngạch
Chính quyền địa phương, Sở ban ngành liên quan, Ngân hàng
Các tổ chức khoa học