Đây cũng là giải pháp mềm đang được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện khi nó đạt được hai tiêu chí lớn nhất là thoát nước an toàn và giữ ổn định cho môi trường sinh thái,...Do đó,nh
Trang 1MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khoảng 10 năm trở lại đây, tình trạng ngập úng tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) diễn biến ngày một phức tạp Để đối phó với tình trạng này, thành phố đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để thực hiện các dự án chống ngập do mưa và triều cường Thực tế, việc đầu tư này cũng đã đạt được một số kết quả nhất định, trong đó nhiều khu vực ngập nặng đã hết ngập hoặc giảm ngập như khu vực đường Cô Bắc - Cô Giang (Quận 1), khu vực trước Nhà hát Hòa Bình (Quận 10), khu vực bùng binh Cây Gõ (Quận 6),…Theo thống kê, toàn thành phố hiện có khoảng 20% số điểm ngập ở khu vực nội thành được xóa nhờ các dự án chống ngập cho lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tàu Hủ
- Bến Nghé, Tân Hóa - Lò Gốm cùng một số dự án chống ngập nhỏ, lẻ khác Tuy nhiên, hạn chế của chính những công trình chống ngập đó chính là khi điểm ngập này được giải quyết thì lại phát sinh điểm ngập khác, nhất là ở khu vực ngoại thành.Một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến hệ lụy trên là tình trạng lấn chiếm nghiêm trọng sông, kênh, rạch - nơi dự trữ nước gần như duy nhất khi trời mưa
Theo Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước Tp HCM, hơn 10 năm qua, chính quyền thành phố đã hoàn thành hơn 170 công trình phục vụ chống ngập, chủ yếu tập trung vào các dự án vệ sinh môi trường, dự án cải thiện môi trường nước
và dự án nâng cấp đô thị Hiện nay tại thành phố vẫn đang triển khai khoảng 100 công trình chống ngập trong giai đoạn từ 2011-2015, với diện tích khoảng 100 km² thuộc 11 quận, huyện Giải pháp nhiều, nhưng ngập lụt vẫn đang là vấn đề nóng bỏng của thành phố Hiện tại, dự án chống ngập lụt vẫn chưa thực hiện đồng bộ nên hiệu quả chưa cao, các cơ quan chức năng vẫn loay hoay với "bài toán" chống ngập và vẫn chưa có đáp án cuối cùng
Chính vì vậy việc kết hợp mô hình tính toán ngập lụt do mưa và kỹ thuật sinh thái được sử dụng nhằm mục đích đánh giá các tác động của ngập lụt do mưa tại Tp HCM,
Trang 2đồng thời kiểm soát, giảm ngập úng và xanh hóa đô thị phục vụ cho việc phát triển bền vững Tp HCM và góp phần giúp cho thành phố thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong điều kiện hiện nay Đây cũng là giải pháp mềm đang được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện khi nó đạt được hai tiêu chí lớn nhất là thoát nước an toàn và giữ ổn định cho môi trường sinh thái, Do đó,nhóm tác giả chọn đề tài
“Nghiên cứu dòng chảy đô thị do các cơn mƣa lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh”
làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của mình
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Hiện trạng ngập úng tại lưu vực Tham Lương – Bến Cát, quận 12
Kết hợp kết quả từ mô hình tính toán Mike Flood để đánh giá tác động ngập úng
và khả năng ứng dụng kỹ thuật sinh thái
Đề xuất giải pháp để giảm thiểu tác động của ngập úng cho lưu vực quận 12
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
– Xây dựng đề cương nghiên cứu và tổng quan tài liệu
– Thu thập kết quả tính toán ngập úng dựa trên mô hình Mike Flood
– Đánh giá tác động của ngập úng dựa trên kết quả mô phỏng
– Đánh giá khả năng ứng dụng kỹ thuật sinh thái để giảm nhẹ tác động của ngập úng
IV ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
– Nghiên cứu ngập úng do mưa và tình hình ngập úng tại lưu vực TL-BC, quận 12
– Các kỹ thuật sinh thái ứng dụng trong đô thị
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu tính toán ngập lụt do mưa
tại một lưu vực cụ thể tại Tp HCM, lựa chọn địa điểm bố trí các kỹ thuật sinh thái
Trang 3nhằm giảm nhẹ tác động của ngập lụt do mưa Địa điểm cụ thể là Lưu vực Tham
Lương – Bến Cát, Quận 12
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
– Phương pháp kế thừa và thu thập tài liệu;
– Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa;
– Phương pháp thống kê;
– Ứng dụng kết quả mô hình Mike Flood để đánh giá hiện trạng ngập úng tại lưu vực quận 12
VI ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
6.1 Tính khoa học: Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học đáng tin cậy trong việc tìm giải pháp giải quyết vấn đề ngập úng do mưa tại Tp HCM
6.2 Tính thực tiễn: Ứng dụng kỹ thuật sinh thái nghiên cứu tận dụng địa hình tự
nhiên của khu vực trong việc tiêu thoát nước, giảm chi phí đầu tư các giải pháp công trình nhằm mục đích giảm nhẹ tác động của ngập úng, tạo cảnh quan sinh thái đô thị
phù hợp với điều kiện thực tế
6.3 Tính mới: Là sự kết hợp giữa kỹ thuật tính toán mô hình và kỹ thuật sinh thái
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Kênh TL-BC đi qua quận 12 của Tp HCM, nằm ở phía Tây Bắc và được bao quanh một phần Quốc lộ 1A, đồng thời còn là cửa ngõ giao thông khá quan trọng của thành phố nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ
– Phía Đông giáp thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương và Quận Thủ Đức, Tp HCM – Phía Tây giáp huyện Hóc Môn và Quận Bình Tân, thuộc Tp HCM
– Phía Nam giáp Quận Bình Thạnh, Quận Gò Vấp, Quận Tân Bình, Quận Tân Phú
và Quận Bình Tân, thuộc Tp HCM
– Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn, thuộc Tp HCM
Hình 1.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu [3]
Quận 12 có hệ thống đường bộ với Quốc lộ 22 (QL) (nay là đường Trường Chinh), xa lộ vành đai ngoài (nay là QL1A), các Tỉnh lộ 9, 12, 14, 15, 16, hệ thống các hương lộ này khá dày Quận 12 có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế –
Trang 5xã hội Đường Trường Chinh, đại lộ nối từ quận Tân Bình, xuyên qua quận 12 đến tận cửa ngõ Tây Bắc của Tp HCM đã được mở rộng đến 10 làn xe Rất nhiều trung tâm mua sắm sầm uất, các khu cao ốc, căn hộ cao cấp cũng nhanh chóng hình thành dọc theo đại lộ này làm cho các khu dân cư của quận 12 nhanh chóng hình thành và rộng
mở Nhiều trường đại học mở thêm cơ sở đào tạo, nhiều công ty mở thêm chi nhánh, kho bãi, trạm trung chuyển, tại khu vực này làm cho bộ mặt của quận 12 nhanh chóng thay đổi sau 15 năm thành lập
Quận 12 còn có sông Sài Gòn bao bọc phía đông, là đường giao thông thủy quan trọng Trong tương lai, nơi đây sẽ có đường sắt chạy qua Với những thuận lợi đó, quận
12 có lợi thế để bố trí các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại – dịch vụ - du lịch
để đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Đặc điểm khí tƣợng thủy văn
1.1.2.1 Lƣợng mƣa
Lƣợng mƣa từ tháng 12 tới tháng 3 năm sau
Nhìn chung lượng mưa trong thời kỳ này trên toàn khu vực đều khá thấp Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất trong thời kỳ này cũng chỉ đạt khoảng 40 mm Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất có khi chỉ một vài mm, và diễn ra ở nhiều nơi nhất là vào tháng 1 và tháng 2, đây là những tháng có lượng mưa nhỏ nhất trong năm Nhìn chung, qui luật phân bố lượng mưa không rõ nét, sự khác biệt theo không gian tương đối nhỏ Trong năm, chỉ có tháng 12 có thể xảy ra các trận mưa có lượng lớn, nhưng chúng đều có cường độ thấp, không có khả năng gây ngập Số ngày có lượng mưa trên
40 mm khá ít, giá trị cao nhất rơi vào tháng 12 cũng chỉ đạt 0.1 đến 0.2 lần một năm [3]
Lƣợng mƣa từ tháng 4 đến tháng 11
Đây là hai tháng chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa Vào cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 11 đều có thể cho những trận mưa lớn gây ngập, tuy nhiên khả năng xảy ra là rất nhỏ Số ngày trung bình có lượng mưa lớn hơn 40 mm trong
Trang 6tháng 4 của các trạm chỉ đạt từ 0.1 đến 0.4 lần Trong tháng 11 số ngày này lớn hơn khoảng 0.2 đến 1.1 lần Trong cả hai tháng này đều có một tâm mưa ở phần đông bắc khu vực Xu thế phân bố mưa tăng theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, nhưng rõ nét nhất là vào tháng 4, khác với tháng 11 trong tháng này có sự chênh lệch khá lớn giữa các khu vực [3]
Hình 1.2 Lượng mưa trung bình tháng tại một số trạm khu vực Tp HCM [3]
1.1.2.2 Nhiệt độ
Ngoài ảnh hưởng của biển đến phân bố nhiệt độ trung bình năm Ở Tp HCM, ảnh hưởng của mặt đệm đô thị cũng rất rõ nét Trên bản đồ phân bố nhiệt độ trung bình năm cho thấy một vùng nóng nằm ở trung tâm đô thị, với nhiệt độ cao nhất là 27.50C, cao hơn khu vực xung quanh khoảng 0.30
C Mức chênh này là của giá trị nhiệt độ trung bình năm, do đó vào những ngày nắng nóng nhiệt độ ở trung tâm thành phố sẽ cao hơn ngoại vi so với giá trị này nhiều lần Như vậy, với khả năng hấp thụ nhiệt cao của các vật liệu xây dựng, đường phố nhỏ hẹp cộng với việc thiếu diện tích cây xanh đã làm xuất hiện hiệu ứng đảo nhiệt trên khu vực đô thị Tp HCM Nhiệt độ trung bình tháng khu vực này còn phụ thuộc vào từng mùa, các tháng mùa khô có nhiệt độ khá cao và các tháng còn lại có nhiệt độ thấp hơn Nhiệt độ cao nhất xảy ra vào tháng cuối mùa
Trang 7khô vào tháng 4 và đây là một trong những tháng có độ cao mặt trời cao nhất, do nằm cuối mùa khô nên độ ẩm tiềm năng trong đất cũng thấp nhất Đây là một trong số các nguyên nhân chính tạo nền nhiệt độ cao trong tháng 4 với nhiệt độ trung bình trạm Tân Sơn Hòa là 29.50C
Nhiệt độ trung bình tháng 12 là 26.20C và là tháng có nhiệt độ thấp nhất Thời điểm này Tp HCM chịu ảnh hưởng của lưỡi không khí lạnh cực đới, hơn nữa lượng
ẩm tiềm năng trong đất thời điểm này còn khá cao và là tháng có độ cao mặt trời thấp nhất Biên độ nhiệt độ trung bình ngày dao động từ 7.30C đến 9.80
C, các tháng mùa khô là thời gian có biên độ nhiệt độ ngày cao nhất, các tháng mùa mưa có sự ổn định nhiệt độ trong ngày cao hơn So với các tỉnh phía Bắc nước ta thì biên độ nhiệt độ ngày của Tp HCM là khá thấp
Hình 1.3 Phân bố nhiệt độ trung bình năm (oC) khu vực Tp HCM [3] Quan sát Hình 1.4 về biến trình nhiệt độ trung bình giờ trong các tháng cho thấy, nhiệt độ cao nhất thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ 13h đến 14h, nhiệt độ thấp nhất xuất hiện trong khoảng thời gian từ 5h đến 5h30’ Biến trình này hoàn toàn
Trang 8phụ thuộc vào độ cao mặt trời theo ngày Trong khoảng thời gian từ 12h đến 15h của tháng 3, 4 và 5 nhiệt độ trung bình giờ thường đạt ở mức khá cao, trên 320C Nhiệt độ thấp nhất từ 4-6h trong tháng 1 và tháng 12, trung bình duới 230C [3]
Hình 1.4 Nhiệt độ trung bình bề mặt trạm Tân Sơn Hòa (0C) [3]
1.1.2.3 Bốc hơi
Bốc hơi tại khu vực Tp HCM tập trung chủ yếu vào các tháng mùa khô như tháng
2, tháng 3 và tháng 4 có lượng bốc hơi cao trong năm Theo thống kê số liệu quá khứ trong nhiều năm, lượng bốc hơi ngày cao nhất từ năm 1978 – 2014 lên đến hơn 10mm/ngày Lượng bốc hơi trung bình ngày từ năm 1983 đến 2014 hầu như ít biến động lớn Lượng bốc hơi trung bình lớn nhất năm 2013 là 5.5mm xuất hiện vào tháng
2, trong năm 2014 thì bốc hơi trung bình lớn nhất lại xuất hiện vào tháng 3 với độ lớn 5.2 mm [9]
1.1.2.4 Mực nước
Chế độ mực nước trên hệ thống sông rạch chịu ảnh hưởng của thủy triều, lưu lượng từ thượng nguồn, nước dâng do gió và sự dâng lên của mực nước biển do trái đất nóng lên Thủy triều khu vực Tp HCM thuộc loại bán nhật triều không đều Độ lớn của mực nước thủy triều phụ thuộc vào vị trí tương đối giữa mặt trăng, mặt trời và trái đất Mực nước triều sẽ lớn nhất vào các tháng 10 và 11, tháng 6-7 là thời gian có mực
Trang 9nước triều thấp nhất [9]
Vào các tháng cuối mùa mưa, mực nước trong hồ thường đạt mực nước thiết kế
Do hoạt động bất thường của xoáy thuận nhiệt đới vào thời gian này trong những năm gần đây trên khu vực phía Nam, các hồ chứa thường tiến hành xả lũ Do các tháng cuối mùa mưa cũng là thời gian mực nước triều cao nhất, kết hợp với việc xả lũ đã làm cho mực nước tăng cao trong những năm gần đây
Sự khác biệt về thời gian xuất hiện các giá trị cực trị của mực nước giữa các trạm
có nguyên nhân từ lưu lượng thượng nguồn và sự khác biệt về mực nước dâng do gió Trong những năm gần đây, mực nước cực trị có xu thế dâng cao hơn, điều này có thể là
do quá trình đô thị hóa cũng như tác động của BĐKH và nước biến dâng (NBD)
1.2 TÌNH HÌNH NGẬP ÚNG TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Hiện trạng
Kết quả khảo sát điểm ngập trên các tuyến đường quận 12, năm 2014 cho thấy các điểm ngập trên địa bàn quận 12 đều ở mức độ vừa Các kết quả cho thấy diện tích ngập lớn nhất đạt 4800 m2 với độ sâu ngập là 0.3 m xảy ra vào 19/10/2014, mặc dù vào thời điểm này lượng mưa là không cao (12.9 mm) nhưng do tiết diện cống trên đoạn đường Phan Văn Hớn từ số nhà 272 đến số nhà 324 bị quá tải, không đảm bảo được việc tiêu thoát nước dẫn đến thời gian rút nước diễn ra khá chậm (60 phút) [7]
Kết quả khảo sát năm 2014 cho thấy đường Nguyễn Văn Quá là đường có nguy
cơ bị ngập nhiều nhất, nguyên nhân ngập là do đường trũng cục bộ, cống thoát nước có tiết diện nhỏ và bị võng Trong khi đó, với lượng mưa lớn như nhau (103.6 mm) trên 3 tuyến đường, thời gian mưa là 90 phút thì đoạn đường Quốc Lộ 1A là có diện tích ngập lớn nhất (3000 m2) với độ sâu ngập là 0.2 m [7]
Trang 10Bảng 1.1 Tình hình ngập úng quận 12 năm 2014 [7]
Ngày Tên đường Phạm vi ngập gian mưa Thời
(phút)
Bắt đầu thúc Kết Vũ lượng Cường độ mưa ngập (m) Độ sâu ngập (m2) Diện tích Thời gian rút (phút)
24/5/2014 Nguyễn Văn Quá Trường Chinh Tỉnh lộ 15 45 17h10 17h55 34.30 45.73
24/5/2014 Quốc lộ 1A Nguyễn Văn Quá Lê Thị Riêng 40 17h20 18h00 34.30 51.45
6/9/2014 Quốc lộ 1A Nguyễn Văn Quá Lê Thị Riêng 90 16h20 18h10 103.6 69.07
Trang 111.2.2 Những nguyên nhân gây ngập
Nguyên nhân gây ngập úng tại quận 12 được chia làm 02 nhóm là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
1.2.2.1 Nguyên nhân khách quan
– Ngập úng do mưa: Khi mưa với cường độ khoảng trên 40mm, thời gian mưa ngắn thường sinh ra ngập úng Nếu mưa với cường độ lớn hơn, thời gian mưa tập trung dài hơn thì mức độ ngập úng càng nguy hiểm Ngập úng do mưa cũng có thể liên quan đến
hệ thống tiêu thoát nước, đặc biệt là hệ thống kênh cống tiêu
Hình 1.5 Tần suất xuất hiện mưa trên 100mm [8]
– Ngập úng do triều: Do ảnh hưởng của triều biển Đông trong những lúc triều lên hoặc triều cường, mực nước trong sông kênh lên cao gây khó khăn cho việc tiêu thoát đối với những vùng đất thấp, gây ngập Mực nước triều lớn nhất ở khu vực quận 12 dao động trong khoảng 1,49m trong những đợt triều cường [8]
Tần suất xuất hiện mưa trên 100mm
Trang 12Hình 1.6 Đỉnh triều và tần suất xuất hiện qua các thời kì [8]
– Ngập úng do lũ: Ngoài lũ trực tiếp từ thượng lưu các sông Đồng Nai, Sài Gòn ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực thì lũ từ lưu vực sông Mê Công thông qua hệ thống kênh rạch nối liền với các sông Vàm Cỏ với vùng làm mực nước sông, kênh tăng cao, thậm chí tràn vào đồng ruộng gây ra ngập úng [8]
Hình 1.7 Bản đồ các yếu tố mưa, triều, lũ [8]
1.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Ngoài những nguyên nhân khách quan đã nêu trên, hiện tượng ngập úng tại khu vực quận 12 còn có nguyên nhân chủ quan do tác động của con người
Trang 13– Nguyên nhân ngập úng do hệ thống tiêu (cống tiêu, kênh tiêu,…): Hệ thống tiêu thoát nước cũ kỹ, hư hỏng, không hoặc chưa được bảo dưỡng, nạo vét thường xuyên hoặc chưa hoàn chỉnh,…nên khi có mưa đã gây nên ngập úng tại nhiều nơi trong khu vực
– Nguyên nhân ngập úng do đô thị hóa: Quá trình đô thị hóa đã làm giảm sự điều tiết tự nhiên của bề mặt lưu vực Phần lớn đất đai được bê tông hóa, nhựa hóa, xây dựng nhà ống, công xưởng, đường xá Do vậy, khi mưa xuống, hầu như toàn bộ mưa đều tập trung thành dòng chảy không thể thấm xuống đất để giảm bớt lượng dòng chảy tập trung
– Thêm vào đó, nguyên nhân ngập úng còn do ý thức người dân chưa cao Người dân thường có hành vi như xả rác ra đường dẫn đến đường ống thoát nước bị tắc ngẹt làm giảm khả năng tiêu thoát nước đô thị
– Quận 12 cũng đang trong quá trình phát triển và đang là “đại công trường xây dựng” với rất nhiều xe cộ thực hiện vận chuyển các vật liệu xây dựng như cát sỏi gây vương vãi, khi mưa đến tập trung vào các hố ga, miệng cống làm giảm tiết diện tải nước cũng như làm tăng độ nhám của hệ thống cản trời di chuyển của dòng chảy làm tình trạng ngập úng trầm trọng hơn Mặt khác, nhiều kênh rạch bị san lấp cũng làm mất thể tích trữ nước
– Công tác quản lý đô thị cũng là một nguyên nhân gây nên tình trạng ngập úng ở quận 12
1.2.3 Hệ thống tiêu thoát nước tại quận 12
Trên địa bàn quận 12, theo thống kê hiện hệ thống cống thoát nước với độ dài 70.553 m được xây dựng trên các đường Hà Huy Giáp, Nguyễn Ảnh Thủ, Nguyễn Văn Quá, Phan Văn Hớn, Lê Văn Khương, Quốc Lộ 1A, Quốc Lộ 22, Tân Thới Nhất 01, Tỉnh lộ 15, Tô Ký, Tô Ngọc Vân, Trung Mỹ Tây 13, Trung Mỹ Tây 2A, Trường Chinh, Vườn Lài [5]
Trang 14Bảng 1.2 Hệ thống tiêu thoát nước quận 12 [5]
thống cống thoát nước (m)
Ghi chú
1 Hà Huy Giáp Cầu An Lộc Cầu Rạch Quản 10.174 Không có
2 Nguyễn Ảnh Thủ Quốc Lộ 22 Kênh Trần Quang 7.959 Không có
Tân Hiệp Chánh 21 Lê Văn Khương 2.260 Có 296 hầm ga, 165 máng
3 Nguyễn Văn Quá Trường Chinh Quốc lộ 1A 5.137 Có 160 hầm ga, 132 máng
4 Phan Văn Hớn Trường Chinh Quốc lộ 1A 4.137 Không có
5 Lê Văn Khương Quốc lộ 1A (ngã tư Tân Thới Hiệp) Thới An 05 4.263 Không có
6 Quốc lộ 1A Cầu Đại Hàn Cầu Bình Phước 15.665 Có 248 hầm ga, 21 máng
7 Quốc lộ 22 Ngã tư An Sương Nguyễn Ảnh Thủ 3.182 Có 90 hầm ga, 3 máng
8 Tân Thới Nhất 01 Quốc lộ 1A Phan Văn Hớn 1.667 Có 99 hầm ga, 83 máng
9 Tỉnh lộ 15 Quốc lộ 1A Kênh Tham Lương 1.852 Có 54 hầm ga, 42 máng
10 Tô Ký Cầu Quang Trung Nguyễn Ảnh Thủ 5.060 Không có
11 Tô Ngọc Vân Quốc lộ 1A Cầu Bến Phân 689 Có 52 hầm ga, 42 máng
12 Trung Mỹ Tây 13 Tuyến nước sạch Sông Sài Gòn Tô Ký 918 Có 46 hầm ga
13 Trung Mỹ Tây 2a Quốc lộ 22 Công chính trường Quân sự 718 Có 41 hầm ga, 20 máng
14 Trường Chinh Quốc lộ 1A (ngã tư An Sương) Kênh Tham Lương 6.237 Có 156 hầm ga, 126 máng
15 Vườn Lài Quốc lộ 1A Rạch Sáu Sửa 177 Có 10 hầm ga
Trang 151.3 KỸ THUẬT SINH THÁI
1.3.1 Tổng quan về kỹ thuật sinh thái
Kỹ thuật sinh thái là một nghiên cứu tích hợp hệ sinh thái và kỹ thuật, liên quan đến việc giám sát thiết kế và xây dựng các hệ sinh thái Trong thực tế, nhiều lĩnh vực: nông nghiệp, du lịch, công nghiệp, đô thị,…đã ứng dụng các KTST với phạm vi như sau:
– Thiết kế hệ thống sinh thái như là một thay thế giảm sự can thiệp của con người
và tiêu tốn năng lượng ví dụ như áp dụng đất ngập nước kiến tạo cho hệ thống xử lý nước thải
– Phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái và giảm sự tác động của con người
– Quản lý, sử dụng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
– Sự tích hợp xã hội và hệ sinh thái trong việc xây dựng một môi trường sinh thái,
ví dụ như trong cảnh quan kiến trúc, quy hoạch đô thị và làm vườn đô thị [2]
1.3.2 Kỹ thuật sinh thái đô thị
Nguyên tắc của đô thị sinh thái là xâm phạm ít nhất đến môi trường tự nhiên, đa dạng hóa việc sử dụng đất, chức năng đô thị và các hoạt động khác của con người Trong điều kiện có thể, cố gắng giữ cho hệ thống đô thị được khép kín và tự cân bằng, giữ cho sự phát triển dân số đô thị và tiềm năng của môi trường được cân bằng một cách tối ưu [2]
Quá trình đô thị hóa thành phố đã làm giảm sự điều tiết tự nhiên của bề mặt lưu vực Đối với nội thành, phần lớn đất đai được bê tông hoá, nhựa hoá xây dựng nhà, công xưởng, đường sá Do vậy, khi mưa xuống, hầu như toàn bộ mưa đều tập trung thành dòng chảy (đường trở thành sông cũng chính vì vậy), không thể thấm xuống đất
để giảm bớt lượng dòng chảy tập trung, quá trình lưu giữ tự nhiên dòng chảy bằng các thảm thực vật và đất bị mất đi, và thay vào đó là những bề mặt phủ không thấm nước như mái nhà, bê tông, đường nhựa, làm tăng lưu lượng dòng chảy bề mặt (Hình 1.8.a)
Trang 16Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate
Change- IPCC) cũng nhấn mạnh những tác động lớn tới cấp nước do các hiện tượng thời tiết cực đoan như là kết quả của biến đổi khí hậu Các công trình khai thác và xử lý nước thường được xây dựng bên cạnh các dòng sông và đây là hệ thống cơ sở hạ tầng đầu tiên chịu tác động của lũ úng Hệ thống điện và máy bơm rõ ràng sẽ bị tác động
Lũ úng ven sông với vận tốc dòng chảy cao cũng làm ảnh hưởng đến hệ thống đường ống [19]
Những dòng chảy này thường bị ô nhiễm do rác, bùn đất và các chất bẩn khác rửa trôi từ mặt đường dẫn đến bít đường ống tiêu thoát nước làm cho tình trạng tiêu thoát nước khó khăn Lượng nước và cường độ dòng chảy tăng tạo nên sự xói mòn và lắng bùn cặn gây nên nhiều kênh rạch bị san lấp làm mất thể tích trữ nước Tất cả những yếu tố này gây những tác động xấu đến môi trường, úng ngập, ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái dưới nước Như IPCC đã nhấn mạnh, vấn đề vệ sinh môi trường chính ở đây là hệ thống cơ sở hạ tầng với vai trò quyết định mức độ ô nhiễm của nước lũ/úng đem theo phân, một mối nguy hại đáng kể do các dịch bệnh kèm theo [10] Các hệ thống thoát nước truyền thống thường được thiết kế để vận chuyển nước mưa ra khỏi nơi phát sinh càng nhanh càng tốt Chi phí cho xây dựng và vận hành, bảo dưỡng các đường cống thoát nước thường rất lớn, trong khi công suất của chúng lại chỉ
có giới hạn và không dễ nâng cấp Cách làm này dẫn đến nguy cơ ngập úng, xói mòn đất và ô nhiễm ở vùng hạ lưu tăng Việc dẫn dòng chảy bề mặt đi xa và thải còn làm mất khả năng bổ cấp tại chỗ cho các tầng nước ngầm quý giá
Hướng giải quyết đối với bài toán tiêu thoát nước thành phố Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại về mặt kỹ thuật đơn thuần mà là bài toán 3E gồm: kết hợp bài toán kỹ thuật (Engineering), bài toán môi trường (Environment), và bài toán kinh tế (Economic) Cách tiếp cận cho hướng giải quyết trên là hướng tới việc duy trì những đặc thù tự nhiên của dòng chảy về dung lượng, cường độ và chất lượng; kiểm soát tối
đa dòng chảy từ nguồn, giảm thiểu tối đa những khu vực tiêu thoát nước trực tiếp, lưu
Trang 17giữ nước tại chỗ và cho thấm xuống đất, đồng thời kiểm soát ô nhiễm Đây chính là cơ
sở tiếp cận của SUDS (Sustainable Drainage System) trong nghiên cứu giảm nhẹ tác động của ngập úng do mưa gây ra [15]
Cách tiếp cận của thoát nước mưa bền vững SUDS là chậm trên diện rộng, để tránh lượng nước mưa tập trung lớn trên bề mặt trong thời gian ngắn Tiết diện cống sẽ khó có thể đáp ứng nếu lượng mưa lớn, tốn kém mà nước vẫn tràn cống, gây ngập đường, úng nhà Vì vậy, phải tổ chức thoát nước mưa, kết hợp các biện pháp gia tăng
bề mặt thấm và chứa nước một cách đồng bộ, sao cho dòng chảy được tập trung chậm
Sử dụng các hồ điều hòa trên diện tích thu gom và truyền dẫn nước mưa để lưu giữ nước là một cách làm phổ biến (Hình 1.8.b) Bên cạnh đó, gia tăng diện tích bề mặt thấm của thành phố, để tăng cường cho nước mưa thấm tự nhiên xuống đất qua các thảm cỏ xanh, đồng thời cải tạo cảnh quan và điều hòa tiểu khí hậu (Hình 1.8.c)
Trong trường hợp khả năng kiểm soát dòng chảy tại chỗ bị hạn chế, thì có thể phân tán dòng chảy theo các lưu vực nhỏ, dẫn nước đi bằng những giải pháp như sử dụng kênh mương hở và nông, lưu giữ nước mưa trong những hồ chứa và cho thấm xuống đất ở những khu vực thích hợp Để ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, có thể áp dụng những giải pháp xử lý tại chỗ trong bãi đất thấm, hồ lắng, bãi lọc trồng cây
Hình 1.8 Nguyên tắc thoát nước bề mặt bền vững [17]
Trang 18(a) Dòng chảy tập trung do bề mặt phủ đô thị bị thay đổi;
(b) Trở về dòng chảy tự nhiên ban đầu nhờ các giải pháp làm chậm dòng chảy bề măt;
(c) Giảm lưu lượng nước cần thoát nhờ các giải pháp làm chậm dòng chảy và thấm
Các khu vực đô thị luôn hiện diện một số rủi ro lũ úng khi mưa lớn xảy ra Nhà cửa, đường phố, cơ sở hạ tầng và những khu vực bê tông hóa khác ngăn chặn nước mưa thấm xuống mặt đất và do vậy tạo ra nước chảy tràn nhiều hơn Mưa lớn và kéo dài lâu ngày tạo ra một lượng rất lớn nước chảy tràn bề mặt, và có thể dễ dàng làm ngập hệ thống thoát nước Ở các đô thị được quản lý tốt, vấn đề này hiếm khi xảy ra vì
cơ sở hạ tầng thoát nước được xây dựng tốt với các phương pháp bổ sung để bảo vệ chống lại lũ úng – ví dụ việc sử dụng các công viên và không gian mở để thích ứng với
lũ úng bất thường Kỹ thuật sinh thái đã được các nước phát triển trên thế giới áp dụng rộng rãi và được phát triển thành các khái niệm BMPs (Best Managament Practices), SUDS (Sustainable Urban Drainage System), BIOECODS (Hệ thống thoát nước sinh thái), … Những kỹ thuật trên được ứng dụng trong việc quy hoạch xây dựng đô thị bền vững; quản lý tích hợp lưu vực sông; xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm phân tán do nước mưa chảy tràn qua các vùng đô thị, nông nghiệp Hiện nay, kỹ thuật sinh thái được áp dụng để cải tạo lại các khu vực quy hoạch thiếu bền vững trước đây
Ở Châu Á, một số quốc gia như Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Hong Kong, Campuchia cũng đã áp dụng các giải pháp này trong việc kiểm soát nguồn nước mưa giúp hạn chế quá trình ngập úng cục bộ, tái sử dụng nước mưa [17]
Hệ thống thoát nước bền vững (SUDS) được ứng dụng rộng rãi ở Mỹ, Anh, Thụy
Sỹ, Hà Lan, Đức,… từ những thập niên 70, 80 Tại Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất (Rio de Janeiro năm 1992), khái niệm SUDS đã nhận được sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế như là một phần của chiến lược phát triển bền vững Trong những năm gần đây, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan và Singapore đã bắt đầu nghiên cứu và ứng
Trang 19dụng SUDS Các giải pháp SUDS tập trung vào việc giảm thiểu dòng chảy tràn bề mặt,
do đó làm giảm đỉnh lũ gây ra các trận ngập úng do mưa bằng nhiều giải pháp kỹ thuật mềm - kỹ thuật sinh thái Đây là một giải pháp kỹ thuật, bao gồm một hệ thống tích hợp các công cụ: bể chứa nước mưa từ mái nhà, bề mặt/vỉa hè thấm, ao khô, ao lưu giữ, mương thấm lọc thực vật, mương thực vật, chắn lọc sinh học, đất ngập nước, … nhằm làm gia tăng khả năng lưu trữ và khả năng làm sạch của hệ sinh thái tự nhiên trong việc giảm thiểu ngập úng, cải thiện chất lượng môi trường, bổ cấp nước ngầm và làm hài hòa cảnh quan đô thị
Mục tiêu của SUDS: SUDS đồng thời thực hiện 4 mục tiêu chủ yếu đó là:
– Phòng chống ngập úng, lún sụt cơ sở hạ tầng;
– Bổ cập nguồn nước ngầm;
– Giảm thiểu ô nhiễm môi trường;
– Xanh hóa đô thị
1.3.3 Các kỹ thuật sinh thái trong SUDS
1.3.3.1 Các giải pháp SUDS kiểm soát nước mưa
Các giải pháp SUDS kiểm soát nước mưa được thiết lập theo tiến trình mưa, nghĩa là từ lúc giọt mưa bắt đầu rơi và chúng được sắp xếp theo hệ thống hợp lý với nhiều mức độ khác nhau; chúng được phân cấp để hoàn toàn thuận lợi theo các qui mô
và mức độ phức tạp của vùng thoát nước Ví như giải pháp kiểm soát tốt tại nhà thì hoàn toàn phù hợp để áp dụng cho hầu hết các loại hình phát triển, trong khi đối với mặt bằng có diện tích lớn sẽ có các giải pháp tích hợp nhiều thành phần của hệ thống thoát nước mưa Tùy vào từng loại mặt bằng cụ thể, người triển khai dự án có thể lựa chọn các giải pháp cũng như mức độ xử lý khác nhau dưới đây:
– Khu vực dân cư: là nơi ít gây ô nhiễm nhất trong các dự án phát triển, có thể lựa
chọn tất cả các dạng giải pháp của hệ thống SUDS và chỉ cần xử lý ở cấp độ 1
– Khu vực phi dân cư: bao gồm các trung tâm mua sắm, bãi đỗ xe, trung tâm
thương mại, khu vui chơi giải trí… những khu vực này đòi hỏi mức độ xử lý cấp 1 và
Trang 20cấp 2
– Khu công nghiệp: đây là khu vực có nhiều chủng loại ô nhiễm khác nhau, thường đòi hỏi mức độ xử lý ở cấp 2 và cấp 3 Tuy nhiên mức độ và lựa chọn giải pháp xử lý còn tùy thuộc vào đặc trưng ô nhiễm của từng khu công nghiệp cũng như từng loại nguồn nước tiếp nhận [2]
1.3.3.2 Các cấp độ kiểm soát của giải pháp SUDS
Có thể phân thành 4 cấp độ kiểm soát và nội dung công việc cần được tiến hành trong từng cấp độ có thể được nhận biết qua giản đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.9 Sơ đồ khối các cấp độ của các giải pháp kiểm soát [2]
Giải pháp kiểm soát tại nguồn
– Sử dụng các hệ thống lưu trữ và tái sử dụng nước mưa tại mỗi gia đình
– Giảm tối đa kết nối trực tiếp nước mưa và vùng không thấm
– Đưa ra các điều luật bắt buộc trong xây dựng để giảm tối đa bề mặt không thấm
Giải pháp kiểm soát
trên mặt bằng (site
control)
Làm giảm, xử lý cho từng khu phố nhỏ, cho từng con đường, mặt bằng xây dựng…
Giải pháp kiểm soát
trên vùng
(region control )
Xây dựng hệ thống làm giảm, xử lý ô nhiễm, ngập úng cho từng vùng, tiểu lưu vực, lưu vực…
Trang 21 Giải pháp kiểm soát trên mặt bằng (Diện tích mặt bằng áp dụng: 2 – 5 ha)
Thường áp dụng các giải pháp dưới đây:
– Chắn lọc sinh học: Là lớp chắn thực vật được thiết kế xử lý dòng chảy tràn trên
mặt bằng, lớp thực vật này có chức năng làm giảm tốc độ của dòng chảy, cho phép lắng trầm tích và các loại ô nhiễm khác, nước có thể thấm qua lớp lọc phía bên dưới Nếu được thiết kế và duy trì tốt, lớp chắn lọc thực vật không chỉ cung cấp khả năng xử
lý ô nhiễm phân tán cao mà còn cung cấp một khoảng không gian xanh và dễ chịu như một hoa viên cho cộng đồng dân cư [2]
– Kênh thực vật: Là kênh dẫn với dòng chảy chậm, được phủ lớp thực vật 2 bên bờ
cũng như dưới đáy, kênh thực vật có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo, được thiết kế để loại bỏ ô nhiễm như chất rắn lơ lững, kim loại, tăng khả năng thấm, giảm tốc độ dòng chảy tràn Kênh thực vật có thể thay thế cho một hệ thống vận chuyển nước mưa Tuy nhiên để có hiệu quả xử lý cao chỉ thích hợp cho một số lượng dòng chảy nhất định Vì vậy nó rất thích hợp để áp dụng cho các loại mặt bằng từng khu dân cư nhỏ, khu công nghiệp, trung tâm thương mại Khi dòng chảy tràn chảy qua kênh thì trầm tích sẽ bị giữ lại do tốc độ của dòng chảy chậm và mức nước thấp Hơn nữa, chất dinh dưỡng sẽ bị hấp thụ bởi thực vật và nước chảy tràn sẽ thấm qua các lớp đất đá lọc bên dưới Thông qua sự thay đổi hình dạng và một số đặt trưng khác, kênh thực vật được thiết kế để vận chuyển và xử lý nước mưa chảy tràn [2]
– Mương thấm lọc thực vật: Là mương đào cạn, được lắp đầy bởi đá, sỏi để tạo kho
chứa bên dưới có độ rỗng cao Dòng chảy tràn sẽ được lọc qua lớp sỏi, đá lọc trong kênh và có thể thấm vào đất qua đáy và bờ kênh Ô nhiễm được loại bỏ thông qua cơ chế lọc của lớp sỏi, đá trong mương Mương thấm lọc thường được xây dựng kết hợp với bộ phận tiền xử lý như kênh thực vật để hạn chế tải lượng trầm tích quá cao đi vào mương thấm lọc [2]
– Lớp bề mặt thấm: Thường được lắp đặt tại các vỉa hè, bãi đỗ xe,… chúng bao
gồm một lớp bề mặt có độ bền cao kết hợp với một lớp thấm bên dưới, cung cấp một
Trang 22kho chứa nước tạm thời cho nước thấm qua và thoát đi Lớp bề mặt thường được cấu tạo từ sỏi, bêtông rỗng, nhựa đường rỗng,…cấu trúc lớp bề mặt và lớp vật liệu bên dưới có thể loại bỏ chất rắn lơ lững cũng như các các chất hòa tan trong dòng chảy tràn
và có thể tái sử dụng nước trở lại bằng ống thu gom lắp đặt bên dưới lớp vật liệu thấm Việc lắp đặt lớp vải địa kỹ thuật bên dưới có thể cho phép bổ cập nước ngầm và như vậy phục hồi quá trình tự nhiên của nước
– Ao lưu nước tạm thời: Giống như trũng thực vật, hầu như là khô ngoại trừ khi
xảy ra các sự kiện mưa Trong suốt cơn mưa, dòng chảy tràn bề mặt sẽ trải ra khắp ao
và đầu ra thì bị hạn chế để nước chảy tràn tích trữ trong ao và thông thường sẽ được rút
đi sau 24 giờ Ao lưu nước tạm thời được sử dụng để làm giảm tối đa tốc độ dòng chảy tràn bề mặt do quá trình đô thị hóa gây ra so với trước khi phát triển Việc kiểm soát tối
đa tốc độ dòng chảy tràn bề mặt có tác dụng bảo vệ kênh dẫn, chống xói lở cũng như làm giảm ngập úng cho hạ lưu
Giải pháp kiểm soát trên toàn khu vực: Diện tích mặt bằng áp dụng: >10 ha
– Khu vực đất ngập nước - wetland: Được xây dựng như một vùng đầm lầy
nông, có chức năng xử lý ô nhiễm nước chảy tràn từ đô thị cũng như kiểm soát thể tích nước chảy tràn Khi dòng nước chảy qua wetland với tốc độ chậm ô nhiễm có thể được loại bỏ thông qua cơ chế lắng trọng lực và hấp thụ của thực vật Ngoài ra wetland còn mang lại tiện ích cho cuộc sống con người và nơi sinh sống cho động vật hoang dã – Ao thấm lọc thực vật: Dạng này được coi như hồ cảnh quan kết hợp với xử lý
nước mưa chảy tràn được xây dựng như một ao chắn giữ nước mưa chảy tràn, trong đó
có một hồ chứa nước quanh năm (permanent pool, dead storage), có thể được tạo ra bởi một ao có sẵn hoặc thông qua việc đắp đê chắn Chúng được thiết kế để đạt được nhiều mục tiêu như: kiểm soát ngập, gia tăng chất lượng nước, tạo cảnh quan sinh thái cho môi trường sống, ngăn chặn trầm tích và xói lở Ao cũng bao gồm ba tính năng chủ yếu
của một hệ thống tiêu thoát nước đô thị bền vững (SUDS), đó là: (1) Về mặt chất lượng
nước: lượng nước cố hữu trong hồ được xử lý thông qua các quá trình vật lý, sinh học
Trang 23và hóa học (2) Về mặt số lượng nước: Kho lưu nước tạm thời được thiết kế bên trên
mức nước của ao vĩnh cửu có chức năng làm suy yếu dòng chảy tràn và giảm đỉnh lũ
(3) Về mặt tiện ích, hài hòa và dễ chịu cho đô thị: giá trị về mặt tiện ích cho cuộc sống
thường được xem xét trong tính năng của nó để cung cấp nơi sinh sống cho động vật hoang dã, khu vực vui chơi giải trí cho cộng đồng dân cư địa phương Tính chất an toàn cũng là một vấn đề đáng quan tâm ở một số khu vực Tuy nhiên việc thiết kế các giải đất ven bờ và rào chắn bằng thực vật kết hợp với rào chắn thích hợp sẽ tạo ra một môi trường an toàn cho cộng đồng địa phương Trong ao thấm lọc, dòng chảy tràn từ mỗi cơn mưa sẽ được chắn giữ và xử lý thông qua các cơ chế lắng trọng lực và hấp thụ sinh học cho đến khi được thay thế bằng một cơn mưa khác [2]
1.3.3.3 Tính thích hợp và hiệu quả của các giải pháp SUDS
Các giải pháp kỹ thuật sinh thái rất đa dạng, chúng sẽ được lưa chọn cho phù hợp với từng mức độ đô thị hóa
Bảng 1.3 Các giải pháp Kỹ thuật sinh thái và khả năng ứng dụng [19]
TT Giải pháp Kỹ thuật sinh thái
Khả năng áp dụng cho các đối tƣợng quy hoạch
Mật độ xây dựng thấp
Khu dân cư Đường phố
và xa lộ
Mật độ xây dựng cao
Trang 24Chú thích: O: Rất thích hợp
©: Tùy thuộc vào điều kiện mặt bằng cụ thể
●: Rất ít sử dụng
1.3.3.4 Các công cụ trong thiết lập SUDS
Các công cụ trong thiết lập SUDS được sử dụng rất đa dạng và linh hoạt, tuy nhiên có thể gộp chúng thành 3 nhóm công cụ chủ yếu: Quy hoạch mặt bằng không gian, các giải pháp công trình (chủ yếu là ứng dụng giải pháp KTST), các giải pháp phi công trình [15]
– Quy hoạch mặt bằng: Đây là bước đầu tiên trong chương trình xây dựng
SUDS, việc thiết kế mặt bằng phải được thực hiện sao cho những mục tiêu của SUDS đều có thể đạt được, dù rằng chống ngập vẫn là mục tiêu số một Nhưng đặc trưng của SUDS là các giải pháp của nó được thực hiện dựa trên nguyên tắc sinh thái, phù hợp mực tiêu xây dựng đô thị sinh thái – thành phố xanh-sạch-đẹp Mặt bằng phải được quy hoạch sao cho bảo tồn những vùng tự nhiên, tác động gây ra cho lưu vực là không đáng kể Tích hợp các hệ thống xử lý với hệ tự nhiên sao cho đạt hiệu quả tốt nhất nhằm hạn chế lượng nước chảy tràn bề mặt và giảm thiểu ô nhiễm tích tụ vào trong thủy vực tiếp nhận
Mục tiêu của việc thiết kế mặt bằng hợp lý hướng đến: (1) Quy hoạch kiến trúc
đô thị sinh thái; (2) Quản lý nước mưa cả về số lượng lẫn chất lượng, ngăn chặn ô nhiễm ngay tại nguồn và giảm qui mô hệ thống thu gom và vận chuyển chúng; (3) Tận dụng lại nước mưa từ mái nhà, hoặc cho chảy qua các lớp thấm; (4) Giảm chi phí quản lý và duy tu bảo dưỡng hệ thống thoát nước; (5) Cấu trúc hợp lý mảng xanh đô thị: cây xanh và hồ nước phải là thành phần của kiến trúc hạ tầng
– Nhóm giải pháp công trình: Chiến lược thoát nước của Thành phố đến năm
2020, về nguyên tắc, đã quan tâm đầy đủ các giải pháp, kể cả các giải pháp lợi dụng
hệ sinh thái tự nhiên Nhưng chúng chưa mang tính hệ thống và chưa có giải pháp khoa học công nghệ nào kèm theo Do vậy, hãy tiếp cận với khái niệm Kỹ thuật sinh
thái (KTST - Ecological Enginnering) là hệ thống công nghệ với những thiết kế được
Trang 25tính toán khoa học nhằm hoàn thiện thêm các giải pháp thoát nước đô thị đang hiện hành
Giải pháp SUDS không những cho phép đạt được các mục tiêu trước mắt và lâu dài của Dự án thoát nước Thành phố, mà còn đạt nhiều mục tiêu khác của chiến lược xây dựng Tp HCM trong tương lai Bởi vì SUDS được bảo đảm bằng hệ thống kỹ thuật sinh thái rất khả thi trong điều kiện thực tế SUDS không những cho phép giảm thiểu áp lực lên hệ thống thoát nước vốn đang còn nhiều bất cập trong chống ngập,
mà còn có thể thay thế hoàn toàn hoặc giảm nhẹ đáng kể kết cấu của hệ thống thoát
để giảm chi phí mà vẫn đạt mục tiêu giảm ngập
Các hạng mục kỹ thuật sinh thái sau khi được xây dựng thường là những mảng xanh dưới dạng là những dải thảm thực vật, vườn mưa, hồ cảnh quan, chúng phải được xem là kết cấu kiến trúc hạ tầng không thể thiếu và được đưa ngay từ đầu vào quy hoạch phát triển không gian lãnh thổ đô thị Theo tính toán từ thực tế đã triển khai, mặt bằng dành cho mục tiêu giảm ngập là không lớn, trong khoảng 3 -5% tổng diện tích công trình và được quy hoạch như phần không gian mở của các giải pháp môi trường; không nhất thiết phải có diện tích dành riêng cho các giải pháp kỹ thuật sinh thái đối với công trình có mặt bằng hạn chế
– Nhóm giải pháp phi công trình: Thực tiễn ở khắp mọi nơi trên thế giới,
cũng như trong bước đầu tiếp cận ở Việt Nam cho thấy rằng khó khăn trong thoát nước nói chung và trong quản lý nước mưa nói riêng, phụ thuộc không nhiều vào trình độ khoa học công nghệ, nhưng lại phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức, chiến lược và chính sách của những người lập chính sách và năng lực tổ chức thực hiện
Trang 26CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khách quan: Do mưa, do triều, do lũ
Chủ quan: Hệ thống thoát nước, Đô thị hóa, Công tác quy hoạch và quản lý dô thị, ý thức người dân
Bản chất vấn đề ngập úng (tiếp
cận theo hướng sinh thái)
Là vấn đề sinh thái về cân bằng nước
Vấn đề được xử lý bằng kỹ thuật sinh thái
Trang 272.1 PHƯƠNG PHÁP KẾ THỪA VÀ THU THẬP TÀI LIỆU
Thu thập tài liệu là một việc rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học Mục đích của thu thập tài liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thực hiện thí nghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giả thuyết hay các vấn đề mà nghiên cứu đã đặt ra
Các tài liệu, số liệu cần thu thập phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Các tài liệu khung lý luận về các KTST, hệ thống thoát nước bền vững (SUDS) tiên tiến đang được áp dụng trên thế giới và tại Việt Nam
Các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của Tp HCM nói chung và quận 12 nói riêng: địa hình, địa mạo, địa chất, thổ nhưỡng, đặc điểm khí hậu thời tiết, tài nguyên đất, tài nguyên nước,…
Các tài liệu, số liệu về hiện trạng và định hướng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, hiện trạng và định hướng quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chung xây dựng Tp HCM đến năm 2020
Các tài liệu, số liệu về hiện trạng chất lượng môi trường, đặc điểm hệ sinh thái của quận 12
Các tài liệu, số liệu về đặc điểm thủy văn, chế độ mưa của Tp HCM với chuỗi thời gian tối thiểu là 10 năm
Các tài liệu, số liệu về hiện trạng và định hướng quy hoạch phát triển hệ thống thoát nước của Tp HCM đến năm 2020
Kịch bản biến đổi khí hậu và kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của Tp HCM
Các bản đồ có liên quan: bản đồ nền địa hình, bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất, bản đồ quy hoạch chung xây dựng Tp HCM, bản đồ hiện trạng và định hướng quy hoạch hệ thống thoát nước của Tp HCM đến năm 2020,
tỷ lệ 1/10.000