1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch văn hóa và ý nghĩa ứng dụng của nó trong hoạt động du lịch, đặc biệt liên quan đến yếu tố du khách

17 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 88,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yếu tố văn hóa trong du lịch Một đất nước có nền văn hóa được nhiều người biết tới, ngưỡng mộ, yêu mến là nhân tố vô cùng quý giá để tạo cho quốc gia đó một hình ảnh thương hiệu vững chắ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN DU LỊCH

Bài viết giữa kì Môn DU LỊCH VĂN HÓA

Đề tài

Du lịch văn hóa và ý nghĩa ứng dụng của nó trong hoạt động du lịch, đặc biệt liên quan đến yếu tố du khách

Giảng viên hướng dẫn:

PGS TS Huỳnh Quốc Thắng

Sinh viên thực hiện: Võ Văn Châu – 1456180014

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 – 2017

Trang 2

Văn hóa là những giá trị cốt lõi, tinh túy của xã hội, hình thành lâu đời qua quá trình lao động và sáng tạo của con người, được dày công vun đắp trở thành nền tảng không thể thiếu đối với mỗi dân tộc, chúng thẩm thấu và bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của mỗi quốc gia

1 Yếu tố văn hóa trong du lịch

Một đất nước có nền văn hóa được nhiều người biết tới, ngưỡng mộ, yêu mến là nhân

tố vô cùng quý giá để tạo cho quốc gia đó một hình ảnh thương hiệu vững chắc, tin cậy, làm đòn bẩy thúc đẩy các mối quan hệ chính trị, ngoại giao; giao lưu kinh tế, thương mại và sự quan tâm đối với các lĩnh vực liên quan khác

Phát triển kinh tế nói chung, kinh tế du lịch nói riêng không thể bỏ qua văn hóa Về mặt ý nghĩa, đối với văn hóa, du lịch tạo cho văn hóa phát triển

Nói một cách nào đó, nếu chúng ta xem nhẹ đầu tư cho văn hóa thì du lịch phát triển không bền vững Chúng ta làm du lịch phải có định hướng rõ ràng, sản phẩm du lịch phải nhằm phát huy và bảo vệ những giá trị (chuẩn mực) truyền thống của dân tộc vì đó chính là phát triển bền vững của đất nước

Văn hóa và du lịch có mối liên hệ biện chứng với nhau, cùng tồn tại và hỗ trợ nhau phát triển Phát triển du lịch phải dựa trên giá trị đặc sắc văn hóa của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia dân tộc và ngược lại vốn văn hóa độc đáo đó là tài nguyên, là sản phẩm của du lịch –

Du lịch không gắn với di sản văn hóa là du lịch nghèo nàn và văn hóa không được phát huy trong hoạt động du lịch sẽ làm giảm sức sống của văn hóa

Chẳng nói đâu xa, Thái Lan là điển hình của một đất nước “hái ra tiền” nhờ đầu tư phát triển du lịch văn hóa Người Thái đã rất “khôn ngoan” khi tạo nên sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của đất nước Chùa Vàng Đến với Thái Lan, du khách không chỉ thỏa sức chiêm ngưỡng những công trình đền chùa, cung điện có kiến trúc

đồ sộ mà còn khám phá đời sống văn hóa tinh thần đặc trưng như: thưởng thức làn điệu múa Thái duyên dáng, đằm thắm, tận hưởng những phong vị ẩm thực trứ danh hay chăm sóc sức khỏe bằng những liệu trình massage hoàn hảo đã được hình thành từ cách đây 500 năm Những sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, khác biệt đã đưa Thái Lan trở thành điểm đến hấp dẫn hàng đầu khu vực với lượng khách tăng trưởng ngoạn mục Riêng năm 2016, tổng mức doanh thu của ngành du lịch Thái Lan đạt 71,4 tỷ USD, cao vượt mức dự báo trước đó và tăng 11% so với năm 2015

Bali đã trở thành điểm đến nổi bật nhất của Indonesia, khi cùng lúc phát triển hạ tầng

cơ sở du lịch hiện đại trong những khu nghỉ dưỡng sang trọng, những câu lạc bộ, trung tâm giải trí ken đặc khách du lịch, nhưng vẫn gìn giữ trọn vẹn lối sống, tập quán, văn hóa của

Trang 3

người bản địa và không quên lồng ghép, thậm chí đẩy những nét văn hóa truyền thống đó thành những trải nghiệm du lịch hấp dẫn, có một không hai

Mặt khác, nói đến yếu tố văn hóa trong du lịch là nói đến thái độ tính cách, ứng xử

văn hóa của con người với con người, của con người đối với tự nhiên, đối với xã hội Đó chính là chiều sâu tâm hồn, là nhân cách của con người trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập hiện nay Và đây là vấn đề mà chúng tôi muốn bàn đến

2. Con người chủ thể tạo ra và làm nên sản phẩm du lịch văn hóa

Nhận định trên để thấy rằng những giá trị văn hóa (công trình nhân văn) mà con người tạo ra không phải là nhân tố duy nhất làm nên điều đặc trưng để tạo nên sức hút cho sản phẩm

du lịch văn hóa ngoài ra đó còn là yếu tố “ dịch vụ - văn hóa – dịch vụ”

Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ thường chiếm từ 80 đến 90% về mặt giá trị, hàng hóa chiếm tỉ trọng nhỏ

Việc tạo ra các sản phẩm này bên cạnh các nguồn tài nguyên du lịch dưới dạng vật thể

và phi vật thể (bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn) theo quy luật chung luôn được coi là hữu hạn, thì còn một số hợp phần khác cũng cần phải được tính đến đó là nguồn lực con người vì ngành du lịch là ngành đặc biệt là tiếp xúc (trực tiếp, gián tiếp) và làm việc với con người Thể hiện đẳng cấp trong phục vụ Mang tính nhân văn trí tuệ cao Thông qua

“sự hao phí sức lao động” của người tạo ra những sản phẩm du lịch do đó sẽ góp phần làm tăng lên giá trị của loại hàng hóa vô cùng đặc biệt này Chúng được khéo léo ẩn và tích tụ trong các “chuỗi dịch vụ” để hình thành nên các sản phẩm du lịch và thậm chí tồn tại trong cả những đối tượng sử dụng dịch vụ – đó là những “người khách du lịch” Những yếu tố này là tác nhân không thể thiếu được để tạo ra cầu cho hoạt động du lịch, hay có thể xem là “nguồn tài nguyên du lịch” vô cùng to lớn và bất tận Bởi lẽ, trong thế giới ngày càng phát triển với tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc, giao thông thuận tiện, phương tiện truyền thông tiện ích,

và mặc dù có thể bị tác động bởi các yếu tố khách quan và chủ quan như thiên tai, chính biến, chiến tranh, khủng bố,… nhưng nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa, đầu tư, thương mại,… giữa các quốc gia, vùng miền không những không dừng lại mà vẫn tiếp tục gia tăng mạnh mẽ Điều này kéo theo các nhu cầu dịch vụ, sản phẩm du lịch cũng gia tăng Trong khi, các nguồn tài nguyên khác như tự nhiên, nhân tạo, tái tạo phục vụ cho các ngành kinh tế khác ngày càng suy giảm và có thể đứng trước nguy cơ cạn kiệt bởi nhu cầu khai thác, sản xuất, chế biến và tiêu thụ của con người và toàn xã hội ngày càng phát triển vì thế có thể khẳng định Du lịch hiện nay được nhận định là một ngành giàu tiềm năng & triển vọng phát triển Như vậy khi nhắc đến sản phầm du lịch người ta nghĩ ngay đến các dịch vụ du lịch mang lại giá trị siêu lợi

Trang 4

nhuận – giá trị này bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau trong đó yếu tố con người – nguồn nhân lực giữ vai trò cốt lõi

Khác với việc tiêu dùng các sản phẩm khác trong chuyến đi, việc tiêu dùng sản phẩm

du lịch xảy ra cùng một lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng Do đó để thực hiện được quá trình tiêu thụ sản phẩm, người mua hàng được đưa đến nơi sản xuất và tiêu dùng tại chỗ dưới

sự hướng dẫn và phục vụ của người lao động (trực tiếp, gián tiếp) Vì vậy sản phẩm du lịch mang tính độc quyền và không thể so sánh giá của sản phẩm du lịch này với sản phẩm du lịch kia một cách tùy tiện được

Qua phân tích các yếu tố trên cho thấy sự sáng tạo, ý tưởng của con người sẽ tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm du lịch, tăng khả năng cạnh tranh cho du lịch trong bối cảnh hội nhập thì vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đủ các yêu cầu, điều kiện đặt ra từ thực tế Tất cả những điều đó có được khi ngành du lịch nước ta xây dựng được đội ngũ lao động có trình độ, nhận thức, ý thức, trách nhiệm cao, đảm nhận công việc phù hợp với năng lực, có tinh thần gắn bó với doanh nghiệp Chính nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ để thu hút khách du lịch và tạo động lực để khách hàng có những nhu cầu mới, họ sẽ giúp cho doanh nghiệp khai thác được tài nguyên du lịch và bảo vệ tài nguyên du lịch Đào tạo nguồn nhân lực trong du lịch cũng là đào tạo ra những người biết tạo ra các sản phẩm du lịch đặc sắc để đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của du khách; có như vậy, du lịch mới phát triển bền vững

3 Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch ở Việt Nam

Việt Nam có nền văn hóa đa dạng, phong phú, nhân văn; mỗi loại tài sản văn hóa đều tiềm ẩn những giá trị cao (cả về mặt văn hóa và tiềm năng kinh tế) là bản sắc độc đáo, hấp dẫn của văn hóa Việt nam… đó chính là cơ sở để phát triển du lịch bền vững Có thể nhận thức rằng thông qua văn hóa, du lịch là một trong những lĩnh vực vừa được thừa hưởng thành quả

và cũng vừa là công cụ thiết yếu, góp phần quan trọng vào thành công của những nỗ lực trên

Luật du lịch Việt Nam 2005 nêu rõ tài nguyên du lịch bao gồm hai mảng lớn là tài nguyên du lịch tự nhiên (…) và tài nguyên du lịch nhân văn (bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch)

Thống kê của Tổ chức du lịch thế giới cho thấy du lịch văn hóa đóng góp khoảng 37%

du lịch toàn cầu và được dự báo có thể tăng khoảng 15% qua mỗi năm Theo số liệu mới nhất, đến hết tháng 12/2016, cả nước ta hiện có 26 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công

Trang 5

nhận thuộc các lĩnh vự như: Di sản thiên thiên, di sản địa chất toàn cầu, di sản tư liệu, di sản hỗn hợp, di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể Trong đó, tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ – tín ngưỡng dân gian đặc sắc của Việt Nam mới được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại Đây chính là nguồn lực quý giá trong tổng số giá trị tài nguyên của nước ta (mà không phải quốc gia nào cũng có được) để phát triển du lịch bền vững

Bên cạnh đó Việt Nam có đến 54 dân tộc, gần 8000 lễ hội, do đó cần phải năm bắt cơ hội tạo ra sự phát triển từ đây

4 Thị trường du khách đến Việt Nam và vấn đề du lịch văn hóa

Du khách nước ngoài đến Việt Nam, theo năm

Năm DK nước

ngoài

Thay đổi

1995 1.351.300

1996 1.607.200 18.9%

1997 1.715.600 6.7%

1998 1.520.100 -11.4%

1999 1.781.800 17.2%

2000 2.140.100 20.0%

2001 2.330.800 8.9%

2002 2.628.200 12.8%

2003 2.429.600 -7.6%

2004 2.927.876 20.5%

Năm DK nước ngoài

Thay đổi

2005 3.467.757 18.4%

2006 3.583.486 3%

2007 4.171.564 16%

2008 4.253.740 0.6%

2009 3.772.359 -10.9%

2010 5.049.855 34.8%

2011 6.014.032 19.1%

2012 6.847.678 10.8%

2013 7,572,352 10,6%

2014 7,87 4%

Số liệu đến năm 2013 cho thấy

Thị phần khách quốc tế đến Việt Nam trong khu vực & trên thế giới không ngừng tăng lên Từ chỗ chiếm 4,6% thị phần khu vực Đông Nam Á , 1,7% thị phần khu vực Châu Á Thái Bình Dương và 0,2% thị phần toàn cầu vào năm 1995 đến năm 2013 Du Lịch Việt Nam đã chiếm 8,2% thị phần khu vực ASEAN; 2,4% thị phần khu vực Châu Á Thái Bình Dương và 0,68% thị phần toàn cầu Vị trí của Du lịch Việt Nam đã cải thiện đáng kể trên bản đồ du lịch thế giới

Trong cơ cấu thị trường nguồn của Du lịch Việt Nam, 72% đến từ khu vực Châu Á Thái Bình Dương , tiếp theo là Châu Âu 14% , Bắc Mỹ 7% các thị trường nguồn của Việt Nam thuộc những quốc gia có GDP lớn nhất thế giới: Mỹ , Nhật, Trung Quốc , Pháp , Nga; thuộc các nước có dân số lớn nhất thế giới: Mỹ , Nhật, Trung Quốc, Nga; thuộc các nước có

Trang 6

chi tiêu du lịch ra nước ngoài nhiều nhất thế giới: Mỹ , Nhật, Trung Quốc , Pháp , Nga, Úc, Đức, Anh

Bảng: Tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam lần đầu và khách đến từ hai lần trở lên lần lượt

Năm Tỉ lệ khách quốc tế đến lần đầu Tỉ lệ khách đến lần thứ hai

o Có thể thấy tỷ lệ này không biến động lớn qua các năm và duy trì ở mức độ khá hài hòa Tuy nhiên có một thực tế đáng buồn là theo đánh giá của ngành

du lịch, từ năm 2006 đến nay hơn 70% du khách quốc tế sau khi đến Việt

Nam đều có ý "một đi không trở lại" Nguyên nhân của hiện tượng trên có

thể hiểu như sau:

Xuất từ nhiều hạn chế yếu kém khác nhau đã và đang tồn tại trong ngành du lịch nước nhà như:

Về quản lý khai thác tài nguyên du lịch Mặc dù Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên

du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú và đa dạng nhưng chưa khai thác tương xứng với tiềm năng đó, thể hiện hệ thống sản phẩm du lịch vẫn còn nghèo nàn, đơn điệu

Cho đến nay tài nguyên du lịch cả tự nhiên và nhân văn chưa được thống kê, đánh giá,

phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả Dẫn tới tài nguyên

du lịch thì nhiều nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát

huy giá trị của tài nguyên Ví dụ như: ngành du lịch Việt Nam thường chỉ chú trọng khai thác

quá đáng các thắng cảnh thiên nhiên như một điểm mạnh, như việc "xã hội hóa" các danh thắng (cho phép các công ty đầu tư khai thác và bán vé vào cửa) dẫn đến việc hầu hết các nơi danh thắng đều thu tiền vào tham quan, thường là khá đắt (Điển hình như Hội An, điểm du lịch yêu thích vừa qua cũng bị du khách quay lưng vì tuỳ tiện tăng giá vé), thế nhưng do các công ty này lại không quan tâm bảo trì đúng mức, dẫn đến tình trạng cảnh quan đang bị xuống cấp hay phá hủy, điển hình là trường hợp các di tích quốc gia như Thác Voi , Thác Liên Khương

Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục

Trang 7

đích tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững Ví dụ: Việt Nam có 117 bảo tàng

trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79 Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Tuy nhiên, hầu hết các bảo tàng đều vắng khách tham quan, đất công đôi khi bị lạm dụng và sử dụng trái mục đích

Xuất phát từ việc ứng xử văn hóa trong phát triển du lịch tại Việt Nam

Ứng xử văn hóa trong các hoạt động xã hội không phải là vấn đề mới, nhưng đây lại là điều bức xúc của mọi người Chưa lúc nào vấn đề ứng xử văn hóa ở Việt Nam được nói đến nhiều như hiện nay: ứng xử văn hóa trong lễ hội, ứng xử văn hóa trong giao thông, ứng xử văn hóa tại các cơ sở thờ tự, ứng xử văn hóa nơi công cộng, ứng xử văn hóa trong gia đình, nơi học đường vv… và ứng xử văn hóa trong hoạt động du lịch cũng là vấn đề đáng bàn

Hiện trạng ứng xử phi văn hóa trong hoạt động du lịch tại Việt Nam Trên các phương

tiên thông tin đại chúng và các trang mạng xã hội trong nhiều năm qua, đã đưa rất nhiều hình ảnh, tin tức phản ánh, tin tức phản cảm không chỉ của người dân địa phương mà cả du khách trong ngoài nước Theo số liệu thống kê của Tổng cục du lịch, cả năm 2016, Việt Nam đã đón hơn 10 triệu lượt khách du lịch quốc tế tăng 24% so với cùng kỳ năm 2015, một con số khá

ấn tượng về sự gia tăng đột biến này Bởi vì, bên cạnh con số ấn tượng trên, một sự thực là gần 70% khách quốc tế đến Việt Nam đã không quay trở lại

Nhìn tổng thể bức tranh du lịch Việt Nam trong những năm qua đã có những mảng sáng hơn, nhiều tấm gương tiêu biểu thể hiện đối với khách du lịch được truyền thông đưa tin – Chẳng hạn việc tài xế taxi, nhân viên đường sắt trả lại hành lí bỏ quên (bao gồm tiền bạc và các tài sản quý) cho du khách, việc bảo vệ du khách trong các hoạt động hằng ngày, việc tham gia giữ gìn vệ sinh tại các địa điểm du lịch nổi tiếng vv đã khiến du khách quốc tế có sự hài lòng nhất định

Tuy nhiên ngần ấy là chưa đủ vì những hành vi ứng xử phi văn hóa vẫn còn nhan nhản Trong đó có ứng xử của người dân đối với du khách chưa đúng mực, chưa phù hợp thuần phong, mỹ tục của người Việt: tình trạng lừa đảo, đeo bám, ép khách, chặt chém, mất cắp hành lí, ăn xin, không bảo đảm an ninh, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Nhiều lễ tân, phục vụ của nhà hàng, khách sạn lạnh nhạt, thiếu kỹ năng giao tiếp thân thiện cũng gây ấn tượng xấu

… Một khó khăn nghiêm trọng khác là bệnh làm ăn kiểu sản xuất nhỏ – mặt trái của tính cộng đồng và tính tự trị làng xã mà biểu hiện của nó là nạn hàng giả, hàng dỏm, tệ nói thách một cách tùy tiện, liên kết với nhau để chèn ép khách hàng

Nhiều hành vi phản văn hóa (của người Việt Nam) như vô tư viết, vẽ, khắc lên di sản;

hành vi gây bẩn, xả rác bừa bãi đường phố; lễ hội “xấu xí” vì loạn khai ấn và vụ lợi,…

Trang 8

Đó là, chưa nói đến việc người Việt Nam đi du lịch nước ngoài cũng có nhiều hành vi phản văn hóa như: Bỏ thừa, lãng phí thức ăn, ồn ào, ăn cắp vặt… đến nổi các nước sở tại phải thông báo bằng tiếng Việt để ngăn chặn các hành vi ấy

5 Mối quan hệ giữa phát triển du lịch văn hóa và văn hóa trong phát triển du lịch phù hợp với thị trường khách hiện nay

Theo khảo sát, đánh giá của chuyên gia Tổ chức Du lịch Thế giới, trong những năm gần đây, hầu hết các quốc gia, điểm đến, đặc biệt là những nước có ngành du lịch đang phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang từng bước điều chỉnh định hướng chiến lược sản phẩm, tập trung quan tâm đầu tư nhiều hơn vào việc phát triển và quảng bá xúc tiến du lịch văn hóa, một loại hình sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn và tính trường tồn cao, đó là nhân

tố thiết yếu góp phần đáng kể cho sự nghiệp phát triển bền vững Trào lưu thay đổi trên xuất phát từ nhiều nguyên do khác nhau

Trong đó, một trong những động lực quan trọng khiến các quốc gia đi tới quyết định trên đó là, xu hướng dòng khách quốc tế từ các thị trường du lịch tiềm năng quan tâm, ưa thích đi thăm các điểm du lịch gắn với các sản phẩm du lịch văn hóa ngày một tăng Ở bất cứ quốc gia nào, tùy thuộc vào đặc điểm xã hội, dân cư, địa lý cũng như tính đa dạng và bề dày văn hóa lịch sử, các sản phẩm du lịch văn hóa đều chứa đựng những bản sắc độc đáo với những truyền thuyết về văn hóa, lịch sử khác biệt, được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một tiến trình lịch sử thống nhất của một dân tộc Chúng được hình thành và phân bổ rộng rãi ở nhiều địa danh và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, cả vật thể và phi vật thể Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đa phần các sản phẩm chủ đạo, mang tính cội nguồn, thuộc loại hình du lịch này thường gắn với các địa phương Đặc biệt, chúng thường tập trung chủ yếu hoặc ở các trung tâm du lịch lớn như các đô thị/thủ đô của các nước, hoặc các khu vực lân cận và trong nhiều trường hợp, chúng được tái hiện trong các điểm du lịch là quần thể văn hóa lịch sử, nhằm đa dạng hóa các sản phẩm, tạo thêm sự lựa chọn cho du khách trải nghiệm khi họ chưa

có đủ điều kiện để có thể tới thăm tận nơi những địa danh du lịch lưu giữ các di sản văn hóa

đó

Theo con số thống kê, ước tính tỷ lệ khách quốc tế tới tham quan và trải nghiệm các sản phẩm du lịch văn hóa tại các thành phố/thủ đô của các nước trong khu vực luôn chiếm khoảng hơn 40% tổng số khách Tỷ lệ này thậm chí có thể còn lớn hơn tùy thuộc vào quy mô của đô thị/thủ đô đó, cũng như số lượng tài nguyên du lịch văn hóa mà điểm đến đó sở hữu

Nội dung về du lịch văn hóa rất rộng, nhưng thường được hiểu một cách đơn giản và phổ biến là sự tìm kiếm và trải nghiệm của du khách đối với các lĩnh vực liên quan tới sản

Trang 9

phẩm văn hóa như nghệ thuật trưng bày tranh ảnh, điện ảnh, các phim trường, biểu diễn nghệ thuật; các hoạt động lễ hội, lễ kỷ niệm, sự kiện, lễ nghi; các di sản vật thể như các quần thể kiến trúc văn hóa, các tòa nhà cổ kính, bảo tàng, thư viện; các di sản phi vật thể như nét văn hóa bản địa, các làng nghề truyền thống, lối sống, ẩm thực, tín ngưỡng và những giá trị khác Bên cạnh đó, du lịch văn hóa còn bao gồm cả những hoạt động liên quan tới xây dựng, quản

lý và phát triển chúng như bảo tồn các di sản, nghiên cứu, xây dựng tư liệu, đánh giá các giá trị văn hóa và lịch sử, thuyết minh về văn hóa, quản lý các điểm di sản, quản lý lễ hội và sự kiện, bảo tồn di sản, khảo cổ và kiến trúc, đầu tư và xúc tiến quảng bá

Như vậy, có thể thấy du lịch văn hóa rất đa dạng, phong phú, không chỉ giới hạn ở sự trải nghiệm các giá trị sản phẩm văn hóa thuần túy của du khách dưới hình thức này hay hình thức khác, mà bao gồm cả những hoạt động liên quan tới công tác quản lý, đầu tư, bảo tồn, phát triển chúng Đây cũng là những lĩnh vực nhận được không ít sự quan tâm của du khách

Từ khía cạnh trên, có thể thấy đối tượng khách thực hiện các chuyến đi du lịch vì mục đích văn hóa cũng ngày càng trở nên đa dạng, với nhiều mối quan tâm khác nhau, là mục tiêu quan trọng cần phải tập trung nghiên cứu khai thác nhằm tạo thêm nhiều cơ hội và khả năng hợp tác, góp phần mang lại lợi ích nhiều mặt cho cả hai ngành Văn hóa và Du lịch

Ngày nay, cùng với tốc độ phát triển nhanh của lĩnh vực du lịch, xu hướng tâm lý khách cũng có những thay đổi rõ rệt, tác động đáng kể tới nhu cầu cụ thể cho chuyến đi du lịch của mình Họ không chỉ thực hiện chuyến tham quan, trải nghiệm điểm đến du lịch một cách thụ động mà còn chủ động đóng vai trò là chủ thể sáng tạo trong các hoạt động du lịch Điều này có nghĩa là khách du lịch luôn mong muốn được trực tiếp tham gia vào các hoạt động mang tính sáng tạo, nhằm sinh động hóa thêm những trải nghiệm của mình tại nơi họ tới tham quan Thông qua quá trình tương tác này, vô hình chung họ cũng đã góp phần đáng kể vào làm giàu thêm bản sắc của sản phẩm du lịch tại điểm đến Với đặc điểm này, khi so sánh với các loại hình du lịch khác, có thể thấy du lịch văn hóa là loại hình có ưu thế hơn hẳn trong việc bắt nhịp tốt với xu thế thay đổi của các dòng khách du lịch hiện nay Bởi lẽ, văn hóa luôn duy trì mối liên hệ mật thiết và đồng hành với tính sáng tạo, chúng có thể kết hợp hình thành nên một sản phẩm du lịch hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường khách đặc thù này Nắm bắt được xu hướng trên, nhiều ngành du lịch các nước trong khu vực đã tận dụng tốt yếu tố sáng tạo để phát triển và quảng bá loại hình sản phẩm du lịch văn hóa, đặc biệt

là ở các đô thị/thủ đô là những trung tâm lưu giữ nhiều kho tàng di tích lịch sử, văn hóa truyền thống cả vật thể lẫn phi vật thể

Một xu hướng nổi bật nữa là hiện nay, các quốc gia có thế mạnh về phát triển loại hình

du lịch văn hóa, cũng từng bước hướng mối quan tâm ưu tiên nhiều hơn vào việc khai thác và

sử dụng hợp lý các tài nguyên du lịch phi vật thể, lấy đó làm công cụ chủ yếu để cạnh tranh

Trang 10

thu hút khách du lịch Bởi vì, thực tế cho thấy ở hầu hết các quốc gia, các di sản văn hóa, lịch

sử vật thể thường hạn chế Trải qua quá trình đưa vào quảng bá, khai thác thu hút khách, loại hình sản phẩm lý tính này cũng từng bước bão hòa, bởi chúng bị hạn chế ở giác quan cảm nhận và trở nên quá quen thuộc trong tâm trí du khách Trong khi đó, các di sản phi vật thể thường phong phú và đa dạng hơn cả định tính lẫn định lượng Khi du khách tham gia khám phá và trải nghiệm những sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể như nghệ thuật dân gian, ca nhạc, hội họa; các liên hoan, lễ hội, làng nghề, ẩm thực, bảo tàng, lối sống, phong tục tập quán , họ có thể dễ dàng hòa mình vào hoạt động sáng tạo và xây dựng sản phẩm Quá trình này tác động trực tiếp vào hầu hết các giác quan cảm nhận của du khách và tạo cho họ những cảm xúc sâu sắc và ấn tượng lâu dài hơn về giá trị văn hóa, tinh thần của sản phẩm điểm đến Như vậy, cùng với những đòi hỏi thiết yếu về việc đảm bảo chất lượng dịch vụ liên quan khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, việc tạo thêm cảm xúc cho họ thông qua những sáng tạo trong quá trình trải nghiệm sản phẩm du lịch là vô cùng cần thiết, góp phần quan trọng vào việc giữ chân du khách, khuyến khích họ quay trở lại du lịch cũng như thu hút thêm nguồn khách mới

Như chúng ta đã biết, khi phát triển bất cứ loại hình sản phẩm du lịch nào, để có thể giới thiệu, bán và được khách hàng chấp nhận mua, cần phải tuân thủ theo một quy trình nhất định Đó là công tác nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu các phân khúc khách hàng, tâm

lý khách hàng; phân tích đối thủ cạnh tranh, điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội, thách thức; định vị phân khúc thị trường, xây dựng sản phẩm; truyền thông, bán sản phẩm và chăm sóc khách hàng Theo đó, sản phẩm phải luôn được đặt ở vị trí trọng tâm và các yếu tố bổ trợ trong chu trình khép kín trên phải gắn kết chặt chẽ với nhau và cùng hướng về mục tiêu sản phẩm Có như vậy, mới có thể xây dựng được sản phẩm du lịch đảm bảo chất lượng, độc đáo, hấp dẫn

và phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của từng phân khúc khách hàng Tương tự như vậy, quá trình vận động của sản phẩm du lịch văn hóa cũng không nằm ngoài nguyên lý trên Tuy nhiên, trên thực tế, xuất phát từ đặc điểm, bản chất cốt lõi của sản phẩm du lịch văn hóa có sự khác biệt hẳn so với các sản phẩm du lịch thông thường khác (vật thể, phi vật thể hoặc cả hai trong một sản phẩm), do vậy ngoài việc phải tuân thủ theo đúng quy trình làm sản phẩm như

mô tả trên, chúng đòi hỏi cần phải lồng ghép thêm những yếu tố sáng tạo, để từ đó hình thành được sản phẩm với hàm lượng sáng tạo cao, góp phần tạo nét khác biệt, độc đáo, hấp dẫn du khách

Trên thực tế có nhiều phương cách khác nhau để thúc đẩy việc gắn tính sáng tạo với hoạt động xây dựng và quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa Tuy nhiên, có 3 cách thức chủ yếu, mang lại hiệu ứng quảng bá cao, có thể tạo cho du khách nhiều ấn tượng và cảm nhận sâu sắc hơn đối với loại hình sản phẩm này, đó là: Tái hiện, mô phỏng và thuyết minh sản

Ngày đăng: 11/06/2021, 08:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w