43 Chương 3.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!
Học viên
Nguyễn Thị Hồng Duyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢVIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ 14
1.1 Một số khái niệm cơ bản 14
1.2 Các Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu đề tài 23
1.3 Đặc điểm của phụ nữ đơn thân và việc làm 31
1.4 Mục đích, nội dung và quy trình CTXH trong hỗ trợ sinh kế đối với PNNĐT 34
1.5 Cơ sở pháp lý trong hỗ trợ việc làm đối vơi phụ nữ nghèo đơn thân 37
Chương 2.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀMĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎTẠI HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 40
2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 43
Chương 3.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM TỚI 63
3.1 Định hướng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 63
3.2 Các giải pháp phát triển công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 67
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 76
Trang 6DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Phân loại các loại hình đơn thân 41
Bảng 2.2 Thống kê độ tuổi và số con đang nuôi của PNNĐT 42
Bảng 2.3 Cơ cấu ngành nghề và bình quân thu nhập của PNNĐT 45
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát trình độ chuyên môn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 49
Bảng 2.5 Mức độ tiếp cận dịch vụ tư vấn hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 50
Bảng 2.6 Mức độ tham gia của phụ nữ nghèo đơn thân vào chương trình kết nối việc làm tại địa phương 52
Bảng 2.7 Số PNNĐT nuôi con nhỏ được tiếp cận các chính sách hỗ trợ 54
Bảng 2.8 Trình độ học vấn PNNĐT nuôi con nhỏ 55
Bảng 2.9 Sự nhìn nhận của Phụ nữ nghèo đơn thân về chính họ 56
Bảng 2.10 Nhìn nhận cộng đồng về “mẹ đơn thân” 57
Hình 1.1 Mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow 25
Hình 1.2 Các hệ thống sinh thái trong công tác xã hội 30
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ số phụ nữ nghèođơn thân nuôi con nhỏ được tham gia khảo sát nhu cầu việc làm năm 2019 49
Biểu đồ 2.2 Số phụ nữ nghèođơn thân được tham gia đào tạo 52
Biểu đồ 2.3 Phản hồi của người học sau cac khóađào tạo 53
Biểu đồ 2.4 Số lượng cán bộ tốt nghiệp chuyên ngành CTXH làm việc tạiđịa phương 63
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm trên thế giới Tuy nhiên, tại Việt Nam do biến cố của lịch
sử, sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội có nhiều thăng trầm, vì vậy, những năm gần đây ngành mới được sự công nhận của Chính phủ thông qua đề
án 32 “Phát triển nghề công tác xã hội” Công tác xã hội với mục đích hướng tới
sự trợ giúp con người trong cuộc sống nhất là những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương bằng các mô hình can thiệp từ cá nhân, đến nhóm và cộng đồng Trong
xã hội ngày nay, đối tượng trợ giúp của công tác xã hội tương đối đa dạng Nhiều đối tượng yếu thế đang rất cần sự giúp đỡ, động viên, chia sẻ của tất cả cộng đồng cũng như của công tác xã hội
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một trong những đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương và cần sự trợ giúp của công tác xã hội Công tác xã hội có
sứ mệnh vận dụng linh hoạt những kiến thức và kỹ năng để tiếp cận đối tượng, lập kế hoạch trợ giúp và giúp những phụ nữ nghèo đơn thân tiếp cận với các cơ
sở dịch vụ hỗ trợ một cách bền vững
Giá trị nhân văn và kinh tế khi PNNĐT có việc làm dường như không thể phủ nhận bởi nó góp phần đảm bảo cuộc sống cải thiện vị thế, và tăng cường tính trách nhiệm xã hội cho PNNĐT
Bình đẳng giới luôn là một trong những mục tiêu chiến lược đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên toàn thế giới Tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay vẫn còn tồn tại ở hầu khắp các quốc gia điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chung của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung Vấn nạn bất bình đẳng giới chủ yếu diễn ra đối với phụ nữ, họ là những người phải
Trang 82
gánh chịu nhiều thiệt thòi, tổn thương từ những quan niệm, định kiến bất công từ
xã hội xưa và nay
Đối với Việt Nam, trong những năm qua Đảng và Nhà nước thực hiện nhiều bước đột phá về hành động và nhận thức, từ khía cạnh chính sách, pháp luật đến thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới Việt Nam được đánh giá là một trong số những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây Điểm nổi bật trong việc bảo đảm quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới.Thành quả đem lại nhằm tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ có thể tự tin phát triển trên tất cả các lĩnh vực, hướng tới giải phóng người phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nước công bằng, văn minh Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận lại một cách thẳng thắn về những hạn chế, những tồn tại trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Một trong những minh chứng cụ thể nhất, đó là chúng ta đã nỗ lực, đã làm rất nhiều nhưng vẫn còn đó những mảnh đời, những câu chuyện rơi nước mắt trong thực
tế về những người phụ nữ đơn thân Họ không chỉ chịu gánh nặng về tài chính - kinh tế, về sức khỏe mà họ đã và đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, tủi cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý và cơ hội tìm kiếm việc làm của họ cũng gặp không ít những khó khăn,…Vì vậy, họ rất cần nhận được sự hỗ trợ, sự cảm thông, chia sẻ từ phía gia đình, cộng đồng và xã hội
Ngày nay quan niệm về người phụ nữ đơn thân không còn quá khắt khe như trước đây, song vẫn còn đó rất nhiều những khó khăn mà họ phải đối mặt Đây là đối tượng rất cần sự quan tâm, trợ giúp của cộng đồng, xã hội để có thể vượt lên khó khăn, vượt lên chính họ, hòa nhập cộng đồng Trách nhiệm ấy không chỉ thuộc về xã hội hay một tổ chức nào đó, mà nó đã trở thành một trong
Trang 9Công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ lại càng có ý nghĩa và giá trị sâu sắc vì nó tạo cho họ có nhiều cơ hội phát triển và khẳng định được vị thế của mình trong xã hội
Trong thời điểm hiện nay, dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, để đáp ứng nhu cầu việc làm cho mọi công dân trong xã hội đã là một vấn đề lớn và một bộ phận không nhỏ là phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ lại càng bức thiết hơn
Công tác dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội còn nhiều khó khăn: Phần lớn họ chưa có công ăn việc làm, đời sống khó khăn và
đa phần thuộc hộ nghèo Tỷ lệ phụ nữ nghèo đơn thân không có việc làm, trình
độ học vấn còn hạn hẹp, nhiều người còn tự ti, mặc cảm chưa hòa nhập với cộng đồng
Luận văn "Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằmđềra các
giải pháp thúc đẩy hoạt động công tác xã hội đối với vấn đề việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội; hướng đến giúp họ có đủ sức mạnh, chủ động, tự tin, hội nhập- hòa nhập, tự giúp bản thân, tự lập cuộc sống, tự khẳng định bản thân, định hướng nghề nghiệp và tự tìm được việc làm
Trang 104
Tại địa bàn huyện Quốc Oai đã nổi lên các nhu cầu, mô hình việc làm cho Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ và đang rất quan tâm cũng như cần có một nghiên cứu về vấn đề việc làm của Phụ nữ để thúc đẩy, phát triển hoạt động hỗ trợ Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn tốt hơn
Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”để làm đề tài nghiên cứu luận văn của
mình là hoàn toàn thiết thực và cần thiết, phù hợp với bối cảnh chiến lược và chính sách phát triển của địa phương
2 Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề tài
2.1 Một số tài liệu trên thế giới
* Nghiên cứu về phụ nữ đơn thân
Thứ nhất, các nghiên cứu về xu hướng lựa chọn sống đơn thân của phụ nữ được bàn đến bởi Edin (2000); Belanger (1996); Phinney (1998); Dales (2014) Thứ hai, nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ đơn thân được đề cập bởi Shattuck và Kreider (2013); Ann Berrington (2014); Ciabattari (2005) Thứ ba, nghiên cứu về đời sống tâm lý và định kiến xã hội qua công trình của Nguyễn Thị Khoa (1997); Lê Thi (2001); Robinson và Werblow (2013) Thứ tư, nghiên cứu về đời sống kinh tế và chính sách xã hội của nhóm phụ nữ đơn thân/phụ nữ làm mẹ đơn thân qua các tác giả Lê Thi (1996),(2002); Zarina và Kamil (2012); Wang, Parker, và Taylor (2013)
* Về việc làm cho phụ nữ đơn thân
Các tác giả tập trung vào mảng sinh kế cho người phụ nữ đơn thân, Phần này được chia thành nhiều chủ đề nghiên cứu Thứ nhất là các nghiên cứu về phương pháp tiếp cận sinh kế với các tác giả DFID (1999); Kollmair và Gamper (2002); Ashley và Carney (1999); Krantz (2001) Thứ hai, nghiên cứu về ứng
Trang 115
dụng của khung sinh kế bền vững trong thực tiễn qua các tác giả Solesbury (2003); Chowdhury (2014) Thứ ba, nghiên cứu về loại hình và phương thức chuyển đổi sinh kế với các tác giả Nguyễn Duy Thắng, 2007; Nguyễn Văn Sửu (2014); Dương Chí Thiện và Vũ Mạnh Lợi (2014); Nguyễn Xuân Mai và Nguyễn Duy Thắng (2011) Thứ tư, nghiên cứu về sinh kế của phụ nữ và phụ nữ làm mẹ đơn thân được thực hiện bởi các tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (2006) ; Collin và Mayer (2006); Nguyễn Thị Thanh Tâm (2008)
* Phụ nữ và việc làm cũng sớm được đề cập trong Công ước và Pháp luật quy định chung của Quốc tế:
Về lĩnh vực chính trị: Tương ứng với điều 7,8 của Công ước CEDAW và
điều 25 của công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 thì điều 63 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi năm 2001) quy định: “Công dân, nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.” Như vậy, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đã ghi nhận một cách cụ thể về quyền trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ
Về lĩnh vực lao động, việc làm: Tương ứng với điều 11 CEDAW, điều 14
của công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 điều
109 Bộ luật Lao động quy định : “nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng một mặt với nam giới…”
Về lĩnh vực giáo dục: Trên cơ sở nội dung của điều 10 công ước CEDAW
điều 63 Hiến pháp 92 quy định: phụ nữ và nam giới bình đẳng với nam giới về phương diện văn hóa, xã hội Cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp điều 14 luật bình đẳng giới năm 2006 quy định nam nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo
Trang 126
2.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện tượng bà mẹ đơn thân là một hiện tượng không mới trong xã hội nhưng phát triển mạnh và thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu thì chỉ mới khoảng gần chục năm gần đây Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tượng này chủ yếu là của những nhà nghiên cứu xã hội học chuyên nghiên cứu về phụ
nữ Nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến vấn đề bà mẹ đơn thân chính là GS
Lê Thi Trong hai nghiên cứu của mình là Cuộc sống của phụ nữ đơn thân Việt Nam và Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng, Lê Thi đã miêu tả khá chi tiết về
cuộc sống của những bà mẹ đơn thân Tuy nhiên, hai cuốn sách này chủ yếu thiên về nghiên cứu xã hội học, chỉ miêu tả về cuộc sống của những bà mẹ đơn thân ở một khu vực nhất định Đối tượng của Lê Thi hướng đến khá là đa dạng,
cả những trường hợp góa phụ, li hôn và không kết hôn, địa bàn khảo sát là một vùng nông thôn với những phụ nữ là công nhân Những nghiên cứu của Lê Thi vừa mở ra những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân, vừa là cơ sở để nhìn nhận, so sánh với những mô hình bà mẹ đơn thân ở đô thị
Gia đình người Việt Nam hiện nay có nhiều biến đổi và nhiều vấn đề khá phức tạp Chính vì thế những nghiên cứu về gia đình người Việt hiện nay tương
đối nhiều và phong phú Tiêu biểu cho những nghiên cứu này có cuốn Gia đình người Việt ngày nay của Trương Mỹ Hoa và Lê Thi, Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới của Nguyễn Hữu Minh chủ biên, Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay của Lê Thị Hân…Những cuốn sách này có đề cập những vấn đề
của gia đình Việt Nam hiện nay trong đó có hiện tượng bà mẹ đơn thân Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ nói khái khái quát về sự ra đời của hiện tượng này và một vài đánh giá về hiện tượng này đối với gia đình người Việt
Nằm trong dự án nâng cao chất lượng đời sống của những hộ bà mẹ đơn thân của Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, một số bài báo viết về mô hình này
Trang 137
đã bắt đầu gợi mở những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân Những nghiên cứu này chú trọng đến mảng xã hội học và hướng đến xây dựng những chính sách giúp đỡ cho những bà mẹ đơn thân
Những nghiên cứu cụ thể và sâu sát nhất với cuộc sống của những bà mẹ đơn thân ở khu vực đô thị có lẽ là những bài viết phản ánh về xu hướng này trên báo chí Những bài viết có nhân chứng cụ thể, có những sự kiện có thật đã phần nào mô tả và có những đánh giá đúng đắn về xu hướng này Tuy chỉ dựa vào một vài trường hợp cụ và những đánh giá còn sơ sài, không phải là những bài nghiên cứu thực sự nhưng những bài viết ấy vẫn cung cấp nhiều dẫn chứng, tư liệu quý cho khóa luận
Gần đây, đề cập đến vấn đề PNNĐT, chủ đề này được rất nhiều luận văn, luận án tiến sĩ lựa chọn để thực hiện đề tài:
Lê Thị Việt Trinh (2011), Luận án “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ
nghèo đơn thân tại xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” Tác giả
đã hệ thống các cơ sở lý thuyết về phụ nữ đơn thân, nêu lên những nhu cầu cơ bản của phụ nữ nghèo đơn thân, từ đó tác giả chọn 1 trường hợp để sử dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân để hỗ trợ thân chủ Tác giả đề tài đã trú trọng đến các giải pháp tăng năng lực của bản thân thân chủ, tìm kiếm và phát huy điểm mạnh của thân chủ cùng với những nguồn lực hõ trợ từ bên ngoài để giúp thân chủ có việc làm và tạo thu nhập ổn định
Võ Thị Cẩm Ly (2017), Luận án tiến sĩ “Phụ nữ đơn thân làm mẹ ở nông
thôn Bắc trung bộ: chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” (nghiên cứu trường
hợp tại Yên Thành, Nghệ An) Mục đích nghiên cứu của luận án là mang lại một
sự hiểu biết có hệ thống về chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế của nhóm phụ
nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ mà cụ thể là ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Trên cơ sở đó luận án hướng tới bổ sung một số quan
Trang 148
điểm lý thuyết về chân dung xã hội của nhóm phụ nữ làm mẹ đơn thân và sinh
kế của họ Một mục đích khác của luận án là qua kết quả nghiên cứu nêu lên một
số hàm ý về mặt chính sách để cải thiện sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân
Ngoài ra, còn một số đề tài nổi bật như:
“Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo
và giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng” do trung tâm
nghiên cứu khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006
Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt động
giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu trường
hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm 2008, đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm Ly với đề tài: “Phụ
nữ nghèo ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An: thực trạng, nguyên nhân và chiến lược thoát nghèo” (năm 2010) đã làm rõ bức tranh về thực trạng sự nghèo khổ
của phụ nữ ở đô thị
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài:“Công tác
xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái - huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An” của tác giả Vũ Thị Phương Hảo (năm 2011)
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Nguyễn Thị Quyên với đề tài:
“Công tác xã hội nhóm đối với Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” (năm 2017) đã làm rõ bức tranh về thực
trạng sự nghèo khổ của phụ nữ vùng nông thôn
Trang 159
Như vậy, có thể thấy, đề tài bà mẹ đơn thân vẫn và một đề tài mới, có nhiều mảng trống trong nhiên cứu, nhất là nghiên cứu dưới góc độ công tác xã hội về nhu cầu việc làm và có thu nhập để đảm bảo cuộc sống gia đình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ và phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội để đề ra các giải pháp phát triển hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ
từ thực tiễn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
4 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 1610
Phạm vi về thời gian thực hiện nghiên cứu: đềtài triển khai nghiên cứu từ
tháng 02/2019 đến tháng 09 năm 2019
Phạm vi về không gian: Các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ Phụ nữ đơn
thân nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội
Phạm vi về khách thể: 60 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ 25 đến
55 tuổi; 02 cán bộ Phòng lao động thương binh xã hội huyện; 02 cán bộ Hội phụ
Nghiên cứu vấn đề về lý luận trong hệ thống tiếp cận chỉnh thể: nghiên cứu hệ thống những lý luận có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố
có liên quan đến hoạt động hỗ trợ việc làm của công tác xã hội đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu của đề tài Nguồn tài liệu nghiên cứu được sử dụng cho đề tài được khai thác
từ 02 mảng chính như sau:
Trang 1711
Phân tích tài liệu, tìm hiểu tổng quan các nghiên cứu trong nước về tình hình việc làm đối với phụ nữ, phụ nữ đơn thân qua các sách báo, tạp chí, và mạng Internet Đồng thời tìm hiểu các tài liệu tập huấn, một số kỹ năng Công tác
xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn và một số luật, chính sách cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ để có kỹ năng làm việc với nhóm đối tượng này tại cộng đồng
Thông qua các báo cáo tổng kết hàng năm của huyện Quốc Oai; các báo cáo của các tổ chức liên quan để biết tình hình việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ cũng như những hỗ trợ cho nhóm đối tượng này tại cộng đồng
* Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát chính là một phương pháp cơ bản để nhận thức hiện tượng, sự vật Nó được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu và trong nhiều giai đoạn như tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏtại địa phương Mục đích của quan sát để hiểu về đời sống, nhu cầu, mong muốn trong cuộc sống của họ…
* Phương pháp điều tra bảng hỏi
Điều tra bảng tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách thể nghiên cứu nhằm thu thập thông tin để làm rõ thực trạng việc làm tại địa phương và nhu cầu
hỗ trợ từ các chính sách, các hoạt động đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ.Từ đó đánh giá về khả năng đáp ứng nhu cầu, hoạt động hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Mẫu nghiên cứu: điều tra và lấy thông tin từ người được hỏi, tác giả tiến hành chọn 60 phụ nữ đơn thân từ 25 đến 55 tuổi của 03 xã :xã Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa để thu thập thông tin, số liệu về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi
Trang 1812
con nhỏ có được hưởng và hỗ trợ của những dịch vụ công tác xã hội tại địa phương không, các dịch vụ công tác xã hội có phù hợp với nhu cầu mong muốn của họ hay không; Những thông tin thu thập được từ bảng hỏi sẽ làm cơ sở cho tác giả đề xuất những giải pháp thiết thực để các hoạt động công tác xã hội đối với việc làm cho nhóm đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân phù hợp và đạt hiệu quả hơn
Cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo cách lấy mẫu thuận tiện
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp mà việc trao đổi trực tiếp giữa người phỏng vấn và được trả lời phỏng vấn dựa trên các mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập các thông tin về thực trạng hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, các yếu tố tác động đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội ở cộng đồng để có nhận định,hiểu rõ hơnvề các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đồng thời đánh giá hiệu quả dịch vụ công tác xã hội tại địa phương
đã đáp ứng nhu cầu của nhóm đói tượng này hay chưa
Phỏng vấn sâu được tiến hành với: 06 phụ nữ nghèo đơn thân của các xã Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 03 cán bộ phụ trách công tác phụ nữ xã Sài Sơn, xã Yên Sơn, xã Cộng Hòa; 02 cán bộ của Phòng lao động Thương binh và
Xã hội của huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
* Phương pháp xử lý dữ liệu: Đối với dữ liệu định tính của phỏng vấn sâu
tôi dùng phương pháp tổng hợp, phân tích… thể hiện tỷ lệ và tỷ trọng dưới dạng
vẽ biểu đồ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 1913
Bằng phương pháp tiếp cận công tác xã hội, đề tài đã tổng hợp được khung lý luận nghiên cứu, đồng thời cũng là cơ sở lý luận của công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ Qua đó đã tổng hợp được các khái niệm, mục tiêu, nội dung, phương pháp, tiến trình công tác xã hội, các nhân tố ảnh hưởng và cơ sở luật pháp liên quan
Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ nói chung và phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu giúp chúng ta thấy được bức tranh về thực trạng về đời sống và việc làm của phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Qua đó giúp ta biết được nhu cầu về việc làm và các mong muốn của họ Đồng thời góp phần cung cấp thông tin với các tổ chức xã hội tại địa phương, đề xuất các giải pháp cũng như các khuyến nghị để có những chính sách hỗ trợ nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏđể họ có cuộc sống tốt hơn
7 Kết cấu của luận văn
Kết cầu luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục thì luận văn gồm có 3 chương dưới đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm việc đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tổ chức các hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội trong những năm tới
Trang 2014
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀCÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ
VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về công tác xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội Sau đây là một số khái niệm về CTXH và nghề CTXH được rất nhiều các nhà nghiên cứu và những người thực hành CTXH trên thế giới sử dụng và tham khảo:
Đối với Hiệp hội các quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ
(NASW) đưa ra định nghĩa như sau: “Công tác xã hội là hoạt động mang
tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm, hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ
và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.” [14 ,40]
Tại hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội (IFSW) diễn ra vào tháng 7/2000, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về CTXH
như sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp và những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã hội”[14,43]
Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính
Trang 2115
sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội Theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010
-2020: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo
các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ
xã hội”
Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề
về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” [9, tr.4]
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về CTXH, ta có thể tổng kết
“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ
giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo
an sinh xã hội” [13, 19]
1.1.2 Khái niệm về nghèo
Nghèo là một hiện tượng kinh tế mang tính chất xã hội toàn cầu Nó không những tồn tại ở các nước có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn tồn tại ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên mỗi quốc gia đều
sử dụng một khái niệm để xác định múc độ nghèo đồng thời đưa ra các
Trang 2216
tiêu chí xác định nghèo khổ Giới hạn nghèo đói của các nước được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng
cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá cả hiện hành
Theo Ngân hàng thế gới(WB): “ Đói nghèo không chỉ bao hàm sự
khốn cùng về vật chất ( được đo lường theo một khái niệm về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế ( Theo
báo cáo phát triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói)
Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc- Thái Lan 9/1993, đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nước khác
nhau là khác nhau
Xác định giàu nghèo đói là một việc khó khăn vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia và được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau
Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
1.1.3 Khái niệm về phụ nữ đơn thân
Về “phụ nữ đơn thân” đã có nhiều cách hiểu khác nhau:
Theo tác giả Lê Thi: “Phụ nữ đơn thân là những phụ nữ chưa kết hôn, đã từng kết hôn nhưng vợ, chồng họ sống xa cách với rất nhiều lý do
Trang 23Phụ nữ đơn thân được tác giả đề cập trong đề tài nghiên cứu này được hiểu là những người phụ nữ chưa lấy chồng hay không muốn lấy chồng, những người phụ nữ góa bụa, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ ly hôn Họ có thể có con (hay con nuôi) hoặc không có con Họ có thể sống một mình hay chung sống cùng con, gia đình, họ hàng [12]
Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu
về nhóm phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ đang được hưởng chế độ trợ cấp Bảo trợ xã hội
1.1.4 Khái niệm công tác xã hội với phụ nữ nghèo đơn thân
CTXH với PNNĐT là hoạt động giúp đỡ chuyên nghiệp của nhân viên CTXH nhằm hỗ trợ và tư vấn việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động ngồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ nhóm PNNĐT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động tư vấn, hỗ trợ giúp họ một cách hiệu quả để họ vượt qua những rào cản và đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng của sự công bằng như mọi người trong xã hội
Mục đích của CTXH với PNNĐT là: Đánh giá, tìm hiểu mong muốn và nhu cầu về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân, Tư vấn và giới
Trang 2418
thiệu việc làm , Kết nối các nguồn lực, Hỗ trợ tiếp cận các chính sách xã hội, Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ Trợ giúp, khuyến khích, thúc đẩy và tăng cường việc thực hiện các chức năng xã hội của cá nhân, nhóm, các tổ chức và các cộng đồng của nhóm PNNĐT; Tham gia vào việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội, các dịch vụ
xã hội, các nguồn tài nguyên và các chương trình để đáp ứng những nhu cầu của nhóm PNNĐT và hỗ trợ cho sự phát triển của họ; Theo đuổi những chính sách, dịch vụ, tài nguyên và chương trìnhthông qua công tác biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành động chính trị để tăng quyền lực cho họ nhằm đảm bảo sự công bằng và
sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội
Do vậy NVCTXH có vai trò trực tiếp là người thu thập thông tin, lập
kế hoạch, thực hiện kế hoạch, giám sát, đánh giá, lượng giá,…và vai trò gián tiếp là người tham vấn, tư vấn, người hoạch định chính sách, người nghiên cứu, quản lý, điều phối các hoạt động…thì NVCTXH cần hỗ trợ, phối hợp vận động các nguồn lực tài nguyên hỗ trợ họ, xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động giúp đỡ họ và cung cấp cho PNNĐT và người nhà họ các loại dịch vụ hỗ trợ để phát triển
1.1.5 Khái niệm việc làm
Việc làm là một nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo đáp ứng đầy đủ cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động, đảm bảo việc làm cho người lao động đã và đang được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong
Bộ luật Lao động đầu tiên ở nước ta Việc làm và giải quyết việc làm cho
Trang 25Thực tế việc làm được thể hiện dưới 03 hình thức như sau:
- Làm công việc để được nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc làm đó
- Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền
sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý
Ngoài ra, người ta có thể chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian và việc làm thêm
- Việc làm toàn thời gian: Đó là một công việc làm trong 8 tiếng/ ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày /tuần
- Việc làm bán thời gian: Là một công việc làm không đủ thời gian, giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần Thời gian làm việc có thể dao động từ 1 đến 5 tiếng / ngày và không liên tục
- Việc làm thêm: Là một công việc không chính thức và không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức, ổn định
Trang 2620
1.1.6 Khái niệm hỗ trợ việc làm
Để hiểu khái niệm về hỗ trợ việc làm cần phải hiểu thế nào là hỗ trợ
và các hoạt động hỗ trợ, sau đó mới đến hỗ trợ việc làm Đối với cách hiểu thường thì hỗ trợ là công việc, hoạt động và suy nghĩ của cá nhân/ tổ chức nhằm giúp đỡ một người, nhóm người vượt qua vấn đề mà họ đang gặp phải bằng các phương thức, hình thức khác nhau, gồm cả về Tinh thần, thể chất, tiền bạc nhằm khơi dậy tiềm lực của người đó để họ có đủ khả năng đương đầu với mọi hoàn cảnh khó khăn
Hỗ trợ việc làm nói chung và việc làm cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nói riêng được hiểu là tổng thể các biện pháp, hoạt động của
tổ chức, cá nhân như tư vấn nghề nghiệp, tạo việc làmdạy nghề, hướng dẫn cách làm ăn, hỗ trợ vốn, điều kiện phương thức sản xuất kinh doanh… để tạo cho đối tượng được hỗ trợ có việc làm, thu nhập, duy trì, phát triển việc làm và ổn định cuộc sống Trong đó Đảng và Nhà nước, ngành CTXH có nghĩa vụ, trách nhiệm tác động, hỗ trợ để PNNĐT phát triển, tạo ra sự phát triển thúc đẩy họ duy trì việc làm
1.1.7 Khái niệm công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm
Khái niệm CTXH trong hỗ trợ việc làm đóng vai trò chủ động, tích cực giải quyết vấn đề việc làm một cách hiệu quả Để đưa ra được mục tiêu có việc làm, CTXH phải thực hiện được việc đánh giá những khả năng, xác định những thế mạnh và nguồn lực, nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống, phát triển các kế hoạch để giải quyết và ủng hộ các nỗ lực của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ để tạo ra những thay đổi trong cuộc sống cũng như hoàn cảnh của họ Kết nối phụ nữ đơn thân với các nguồn lực cần thiết Đồng thời CTXH là công cụ để chính sách và dịch vụ cung cấp phúc lợi tốt nhất, nâng cao chất lượng, chuyên nghiệp
Trang 27Đồng thời, CTXH có các hoạt động tư vấn để chính quyền có những chính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa sự phát sinh các vấn đề xã hội, đảm bảo quyền và sự tham gia vào thị trường việc làm của người lao động CTXH còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn, cung cấp kiến thức cho gia đình, người thân cách chăm sóc người khuyết tật để giúp đối tượng nâng cao năng lực, nâng cao chắc năng của
họ, có khả năng tự chăm sóc, phòng ngừa các vấn đề trong cuộc sống, tự tin và trở nên chủ động tìm kiếm, tiếp cận việc làm và có việc làm, hòa nhập xã hội dễ dàng hơn
1.1.8 Một số nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội tỏng hỗ trợ phụ
ữn nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Nguyên tắc cá nhân hóa
Mỗi thân chủ phải được nhân viên xã hội hiểu và nhìn nhận như một
cá nhân độc lập có cá tính riêng biệt, không giống ai trong cộng đồng của mình Đây chính là điều quan trọng nhất trong nguyên tắc cá nhân hóa để nhân viên xã hội can thiệp trong quá trình giúp đỡ thân chủ
Chấp nhận thân chủ
Chấp nhận thân chủ có nghĩa đòi hỏi nhân viên xã hội phải nhìn nhận thân chủ như vốn thân chủ đó có với mọi phẩm chất tốt và xấu, điểm mạnh và điểm yếu,….của thân chủ Điều đó có nghĩa, thân chủ được chấp
Trang 2822
nhận là một con người bình thường cho dù tội lỗi của họ là không thể chấp nhận Tuy nhiên, việc chấp nhận không có nghĩa là việc tha thứ thậm chí biện hộ hay chạy tội cho những hành vi, hành động xã hội của thân chủ mà xã hội không thể chấp nhận Có như vậy, thân chủ mới bộc lộ những vấn đề của họ cho mình
Không phê phán
Không phê phán có nghĩa là đòi hỏi nhân viên xã hội trong quá trình làm việc không được đưa ra bất cứ một sự bình phẩm, kỳ thị hay tỏ vẻ bất bình, bất hợp tác….về hành vi của thân chủ, cho dù họ trong cuộc sống có thể họ là những người từng lầm lỡ Nói chung, thân chủ của công tác xã hội cá nhân là những người có khó khăn khi giải quyết vấn đề trong cuộc sống Họ có những căng thẳng dưới dạng này hay dạng khác Việc chấp nhận, không phê phán của nhân viên xã hội sẽ giúp thân chủ yên tâm và hoàn toàn sẻ chia những điều vướng mắc của mình cho nhân viên xã hội
Quyền tự quyết của đối tượng
Quyền tự quyết, cùng sự tự do trong những quyết định của thân chủ
là một trong những quyên tắc căn bản của công tác xã hội cá nhân miễn sao hậu quả của những quyết định ấy không làm ảnh hưởng, thậm chí gây tổn hại đến người khác và bản thân họ, điều này có nghĩa, những quyết định này phải ở trong những chuẩn mực hành vi mà xã hội có thể chấp nhận được và thân chủ với tư cách là người ra quyết định phải tự chịu trách nhiệm thực hiện và gánh lấy những hậu quả (nếu xảy ra) từ những quyết định của chính mình Còn nhân viên xã hội không được đưa ra những quyết định, lựa chọn hay vạch kế hoạch giúp thân chủ đưa ra những giải pháp để thân chủ tự quyết định mà thôi
Sự tham gia của đối tượng trong việc giải quyết vấn đề
Trang 2923
Kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc tự quyết là sự tham gia của thân chủ trong việc giải quyết vấn đề Thân chủ trở thành đối tượng chính trong việc theo đuổi kế hoạch và thực hiện kế hoạch hành động và nhân viên xã hội đóng vai trò là người tạo cơ hội cho thân chủ tham gia
Sự bí mật của nhân viên xã hội
Sự chia sẻ thông tin của thân chủ với người khác của nhân viên xã hội cho dù người đó là thành viên của gia đình mình hay một đồng nghiệp thân cận… mà chưa có sự đồng ý của thân chủ thì đó là một điều tối kỵ trong hành nghề công tác xã hội Điều đó có nghĩa trong tiến trình hỗ trợ của công tác xã hội, có nhiều điều chỉ nhân viên xã hội mới được thân chủ chia sẻ Những thông tin này đòi hỏi nhân viên xã hội phải giữ bí mật Có như vậy thì mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ mới bền chặt
và qua đó nhân viên xã hội mới hiểu, cảm nhận được xúc cảm của thân chủ và nhìn nhận tình thế của thân chủ như vấn đề của mình
Tự ý thức của nhân viên công tác xã hội
Trong thực hành Công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội phải xây dựng mối quan hệ tin tưởng với thân chủ dựa trên những nguyên tắc chấp nhận, không phê phán Luôn đặt mình vào trong vị trí của thân chủ để cảm nhận về mức độ cảm xúc của thân chủ để có thể nhìn vấn đề của thân chủ như chính thân chủ Tuy nhiên nhân viên xã hội cần phải có cái nhìn khách quan để khỏi mù quáng bởi những cảm xúc quá độ về tình huống
Sự can dự có kiểm soát sẽ giúp cho nhân viên xã hội duy trì một mức
độ suy xét độ lập nhất định bên cạnh một mức độ cảm xúc thích hợp nhằm giúp cho thân chủ có cái nhìn khách quan về vấn đề của mình và xây dựng
kế hoạch một cách tinh tế
1.2 Các Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu đề tài
Trang 3024
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu
Maslow nhìn nhận con người theo hướng nhân đạo vì vậy lý thuyết của ông được xếp vào trường phái nhân văn hiện sinh và đánh giá cao khả năng của con người cũng như bản thân họ tự quyết định lấy cuộc sống của mình Ông cho rằng con người cần phải đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Những nhu cầu này được sắp xếp theo bậc thang từ nhu cầu cơ bản nhất,
có vị trí nền tảng và có ý nghĩa quan trọng nhất tới nhu cầu cao hơn và ở
vị trí thứ bậc thang cao hơn Theo Maslow viên mãn (đạo đức, sáng tạo chấp nhận thực tế, hoàn toàn tự chủ không bị ràng buộc bởi những khuôn sáo) là tầng cao nhất trong 5 nhu cầu cơ bản của con người
Trang 3125
Hình 1.1 Mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow
(Nguồn: Bùi Thị Xuân Mai; Nguyễn Thị Thái Lan; Lim Shaw Hui, Giáo
trình Tham vấn, Đại học Lao động xã hội (2008))
* Nhu cầu thể chất/sinh lý: Đó là những nhu cầu cơ bản nhất trong cuộc sống
hàng ngày của mỗi con người nói chung và PNNĐT nói riêng : như ăn, ở, mặc,
đi lại, sức khỏe Phần lớn những PNĐT là những người nghèo trong xã hội Do điều kiện kinh tế khó khăn cho nên đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ không được tốt Vì vậy, để đảm bảo cho các nhu cầu sinh lý củaPNNĐT được tốt cần phải hỗ trợ cho họ trong các hoạt động phát triển việc làm vì đây là nhu cầu quan trọng của PNNĐT
* Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety needs): Nhu cầu an toàn và an ninh
này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động
cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn
* Nhu cầu xã hội hay nhu cầu tình cảm xã hội hay nhu cầu được yêu thương: Đó nhu cầu của xã hội nói chung và của PNNĐT nói riêng Nhu cầu
yêu thương sẽ giúp PNNĐT vốn đã có nhiều khó khăn, thiệt thòi trong cuộc sống tạo được động lực thôi thúc ý chí và nghị lực của PNNĐT, giúp họchòa nhập cộng đồng, tạo tinh thần lạc quan trước những khó khăn của cuộc sống bằng chính sự động viên của gia đình, cộng đồng và xã hội
* Nhu cầu được tôn trọng: Theo A Maslow đó là tôn trọng chính bản
thân mình, được tôn trọng và có địa vị xã hội Đối với PNNĐT nhu cầu được tôn trọng ở đây chính là sự bình đẳng, được lắng nghe, không bị coi thường, ghi nhận những chính kiến cá nhân, bình đẳng quyền lợi như những người bình thường khác
Trang 3226
* Nhu cầu hoàn thiện và phát triển: Đây là nấc cao thang nhất trong
thang nhu cầu của A Maslow Khi NKT đã được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng thì PNNĐT luôn muốn tự phát triển và thể hiện tiềm năng của mình và có thể tự lao động, làm việc chăm lo tốt được bản thân
Như vậy, theo lý thuyết này để tồn tại và phát triển con người cần phải đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của bản thân, thỏa mãn từ nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn Với các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho PNNĐT cần tiếp cận theo nhu cầu và sắp xếp thự tự nhu cầu ưu tiên một cách hợp lý, nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được bảo đảm, nhu cầu nào trước, nhucầu nào sau [23, tr.62] Thông qua lý thuyết về thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, nhân viên xã hội sẽ tìm hiểu và chỉ ra hệ thống những nhu cầu của thân chủ Phù hợp với nhu cầu của đối tượng là yêu cầu tiên quyết, không thể thiếu quyết định hiệu quả của các hoạt động trợ giúp; việc tìm hiểu nhu cầu của nhóm thân chủ là khâu không thể thiếu trong việc thực hành công tác xã hội
Thuyết nhu cầu của Maslow là căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu của con người nói chung Đối tượng và vấn đề của họ được đặt vào vị trí trung tâm chứ không phải ý muốn chủ quan của cơ quan hỗ trợ hay của nhân viên xã hội Cung cấp đúng các dịch vụ mà đối tượng mong muốn cũng như các hỗ trợ cần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn đề mà đối tượng gặp phải
Tiếp cận theo nhu cầu là cách tiếp cận mang tính nhân văn Tính nhân văn thể hiện ở việc coi trọng con người và những nhu cầu của chính bản thân họ Tiếp cận theo thuyết nhu cầu của Maslow, nhân viên CTXH đặt những người phụ nữ nghèo đơn thân đang nuôi con nhỏ và những đặc điểm riêng của họ vào
vị trí trung tâm Tiếp cận theo nhu cầu giúp nhân viên xã hội loại bỏ tính chủ
Trang 3327
quan khi tiếp cận và nhận diện các đối tượng Thay vào đó nhân viên xã hội cần phải lắng nghe để cảm thông một cách sâu sắc với những mong muốn của đối tượng Tính nhân văn còn được thể hiện ở việc tin tưởng vào khả năng của con người trong việc tự làm chủ những vấn đề của mình Nhân viên xã hội với cách tiếp cận theo nhu cầu luôn tin tưởng đối tượng có khả năng tự giải quyết vấn đề của chính họ Vì thế, sau khi tìm ra những nhu cầu của thân chủ, nhân viên xã hội sẽ cố gắng một cách tối đa để động viên, khích lệ thân chủ tham gia vào quá trình hiện thực hoá các nhu cầu của họ, cùng với sự hỗ trợ của các nguồn lực cần thiết
Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con:
Thứ nhất, đa số các phụ nữ đơn thân nuôi con bị thiếu thốn về các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cá nhân , gia đình Bên cạnh đó có rất nhiều người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự đảm bảo cho cuộc sống của cá nhân nhân của họ như việc, học hành, lo ăn, chữa bệnh cho con cái… và thậm chí có nguy cơ bị đe doạ đến sự an toàn về cuộc sống của họ Những đối tượng này cần đến sự giúp đỡ của xã hội, nhà nước và đặc biệt là ngành CTXH
Thứ hai, đó là việc đáp ứng những nhu cầu con người đó là động cơ thúc đẩy họ tham gia , hoạt động xã hội, hoạt động sản xuất Nếu không đáp ứng được các nhu cầu của con người thì họ cũng dần mất đi động cơ tham gia đóng góp cho xã hội
Thứ ba, tiếp cận theo những nhu cầu sẽ giúp hỗ trợ giảm các chi phí , tăng hiệu quả để tránh được những dư thừa hay không đầy đủ khi trợ giúp cho thân chủ
1.2.2 Lý thuyết trao quyền
Trang 3428
Theo Bradford W Sheafor/Charle R Horejsi: Thuật ngữ trao quyền điều đó được hiểu là ủy quyền ai đó sức mạnh hay ủy quyền cho ai đó nắm lấy sức mạnh Ứng dụng trong công tác xã hội, thuật ngữ trao quyền chỉ dẫn cách thức làm giúp cho đối tượng/PNNĐT đạt được sức mạnh cá nhân và sức mạnh chính trị
Việc sử dụng lý thuyết trao quyền nhằm giúp cho PNNĐT tự quyết định và hành động thông qua cuộc sống của họ, giúp họ gia tăng khả năng và sự tự tin của chính bản thân mình cũng như việc tìm kiếm các giải pháp đối với các vấn
đề mà họ đang gặp phải Đồng thời giúp cho PNNĐT tự nhìn nhận bản thân để
tự có những điều chỉnh phù hợp với những hạn chế của mình, kịp thời giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất [41]
1.2.3 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Các ý tưởng về lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết về hệ thống tổng quát được triển khai ở những thập kỷ 1940 và 1950 trong các ngành học về khoa học quản trị và tâm lý học và được Von Bertalanffy (1971) tổng hợp lại
Một hệ thống được định nghĩa bởi Bertalanffy là “một tập hợp các yếu
tố đứng trong sự tương tác”, một tập hợp có đủ điều kiện để xác định là
một nhóm thì sẽ được nhìn nhận giống như một hệ thống, những nhóm nhỏ hơn tồn tại trong nhóm lớn Mỗi hệ thống được phân định bởi một vài dạng
“ranh giới” – một đường kẻ không có thực để xác định các yếu tố bên trong
và bên ngoài hệ thống Những thế đa dạng vượt qua ranh giới của hệ thống,
có thể gọi là năng lượng Chúng có thể tồn tại ở những dạng khác nhau và
có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới tiến trình phát triển của cộng đồng Hệ thống đóng là những hệ thống không có những sự trao đổi vượt qua ranh giới, hệ thống mở là những hệ thống xảy ra khi năng lượng vượt ra
Trang 3529
được những ranh giới có thể thẩm thấu được [19, tr.31]
Pincus và Minahan (1973) xác định 3 loại hệ thống trong xã hội như sau: Hệ thống không chính thức hay hệ thống tự nhiên (như gia đình, bạn
bè, các đồng nghiệp…); hệ thống chính thức: các tổ chức xã hội, hiệp đoàn
xã hội (như nhóm cộng đồng, công đoàn…); hệ thống xã hội: những chương trình, phong trào xã hội, hệ thống cung cấp dịch vụ phúc lợi xã hội (như bệnh viện, trường học…) [19, tr.33]
Lý thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến việc cá nhân trong mối quan hệ với các chủ thể khác nhau trong xã hội Trong đó đặc biệt mô tả đến mối liên hệ có sự tác động đến thân chủ Đại diện cho những người theo thuyết hệ thống là Hasson, Macoslee, Sipori…
Lý thuyết về hệ thống sinh thái trong công tác xã hội thì cho rằng các
hệ thống với tư cách là tập hợp các bộ phận tương tác với nhau và hành xử như toàn thể thống nhất Với cách tiếp cận đó, chủ yếu quan tâm đến các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố hay thành phần của đối tượng để phát hiện và tìm hiểu những thuộc tính mới có tính toàn thể mà từng thành phần không có được khi nghiên cứu các đối tượng , thường được gọi là tính trội của hệ thống Cùng với tính trội thì lý thuyết hệ thống cũng nghiên cứu được những thuộc tính quan trọng khác như: tính có mục tiêu, tính đa chiều, tính mở, , tính tự tổ chức… của các hệ thống đặc biệt là những hệ thống phức tạp Môi trường bao gồm môi trường xã hội và môi trường tự nhiên
Để hiểu rõ một yếu tố nào trong môi trường thì chúng ta cần phải tìm hiểu
cả môi trường xung quanh của họ Vì vậy bất cứ sự giúp đỡ hoặc can thiệp một cá nhân hay tổ chức xã hội nào đó cũng liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống
Thuyết hệ thống được ứng dụng trong hoạt động công tác xã hội hỗ trợ việc
Trang 3630
Xã hội, hệ thống Chính sách, dịch vụ
Gia đình, bạn bè, trường học
Cá nhân
làm cho PNNĐT để chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng như thế nào Lý thuyết hệ thống trợ giúp đề tài trong việc tìm hiểu đặc điểm cộng đồng thực hiện nghiên cứu kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội từ đó nhìn nhận những tác động từ phía cộng đồng chi phối tới đời sống của PNNĐT và các hoạt động hỗ trợ việc làm cho PNNĐT
Tập hợp về khái niệm hệ thống sinh thái trong công tác xã hội được hiểu
đó là sự tương tác qua lại giữa cá nhân với môi trường xung quanh Khi tiến hành nghiên cứu đặt PNNĐT trong môi trường nghiên cứu của họ và xem xét sự
chi phối của môi trường tác động trở lại đối với PNNĐT
Hình 1.2 Các hệ thống sinh thái trong công tác xã hội
(Nguồn: Phạm Huy Dũng, Giáo trình Bài giảng công tác xã hội, (Lý thuyết và
thực hành CTXH trực tiếp) Nhà xuất bản Đại học Sư phạm)
Thuyết hệ thống ứng dụng trong công tác xã hội với hỗ trợ việc làm cho PNNĐT để tìm ra được nguồn lực, sự kết nối, mối liên hệ giữa PNNĐT trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè, hàng xóm, các tổ chức xã hội, cũng như chính quyền địa phương…giúp cho PNNĐT tự tin hòa nhập cộng đồng
Trang 3731
Cả hệ thống lý thuyết hệ thống và sinh thái đều hỗ trợ rất lớn cho những người làm công tác xã hội trong mọi lĩnh vực, nó cung cấp cho nhân viên CTXH khuôn khổ để phân tích sự tương tác luôn thay đổi và luôn tác động lên con người
Trên cơ sở đó thì NVXH khi xem xét về vấn đề của thân chủ, phải xem xét thân chủ như một hệ thống và có mối liên hệ tổng hợp với các hệ thống khác lớn hơn như , môi trường gia đình, bối cảnh, cộng đồng… chứ không được xem
họ như các yếu tố tách biệt, tự thân và vận hành một mình Vì thế khi tiến hành phân tích, nhận diện về thân chủ cần đặt thân chủ trong hệ thống sinh thái môi trường, gia đình và cộng đồng… để hiểu rõ về các mối quan hệ cũng như các vấn đề mà họ đang gặp phải Bên cạnh đó nhân viên CTXH phải đặt thân chủ trong hệ thống môi trường cũng là để tìm ra cấp độ can thiệp (nghĩa là xem vấn
đề của họ nằm ở đâu và họ cần được giúp đỡ, can thiệp ở cấp độ nào)
Trong việc tìm hiểu các vấn đề về phụ nữ đơn thân nuôi con thì lý thuyết này được ứng dụng vào việc đánh giá các chính sách, rà soát, các nguồn lực hỗ trợ bên trong và bên ngoài cho thân chủ , các mối quan hệ xã hội, nhằm lý giải
và đánh giá đúng mức độ tác động đề tìm ra nguyên nhân, giải quyết vấn đề bằng cách kết nối các nguồn lực Song song với quá trình can thiệp với từng vấn
đề cụ thể thì NVXH có thể kết hợp, huy động đuợc các nguồn lực có sẵn, những dịch vụ còn ẩn hoặc thân chủ chưa có điều kiện tiếp nhận để giúp cho quá trình can thiệp được hiệu quả hơn
1.3 Đặc điểm của phụ nữ đơn thân và việc làm
1.3.1 Các đặc điểm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Đặc điểm về tâm lý:
Mẹ đơn thân thường có những bất ổn về tâm lý Những phụ nữ khi bước chân lên con đường làm mẹ đơn thân dù là tự nguyện hay bắt buộc, thì cũng đều
Trang 3832
trải qua những đấu tranh về mặt tâm lý, họ phải lựa chọn giữa nên và không nên,
họ phải chuẩn bị chu đáo về mặt tài chính cũng như những kiến thức để trở thành một bà mẹ hoàn hảo trong cả hai vai trò : Cha và Mẹ
Vì trẻ em cần sự tác động song song từ hai phía, với sự mềm mỏng, ngọt ngào, tinh tế của người mẹ và sự mạnh mẽ, quyết đoán, khả năng làm chủ từ phía người cha để nhân cách trẻ phát triển hài hòa Và mối lo ngại lớn nhất của những mẹ đơn thân là sợ con mình phát triển tâm lý không ổn định, phải chuẩn
bị tinh thần để trả lời những câu hỏi của con
Rồi những vấn đề về tài chính luôn đè lên vai họ, khi con ốm đau mà không ai giúp đỡ Tất cả những điều đó khiến cho tâm lý của người mẹ trở nên
lo âu, cáu gắt và dễ mất bình tĩnh, nặng nề, từ sự bất ổn đó sẽ dẫn đến những hành động và lời nói thiếu sáng suốt, ảnh hưởng đến sự phát triển của những đứa trẻ trong gia đình
So với các bà mẹ bình thường, mẹ đơn thân có nhiều vấn đề về sức khỏe
và tâm lý hơn Ví dụ trung bình một người làm việc khoảng 40 giờ/một tuần là
đủ để đảm bảo chất lượng công việc và sức khỏe Nhưng các bà mẹ đơn thân không thể cho phép mình một định mức làm việc như vậy, do nhu cầu của con cái và chính bản thân họ nên họ phải gắng để làm việc nhiều hơn Vì vậy, họ dễ
bị kiệt sức, suy giảm trí nhớ, stress thường xuyên và hậu quả thì khó lường
Mối quan hệ xã hội:
Với tâm lý bất ổn của họ, điều này tạo ra rào cản cho họ không chỉ trong việc học tập mà còn trong vấn đề kết bạn với những người khác Họ dễ bị cô lập trong tập thể, thậm chí phải nhận những ánh nhìn không mấy thân thiện cũng như những lời châm chọc, đả kích của bạn bè xung quanh - những người hoàn toàn có cuộc sống đầy đủ và gia đình hạnh phúc
Trang 3933
PNNĐT thường kìm nén cảm xúc của mình, kìm nén những nhu cầu thiết yếu của mình bởi không muốn đưa ra những yêu cầu làm phiền mọi người xung quanh
Tiếp đến là sự ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người Do thường bị ảnh hưởng bởi quan điểm thiếu tích cực về PNNĐT từ chính những người thân trong gia đình Nhiều gia đình vẫn còn suy nghĩ khá nặng nề về PNNĐT, vì họ cho đó là một điều không hay Ở nông thôn, có nhiều gia đình rất đỗi đắng cay và cho là nặng nề khi có PNĐT
Bên cạnh những khó khăn trên mà người PNNĐT phải trải qua, họ lại là người rất giàu về nghị lực, can đảm để vượt qua mọi khó khăn , vất vả trong cuộc sống
Đời sống kinh tế:
Phần lớn PNĐT có trình độ học vấn thấp, số người này chỉ có thể làm lao động phổ thông và thu nhập thấp nên dễ rơi vào bất ổn về kinh tế và tỉ lệ nghèo đói cao hơn so với nhóm nhân khẩu học khác
Đời sống của một bộ phận không nhỏ PNNĐT còn nhiều khó khăn, thuộc
hộ nghèo; vẫn còn PNNĐT chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận chưa đầy đủ các chính sách ưu đãi của Nhà nước về y tế, giáo dục, dạy nghề, việc làm…
Cũng theo nghiên cứu này, nhóm phụ nữ trẻ có cuộc sống “dư dả” hơn nhóm phụ nữ lớn tuổi hơn, do nhận được nhiều hơn sự trợ giúp của gia đình, người thân
1.3.2 Các đặc điểm về việc làm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Mặc dù có những chuyển biến mang tính tích cực, PNNĐT ở Việt Nam vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống nói chung và vấn đề việc làm nói riêng PNNĐT hiện vẫn đang phải đối mặt với những vấn đề về thái độ, cơ
Trang 40PNNĐT chủ yếu làm những công việc mang tính tự phát do không có nhiều lựa chọn Chủ yếu là các lao động giản đơn, tỷ lệ được đào tạo nghề không cao
và đào tạo rồi cũng không phải ai cũng làm được và có thu nhập Nghề nghiệp của họ thường làm là làm nông , may, buôn bán nhỏ Họ tự làm việc tại nhà và một số ít làm trong
1.4 Mục đích, nội dung và quy trình công tác xã hội trong hỗ trợ sinh
kế đối vớiphụ nữ nghèođơn thân
1.4.1 Mục đích CTXH trong hỗ trợ việc làm cho PNNĐT
Hoạt động của CTXH là hướng tới sự thay đổi tích cực trong xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người đặc biệt là những người yếu thế ở trong xã hội CTXH thúc đẩy sự biến đổi xã hội và tăng cường các mối tương tác hài hòa giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ công bằng xã hội Hoạt động CTXH trong hỗ trợ việc làm cho PNNĐT hướng tới những mục đích
cơ bản sau:
− Tư vấn về các dịch vụ xã hội để hỗ trợ cho nhóm PNNĐT và cộng đồng thực hiện được các chức năng và vai trò của mình một cách có hiệu quả
− Hỗ trợ và huy động các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng nâng cao chất lượng sống cũng như năng lực giải quyết vấn đề về việc làm cho