Ngoài ra, thông qua tổng quan nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng mặc dù đã có các nghiên cứu trước đây khám phá mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về cá nhân với dự định khởi sự kinh doan
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khởi sự kinh doanh là quá trình tạo lập một công việc kinh doanh mới hay
một doanh nghiệp kinh doanh mới (Shane và Venkatarama, 2000) nhằm cung cấp
không chỉ hàng hóa, dịch vụ, và tạo việc làm cho người lao động mà còn đóng góp
cho sự phát triển kinh tế và thu nhập quốc gia Các nghiên cứu về khởi sự kinh
doanh rất đa dạng và được Lowell (2003) chia làm 03 lĩnh vực khác nhau: Thứ nhất,
các nghiên cứu về quá trình phát hiện và khai thác cơ hội kinh doanh; Thứ hai,
nghiên cứu về đặc điểm của cá nhân hoặc nhóm, quá trình hình thành vốn tri thức
và vốn con người theo khởi sự; Thứ ba, lĩnh vực nghiên cứu về các phương thức
của khởi sự kinh doanh và cuối cùng là, lĩnh vực nghiên cứu về các nhân tố văn hóa,
thể chế và môi trường tạo thuận lợi hoặc cản trở cho môi trường hoạt động kinh
doanh Trong số các lĩnh vực nghiên cứu đó thì các nhân tố ảnh hưởng tới việc một
cá nhân tiến hành hoạt động khởi sự kinh doanh đang nhận được sự quan tâm đặc
biệt từ các nhà nghiên cứu và cả các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước
Welter (2011) nhấn mạnh vai trò về bối cảnh và văn hóa đối với nghiên cứu
về khởi sự kinh doanh rằng “Có sự tăng lên trong nhận thức về lĩnh vực khởi sự
kinh doanh, hành vi kinh tế này có thể được hiểu tốt hơn nếu đặt bên trong bối cảnh
cụ thể về lịch sử, thời gian, không gian, thể chế và xã hội” Ngoài ra, thông qua tổng
quan nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng mặc dù đã có các nghiên cứu trước đây
khám phá mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về cá nhân với dự định khởi sự kinh
doanh, ví dụ như thái độ, đặc điểm tính cách, động lực cá nhân (Kolvereid, 1996a,
1996b; Manalova và cộng sự, 2008; Uddin và Bose, 2002; Walter và cộng sự, 2013)
hoặc mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài, ví dụ như bối cảnh
văn hóa, thể chế, pháp luật, kinh tế… và dự định khởi sự kinh doanh (Baughn và
cộng sự, 2006; Busenitz và cộng sự, 2000; Davidsson và Honig, 2002; Shirokova
và cộng sự, 2015) song cơ chế ảnh hưởng cụ thể của các yếu tố thuộc môi trường
và bối cảnh bên ngoài tới các yếu tố thuộc thái độ cá nhân, qua đó tác động như thế
nào tới dự định khởi sự kinh doanh thì chưa được làm rõ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ lý do lựa chọn đề tài, tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết, luận
án có mục tiêu chính là nghiên cứu cơ chế tác động của các nhân tố môi trường và bối
cảnh (vốn quan hệ xã hội, môi trường đào tạo đại học, cơ chế chính sách của chính phủ
và quan niệm của xã hội) tới các yếu tố thuộc thái độ cá nhân (sự tự tin vào năng lực
khởi sự, thái độ đối với khởi sự kinh doanh, chuẩn chủ quan và cảm nhận khả năng
kiểm soát) và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học tại Việt Nam Hay nói cách khác, luận án này nhằm khám phá cơ chế tác động của các yếu tố thuộc môi trường và bối cảnh tới quá trình quá trình tư duy về khởi sự kinh doanh (các yếu tố thuộc lý thuyết hành vi có kế hoạch) của sinh viên đại học tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là ảnh hưởng của các nhân tố thuộc môi
trường và bối cảnh (vốn quan hệ xã hội, môi trường đào tạo đại học, quan niệm của
xã hội và cơ chế chính sách của chính phủ) tới các nhân tố thuộc thái độ cá nhân (các biến trong lý thuyết hành vi có kế hoạch) và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học tại Việt Nam
• Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về mặt không gian nghiên cứu: Là những sinh viên năm cuối Đại học tại Việt
Nam, do có nhiều nghiên cứu về dự định khởi sự kinh doanh đối với các mẫu nghiên cứu khác nhau và trong các bối cảnh nghiên cứu khác nhau, nên luận án giới hạn phạm
vi nghiên cứu là các sinh viên Đại học năm cuối tại Việt Nam Với quy mô điều tra là
14 trường trên cả nước (trong đó 08 trường đại học ở tại Miền Bắc, 03 trường đại học tại Miền Trung và 03 trường đại học tại Miền Nam), luận án đã cố gắng lựa chọn cỡ mẫu hơn 1000 để đảm bảo mức độ tốt nhất theo quy tắc của Comrey và Lee (1992)
Về mặt nội dung nghiên cứu: Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và có nhiều mô hình
lý thuyết nghiên cứu về dự định khởi sự kinh doanh (điều này đã được luận giải trong phần tổng quan), nhưng trong luận án này tác giả chỉ áp dụng và mở rộng lý thuyết hành
vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) nhằm khám phá ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường và bối cảnh tới các yếu tố thái độ cá nhân (các yếu tố thuộc lý thuyết hành
vi có kế hoạch) và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học tại Việt Nam
Về mặt thời gian nghiên cứu: Luận án được thực hiện trong khoảng thời gian
02 năm, từ tháng 2/2017 tới tháng 2/2019 Tuy nhiên, số liệu điều tra khảo sát được thu thập và tổng hợp chủ yếu trong năm 2018
4 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, lời cảm ơn, danh mục bảng, biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung của luận án được trình bày trong 5 chương: Chương 1 Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương 5 Bình luận kết luận và kiến nghị
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới dự định khởi
sự kinh doanh cho thấy các nhân tố có thể được chia thành 04 nhóm nhân tố: (1)
nhóm nhân tố liên quan tới đặc điểm tính cách cá nhân; (2) nhóm nhân tố liên quan
tới đôngh lực cá nhân; (3) nhóm nhân tố liên quan tới môi trường và bối cảnh; (4)
nhóm nhân tố liên quan nhân khẩu học và nền tảng cá nhân
Như vậy, các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của một vài yếu
tố tới dự định khởi sự kinh doanh, song mối liên hệ giữa các nhân tố thuộc môi
trường bên ngoài (vốn quan hệ xã hội, môi trường đào tạo đại học, cơ chế chính
sách của chính phủ và nhà nước và quan niệm của xã hội) và thái độ của cá nhân
(sự tự tin vào năng lực khởi sự, thái độ đối với dự định khởi sự kinh doanh, chuẩn
chủ quan và cảm nhận khả năng kiểm soát) lại chưa được nghiên cứu Hay nói cách
khác, luận án tập trung làm rõ liệu các các yếu tố môi trường có ảnh hưởng như thế
nào tới quá trình tư duy của các cá nhân trong việc khởi sự kinh doanh Quá trình
tư duy có thể được giải thích bằng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và được
nhiều nghiên cứu trước đây quan tâm nghiên cứu song ảnh hưởng của các yếu tố
xung quanh (môi trường và bối cảnh) thì chưa được nghiên cứu rõ Trong khi đó,
Baron (1998) nhấn mạnh rằng khởi sự kinh doanh là một quá trình nhận thức nên
dự định khởi sự kinh doanh không chỉ chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài mà
còn chịu tác động bởi các yếu tố cảm nhận của cá nhân Krueger (2009) cũng cho
rằng cần có nhiều hơn các nghiên cứu kết hợp tác động của nhiều nhóm yếu tố môi
trường bên ngoài và nhóm yếu tố thuộc thái độ cá nhân trong các mô hình nghiên
cứu dự định khởi sự kinh doanh Chính vì vậy, việc kết hợp đánh giá ảnh hưởng của
các yếu tố xung quanh (vốn quan hệ xã hội, môi trường đào tạo đại học, cơ chế chính
sách của chính phủ và nhà nước và quan niệm của xã hội) tới các yếu tố thuộc thái
độ của cá nhân (sự tự tin vào năng lực khởi sự, thái độ đối với dự định khởi sự kinh
doanh, chuẩn chủ quan và cảm nhận khả năng kiểm soát) và qua đó tác động tới dự
định khởi sự kinh doanh là có cơ sở
1.2 Khởi sự kinh doanh và dự định khởi sự kinh doanh
Có nhiều định nghĩa về khởi sự kinh doanh và doanh nhân được phát triển
trong vài thập kỷ gần đây Schumpeter (1960) cho rằng doanh nhân là người tạo ra
sản phẩm hay dịch vụ mới trong thị trường mới hoặc thị trường đã tồn tại trong khi
đó khởi sự kinh doanh chính là nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của
một quốc gia (De Bruin và cộng sự, 2006; Schumpeter, 1960) “Chính môi trường tạo ra khởi sự kinh doanh “ (Bernat và cộng sự, 2016, tr 271), lý do đó chính là
việc vận hành một doanh nghiệp không chỉ yêu cầu phải phản ứng nhanh với những
thay đổi của môi trường kinh doanh, mà nó còn phải “thích nghi với kết quả không đoán định được của chính những thay đổi có thể đoán định được” (Timmons, 1990)
Kirzner (1985) thì định nghĩa doanh nhân chính là một người có lạc quan về thông tin thu được theo cách có thể khám phá ra cơ hội kinh doanh mới (Korpysa, 2012) Talpas (2014) thì coi khởi sự kinh doanh là một quá trình có thể nhận biết thông qua các hoạt động kinh doanh bằng việc cho thấy khả năng lãnh đạo hiệu quả trong môi trường kinh doanh liên tục biến động, rủi ro và các điều kiện cạnh tranh khác
Dự định khởi sự kinh doanh được định nghĩa là dự định tạo lập một doanh nghiệp mới của một cá nhân (hoặc một nhóm người) trong một thời điểm nhất định
trong tương lai (Thompson, 2009) Gupta & Bhawe (2007) định nghĩa dự định khởi
sự kinh doanh là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện
kế hoạch tạo lập doanh nghiệp đó Dự định khởi sự kinh doanh của một người xuất phát từ việc họ nhận ra cơ hội kinh doanh, tận dụng các nguồn lực có sẵn để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình trong một bối cảnh môi trường kinh doanh cụ thể (Kuckertz và Wagner, 2010) Chính vì vậy, dự định khởi sự kinh doanh được xem như việc lập kế hoạch ban đầu, đóng vai trò nền tảng giúp một cá nhân có thể tạo lập một doanh nghiệp mới trong tương lai Trong khi khởi sự là một quá trình tạo
lập một tổ chức kinh doanh (Gartner và cộng sự, 1992), thì dự định của một cá nhân
để khởi sự kinh doanh là đóng vai trò quyết định đối với quá trình này (Lee và cộng
sự, 2011)
1.3 Lý thuyết hành vi có kế hoạch và ứng dụng trong khởi sự kinh doanh
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) cũng đã được sử dụng nhằm giải thích
và ước đoán hành vi khởi sự kinh doanh (được lập kế hoạch trước đó) Hầu hết tất
cả các nhà nghiên cứu ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) trong nghiên cứu việc khởi sự và phát triển kinh doanh (và cả các hành vi khác có liên quan tới khởi sự kinh doanh) đều cho rằng hành vi khởi sự kinh doanh là một hành vi được lập kế hoạch từ trước (Kolvereid và Isaksen, 2006; Krueger và Reilly, 2000; Krueger
và cộng sự, 2000; Shook và cộng sự, 2003)
Trang 3Hình 1.4 Ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) trong nghiên
cứu khởi sự kinh doanh
Nguồn: Lortie và Castogiovanni (2015) Trong đó: (1) thái độ đối với khởi sự kinh doanh (attitude towards
entrepreneurship-ATE) chính là cảm nhận tích cực hay tiêu cực về lợi ích hay bất
lợi khi tiến hành khởi sự kinh doanh và cảm nhận liệu việc khởi sự kinh doanh có
phải là một hành vi thú vị hay không? (Autio và cộng sự, 2001; Kolvereid, 1996b)
2) Chuẩn chủ quan (subjective norms) gắn với khởi sự kinh doanh phản ánh cảm
nhận của người khởi sự về sự ủng hộ (chấp thuận) hay phản đối đối với việc khởi
sự kinh doanh từ những người quan trọng đối với họ, bao gồm gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp hay thầy/cô giáo (Liñán, 2008) (3) Cảm nhận khả năng kiểm soát (hành
vi khởi sự kinh doanh) (perceived entrepreneurial control-PEC) chính là cảm nhận
của một người về mức độ khó hay dễ đối với việc tiến hành khởi sự kinh doanh
CHƯƠNG 2 GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Căn cứ xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Thông qua tổng quan nghiên cứu có thể thấy rằng có nhiều nhà nghiên cứu đồng
ý rằng các đặc tính cá nhân và nền tảng cá nhân của mỗi người đều được nuôi dưỡng bởi các nhân tố thuộc môi trường và bối cảnh bên ngoài (Henderson và Robertson, 2000; Turker và Selcuk, 2009; Wang và Wong, 2004) và mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố môi trường và bối cảnh trong quá trình hình thành nhận thức và
tư duy (Bercovitz và Feldman, 2008; Lam, 2011) Tuy nhiên, cơ chế cụ thể mà các nhân tố thuộc môi trường và bối cảnh này tác động tới quá trình nhận thức và tư duy
là như thế nào thì chưa được các nhà nghiên cứu trả lời rõ ràng Ví dụ, chúng ta biết rấy ít về liệu các yếu tố môi trường và bối cảnh có thúc dẩy quá trình phát triển khả năng khởi sự hay không và cơ chế thúc đẩy quá trình đó là như thế nào? (Thang và cộng sự, 2018) Đây chính là một vấn đề còn tồn tại bởi “bối cảnh rất quan trọng để hiểu về khi nào, như thế nào và tại sao người ta tiến hành khởi sự kinh doanh” (Welter,
2011, tr 165) Manolava (2010, p.85) cũng cho rằng “sẽ rất tuyệt vời nếu chú ý tới việc tìm hiểu mối liên hệ giữa doanh nhân với môi trường bên ngoài” khi nghiên cứu khởi
sự kinh doanh trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi (Thang và cộng sự, 2018) Trong luận án này, tác giả kết hợp góc nhìn bối cảnh về khởi sự kinh doanh (Gartner, 1985; Welter, 2011) với các quá trình tư duy (Ajzen, 1991) về khởi sự kinh doanh để phát triển khung lý thuyết (mô hình nghiên cứu) nhằm khám phá vai trò của các nhân tố môi trường và bối cảnh trong việc hình thành sự tự tin vào năng lực khởi
sự, thái độ đối với khởi sự kinh doanh, chuẩn chủ quan, cảm nhận khả năng kiểm soát
và sau đó là dự định khởi sự kinh doanh Chính vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố môi trường và bối cảnh có thể sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về sự đa dạng của khởi sự kinh doanh (Thang và cộng sự, 2018) Các nghiên cứu thực nghiệm cũng đều cho thấy vai trò quan trọng của bối cảnh đối với hoạt động khởi sự kinh doanh (Boisot, 1996; Manolova và Yan, 2002; Puffer và cộng sự, 2010; Welter và Smallbone, 2011) Tuy nhiên, các các nghiên cứu đó lại chưa giải thích được các nhân tố thuộc môi trường và bối cảnh có ảnh hưởng như thế nào tới khởi sự kinh doanh Vậy các nhân tố thuộc môi trường và bối cảnh (contextual factors) có ảnh hưởng như thế nào tới quá trình nhận thức và tư duy của sinh viên đại học trong việc hình thành dự định khởi sự kinh doanh? Trong luận án này, tác giả sẽ đi luận giải quá trình tác động của các nhân tố thuộc bối cảnh bên ngoài, bao gồm: vốn quan hệ xã hội, môi trường đào tạo đại học, cơ chế chính sách của chính phủ, quan niệm của xã hội tới quá trình nhận thức và tư duy của sinh viên đại học đối với khởi sự kinh doanh, quá trình nhận thức và tư duy này xuất phát
Trang 4từ thái độ đối với khởi sự kinh doanh, cảm nhận khả năng kiểm soát, chuẩn chủ quan
và sự tự tin vào năng lực khởi sự kinh doanh để hình thành lên dự định khởi sự kinh
doanh
2.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả đề xuất
Trên cơ sở phân tích những vấn đề còn tồn tại, xem xét mức độ phù hợp với
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, luận án đề xuất khung lý thuyết nghiên cứu cụ
thể như sau:
• Dựa trên mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991)
hình thành quá trình tư duy để thực hiện hiện một hành động hành động, ở đây là
khởi sự kinh doanh, đi từ 03 yếu tố thuộc thái độ cá nhân đóng vai trò tiền tố, bao
gồm: thái độ đối với khởi sự kinh doanh, chuẩn chủ quan và cảm nhận khả năng
kiểm soát cho tới dự định khởi sự kinh doanh
• Dựa vào ý kiến các chuyên gia và mô hình của Bandura (1986) hình thành
biến ‘sự tự tin vào năng lực khởi sự’ nhằm xem xét mối quan hệ trực tiếp và gián
tiếp giữa ‘sự tự tin vào năng lực khởi sự’ và dự định khởi sự kinh doanh Đồng thời
kiểm định vai trò trung gian của ‘sự tự tin vào năng lực khởi sự’ đối với mối quan
hệ giữa ‘chuẩn chủ quan’ và ‘dự định khởi sự kinh doanh’
• Dựa vào mô hình vai trò của vốn quan hệ xã hội và vốn con người đối với
doanh nhân mới của Davidsson và Honig (2003) hình thành biến ‘vốn quan hệ xã
hội’ và đánh giá vai trò của ‘vốn quan hệ xã hội’ đối với ‘thái độ đối với khởi sự
Thái độ đối với khởi
sự kinh doanh
Chuẩn chủ quan
Cảm nhận khả năng kiểm soát
Dự định khởi sự kinh doanh Vốn quan hệ xã hội
Cơ chế chính sách của
chính phủ
Sự tự tin vào năng lực
khởi sự
Quan niệm của xã hội
Đào tạo đại học
kinh doanh’, ‘sự tự tin vào năng lực khởi sự’, ‘cảm nhận khả năng kiểm soát’ và sau
đó là ‘dự định khởi sự kinh doanh’ của sinh viên đại học
• Dựa vào mô hình dự định khởi sự kinh doanh của Turker và Selcuk (2008) hình thành biến ‘môi trường đào tạo đại học’ nhằm đánh giá ảnh hưởng của biến này tới ‘thái độ đối với khởi sự kinh doanh’, ‘sự tự tin vào năng lực khởi sự’, ‘cảm nhận khả năng kiểm soát’ và ‘dự định khởi sự kinh doanh’
• Dựa vào mô hình nghiên cứu của Busenitz và cộng sự (2000) hình thành hai biến đó là ‘cơ chế chính sách của chính phủ’ và ‘quan niệm của xã hội’ nhằm khám phá ảnh hưởng của hai biến này tới quá trình tư duy để khởi sự kinh doanh (sự tự tin vào năng lực khởi sự và các biến trong mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch) của sinh viên đại học tại Việt Nam
Bảng 2.1 Các giả thuyết nghiên cứu
H1a Thái độ đối với khởi sự kinh doanh có ảnh hưởng tích cực
tới dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên H1b Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới dự định khởi sự
kinh doanh của sinh viên Việt Nam H1c Cảm nhận khả năng kiểm soát có ảnh hưởng tích cực tới dự
định khởi sự kinh doanh của sinh viên H2 Cảm nhận khả năng kiểm soát có ảnh hưởng tích cực tới thái
độ đối với khởi sự kinh doanh của sinh viên H3a Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới thái độ đối với
khởi sự kinh doanh của sinh viên H3b Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới cảm nhận khả
năng kiểm soát của sinh viên H3c Chuẩn chủ quan có tác động tích cực tới sự tự tin vào năng
lực khởi sự của sinh viên
H4a Cơ chế chính sách của chính phủ có tác động tích cực tới thái
độ đối với khởi sự kinh doanh của sinh viên H4b Cơ chế chính sách của chính phủ có tác động tích cực tới
cảm nhận khả năng kiểm soát của sinh viên H4c Cơ chế chính sách của chính phủ có ảnh hưởng tích cực tới
sự tự tin vào năng lực khởi sự
Trang 5Giả thuyết Nội dung
H4d Cơ chế chính sách của chính phủ có tác động tích cực tới dự
định khởi sự kinh doanh của sinh viên H5a Vốn quan hệ xã hội có ảnh hưởng tích cực tới thái độ đối với
khởi sự kinh doanh của sinh viên H5b Vốn quan hệ xã hội có ảnh hưởng tích cực tới cảm nhận khả
năng kiểm soát của sinh viên H5c Vốn quan hệ xã hội có ảnh hưởng tích cực tới sự tự tin vào
năng lực khởi sự của sinh viên H5d Vốn quan hệ xã hội có ảnh hưởng tích cực tới dự định khởi
sự kinh doanh của sinh viên H6a Sự tự tin vào năng lực khởi sự có ảnh hưởng tích cực tới thái
độ đối với khởi sự kinh doanh của sinh viên
H6b Sự tự tin vào năng lực khởi sự có ảnh hưởng tích cực tới cảm
nhận khả năng kiểm soát của sinh viên H6c Sự tự tin vào năng lực khởi sự ảnh hưởng tích cực tới dự định
khởi sự kinh doanh của sinh viên H7a Quan niệm của xã hội có tác động tích cực tới thái độ đối với
khởi sự kinh doanh của sinh viên H7b Quan niệm của xã hội có ảnh hưởng tiêu cực tới cảm nhận
khả năng kiểm soát của sinh viên H7c Quan niệm của xã hội có tác động tích cực tới sự tự tin vào
năng lực khởi sự của sinh viên H7d Quan niệm của xã hội có ảnh hưởng tiêu cực tới dự định khởi
sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam H8a Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng tích cực tới thái độ
đối với khởi sự kinh doanh H8b Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng tích cực tới cảm
nhận khả năng kiểm soát H8c Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng tích cực tới sự tự
tin vào năng lực khởi sự của sinh viên Việt Nam H8d Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng tích cực tới dự định
khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thiết kế nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của luận án
Nguồn: Tác giả xây dựng
3.2 Nghiên cứu sơ bộ và xây dựng phiếu điều tra
Nghiên cứu sơ bộ trong luận án này bao gồm nghiên cứu sơ bộ định tính và nghiên cứu sơ bộ định lượng Mục tiêu của nghiên cứu sơ bộ định tính là nhằm kiểm tra, chọn lọc và xác định các mối quan hệ giữa các biến trong mô hình lý thuyết đề xuất
để từ đó có thể điều chỉnh hoặc bổ sung các quan sát và có thể xem xét điều chỉnh khung nghiên cứu sao cho phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án Tác giả đã
Trang 6thực hiện 11 cuộc phỏng vấn sâu và 1 cuộc thảo luận nhóm với các sinh viên năm cuối
đang học tại các trường Đại học tại Việt Nam Đối tượng phỏng vấn đã được lựa chọn
kỹ càng nhằm đảm bảo tính đại diện Ngoài ra, kết quả thảo luận nhóm tập trung đã
giúp tác giả hiệu chỉnh ngôn ngữ trong các quan sát (items) sao cho phù hợp với bối
cảnh nghiên cứu ở Việt Nam và dễ hiểu nhất cho các đối tượng tham gia khảo sát
Sau khi nghiên cứu sơ bộ định tính, nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện
bằng bảng hỏi chi tiết theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện với mẫu nghiên cứu nhỏ
được gửi tới sinh viên năm cuối các trường Đại học trên địa bàn Miền Bắc (N =212)
3.3 Nghiên cứu định lượng chính thức
Tổng thể nghiên cứu là toàn bộ sinh viên hệ đào tạo chính quy từ 18 tuổi trở lên
đang học tập tại các trường Đại học tại Việt Nam Cụ thể, cả nước có khoảng 1.443.000
sinh viên bậc Đại học Do tổng thể nghiên cứu có quy mô rất lớn, đa dạng về ngành
học, năm học, hệ (chính quy và phi chính quy), trong điều kiện hạn chế về nguồn lực
(tài chính, thời gian, mối quan hệ, khả năng tiếp cận ) nên tác giả không thể sử dụng
phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên mà phải sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng
(theo vùng) Phương pháp chọn mẫu phân tầng thì các đối tượng được chia theo nhóm
và sau đó đối tượng được chọn ngẫu nhiên trong từng nhóm theo tỷ lệ tương ứng với
tổng thể (Nguyễn Văn Thắng, 2017)
Theo phương pháp chọn mẫu phân tầng, để đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy
của mẫu, tác giả chia đối tượng khảo sát (sinh viên đại học) theo vùng (khu vực địa lý)
Cụ thể, Theo thông tin tuyển sinh đại học của các trường từ Bộ Giáo dục và Đào tạo
năm 2018, quy mô tuyển sinh được chia theo khu vực địa lý thành 02 nhóm: nhóm các
trường phía Bắc từ Quảng Trị trở ra và nhóm các trường phía Nam từ Huế trở vào Còn
nếu xét theo miền thì có thể chia thành 03 nhóm: nhóm các trường miền Bắc; nhóm
các trường miền Trung và nhóm các trường miền Nam Tại nhóm các trường phía Bắc,
tác giả lựa chọn ngẫu nhiên 08 trường đại học và tại nhóm các trường phía Nam tác giả
lựa chọn ngẫu nhiên 06 trường đại học để tiến hành phát phiếu điều tra cho sinh viên
Ngoài ra, để tăng tính đại diện và độ tin cậy của mẫu điều tra tác giả tiến hành
điều tra trực tiếp thông qua phiếu điều tra Ngoài ra để giảm sự chệch (sai lệch) do
không trả lời (non-response bias), qua quá trình thu thập số liệu, tác giả đã nhờ đến sự
hỗ trợ của những giảng viên nhằm chọn ngẫu nhiên các lớp và phát phiếu hỏi trực tiếp
đối với những sinh viên năm cuối có mặt trong lớp học trong học kỳ cuối và theo dõi
quá trình trả lời bảng hỏi của sinh viên để có thể đảm bảo rằng sinh viên trả lời nghiêm
túc theo đúng suy nghĩ của mình
Phương pháp khảo sát: Do mẫu điều tra được thu thập trên cả 03 Miền đất
nước nên ngoài phát phiếu điều tra trực tiếp (tại Hà Nội) thì tại các tỉnh miền nam
(TP HCM và TP Đồng Tháp) và các tỉnh miền trung (Quy Nhơn và Đà Nẵng) tác
giả đã được hỗ trợ từ các giảng viên giảng viên giảng dạy trực tiếp tại các trường đại học đó trong quá trình thu thập số liệu Trước khi những giảng viên đó phát phiếu điều tra, tác giả hỏi số lượng các lớp sinh viên năm cuối tại trường đó, qua đó lựa chọn ngẫu nhiên các lớp để gửi phiếu điều tra tới sinh viên Ngoài ra, tác giả đã hướng dẫn chi tiết để những giảng viên này có thể hiểu và hướng dẫn lại sinh viên trên lớp có thể hiểu và trả lời đầy đủ các câu hỏi trong phiếu điều tra, tránh trường hợp sinh viên hiểu lầm hoặc bỏ sót các câu hỏi
Thời gian khảo sát: Sau sáu tháng tiến hành khảo sát (từ tháng 10/2018 đến tháng
1/2019) Số lượng phiếu điều tra được in ra để phát cho sinh viên là 2500 phiếu, thu về được 2368 phiếu (đạt 94,08%) Số phiếu không thu lại được (132 phiếu) do có những sinh viên không trả lời được giảng viên và tác giả loại bỏ ngay sau khi thu phiếu Ngoài
ra, sau khi sàng lọc và loại bỏ các phiếu không hợp lệ (phiếu không có đủ đáp án trả lời, phiếu không điền đầy đủ thông tin nhân khẩu học, hoặc phiếu có số câu trả lời giống nhau hoặc thể hiện mâu thuẫn trong trả lời ) Cuối cùng, tác giả chỉ sử dụng
2218 phiếu trả lời hợp lệ để dùng trong phân tích chính thức (chiếm 88,72%) Phương pháp phân tích số liệu dựa trên 03 bước chính: Kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích độ phù hợp của thang đo (phân tích nhân tố khám phá và nhân tố khẳng định), cuối cùng là phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phần mềm SPSS 22 và AMOS 22
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu định lượng chính thức tại 3 miền (Bắc, Trung
và Nam) tại Việt Nam, bao gồm 6 thành phố (Hà Nội, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Huế,
TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp) Số lượng phiếu điều tra phát ra là 2500 phiếu, thu về được 2368 phiếu, tuy nhiên sau khi sàng lọc và loại đi các phiếu không hợp lệ, tác giả chỉ sử dụng được 2218 phiếu hợp lệ để tiến hành phân tích định lượng chính thức
Trong tổng số mẫu nghiên cứu thu được là 2218 phiếu điều tra, phân chia theo vùng miền như sau: Miền Bắc thu được 1159 phiếu (52,25%); Miền Trung thu được
486 phiếu (21,92%) và Miền Nam thu được 573 phiếu (25,83%) Như vậy, số liệu này chứng tỏ rằng cơ cấu vùng miền là tương đối phù hợp, đảm bảo đại diện cho tổng thể Cụ thể, tại Miền Bắc có 17,2% đối tượng điều tra trong mẫu là sinh viên chính quy trường Đại học Kinh tế Quốc dân; 8,9% số sinh viên được điều tra từ trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; số sinh viên được điều tra tại Đại học Giao Thông Vận Tải Hà Nội và Viện Đại học Mở cũng chiếm tỷ lệ khá lớn, lần lượt là
Trang 77,3% và 6,5% Ngoài ra, còn một số trường khác như Đại học Thương Mại (chiếm
4,4%); Đại học Xây dựng (chiếm 3,3%), Đại học Đại Nam (1,9%) và Đại học Ngoại
Thương (1,7%) Tại Miền Trung, số lượng phiếu điều tra thu được tại Đại học Quy
Nhơn là cao nhất, chiếm 9,6%; tiếp đến là trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng
(chiếm 8,2%), cuối cùng là Đại học Khoa học (thuộc Đại học Huế) chiếm 4,2% Tại
Miền Nam, số lượng phiếu điều tra thu được tại Đại học Đồng Tháp chiếm tỷ lệ lớn
nhất, chiếm 9,7%; theo sau là Đại học Kinh tế TP.HCM (chiếm 9,4%); cuối cùng
là Đại học Sài Gòn chỉ chiếm 6,7%
Về cơ cấu giới tính của số người tham gia điều tra có nam sinh viên chiếm 62,4%
và nữ chiếm 37,6% Sự chênh lệch về tỷ lệ giữa sinh viên nam và sinh viên nữ hầu hết
là do trong mẫu nghiên cứu có sinh viên nhóm ngành kỹ thuật (86,6% số sinh viên
ngành kỹ thuật là nam và chỉ có 13,4% là sinh viên nữ) Trong khi đó, đối với khối
ngành kinh tế và quản trị kinh doanh thì tỷ lệ sinh viên nam/nữ cân bằng hơn (42,3%
là sinh viên nam và 57,7% là sinh viên nữ)
Xét về ngành học, có 54,6% sinh viên được điều tra đang học ngành kinh tế và
quản trị kinh doanh trong khi đó 45,4% là sinh viên thuộc khối ngành kỹ thuật (công
nghệ thông tin, cầu đường, xây dựng dân dụng, điện tử viễn thông, ) Với tỷ lệ tương
đối cân bằng này thì có thể đảm vảo tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu
4.2 Kết quả kiểm định thang đo
4.2.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
Luận án đánh giá độ tin cậy của thag đo qua Cronbach’s Alpha cho từng nhóm
biến quan sát thuộc các yếu tố khác nhau với tiêu chí loại các biến quan sát có hệ số
tương quan biến-tổng nhỏ hơn 0.4 và hệ số Cronbach’s Alpha tối thiểu đạt 0.6 (Hair
và cộng sự, 1998) Mô hình nghiên cứu ban đầu bao gồm 9 nhóm nhân tố và 43 quan
sát (ngoại trừ các biến nhân khẩu học) Sau khi kiểm định thang đo bằng hệ số
Cronbach’s Alpha đã loại đi các biến EI1, EI2 và ATE1 để đảm bảo thang đo đều có
độ tin cậy cao và là những thang đo lường tốt
4.2.2 Kết quả kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Tác giả đưa 36 quan sát của các biến tác động và 4 quan sát của biến bị tác
động vào phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép xoay xiên góc (xoay không
vuông góc), sử dụng Promax, phương sai trích Principal Axis Factoring, phương
pháp kiểm định KMO và Bartlett để đo lường mức độ tương thích của mẫu khảo
sát Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2007) thì hệ số tải nhân tố cần
lớn hơn 0,5 để đảm bảo mức ý nghĩa thực tiễn của phân tích nhân tố khám phá
(EFA) Kết quả phân tích CFA lần 1 cho thấy hệ số factor loading của các quan sát
bao gồm: PBC5, PBC6, SC1 và ESE1 đều nhỏ hơn 0,5 Nên tác giả quyết định loại
đi 04 biến trên ra khỏi mô hình và chạy lại EFA Kết quả phân tích nhân tố khám phá (CFA) lần cuối cho thấy 32 biến quan sát của các biến tác động hội tụ vào 8 nhân tố như trong khung lý thuyết
4.2.3 Kết quả kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
Kết quả CFA cho thấy rằng mô hình đo lường tới hạn (chuẩn hóa) này có 582 bậc tự do (df = 582) Kết quả CFA cho thấy giá trị Chi-square = 2829,974 với p = 0,000 Ngoài ra, các chỉ tiêu khác đều đạt giá trị rất tốt cho thấy mô hình này phù hợp với dữ liệu khảo sát và đảm bảo tính đơn hướng: CMIN/df = 4,862 < 5; GFI = 0,942 > 0,9; CFI = 0,942 > 0,9; TLI = 0,938 > 0,9 và RMSEA = 0,042 < 0,05 Ngoài ra, các trọng số (λi) (Standardized Regression Weights) của tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu (λ > 0,5) Trong đó trọng số nhỏ nhất là λSC3 (0,634) và λND1 (0,660), trọng số cao nhất là λEI5 (0,906) Vì vậy, tất cả các thang đo đều đạt giá trị hội tụ Ngoài ra, kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng hệ số tương quan của từng cặp khái niệm (r) và độ lệch chuẩn (SE) là khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95% (P-value = 0,000 < 0,05) Vì vậy, tất cả các
khái niệm nghiên cứu (các biến) trong nghiên cứu này đều đạt giá trị phân biệt
4.3 Kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Hình 4.2 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (chuẩn hóa)
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của tác giả
Trang 8Kết quả ước lượng mô hình lý thuyết chính thức được trình bày trong hình 4.2
cho thấy mô hình có 562 bậc tự do (df=562) với giá trị thống kê Chi-square là 3076,451
Ngoài ra, các giá trị Chi-Square/df = 5,474; GFI = 0,926 > 0,9; CFI=0,935 > 0,9;
TLI=0,928> 0,9 và RMSEA = 0,045 < 0,05 Kết quả trên chứng tỏ rằng mô hình nghiên
cứu là hoàn toàn phù hợp với dữ liệu khảo sát
Sau khi kiểm định 8 nhóm giả thuyết từ H1a cho đến H8d bằng mô hình cấu trúc
tuyến tính (SEM), kết quả nghiên cứu cho thấy :
Thái độ đối với khởi sự kinh doanh có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều với
dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,791; p-value < 0,001),
do vậy giả thuyết H1a được ủng hộ
- Không có đủ căn cứ để kết luận chuẩn chủ quan có mối quan hệ trực tiếp và
thuận chiều với dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt nam (β = 0,007;
p-value > 0,05) nên giả thuyết H1b bị bác bỏ
- Cảm nhận khả năng kiểm soát có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều với dự
định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,145; p-value < 0,001) nên
giả thuyết H1c được ủng hộ
- Cảm nhận khả năng kiểm soát có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều tới thái
độ đối với khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,123; p-value < 0,001)
nên giả thuyết H2 được ủng hộ
- Chuẩn chủ quan có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều tới thái độ đối với
khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,313; p-value < 0,001), vì vậy giả
thuyết H3a được chấp nhận
- Chuẩn chủ quan có mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều với cảm nhận khả
năng kiểm soát của sinh viên Việt Nam (β = -0,062; p-value < 0,01) nên giả thuyết
H3b được chấp nhận
- Chuẩn chủ quan có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều với sự tự tin vào năng
lực khởi sự của sinh viên Việt Nam (β = 0,128; p-value < 0,001) nên giả thuyết H3c
được ủng hộ
- Không có bằng chứng thống kê cho thấy cơ chế chính sách của chính phủ có
ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới thái độ đối với khởi sự kinh doanh (β = 0,025;
p-value > 0,05) nên giả thuyết H4a bị bác bỏ
- Cơ chế chính sách của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới cảm nhận
khả năng kiểm soát (β = 0,062; p-value < 0,01) nên giả thuyết H4b được ủng hộ
- Không có bằng chứng thống kê cho thấy cơ chế chính sách của chính phủ có
tác động trực tiếp tới sự tự tin vào năng lực khởi sự (β = 0,024; p-value > 0,05) nên
giả thuyết H4c bị bác bỏ
- Cơ chế chính sách của chính phủ có tác động trực tiếp và ngược chiều tới dự định
khởi sự kinh doanh (β = -0,058; p-value < 0,01) nên giả thuyết H4d được ủng hộ
- Vốn quan hệ xã hội có ảnh hưởng tích cực tới thái độ đối với khởi sự kinh
doanh (β = 0,073; p-value < 0,05) nên giả thuyết H5a bị bác bỏ
- Vốn quan hệ xã hội có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều tới cảm nhận khả
năng kiểm soát của sinh viên Việt Nam (β = 0,184; p-value < 0,001), do vậy giả
thuyết H5b được ủng hộ
- Vốn quan hệ xã hội có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều tới sự tự tin vào
năng lực khởi sự của sinh viên Việt Nam (β = 0,403; p-value < 0,001) nên giả thuyết
H5c được ủng hộ
- Không có đủ căn cứ để kết luận có mối quan hệ trực tiếp giữa vốn quan hệ xã
hội và dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = -0,032; p-value > 0,05) nên giả thuyết H5d bị bác bỏ
- Sự tự tin vào năng lực khởi sự có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều với
thái độ đối với khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,345; p-value < 0,001), do đó giả thuyết H6a được ủng hộ
- Sự tự tin vào năng lực khởi sự có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều tới cảm
nhận khả năng kiểm soát của sinh viên Việt Nam (β = 0,540; p-value < 0,001), vì
vậy giả thuyết H6b được ủng hộ
- Sự tự tin vào năng lực khởi sự có mối quan hệ trực tiếp và thuận chiều với dự
định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,268; p-value < 0,001), vì vậy
giả thuyết H6c được ủng hộ
- Quan niệm của xã hội có mối quan hệ trực tiếp với thái độ đối với khởi sự kinh
doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,108; p-value < 0,01), vì vậy giả thuyết H7a được
ủng hộ
- Không có bằng chứng thống kê cho thấy quan niệm của xã hội có mối quan
hệ trực tiếp và ngược chiều với cảm nhận khả năng kiểm soát của sinh viên Việt Nam
(β = -0,009; p-value > 0,05), do vậy giả thuyết H7b bị bác bỏ
- Quan niệm của xã hội có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới sự tự tin vào năng
lực khởi sự của sinh viên Việt Nam (β = 0,225; p-value < 0,001), vì vậy giả thuyết H7c được ủng hộ
- Không có bằng chứng thống kê cho thấy quan niệm của xã hội có ảnh hưởng
trực tiếp tới dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = -0,061; p-value > 0,05), do vậy giả thuyết H7d bị bác bỏ
Trang 9- Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng tích cực tới thái độ đối với khởi sự
kinh doanh của sinh viên Việt Nam (β = 0,058; p-value < 0,001), do đó giả thuyết
H8a được ủng hộ
- Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới cảm nhận
khả năng kiểm soát của sinh viên Việt Nam (β = 0,047; p-value < 0,01), vì vậy giả
thuyết H8b được chấp nhận
- Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng tích cực tới sự tự tin vào năng lực khởi sự
của sinh viên Việt Nam (β = 0,068; p-value < 0,001), vì vậy giả thuyết H8c được ủng hộ
- Môi trường đào tạo đại học có ảnh hưởng tích cực tới dự định khởi sự kinh doanh của
sinh viên Việt Nam, (β = 0,062; p-value < 0,01), vì vậy giả thuyết H8d được ủng hộ
Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp bootrapping để nghiên cứu
các tác động trung gian Như vậy, mức độ tác động trực tiếp chính là các trọng số (chưa
chuẩn hóa) (unstandardarized regression weights) trong khi ảnh hưởng gián tiếp sẽ
được ước lượng thông qua các tác động trực tiếp đó (Kline, 2005) bằng công cụ trong
phần mềm AMOS 22.0 Trước tiên tác giả xem xét loại các mối quan hệ không có ý
nghĩa thống kê để thử chạy lại CFA và SEM trước khi tiến hành phân tích các tác động
trung gian Kết quả đánh giá mức độ tác động cả trực tiếp và gián tiếp của các khái
niệm nghiên cứu được trình bày trong bảng 4.9
Bảng 4.9 Mức độ tác động giữa các khái niệm nghiên cứu
Biến phụ
thuộc Tác động
Biến độc lập
ESE
Trực tiếp 0,225 0,068 0,000 0,403 0,000 0,128 0,000 0,000
Gián tiếp 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000
Tổng hợp 0,225 0,068 0,000 0,403 0,000 0,128 0,000 0,000
PBC
Trực tiếp 0,000 0,016 0,062 0,184 0,540 -0,062 0,000 0,000
Gián tiếp 0,121 0,037 0,000 0,217 0,000 0,069 0,000 0,000
Tổng hợp 0,121 0,053 0,062 0,401 0,540 0,007 0,000 0,000
ATE
Trực tiếp 0,108 0,058 0,025 0,073 0,345 0,313 0,123 0,000
Gián tiếp 0,091 0,034 0,017 0,188 0,066 0,045 0,000 0,000
Tổng hợp 0,199 0,092 0,042 0,261 0,411 0,358 0,123 0,000
EI
Trực tiếp 0,000 0,062 -0.058 0,000 0,268 0,000 0,145 0,791
Gián tiếp 0,235 0,103 0,051 0,373 0,404 0,318 0,097 0,000
Tổng hợp 0,235 0,165 -0.007 0,373 0,672 0,318 0,145 0,791
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của tác giả
CHƯƠNG 5 BÌNH LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Bình luận kết quả nghiên cứu
Xét về ảnh hưởng trực tiếp, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có yếu tố tác động mạnh nhất và thuận chiều tới dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên đó là thái độ
đối với khởi sự kinh doanh (β = 0,791) Kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng rất
tốt đối với việc đào tạo về khởi sự doanh nghiệp trong các trường Đại học ở Việt Nam Vai trò rất quan trọng của ‘thái độ đối với khởi sự kinh doanh’ trong việc giải thích dự định khởi nghiệp gợi ý cho các giảng viên cần tìm các biện pháp tác động mạnh mẽ tới thái độ tích cực của sinh viên về khởi nghiệp Giảng viên thường dành rất nhiều thời lượng cho việc cung cấp kiến thức, công cụ và kỹ năng khởi nghiệp, nhưng thái độ mới là yếu tố quyết định ý định khởi nghiệp của sinh viên Điều này gợi ý cho các giảng viên tìm tòi các phương pháp phù hợp để tác động vào thái độ của sinh viên Sự hiện diện và chia sẻ kinh nghiệm của các doanh nhân thành đạt; và phương pháp học tập thông qua trải nghiệm là những gợi ý để hun đúc thái độ tích cực của sinh viên đối với khởi nghiệp
Tiếp theo, hai yếu tố tác động mạnh và thuận chiều tới dự định khởi sự kinh
doanh chính là sự tự tin vào năng lực khởi sự (β = 0,268) và cảm nhận khả năng kiểm soát (β = 0,145) Môi trường đào tạo đại học cũng có tác động trực tiếp và thuận chiều tới dự định khởi sự kinh doanh nhưng ở mức độ yếu hơn (β = 0,062) Tuy nhiên, kết
quả nghiên cứu chỉ ra rằng cơ chế chính sách của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp
và tiêu cực tới dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên (β = -0,058) Mặc dù vậy,
trong nghiên cứu này, không có bằng chứng thống kê cho thấy chuẩn chủ quan, vốn quan hệ xã hội và quan niệm của xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới dự định khởi sự kinh doanh Như vậy, kết quả nghiên cứu một lần nữa chứng minh rằng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) một lần nữa được áp dụng hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với các nghiên cứu trước đây cho thấy thái độ đối với khởi sự kinh doanh (Kolvereid,1996; Liñán và cộng sự, 2013; Dinc và Budic, 2016; Vukovic và cộng sự, 2017) cảm nhận khả năng kiểm soát (Liñán và Chen, 2009; Traikova và cộng sự, 2017; Solesvik, 2013) và sự
tự tin vào năng lực khởi sự (Tsai và cộng sự, 2016; Lin và Si, 2014; Fuller và cộng
sự, 2018) có ảnh hưởng mạnh tới dự định khởi sự kinh doanh Kết quả nghiên cứu đem lại hàm ý quan trọng đối với việc giúp sinh viên định hình và nâng cao dự định khởi sự kinh doanh, đó là: Chính phủ và nhà trường muốn thúc đẩy khởi sự kinh doanh của sinh viên thì trước hết cần quan tâm tới việc nâng cao thái độ tích cực của
Trang 10họ đối với khởi sự kinh doanh, tiếp đó là nâng cao sự tự tin vào năng lực khởi sự và
cảm nhận khả năng kiểm soát của sinh viên bằng cách cung cấp cho họ các kiến thức
cần thiết cho khởi sự thông qua các chương trình đào tạo hay giáo dục về khởi sự
kinh doanh Ngoài ra, để thúc đẩy khởi sự kinh doanh của sinh viên thì chính phủ
cũng cần cải thiện môi trường kinh doanh, cụ thể là hệ sinh thái khởi sự để có thể
giúp cho sinh viên dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn, kiến thức, các quỹ đầu tư
Cũng tương đồng với rất nhiều nghiên cứu trước đây (Liñán, 2008; Bossin và
cộng sự, 2009; Liñán và cộng sự, 2013, Maes và cộng sự, 2014, Tsai và cộng sự,
2016), chuẩn chủ quan-nhân tố gây tranh cãi nhất trong số ba tiền tố trong lý thuyết
hành vi có kế hoạch (TPB)- không có ảnh hưởng trực tiếp tới dự định khởi sự kinh
doanh của sinh viên Tuy nhiên, chuẩn chủ quan lại ảnh hưởng gián tiếp tới dự định
khởi sự kinh doanh thông qua sự tự tin vào năng lực khởi sự, thái độ đối với khởi sự
kinh doanh và cảm nhận khả năng kiểm soát với tổng mức ảnh hưởng là βtổng SN-EI =
0,318 Như vậy, kết quả nghiên cứu của luận án đã chứng minh trong bối cảnh nền
kinh tế chuyển đổi của Việt Nam thì chuẩn chủ quan (ý kiến những người xung quanh)
hầu như không ảnh hưởng trực tiếp tới dự định khởi sự kinh doanh của họ mà lại ảnh
hưởng thông qua sự tự tin vào năng lực khởi sự, thái độ đối với khởi sự kinh doanh
và cảm nhận khả năng kiểm soát với tổng mức ảnh hưởng là khá mạnh Ajzen (1987)
cũng cho rằng chuẩn chủ quan thường ít tác động tới dự định thực hiện hành vi ở
những chủ thể có cảm nhận khả năng kiểm soát cao hay những người có tích cách
độc lập cao Xét về mặt thực tiễn thì kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp bởi những
cá nhân (nhóm người) có dự định khởi sự kinh doanh cao thì thường là những người
(nhóm người) có tính độc lập cao và ít chịu sự chi phối của ý kiến những người xung
quanh Ngoài ra, Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Thủy và cộng sự (2017) và
Đoàn Thị Thu Trang (2018) cũng đưa ra các kết quả tương tự đối với mối quan hệ
giữa chuẩn chủ quan và dự định khởi sự kinh doanh Theo Miranda và cộng sự (2017),
trong môi trường không có văn hóa khởi sự kinh doanh hoặc thiếu vắng làn sóng khởi
sự kinh doanh thì dự định khởi sự kinh doanh không chịu ảnh hưởng bởi chuẩn chủ
quan (ý kiến những người xung quanh) mà thay vào đó là dự định khởi sự kinh doanh
thường phụ thuộc nhiều hơn vào niềm tin, suy nghĩ hay quan điểm của họ nhiều hơn
Về mặt thực tiễn thì lý giải đó rất phù hợp với bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam khi
mà khởi sự kinh doanh ở tầng lớp sinh viên vẫn là điều gì đó khá mới mẻ Chính vì
vậy, nhà trường và nhà nước cần có những biện pháp hữu hiệu hơn để thúc đẩy khởi
sự kinh doanh thông qua các khóa học về khởi sự kinh doanh, đồng thời giúp sinh
viên trang bị các kiến thức thực tế về kinh doanh và am hiểu thị trường hơn
Một trong những nhân tố thuộc về thái độ của cá nhân, đó là sự tự tin vào năng lực khởi sự có ảnh hưởng rất mạnh tới cả thái độ đối với khởi sự kinh doanh, cảm nhận khả năng kiểm soát và dự định khởi sự kinh doanh Cụ thể, thái độ đối với khởi
sự kinh doanh và cảm nhận khả năng kiểm soát đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự
tự tin vào năng lực khởi sự ở mức độ tương đối mạnh, lần lượt là: βtrực tiếp ESE-ATE = 0,345; βtrực tiếp ESE-PBC = 0,540 Như vậy, khi một cá nhân có sự tự tin cao đối với năng lực khởi sự của bản thân mình thì có thể tác động tích cực tới thái độ đối với khởi sự kinh doanh, cảm nhận khả năng kiểm soát và qua đó tác động thuận chiều tới dự định khởi sự kinh doanh (βtổng hợp ESE-EI = 0,672) Hay nói cách khác, muốn thúc đẩy khởi sự kinh doanh của sinh viên thì trước tiên cần thúc đẩy sự tự tin của
họ vào năng lực khởi sự của chính bản thân mình Để làm được điều đó cần phải chú ý tới việc trang bị cho họ những kiến thức và kỹ năng cần thiết để họ có thể tự tin hơn khi tiến hành khởi sự kinh doanh Kết quả này một lần nữa khẳng định sự khác nhau giữa hai biến, đó là: sự tự tin vào năng lực khởi sự (entrepreneurial sel-efficacy) và cảm nhận khả năng kiểm soát (perceived behavioral control) Bởi mức
độ tác động của sự tự tin vào năng lực khởi sự và cảm nhận khả năng kiểm soát tới
dự định khởi sự kinh doanh và thái độ đối với khởi sự kinh doanh là khác nhau, sự
tự tin vào năng lực khởi sự có ảnh hưởng mạnh hơn rất nhiều tới dự định khởi sự kinh doanh (βtrực tiếp ESE-EI = 0,268; βtrực tiếp ESE-ATE = 0,345) so với cảm nhận khả năng kiểm soát (βtrực tiếp PBC-EI = 0,145; βtrực tiếp PBC-ATE = 0,123 ) Hơn nữa, kết quả nghiên cứu cũng nhiều lần cho thấy sự khác biệt giữa hai biến số này, ví dụ: sự tự tin vào năng lực khởi sự không chỉ ảnh hưởng tới dự định khởi sự kinh doanh mà còn ảnh hưởng rất mạnh mẽ và trực tiếp tới cảm nhận khả năng kiểm soát (βtrực tiếp ESE-PBC = 0,540), hoặc quan niệm của xã hội có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới sự tự tin vào năng lực khởi sự (βtrực tiếp ND-ESE = 0,225) trong khi lại không có ảnh hưởng trực tiếp tới cảm nhận khả năng kiểm soát
Nhìn từ khía cạnh sự giúp đỡ và hỗ trợ từ những người quen thân đối với hoạt động khởi sự kinh doanh mặc dù vốn quan hệ xã hội không ảnh hưởng trực tiếp tới
dự định khởi sự kinh doanh của sinh viên, song vốn quan hệ xã hội lại ảnh hưởng gián tiếp và thuận chiều tới thái độ đối với khởi sự kinh doanh và dự định khởi sự kinh doanh thông qua sự tự tin vào năng lực khởi sự và cảm nhận khả năng kiểm soát, với mức tác động tương đối mạnh (βgián tiếp SC-ATE = 0,188; βgián tiếp SC-EI = 0,373) Vốn quan hệ xã hội cũng ảnh hưởng trực tiếp và mạnh tới sự tự tin vào năng lực khởi sự (βtrực tiếp SC-ESE = 0,403) và cảm nhận khả năng kiểm soát (βtrực tiếp SC-PBC= 0,184) Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng minh được rằng vốn quan hệ xã hội khác