1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy dân ca ba na ở huyện kbang, tỉnh gia lai

131 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Một số khái niệm (16)
    • 1.1.1. Khái niệm dân ca, dân ca Ba-na (16)
    • 1.1.2. Khái niệm di sản văn hóa, bảo tồn, phát huy (18)
  • 1.2. Ban hành văn bản liên quan đến bảo tồn, phát huy dân ca Ba-na (22)
    • 1.2.1 Đảng và Nhà nước (22)
    • 1.2.2. Tỉnh Gia Lai (24)
    • 1.2.3. Huyện Kbang (25)
  • 1.3. Khái quát về dân ca Ba-na (27)
    • 1.3.1. Tính chất, đặc điểm của dân ca Ba-na (27)
    • 1.3.2. Một số giá trị văn hóa, nghệ thuật (33)
    • 1.3.3. Tổng quan về không gian nghiên cứu (36)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT HUY DÂN CA BA-NA (16)
    • 2.1. Công tác bảo tồn dân ca Ba-na (45)
      • 2.1.1. Tình hình hát dân ca ở cộng đồng (45)
      • 2.1.2. Sưu tầm, thống kê các bài dân ca và nghệ nhân hát dân ca (47)
      • 2.1.3. Một số phương pháp bảo tồn hiện nay (49)
    • 2.2. Một số phương pháp phát huy hiện nay (53)
      • 2.2.1. Công tác phối hợp truyền dạy (53)
      • 2.2.2. Tổ chức sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề (54)
      • 2.2.3. Hoạt động truyền thông (58)
    • 2.3. Giới thiệu một số nghệ nhân tiêu biểu (59)
      • 2.3.1. Nghệ nhân Đinh Đi (60)
      • 2.3.2. Nghệ nhân Đinh Huy (61)
      • 2.3.3. Nghệ nhân Đinh B’Li (62)
      • 2.3.6. Nghệ nhân Đinh H’Yươil (65)
      • 2.3.7. Đinh Thị Lenh (65)
      • 2.3.8. Đinh B’Ri (65)
    • 2.4. Đánh giá (66)
      • 2.4.1. Ưu điểm (66)
      • 2.4.2. Tồn tại (68)
      • 2.4.3. Những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na hiện nay (70)
  • Chương 3: XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA DÂN CA BA-NA, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY (45)
    • 3.1. Dự báo xu thế phát triển dân ca Ba-na ở huyện Kbang (73)
      • 3.1.1. Mặt tích cực (73)
      • 3.1.2. Mặt tiêu cực (74)
    • 3.2. Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Ba-na (75)
    • 3.3. Biện pháp bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na (77)
      • 3.3.1. Hoàn thiện văn bản về cơ chế chính sách Trung ương, địa phương (77)
      • 3.3.2. Nghiên cứu, sưu tầm dân ca (83)
      • 3.3.3. Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, phát triển nguồn nhân lực (84)
      • 3.3.4. Tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan (87)
      • 3.3.5. Thông tin tuyên truyền (88)
      • 3.3.6. Đầu tư cơ sở vật chất (91)
      • 3.3.7. Phát huy dân ca Ba-na gắn với văn hóa du lịch (92)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (101)
  • PHỤ LỤC (107)

Nội dung

Một số khái niệm

Khái niệm dân ca, dân ca Ba-na

Dân ca Việt Nam, đặc biệt là dân ca Ba-na, đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của con người ở các vùng miền Bài viết này sẽ khái quát về ý nghĩa và giá trị của dân ca trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa và kết nối cộng đồng.

Dân ca Việt Nam là sự kết hợp giữa lời ca và âm nhạc, phản ánh cuộc sống lao động của người dân qua nhiều làn điệu khác nhau Được sáng tác bởi người lao động, dân ca truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền khẩu, dẫn đến sự biến đổi liên tục về nội dung và ngôn từ Không thuộc về một tác giả cụ thể, dân ca là tài sản chung của cộng đồng, nơi mọi người vừa là người sáng tạo, vừa là người thưởng thức và gìn giữ di sản văn hóa này.

Hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về dân ca, nhưng các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm và diễn đạt khác nhau dựa trên các góc độ tiếp cận khác nhau.

Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan viết:

“Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nên ca hát người ta cũng gọi là thanh nhạc” [41]

Dân ca Việt Nam đã từ lâu trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân, phản ánh sự đa dạng vùng miền và thể loại Nó gắn liền với các giai đoạn trong vòng đời con người, từ khi chào đời, trưởng thành cho đến khi kết thúc cuộc sống.

Dân ca Việt Nam đã được nhiều nhạc sĩ sáng tác lời mới dựa trên các làn điệu truyền thống Nó có năm chức năng quan trọng: giáo dục, lao động, sinh hoạt, nghi lễ và nghệ thuật.

Trong cuốn: Dân ca Ba-na, xuất bản năm 2013, Thạc sĩ Lê Xuân

Hoan viết: “Dân ca, tiếng Ba-na gọi là Joh, Joh là một loại hình diễn xướng dân gian của người Ba-na” [21, tr.9]

Hệ thống văn hóa dân gian của người Ba-na nổi bật với kho tàng dân ca phong phú Sống giữa núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, người Ba-na, với bản chất hiền lành và tình yêu ca hát, đã sáng tác nhiều bài hát dân ca giản dị, phản ánh đời sống hàng ngày của họ.

Họ có thể hát vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, từ sáng sớm đến nửa đêm, bên ánh lửa hồng cùng bạn bè hoặc một mình để tiễn đưa người thân yêu Không gian hát của họ rất đa dạng, bao gồm nương rẫy, bờ suối, trong những buổi giao duyên giữa nam nữ và các lễ hội.

Trong cuốn sách Dân ca Ba-na xuất bản năm 2007, tác giả Nguyễn

Tiếng nói của người Jrai, Ba-na vang lên mọi lúc, mọi nơi, từ những bài hát ru của bà, mẹ, chị cho đến những lời yêu thương giữa trai gái Nó bao gồm cả những lời khuyên dạy của ông bà, chú bác đối với con cháu, phản ánh cuộc sống phong phú và sâu sắc Những tiếng hát ấy xuất hiện trong những khoảnh khắc khác nhau: từ nửa đêm, sáng sớm, đến lúc vui vẻ bên bạn bè hay khi buồn bã một mình Ngay cả trong những giây phút tiễn đưa người thân yêu, tiếng hát vẫn vang lên, thể hiện nỗi đau và sự kết nối của cộng đồng.

Thông qua các bài dân ca, ta cảm nhận sâu sắc tình yêu thương của bà, mẹ dành cho cháu qua lời ru, dạy dỗ, khuyên nhủ, cùng với những lời thì thầm yêu thương của các đôi nam nữ.

Khái niệm di sản văn hóa, bảo tồn, phát huy

Năm 1972, UNESCO đã ban hành Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, khẳng định giá trị văn hóa toàn cầu của di sản văn hóa Di sản văn hóa không chỉ là những tài sản quý giá của cộng đồng trong quá khứ mà còn mang lại giá trị quan trọng cho đời sống hiện tại.

Sự hòa nhập văn hóa toàn cầu dẫn đến việc chúng ta không thể tránh khỏi sự đồng hóa các giá trị văn hóa và truyền thống Do đó, cần thiết phải thực hiện các biện pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa và truyền thống của dân tộc.

Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là tài sản quý giá, không thể tái sinh hoặc thay thế, và dễ bị biến dạng do tác động bên ngoài Do đó, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nhằm giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trong thời đại mới một cách hiệu quả.

Trong cuốn Luật DSVH được xuất bản bởi Nhà xuất bản Lao động-xã hội năm 2017, phần mở đầu của Luật sửa đổi, bổ sung do Quốc hội ban hành ngày 23 tháng 07 năm 2013 đã nêu rõ các quy định quan trọng liên quan đến lĩnh vực này.

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của dân tộc, kết nối cộng đồng 54 dân tộc và là nền tảng cho sự sáng tạo giá trị tinh thần mới Nó không chỉ phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm mà còn giáo dục thế hệ trẻ và góp phần phát triển kinh tế-xã hội DSVH Việt Nam là kho tàng phong phú, đa dạng, có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Luật Di sản văn hóa (DSVH) được ban hành năm 2001, cùng với các sửa đổi bổ sung vào năm 2009 và 2013, đã xác định rõ ràng rằng DSVH bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Điều 1 của Luật DSVH quy định các khía cạnh cơ bản liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa.

Di sản văn hóa theo quy định của luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là những sản phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tại nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thuật ngữ bảo tồn và phát huy hiện đang được chú trọng trong việc quản lý và bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam Theo tác giả Nguyễn Thịnh, bảo tồn là nỗ lực tìm hiểu giá trị di sản và giữ gìn các vật liệu gốc, đồng thời có thể cải tạo khi cần thiết Tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi, như trong trường hợp bảo tồn di tích lịch sử và nền văn hóa các dân tộc Tác giả Đào Duy Anh cũng tóm gọn rằng bảo tồn có nghĩa là "giữ gìn lại".

Tác giả Tô Vũ đã bày tỏ quan điểm của mình về âm nhạc Việt Nam trong cuốn sách "Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại", xuất bản bởi Viện Âm nhạc Hà Nội.

Nội xuất bản năm 2002 nêu rõ rằng đối tượng bảo tồn cần đáp ứng hai điều kiện chính: thứ nhất, nó phải được công nhận là tinh hoa và có giá trị đích thực không thể nghi ngờ; thứ hai, nó cần có khả năng, ít nhất là tiềm năng, để tồn tại lâu dài trước những biến đổi trong đời sống vật chất và tinh thần của con người, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới hiện nay với chính sách mở cửa và cơ chế thị trường.

Bảo tồn văn hóa truyền thống là nỗ lực quan trọng nhằm giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa (DSVH) bằng nhiều phương pháp khác nhau, đảm bảo rằng những giá trị độc đáo của mỗi DSVH không bị thay đổi hay mất mát.

1.1.2.3 Bảo tồn di sản văn hóa

Bảo tồn di sản văn hóa (DSVH) là việc giữ gìn các giá trị văn hóa của dân tộc, hiện đang được Đảng và Nhà nước chú trọng Tùy thuộc vào từng loại hình DSVH, Nhà nước áp dụng các chính sách bảo tồn khác nhau, bao gồm bảo tồn nguyên trạng, bảo tồn trên cơ sở kế thừa và bảo tồn phát triển Công tác này đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu để xây dựng chiến lược phù hợp cho từng loại hình DSVH cụ thể.

Theo Từ điển tiếng Việt, "phát huy" nghĩa là làm cho những điều tốt đẹp tỏa sáng và tiếp tục phát triển Tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển Tiếng Việt (2013) bổ sung rằng "phát huy" còn có nghĩa là gia tăng tác dụng của cái hay, thúc đẩy sự nảy nở mạnh mẽ hơn, đặc biệt là trong việc phát huy sức mạnh tập thể.

Phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng là cách giúp mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhận thức và tự hào về di sản văn hóa của mình Việc này không chỉ nâng cao giá trị văn hóa trong đời sống xã hội mà còn tạo ra những tác động tích cực, khuyến khích nhân rộng những giá trị tốt đẹp trong cộng đồng.

Phát huy giá trị văn hóa con người có nghĩa là làm cho những giá trị này trở nên nổi bật và được nhiều người biết đến, đồng thời giúp chúng tồn tại trong lòng xã hội Việc bảo vệ và gìn giữ những giá trị văn hóa này là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng.

Ban hành văn bản liên quan đến bảo tồn, phát huy dân ca Ba-na

Đảng và Nhà nước

Năm 1951, tại buổi triển lãm Hội họa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em nghệ sĩ cũng là chiến sĩ trên mặt trận ấy" Câu nói này thể hiện sự coi trọng của Người đối với nền văn hóa và những người hoạt động trong lĩnh vực này, khẳng định rằng văn hóa là một phần quan trọng của cách mạng Việt Nam.

Từ khi thành lập, Đảng và nhà nước Việt Nam luôn coi công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc là nhiệm vụ quan trọng trong cách mạng, đồng thời chú trọng đến công tác văn hóa Điều này đã dẫn đến việc đề ra nhiều chủ trương và chính sách văn hóa đa dạng.

Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 3/12/1998 đã chỉ ra những khó khăn trong công tác văn hóa-thông tin ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là tại các khu vực cao, biên giới và sâu Mặc dù có điều kiện phát triển, đời sống văn hóa ở đây vẫn đối mặt với nguy cơ tụt hậu và mất bản sắc văn hóa Chỉ thị đã đề ra 8 mục tiêu và giải pháp nhằm khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế-xã hội, và giảm chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng Việc chú trọng đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào Ba-na, là rất quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn dân ca.

Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg, ban hành ngày 17/6/2003, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, xác định rõ thời gian thực hiện đề án từ năm.

Từ năm 2003 đến 2010, các vùng đồng bào dân tộc thiểu số với dân trí thấp và điều kiện sống khó khăn đã đối mặt với nguy cơ thất thoát các sản phẩm văn hóa truyền thống Điều này đặt ra thách thức cho chính quyền trong việc tuyên truyền, vận động cộng đồng nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Để bà con người Ba-na có thể gìn giữ và phát huy dân ca Ba-na, việc nâng cao dân trí và nhận thức của họ là điều kiện tiên quyết.

Vào ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1270/QĐ-TTg phê duyệt đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020, nhằm mục tiêu phát triển văn hóa cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt là những nhóm dân tộc ít người ở vùng sâu, vùng xa Đề án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào Ba-na tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai Đây là một quyết định quan trọng để các cơ quan liên quan triển khai các biện pháp bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na tại địa phương.

Tỉnh Gia Lai

Nền văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh đang được các cấp ủy Đảng và chính quyền quan tâm thông qua nhiều chính sách nhằm bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na.

Ngày 17/9/2014, Tỉnh ủy tỉnh Gia Lai tiếp tục ban hành Chương trình số: 77/Ctr-TU: Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người

Việt Nam cam kết phát triển bền vững thông qua việc cụ thể hóa 5 quan điểm, 7 mục tiêu, 6 nhiệm vụ và 4 giải pháp cho văn hóa và con người Gia Lai đến năm 2020, với tầm nhìn đến năm 2030 Một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na là phát triển nguồn nhân lực, vì không có nhân lực thì sẽ không có người kế thừa di sản văn hóa truyền thống này.

Công văn số 1483/UBND-NL ngày 11 tháng 4 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác dân vận ở huyện Kbang, đặc biệt trong việc vận động người Ba-na thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Để bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống, đặc biệt là dân ca Ba-na, các cơ quan chức năng cần giúp bà con nhận thức rõ vai trò của dân ca Ba-na trong đời sống hiện đại.

UBND Gia Lai đã ban hành Kế hoạch số 4506/KH-UBND vào ngày 28 tháng 09 năm 2016 nhằm phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, với định hướng đến năm 2030 Mục tiêu chính là nâng cao và phát triển toàn diện nguồn nhân lực về thể lực, trí lực, tác phong, kỷ luật và kỹ năng nghề nghiệp, ưu tiên cho các dân tộc thiểu số có nguồn nhân lực hạn chế Kế hoạch này nhằm thu hẹp khoảng cách với trình độ chung của quốc gia, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước và thị trường lao động hiện tại và tương lai Đồng thời, xây dựng đội ngũ trí thức, doanh nhân và cán bộ người dân tộc thiểu số chất lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và bảo đảm an ninh quốc phòng tại tỉnh Gia Lai.

Huyện Kbang

Đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố then chốt cho sự phát triển của sự nghiệp văn học nghệ thuật, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Nhận thức rõ tầm quan trọng này sẽ giúp đáp ứng hiệu quả các yêu cầu và nhiệm vụ mới.

Từ năm 2008, Huyện ủy đã giao UBND huyện nhiệm vụ củng cố bộ máy quản lý văn hóa thông tin, bao gồm việc tách đơn vị sự nghiệp văn hóa khỏi Phòng VH&TT và thành lập Trung tâm VHTT&TTN huyện Đồng thời, huyện tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ văn hóa, tạo điều kiện cho họ tham gia học tập các chương trình đại học, cao học và lý luận chính trị, nhằm hoàn thiện và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ trong ngành văn hóa.

Vào năm 2011, huyện Kbang đã phối hợp với Sở VHTT&DL ban hành kế hoạch số 223-KH/UBND-SVHTT&DL, ngày 27/5/2011, nhằm tổ chức liên hoan nghệ thuật cồng chiêng cho các huyện phía Đông tỉnh Gia Lai Sự kiện này đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ các đơn vị, đặc biệt là việc lồng ghép các bài hát dân ca Ba-na vào các tiết mục chiêng trình diễn trong liên hoan.

Triển khai Quyết định số 903-QĐ/UBND ngày 23/8/2016 của UBND huyện Kbang, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng trong cộng đồng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020 đã được thực hiện Ngày 20/3/2018, Trung tâm VHTT&TTN huyện Kbang đã ban hành Kế hoạch số 08-KH/TTVHTT&TTN nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện cho năm 2018.

Vào tháng 4, chúng tôi sẽ thực hiện nhiều hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng, bao gồm in ấn và phát hành đĩa nhạc, tổ chức các hoạt động tuyên truyền trực quan, liên hoan nghệ thuật cồng chiêng cho thanh thiếu nhi, mở lớp truyền dạy và chỉnh chiêng, hỗ trợ các gia đình nghệ nhân, cũng như tổ chức cuộc thi tìm hiểu về bảo tồn di sản văn hóa cồng chiêng.

Nhằm tăng cường công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng trong đời sống đồng bào dân tộc Ba-na tại huyện Kbang, kế hoạch gắn kết giữa bảo tồn văn hóa cồng chiêng và phát triển du lịch đã được thực hiện Theo Nghị quyết TW5 (khóa VIII), vào năm 2017, UBND huyện Kbang đã ban hành Kế hoạch số 312-KH/UBND tổ chức Ngày hội văn hóa cồng chiêng toàn huyện và Hội thi nhạc cụ dân tộc, thu hút sự tham gia của nhiều người dân từ 14 xã-thị trấn và đông đảo khán giả đến xem, góp phần quảng bá văn hóa lịch sử của huyện.

Dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy, UBND huyện đã chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa của các dân tộc trên địa bàn Các cơ quan chức năng thường xuyên thực hiện kiểm tra, khảo sát và phân loại di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Hiện tại, huyện đang triển khai trùng tu và nâng cấp ba di tích lịch sử quan trọng: khu căn cứ địa cách mạng - khu 10 (xã Krong), vườn Mít - cánh đồng cô Hầu (xã Nghĩa An), và làng kháng chiến Stơr (xã Tơ Tung) Ba điểm di tích này đang được huyện khai thác để phát triển du lịch, kết hợp với việc quảng bá nét văn hóa dân tộc địa phương thông qua dân ca Ba-na và các hoạt động thực tế khác.

Khái quát về dân ca Ba-na

Tính chất, đặc điểm của dân ca Ba-na

Qua các bài hát, tâm tư và tình cảm của con người qua nhiều thế hệ được ghi lại, phản ánh những yếu tố của cuộc sống đời thường Những thể loại như dân ca lao động, dân ca phong tục tập quán và dân ca tín ngưỡng đều thể hiện sâu sắc những giá trị văn hóa và truyền thống của cộng đồng.

Nhân văn phản ánh những giá trị và đặc trưng của con người qua hành động, suy nghĩ, giao tiếp và tâm linh Trong văn hóa dân ca Ba-na, những câu hát ru và răn dạy con cái ca ngợi tình cảm gia đình, tình cha mẹ và mối quan hệ giữa các thế hệ, thể hiện thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội Trẻ em Ba-na từ khi sinh ra đã được cõng trên lưng và theo cha mẹ lên nương rẫy, nơi mẹ vừa làm việc vừa hát ru, tạo nên những kỷ niệm gắn bó và ấm áp cho trẻ Hát ru không chỉ là truyền thống mà còn là cách thể hiện tình yêu thương, như bài hát "Ru em: Ơ hỡi em!" được mẹ, bà hay chị ru em.

Như con chim bé xinh, chim Ch’rao đáng yêu Chim non chưa biết bay, chim non chưa hát hay Trong vòng tay chị yêu Ơ hỡi em, ơ hỡi em ơ

Các bài hát giao duyên trong dân ca Ba-na thể hiện sự thủy chung và son sắc của tình yêu đôi lứa, nhấn mạnh việc cùng nhau chia sẻ niềm vui và khó khăn trong cuộc sống và lao động.

Ngoài việc phát nương làm rẫy và đan gùi dệt vải, mọi người còn phải thuộc nhiều bài hát dân ca, đặc biệt là những lời hát giao duyên thể hiện tình yêu lứa đôi trong lao động và sản xuất, cũng như trong các ngày lễ hội hay lúc nghỉ ngơi trên các chòi canh Những lời hát này không chỉ là lời hứa hẹn tình yêu thủy chung mà còn ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên của người con gái và dũng khí của người con trai, được ví như hoa, chim, trăng và sao.

Ví như bài: Plukiung Bênh, dân ca Ba-na:

Anh Bênh đứng dậy, bước đi oai phong Anh mặc khố, áo mới và đeo lục lạc

Tiếng lục lạc kêu rung reng, rung reng Cái hông anh thon và chắc nịch

Anh khoác ô vàng trông thật là oai phong

Dân ca Ba-na nổi bật với các bài hát giao duyên giữa nam và nữ, thường được thể hiện trong khi làm rẫy Những bài hát này không chỉ mang tính giải trí mà còn là cách để họ chọc ghẹo và tìm kiếm bạn tình, thể hiện những tâm tư, tình cảm sâu sắc của mình qua lời ca.

Nữ: Anh ơi ! biết làm sao đây

Em yêu anh yêu thật lòng

Ta yêu nhau, yêu hết mình Không thể sống nếu thiếu nhau Nam: Nhưng em ơi phải hỏi bố mẹ đã

Vì chúng mình cùng một cội mà ra Chắc chúng mình không thể lấy nhau được… 1.3.1.2 Tính giáo dục

Dân ca Ba-na không chỉ mang tính nhân văn mà còn giúp con người hoàn thiện nhân cách, bổ sung kiến thức về cuộc sống và xã hội Nó còn tăng cường sự tự tin, khéo léo và hoạt bát, đồng thời hướng con người đến những giá trị chân-thiện-mỹ, mục đích chính của giáo dục.

Những bài hát dân ca Ba-na phản ánh vẻ đẹp của quê hương và tôn vinh những con người cần cù, chịu thương chịu khó Chúng thể hiện tình yêu thương của thế hệ lớn dành cho lớp trẻ và lòng biết ơn của con cái đối với cha mẹ.

Ví như bài: Nhớ ơn cha mẹ:

Dù đi đâu, làm gì Đừng tính toán suy nghĩ Phải luôn luôn cố gắng Chớ quên lời mẹ cha

Những hình ảnh này đã tác động sâu sắc đến lối sống, tư tưởng và đạo đức của nhiều thế hệ, đặc biệt là giới trẻ Qua đó, thế hệ trẻ sẽ thêm yêu quý và hiểu biết về dân ca của dân tộc mình, được sáng tạo bởi ông cha trong quá trình lao động Điều này cũng góp phần nuôi dưỡng những nét đẹp của dân ca Ba-na cho các thế hệ tương lai.

Những lời hát ngắn gọn, xúc tích và dễ hiểu của người Ba-na thể hiện ngôn từ đơn giản nhưng giàu triết lý, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc cho thế hệ sau.

Nghi lễ của người Ba-na rất phong phú và đa dạng, bao gồm các hoạt động văn hóa độc đáo như lễ bỏ mả, lễ ăn trâu, lễ ăn mừng lúa mới, lễ cầu mưa, lễ cúng bến nước và lễ hội cồng chiêng Những lễ hội này không chỉ thể hiện bản sắc văn hóa mà còn gắn liền với đời sống tinh thần của cộng đồng người Ba-na.

Trong mỗi nghi lễ của người đồng bào Ba-na đều có các bài dân ca riêng như:

Lễ bỏ mả của người Ba-na là một nghi lễ quan trọng, diễn ra sau khi hoàn thành các nghi thức tạ ơn thần linh, kéo dài trong nhiều ngày Các gia đình thường chuẩn bị từ ba đến bốn tuần với các vật phẩm như tượng, rượu, thịt, cồng chiêng, con rối và mặt nạ Trong lễ này, nhiều hình thức nghệ thuật được sử dụng, bao gồm hát, múa và cồng chiêng, với những bài hát nổi bật như "Khóc thương bà Jem", "Khóc thương Junh" và "Thương tiếc cháu Sen".

Lễ ăn trâu, hay còn gọi là lễ đâm trâu, là một trong những lễ hội lớn của người Ba-na, diễn ra từ tháng chạp năm trước đến tháng ba năm sau, kéo dài trong ba ngày Chi phí cho lễ hội này được dân làng đóng góp, nhằm tạ ơn thần linh đã phù hộ cho họ có một năm làm ăn thuận lợi và cầu mong sự tiếp tục phù hộ trong năm tới.

Lễ ăn mừng lúa mới là một sự kiện quan trọng diễn ra sau mùa thu hoạch, thể hiện lòng biết ơn của người Ba-na đối với thần lúa Đây là dịp để mừng cho mùa màng bội thu và cầu nguyện cho những vụ thu hoạch tiếp theo được thuận lợi Lễ hội thường được tổ chức tại nhà rông của làng hoặc tại nhà riêng của từng gia đình, như trong bài hát Kon Plei bân phi tơno.

Lễ cầu mưa là một truyền thống hàng năm của người Ba-na, diễn ra vào tháng tư trước mùa trồng trọt Qua việc tổ chức lễ này, người Ba-na hy vọng mang lại sự thuận lợi cho mùa màng.

Lễ cúng bến nước là nghi lễ diễn ra sau mùa thu hoạch nhằm cầu mong thời tiết thuận lợi cho mùa màng, mang lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc Nghi lễ này bắt đầu bằng việc cúng tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn và sự kính trọng đối với ông bà.

Lễ hội cồng chiêng: Năm 2005, Không gian văn hóa Cồng Chiêng

Một số giá trị văn hóa, nghệ thuật

Để hiểu rõ hơn về sự phong phú, đa dạng, tầm quan trọng của dân ca

Ba-na trong đời sống đồng bào nơi đây, Luận văn nghiên cứu làm rõ một số giá trị VHNT của dân ca Ba-na

1.3.2.1 Về giá trị văn hóa

Trải qua nhiều năm được sáng tác và lưu truyền, ngày nay đồng bào

Người Ba-na sở hữu một kho tàng phong phú về dân ca, đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động văn hóa và đời sống hàng ngày Dân ca thường được lồng ghép vào các lễ hội, thể hiện qua những bài cúng gửi đến Yàng và các thần linh, nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa và tạ ơn về mùa màng bội thu Ngoài ra, dân ca còn gắn liền với phong tục tập quán của cộng đồng, tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong làng Trong mọi hoạt động, người Ba-na làm việc tập thể dưới sự quản lý của Già làng, sử dụng lời ca tiếng hát để thực hiện các bài cúng cộng đồng và giáo dục con cháu.

Dân ca là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người Ba-na, đồng hành cùng họ từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành Ngay từ những ngày đầu, trẻ em đã được nghe những bài hát dân ca từ bà, mẹ và chị, và những giai điệu này tiếp tục xuất hiện trong các lễ hội như lễ thổi tai, lễ hội mùa, lễ ăn mừng lúa mới, mừng năm mới, cũng như trong các sự kiện quan trọng như cưới hỏi và tang lễ.

Dân ca không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn tạo động lực cho người lao động, giúp họ làm việc hăng say Qua các bài dân ca, người Ba-na thể hiện cảm xúc vui buồn, giận hờn và tâm tư tình cảm, đồng thời thể hiện sự quý trọng đối với ông bà, cha mẹ và người yêu.

Cũng như các dân tộc khác, dân ca Ba-na được truyền từ đời này sang đời khác, mang một giá trị to lớn về mặt tinh thần

Dân ca của người Ba-na được chia thành hai phần chính: âm nhạc và lời ca, trong đó hai phần này luôn hỗ trợ lẫn nhau Âm nhạc bao gồm giai điệu, nhịp điệu và tiết tấu, quyết định sự hình thành và tính chất của dân ca Nó phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của con người qua các âm thanh cao thấp Dân ca thực sự là sự kết hợp giữa âm nhạc và ngôn từ.

Trong cuốn: Tìm hiểu đặc trưng trong dân ca Rrai-Ba-na tác giả Đào Huy Quyền đã viết:

Đặc trưng ngôn ngữ dân tộc của các dân tộc Jrai-Ba-na đã tạo ra và bảo tồn nhiều làn điệu dân ca qua thời gian, bất chấp sự thay đổi của các chế độ xã hội và nền văn minh Âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong dân ca, vì "Ca" luôn gắn liền với âm nhạc; nếu thiếu yếu tố này, nó sẽ trở thành ca dao Những yếu tố nghệ thuật như âm nhạc và lời ca đã đáp ứng nhu cầu của con người, làm nổi bật tính chất đặc trưng của thể loại dân ca.

Nhịp điệu trong dân ca Ba-na mang lại sự hưng phấn cho con người trong lao động, với các bài dân ca sử dụng nhịp lẻ và nhịp chẵn.

Dân ca Ba-na mang đến âm hưởng của núi rừng, tiếng chim hót và suối reo, tạo nên những giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng Những bài hát này thể hiện rõ nét tình cảm của con người, từ niềm vui, nỗi buồn đến sự giận hờn.

Dân ca Ba-na sử dụng hai cấu trúc thể loại chính: thể một đoạn và thể hai đoạn Thể một đoạn nổi bật với bố cục chặt chẽ và gọn gàng, trong khi thể hai đoạn có sự khác biệt về cường độ và tốc độ âm nhạc, với những lúc chậm rãi mang tính tự sự và những lúc rộn ràng, sôi động.

Tiếng đệm không chỉ phổ biến trong cộng đồng người Ba-na mà còn được sử dụng rộng rãi trong các bài dân ca của nhiều dân tộc khác.

Trong dân ca Ba-na, hình thức hát có nhạc đệm rất phổ biến Khi đi rẫy, người dân sử dụng lá hoặc ống nứa làm nhạc cụ để đệm hát Trong các hoạt động sinh hoạt gia đình và làng quê, họ thường sử dụng cồng chiêng và đàn goong để tạo không khí âm nhạc.

THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT HUY DÂN CA BA-NA

Công tác bảo tồn dân ca Ba-na

Huyện Kbang được công nhận là nơi bảo tồn nhiều giá trị văn hóa và truyền thống của cộng đồng Ba-na Trong những năm qua, huyện luôn chú trọng tổ chức các hoạt động cộng đồng và các chương trình lớn phục vụ cho mục tiêu chính trị của địa phương.

2.1.1 Tình hình hát dân ca ở cộng đồng

Khảo sát tình hình các nghệ nhân và công tác tổ chức thực hiện tại 14 xã-thị trấn đã cung cấp cho tác giả cơ sở thực tiễn để đề xuất các biện pháp bảo tồn dân ca Ba-na trong bối cảnh văn hóa hội nhập Nhờ sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và các nghệ nhân, tác giả đã tìm hiểu và ghi nhận 66 nghệ nhân có khả năng hát từ ba bài dân ca trở lên Tuy nhiên, số lượng nghệ nhân biết nhiều bài dân ca trong cộng đồng Ba-na ở huyện Kbang lại rất hạn chế Nhiều làng chỉ có một hoặc hai người biết hát, và một số làng thậm chí không có ai biết hát, mặc dù dân ca vẫn là một phần gắn bó với cuộc sống của họ từ nhỏ, chỉ còn sót lại vài câu hát trong những lúc vui đùa hay khi ngồi uống rượu cần.

Văn hóa của đồng bào Ba-na là biểu tượng văn hóa chính của huyện Kbang, nhưng các hội thi và hội diễn dành riêng cho dân ca Ba-na vẫn chưa được tổ chức Hiện tại, các hoạt động này chỉ được lồng ghép vào các hội diễn văn nghệ quần chúng hoặc các hội thi do các ngành tổ chức trong phần thi năng khiếu.

Việc tham gia hội thi, hội diễn của các đơn vị xã-thị trấn gặp nhiều khó khăn do nguồn kinh phí hạn chế, dẫn đến việc không đủ điều kiện cho các nghệ nhân (NN) tham gia Nhiều khi, chính các NN cũng không mặn mà tham gia, dù cán bộ văn hóa đã nỗ lực thuyết phục Hơn nữa, những NN tham gia thường là người lớn tuổi, thiếu vắng sự góp mặt của NN trẻ, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc tổ chức các sự kiện văn hóa dân ca Ba-na do không đủ số lượng nghệ nhân biểu diễn.

Hiện nay, cấp huyện có 01 Trung tâm VH-TT gắn với hoạt động thanh thiếu nhi; 02 điểm vui chơi cho trẻ em cấp huyện; 02 Trung tâm VH-

Tại cấp xã, đã hoàn thành việc lập hồ sơ thành lập Trung tâm văn hóa với 3 nhà văn hóa cấp xã đang chờ quyết định Ngoài ra, còn có 09 xã sở hữu Nhà văn hóa-thể thao cấp xã và 162 nhà văn hóa-khu thể thao cấp thôn.

Việc thành lập các Trung tâm văn hóa và nhà văn hóa là rất quan trọng, vì đây là nơi tổ chức sinh hoạt cộng đồng và hoạt động văn hóa thể thao, góp phần gắn kết cộng đồng Hiện tại, các hoạt động của người Ba-na chủ yếu diễn ra trong làng, thiếu sự giao lưu với các làng khác Do đó, việc thành lập Trung tâm VH-TT sẽ tạo điều kiện cho các làng trong xã-thị trấn giao lưu, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm, từ đó thúc đẩy sự phát triển chung.

Đến năm 2020, toàn huyện sẽ có 14/14 xã-thị trấn thiết lập Trung tâm VH-TT, với nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp nhằm phục vụ công tác chính trị tại địa phương.

Chúng tôi thường xuyên tổ chức các hoạt động hội thi, hội diễn và các phong trào văn hóa-văn nghệ, thể thao Ngoài ra, chúng tôi còn tuyên truyền cổ động và xây dựng các câu lạc bộ như CLB thể dục thể thao, CLB dưỡng sinh và CLB múa.

Hiện nay, các câu lạc bộ (CLB) hát dân ca chưa được thành lập từ cấp huyện đến cấp cơ sở, điều này tạo ra một thách thức lớn cho các ngành chức năng và nhà quản lý văn hóa Việc thành lập CLB hát dân ca là cần thiết để tuyên truyền, vận động và bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời phát huy niềm đam mê của thế hệ nghệ nhân và lớp kế thừa văn hóa truyền thống.

2.1.2 Sưu tầm, thống kê các bài dân ca và nghệ nhân hát dân ca

Việc sưu tầm bài hát dân ca Ba-na là rất cần thiết và cấp bách tại huyện Kbang, đặc biệt trong bối cảnh văn hóa nước ngoài đang du nhập nhanh chóng qua truyền hình và mạng xã hội Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã góp phần nâng cao đời sống của đồng bào Ba-na, làm nổi bật tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa dân tộc.

Từ năm 1985, dưới sự thống nhất của UBND huyện Kbang và sự hỗ trợ của các chuyên gia, cùng với sự nhiệt tình của các cá nhân như Đinh Mun, Đinh Huy, Đinh Đi và Đinh B’Li, Phòng VH&TT và Trung tâm VHTT&TTN huyện Kbang đã thực hiện ba đợt sưu tầm dân ca Ba-na vào các năm 2008, 2011 và 2016 Mặc dù kết quả còn khiêm tốn, nhưng hoạt động này đã hỗ trợ đáng kể cho công tác bảo tồn, giúp hạn chế sự mai một của dân ca Ba-na trong bối cảnh xã hội hiện đại Lực lượng NN đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, quyết định sự thành công trong việc truyền đạt dân ca đến các thế hệ sau.

Hiện nay, những người nắm giữ di sản dân ca Ba-na chủ yếu là người lớn tuổi, sức khỏe yếu và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Việc thống kê và khảo sát thực trạng chuyên môn cùng điều kiện sống của họ là cần thiết, giúp cơ quan quản lý nhà nước đưa ra các chính sách hợp lý Điều này sẽ hỗ trợ để những người này có thể tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp bảo tồn văn hóa dân ca Ba-na, góp phần vào sự phát triển chung của huyện.

Tính đến hết tháng 07/2017, theo điều tra của tác giả, toàn huyện có

66 NN thuộc trọn vẹn từ 03 bài dân ca Ba-na trở lên Trong số này, Có 01

NN Đinh Đi, nghệ nhân ưu tú được Nhà nước phong tặng, hiện đang sinh sống tại làng Lợt, xã Nghĩa An, đã có nhiều cống hiến cho việc bảo tồn dân ca Ba-na Tuy nhiên, nghệ nhân này hiện nay đã lớn tuổi.

95% người dân tộc Ba-na làm nghề nông, gắn bó chặt chẽ với núi rừng và thường sinh sống gần các con suối và khu rừng xanh tươi Chỉ 5% là cán bộ công chức nhà nước, đóng góp lớn cho địa phương tại nhiều cơ quan như Trung tâm VHTT&TTN huyện, đài TT-TH huyện, UBND-HĐND huyện, Huyện ủy, và Phòng Tư pháp, đồng thời giữ các vị trí quan trọng trong hệ thống cơ quan nhà nước.

Việc tập hợp những nghệ nhân (NN) làm nông để tham gia các hội thi dân ca, đặc biệt là dân ca Ba-na, gặp nhiều khó khăn do trùng với mùa vụ Cơ quan quản lý nhà nước cần lưu ý đến đặc thù nghề nghiệp của các NN để tổ chức thời gian phù hợp, nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và đảm bảo chất lượng tham gia Hơn nữa, số lượng NN hát dân ca Ba-na ở huyện Kbang phân bổ không đồng đều, với xã Đông có khoảng 08 NN, xã Tơ Tung có khoảng 09 NN, trong khi một số xã như Kon Pne, Đắk S’Mar, và Lơ Ku chỉ có 01-03 NN, gây khó khăn cho các hoạt động bảo tồn và phát huy dân ca.

Cũng qua khảo sát thì trong 66 NN trên có 35 người ở độ tuổi từ 50- 75; 21 người ở độ tuổi từ 40-dưới 50 tuổi; 10 người có độ tuổi từ 35-dưới

Một số phương pháp phát huy hiện nay

Đối với công tác phát huy dân ca Ba-na ở huyện Kbang từ năm 1985 đến nay đã có những hoạt động cụ thể như sau:

2.2.1 Công tác phối hợp truyền dạy

Việc truyền dạy dân ca Ba-na không chỉ nhằm tạo ra một lực lượng kế thừa cho nghệ thuật này mà còn giúp phát triển và lan tỏa dân ca Ba-na đến với các dân tộc khác trong huyện, ngoài huyện và trên toàn tỉnh Bởi vì bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng cần có lực lượng kế thừa và công chúng để tồn tại và phát triển theo thời gian.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc gìn giữ văn hóa, Phòng VH&TT và Trung tâm VHTT&TTN huyện đã tích cực khuyến khích các đơn vị xã-thị trấn tổ chức các buổi truyền dạy dân ca Những buổi truyền dạy này thường diễn ra vào buổi tối, sau khi thanh niên và học sinh đã hoàn tất công việc và học tập trong ngày.

Người truyền dạy các bài hát dân ca Ba-na thường là những nghệ nhân có uy tín trong làng, có thể là già làng hoặc trưởng làng Các buổi học kéo dài từ 2-3 tiếng và diễn ra tại Nhà rông văn hóa, nơi thanh-thiếu nhi và học sinh trong làng được hướng dẫn cách hát và tìm hiểu về văn hóa, truyền thống của dân tộc mình qua lời kể của người dạy Những buổi học này không chỉ giúp gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn tạo nền tảng cho các hội thi, hội diễn và giao lưu giữa các làng, xã trong huyện.

Trong các buổi hội họp, liên hoan hay lễ hội tại làng, nhiều người đã ngân nga những bài hát dân ca Ba-na bên ché rượu cần và truyền dạy cho những em nhỏ đam mê, mong muốn học hỏi những bài dân ca mà họ đã thuộc.

2.2.2 Tổ chức sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề

Trong bối cảnh dân ca Ba-na ngày càng ít được yêu thích, đặc biệt trong giới trẻ, việc tổ chức thường xuyên các hoạt động hát dân ca là rất cần thiết Thay vì chỉ đợi các hội thi hay hội diễn, các buổi sinh hoạt hát dân ca nên được tổ chức định kỳ trong cộng đồng, như ở làng hoặc các đoàn thanh niên Điều này sẽ giúp người dân, đặc biệt là thanh niên, gắn bó hơn với di sản văn hóa dân ca của dân tộc mình.

Từ năm 1985 đến 2017, huyện Kbang đã tổ chức sinh hoạt dân ca Ba-na truyền thống chủ yếu thông qua các phương thức cơ bản.

Những hoạt động Trung tâm VHTT&TTN huyện tổ chức

Hàng năm, Trung tâm VHTT&TTN huyện Kbang tổ chức các buổi biểu diễn tuyên truyền dân ca Ba-na vào những dịp kỷ niệm quan trọng của đất nước, tỉnh Gia Lai và huyện Kbang, cũng như trong các lễ hội truyền thống, Tết Nguyên Đán, sự kiện văn hóa nghệ thuật, liên hoan, hội thi và hội diễn cả trong và ngoài huyện.

Từ năm 1985 đến 2017, Trung tâm VHTT&TTN huyện Kbang đã tích cực tổ chức và tham gia nhiều hội thi, hội diễn và giao lưu, đồng thời tuyên truyền về dân ca Ba-na trong các sự kiện chính trị tại huyện và tỉnh, với số lượng lượt tham gia đáng kể.

TT NĂM THAM GIA BIỂU

BIỂU DIỄN TẠI HUYỆN/XÃ/THỊ TRẤN

Nguồn: Trung tâm VHTT&TTN huyện Kbang

Số lượt biểu diễn và tham gia các hội thi dân ca Ba-na tại huyện Kbang đang có xu hướng tăng, cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của giới trẻ đối với loại hình nghệ thuật này Những nỗ lực này hứa hẹn sẽ giúp dân ca Ba-na phát triển mạnh mẽ, mang lại không khí nhộn nhịp như trong các lễ hội, bên nương rẫy và những con suối chảy róc rách.

Hoạt động do các đơn vị xã-thị trấn tổ chức

Hiện nay, các xã-thị trấn thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa-văn nghệ vào dịp lễ, tết Mặc dù mỗi chương trình chỉ lồng ghép 1 hoặc 2 bài dân ca Ba-na, nhưng đây là cơ hội để người dân, đặc biệt là cộng đồng Ba-na, ôn lại và kết nối với những bài dân ca đã gắn liền với cuộc sống của họ từ nhiều năm qua.

Để tạo hiệu ứng cộng hưởng trong cộng đồng người Ba-na và các dân tộc khác, Chi đoàn VHTT đã tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề nhằm bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na Hàng năm, trong các đợt sinh hoạt với các Chi đoàn làng, đơn vị đã tập trung thảo luận về những vấn đề bất cập tại địa phương, đặc biệt là chuyên đề liên quan đến dân ca Ba-na tại nhà rông của làng.

Bí thư, Phó bí thư Chi đoàn VHTT và Bí thư đoàn xã, cùng với các già làng và trưởng làng, sẽ điều hành các buổi nói chuyện với đoàn viên-thanh niên trong làng Những buổi sinh hoạt chuyên đề liên quan đến dân ca Ba-na sẽ mang đến cơ hội cho đoàn viên-thanh niên tìm hiểu sâu sắc về giá trị văn hóa nghệ thuật và văn hóa truyền thống của dân tộc, cũng như nhận thức rõ hơn về quyền lợi khi tham gia vào tổ chức đoàn và hội thanh niên Việt Nam.

Hoạt động này, với cách diễn đạt thu hút và sự kết hợp giữa lý luận, thực tiễn cùng thị phạm trực tiếp từ các nghệ nhân, đã tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng đoàn viên thanh niên về giá trị dân ca dân tộc Điều này đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na tại huyện Kbang.

Trong việc phát huy dân ca Ba-na, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như truyền thanh, truyền hình, internet, báo chí và ấn phẩm là giải pháp hiệu quả nhất trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay Các phương tiện này không chỉ có tính tương tác xã hội cao mà còn giúp tiếp cận cộng đồng một cách rộng rãi.

Đài TT-TH huyện Kbang thường xuyên cập nhật tin bài về cuộc sống, văn hóa và âm nhạc của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Ba-na, nhằm giới thiệu các làn điệu dân ca đặc sắc đến khán thính giả Những nội dung này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về văn hóa dân tộc Ba-na mà còn đưa âm nhạc của họ đến gần hơn với công chúng.

Giới thiệu một số nghệ nhân tiêu biểu

Trong những năm qua, nhờ sự hỗ trợ của các nghệ nhân, công tác bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na ở huyện Kbang đã đạt nhiều thành tựu khả quan Để huy động sự phối hợp của các nghệ nhân trong việc bảo tồn và phát huy dân ca, các ban ngành chức năng của huyện đã trực tiếp đến tận nhà và nương rẫy của họ để giải thích về tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa dân ca.

Nhờ nỗ lực của các ban ngành chức năng và sự quan tâm của các nghệ nhân, việc bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na truyền thống đã được thực hiện hiệu quả Các nghệ nhân vui mừng khi được chọn làm người hỗ trợ trong công tác này, và họ thường xuyên khuyên nhủ con cháu trong làng tập hát các bài dân ca trong các buổi họp làng Họ cũng dành thời gian rảnh rỗi để dạy cho người dân và trẻ em trong làng cách hát dân ca, góp phần gìn giữ văn hóa đặc sắc của dân tộc Ba-na.

NN Đinh Đi, sinh năm 1933, hiện 81 tuổi, đang sinh sống tại làng Lợk, xã Nghĩa An Ông là một nghệ nhân đa tài và có uy tín lớn trong huyện Kbang, có khả năng nói tiếng Jrai và tiếng Kinh Ngoài việc hát dân ca, ông còn là nghệ nhân chỉnh chiêng duy nhất trong huyện Trong nhiều năm qua, ông đã đại diện cho nghệ nhân tỉnh tham gia các cuộc thi hát dân ca và chỉnh chiêng toàn quốc, đạt nhiều thành tích cao.

Tháng 10 năm 2007, ông được tham dự buổi gặp gỡ NN chỉnh chiêng các tỉnh Tây Nguyên lần thứ nhất do Viện văn hóa thông tin tổ chức Từ năm 1965 đến năm 1975, ông công tác tại Đội văn nghệ xung kích của tỉnh đội tỉnh Gia Lai và có rất nhiều những cống hiến Ông đã được Chủ tịch nước Trần Đức Lương trao tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, hạng Nhì vì đã có nhiều thành tích phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam Ngày 13/11/2015, ông được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian tỉnh Gia Lai “vì đã có cống hiến xuất sắc trong gìn giữ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc”, kèm theo đó, ông được nhận 17 triệu đồng cho danh hiệu này

Để hỗ trợ các nghệ nhân điều chỉnh âm thanh và bảo quản bộ chiêng, Trung tâm VHTT&TTN huyện đã tổ chức lớp tập huấn chỉnh chiêng và đánh cồng chiêng cho đồng bào dân tộc Ba-na từ 13-14/8/2017 Nghệ nhân Đinh Đi, với kinh nghiệm phong phú, đã được mời giảng dạy, nhưng do tuổi cao, ông gặp khó khăn trong việc truyền dạy Vì vậy, cần có sự nỗ lực từ các học viên và giới trẻ trong việc bảo tồn dân ca Ba-na và kỹ thuật chỉnh chiêng.

Sinh năm 1973, tại làng B’Ngăn-xã Krong (Xem PL, trg 118) Năm

Năm 1976, NN Đinh Huy chuyển đến sống tại làng Tờ Mật, Thôn 1, xã Đông khi mới 3 tuổi Từ năm 1998 đến 2009, anh đảm nhiệm chức vụ trưởng thôn 1-xã Đông và từ năm 2010 đến nay, anh giữ vị trí Trưởng ban công tác mặt trận của thôn Ở bất kỳ vị trí nào, anh luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

NN Đinh Huy là một người có niềm đam mê ca hát mãnh liệt Trong những năm qua, khi công tác tuyên truyền của Phòng VH&TT huyện còn nhiều khó khăn về nhân lực và cơ sở vật chất, anh đã không ngại gian khổ Để đưa lời ca tiếng hát cùng những chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào vùng sâu, anh và các cán bộ văn hóa khác đã phải đi bộ, khiêng vác loa đài vượt hàng chục cây số qua rừng rậm Anh luôn là một trong những cộng tác viên nhiệt tình và năng động nhất trong công tác này.

Anh là một người dẫn chương trình tiêu biểu của huyện với khả năng ăn nói lưu loát, có nhiệm vụ phiên dịch từ tiếng phổ thông sang tiếng Ba-na trong các chương trình tuyên truyền và biểu diễn Với lối dẫn tự nhiên, dễ hiểu và là người đồng bào, anh thu hút được đông đảo người dân đến xem, từ đó nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

Anh thể hiện những bài hát say đắm lòng người, đặc biệt là các bài dân ca Ba-na, thể hiện tình yêu quê hương Phong cách biểu diễn dí dỏm và sáng tạo của anh đã tạo nên sức hấp dẫn lạ kỳ, khiến khán giả luôn hưởng ứng nhiệt tình.

Trong những chuyến công tác, tác giả đã có cơ hội hỏi anh về những bài hát dân ca mà anh biết Anh cho biết đã học được những bài hát này từ bà Đinh Thị H’Yươil, người cùng sống trong làng Qua những lần nghe bà hát tại các lễ hội, bên ánh lửa nhà rông, và trên nương rẫy, anh đã nảy sinh tình yêu với dân ca của dân tộc mình Từ đó, anh đã nhờ bà chỉ dạy nhiều bài hát như "Ru con", "Ru em", "Chàng trai đi tìm đường" và nhiều bài hát khác.

Thế hệ trẻ hiện nay không mấy quan tâm đến dân ca Ba-na, thay vào đó, họ lại bị thu hút bởi các dòng nhạc mới như Hip hop, Dance và các thể loại nhạc thị trường.

Nói đến mong muốn hiện nay về công tác truyền dạy dân ca, anh nói:

“Mình rất mong muốn ở huyện, ở xã tổ chức nhiều lớp dạy về dân ca cho thế hệ trẻ người dân tộc hiện nay”

NN Đinh B’Li 41 tuổi, hiện sinh sống tại làng Leng II - xã Tơ Tung - huyện Kbang (Xem PL, trg 121) đang làm Phó chủ tịch Uỷ ban MTTQ xã

Tơ Tung đã có nhiều lần làm việc trực tiếp với NN Đinh B’Li trong các chương trình, từ đó tác giả nhận thấy sự nhiệt huyết và trách nhiệm cao của ông.

NN trong công việc Ngoài hát dân ca, NN Đinh B’Li còn là một NN giỏi về tạc tượng và cồng chiêng

Tại Festival cà phê tỉnh Đắk Lắk lần V và VI, NN Đinh B’Li cùng nhóm tạc tượng đại diện tỉnh Gia Lai đã giành giải ba năm 2015 và giải khuyến khích năm 2017 Ngoài ra, tại Hội thi hát dân ca ở tỉnh Kon Tum năm 2014, NN Đinh B’Li đã xuất sắc đạt giải nhất.

NN Đinh B’Li hiện đang là một trong những nhân tố tiêu biểu tại huyện Kbang, dẫn đầu trong công tác vận động và tập luyện cho thanh thiếu niên về nghệ thuật hát dân ca, cồng chiêng và điêu khắc tượng.

NN Đinh Mun, 37 tuổi, hiện đang sinh sống tại làng Rõ, xã Đông Trong gia đình, NN Đinh Mun có ba anh chị em, bao gồm chị cả Đinh Thị Mach (sinh năm 1972) cũng sống tại làng Rõ và là một nghệ nhân dân ca Ba-na, cùng với anh thứ hai là NN Đinh Mơ.

XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA DÂN CA BA-NA, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Ngày đăng: 11/06/2021, 08:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1932), Từ điển Hán Việt, tái bản (2005), Nxb Văn hóa - Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh (1932), Từ điển Hán Việt, tái bản
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
2. Ban tư tưởng-văn hóa trung ương, (2000), Tài liệu bồi dưỡng Cán bộ tư tưởng-văn hóa cấp huyện, Bộ văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng Cán bộ tư tưởng-văn hóa cấp huyện
Tác giả: Ban tư tưởng-văn hóa trung ương
Năm: 2000
3. Trần Văn Bính (Chủ biên, 1996), Văn hóa dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân tộc trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
4. Trần Văn Bính (2007), Một số vấn đề về văn hóa nghệ thuật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
5. Vũ Ngọc Bình (Chủ biên, 1995), Tiền sử Gia Lai, Sở VHTT&TT Gia Lai xuất bản, Pleiku Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền sử Gia Lai
6. Bộ Văn hóa thông tin (2003), Sổ tay công tác văn hóa thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Vụ văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay công tác văn hóa thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Bộ Văn hóa thông tin
Năm: 2003
8. Nông Quốc Chấn (1993), Dân tộc và văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc và văn hóa
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1993
10. Cục thống kê tỉnh Gia Lai (2011), Niên giám thống kê năm 2010, Cục Thống kê Gia Lai xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2010
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Gia Lai
Năm: 2011
11. Ngô Văn Doanh (1995), Lễ hội bỏ mả Bắc tây nguyên, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội bỏ mả Bắc tây nguyên
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 1995
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ V, khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V, khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng cộng sản Việt Nam Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XIII, Pleiku Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Năm: 2010
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. Lê Thu Hạnh (2006), Tìm hiểu quy định pháp luật về di sản văn hóa, Nxb. Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quy định pháp luật về di sản văn hóa
Tác giả: Lê Thu Hạnh
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2006
19. Lê Xuân Hoan (2007), Một số đặc trưng cơ bản của âm nhạc dân gian Jrai, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng cơ bản của âm nhạc dân gian Jrai
Tác giả: Lê Xuân Hoan
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 2007
20. Lê Xuân Hoan, (2012), Tìm hiểu thang âm-điệu thức trong âm nhạc dân gian Bahnar ở Gia Lai, Sở Khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thang âm-điệu thức trong âm nhạc dân gian Bahnar ở Gia Lai
Tác giả: Lê Xuân Hoan
Năm: 2012
21. Lê Xuân Hoan, (2013), Dân ca Bahnar, Xxb Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Bahnar
Tác giả: Lê Xuân Hoan
Năm: 2013
22. Vi Hoàng, (2007), Nét đẹp phong tục các dân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp phong tục các dân tộc thiểu số
Tác giả: Vi Hoàng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2007
23. Lê Toàn Hùng (1978), Dân ca Tây nguyên, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Tây nguyên
Tác giả: Lê Toàn Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1978
24. Lưu Hùng, (1996), Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên
Tác giả: Lưu Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w